1
1. MỞ ĐẦU
1.1.do chn sáng kiến
Với sự phát triển ng ncủa công nghệ thời đại mới, con người dường
như m việc nhiều với máy móc, với hiệu ít quan tâm đến những cảm
xúc, rung động qua ngôn từ. chắc chắn rằng đứng trước một bài thơ, bài văn
hay, người ta cũng ít “xao xuyến, bâng khuâng, day dứt”. Tiếng Anh, tiếng
Trung nhiều thứ ngôn ngữ khác dần dần lấn sân” vào tiếng Việt. Trước
những biến đổi đó, những người u văn thơ, yêu tiếng mđẻ lẽ ng không
ít khắc khoải, trăn trở. H luôn muốn được tìm về với những áng văn, thơ đong
đầy cm c, tìm về với những dư vị êm đềm và ngt ngào của tuổi thơ bên
những câu hát ru à ơi mc mạc của bà, của mẹ nhưng thiêng liêng, đẹp đẽ của cả
dân tộc. Như chúng ta đã biết: tiếng Việt đóng vai trò to lớn trong việc hình
thành những phẩm chất quan trọng nhất của con người trong việc thực hiện
những nhiệm vụ của hệ thống giáo dục. Học sinh tiểu học lứa tuổi hồn nhiên,
ngây thơ, dxúc động như K.A.U Sinxki có nói: “Trẻ em đi vào đời sống tinh
thần của mọi người xung quanh nó, duy nhất thông qua phương tiện tiếng mẹ đ
ngược lại thế giới bao quanh đứa trẻ được phản ánh trong đó chỉ thông qua
công cụ này”. Vì thế, việc phát triển tiếng Việt và bảo vệ sự trong sáng của tiếng
Việt thể nói một công việc lớn đặt ra cho tất cả chúng ta, những người
đã và đang hoạt động trong ngành giáo dục. Vậy nên, môn Tiếng Việt vai trò
rất quan trọng, nó không chỉ hình thành kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh
môn Tiếng Việt còn góp phần cùng các môn hc khác phát triển tư duy, hình
thành cho c em nhu cầu thưởng thức cái đẹp, khả năng xúc cm trước cái đẹp,
trước buồn vui yêu – ghét của con người. Cảm thụ văn học, chính sự cảm
nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị đẹp đcủa văn học thể
hiện trong tác phẩm, cuốn truyện, bài văn, bài thơ hay trong cả một từ ngữ
giá trị của một câu văn, câu thơ... Để học sinh có được các ng trên thông
qua các giờ Tập đọc, Tập m văn, Luyện từ u, Chính tả cnhững giờ
Âm nhạc, Mĩ thuật hay các hoạt động ngoài giờ lên lớp... thì các em cần có năng
lực cảm thụ văn học tốt, các em sẽ cảm nhận được nhiều nét đp của thơ văn,
phong phú thêm về tâm hồn, i - viết tiếng Việt thêm trong sáng và sinh động.
Bên cạnh đó cảm thụ văn học không những góp phần vào học Tiếng Việt nói
riêng mà còn giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, thẩm mĩ cho học sinh.
Đối với học sinh tiểu học, nhiệm vụ bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học
nhiệm vụ quan trọng cần thiết, dưới sự gợi mở, dẫn dắt của thầy, giáo,
những bài văn, bài thơ hay trong sách giáo khoa sẽ đem đến cho các em bao điều
kì thúhấp dẫn. Đặc biệt đối với học sinh lớp 5, cảm thụ văn học còn giúp các
em hiểu sâu nội dung bài đc, vận dụng vào viết văn, làm thơ,... tạo đà tốt cho
học sinh học lên cấp Trung học cơ sở.
Các i thơ, văn chương trình tiểu học đặc biệt các bài thơ, bài văn
trong chương trình lớp 5 cùng phong phú về đtài, thể loại… Chính vậy,
chúng tôi thiết nghĩ, rất cần các em khám phá, cảm nhận đ thêm yêu thiên
nhiên, yêu q hương, đất nước, yêu những gì gần gũi nhất…
2
Qua những luận điểm đó, tôi đã chọn sáng kiến: Một số biện pháp giúp
học sinh lớp 5 phát triển năng lực cảm thụ văn học” đtìm hiểu, nghiên cứu
đã vận dụng trong dạy học môn Tiếng Việt lớp 5 trong những năm gần đây
nhiều biểu hiện đáng mừng.
1.2. Điểm mới của sáng kiến
Sáng kiến Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 phát triển ng lực cảm
thụ văn học” giúp cho giáo viên chủ nhiệm cũng như giáo viên bn của lớp
5 nắm được c biện pháp nâng cao năng lực cảm thvăn học cho học sinh.
Ngoài ra, ng kiến này còn tài liệu tham khảo cho c bậc làm cha, m mẹ
trong quá trình phát triển kĩ năng cảm thụ văn học cho con ng như khơi gợi
cho con vươn tới những chân trời ước, y dựng vốn ngôn ngữ văn chương
cho con, tạo tiền đề cho những cấp học cao hơn.
Ngoài ra, thông qua sáng kiến này, bạn đọc còn cảm nhận được vẻ đẹp của
các tác phẩm văn, thơ trong chương trình Tiếng Việt lớp 5. Qua đó, tiếp tục khai
phá những vẻ đẹp mới, tìm tòi, sáng tạo những i văn hay, những bài thơ nhỏ
để mỗi giờ dạy những rung động mới của tuổi học trò, những dấu lặng v
tình đời, tình người chứa chan trong thế giới hiện đại này.
1.3. Phạm vi nghiên cứu và áp dụng
- Mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy môn Tiếng Việt lớp 5 tại trường
tiểu học tôi đang dạy.
- Các biện pháp giúp học sinh lớp 5A phát triển năng lực cảm thụ văn học
tại trường tiểu học tôi đang dạy.
3
2. NỘI DUNG
2.1. Thực trạng nhận thức về cảm thụ văn học của nhà trường, giáo viên
học sinh
2.1.1. Nhà trường
- Ntrường chỉ quản chương trình chất lượng chung nên phần cảm thụ
văn học trong môn Tiếng Việt chưa thể hiện rõ, chưa tiêu chí đ đánh giá
giáo viên cũng như học sinh một cách rõ ràng, chính xác.
- Nhà trường ít những cuộc thi về cảm thụ văn học, ít khi lập ra đi giỏi Văn
để rèn luyện, đào to.
2.1.2. Giáo viên
Bên cạnh những giáo viên đã có nhận thức tốt về việc cảm thụ văn học
dạy cảm thụ văn học cho học sinh thì một số ít giáo viên giảng dạy chưa coi
trọng việc ớng dẫn học sinh cảm thụ nội dung nghệ thuật trong tất ccác
phân môn của môn Tiếng Việt. Cho nên chưa phát triển được năng lực cảm thụ
bài văn, i thơ, đoạn văn, đoạn thơ hay câu n, u thơ cho học sinh. Giáo
viên chưa vận dụng linh hoạt, ng tạo c pơng pháp dạy học mới, chưa tìm
ra được các biện pp dạy học có hiệu quả đáp dụng vào việc rèn năng cảm
thụ văn học cho hc sinh; Nếu cảm thvăn học thì đa số giáo viên áp đặt
cách cảm thụ của mình, trò thừa nhận ý kiến của thầy, cảm thụ lại những điều
thầy cảm thụ được. Mà chúng ta đã biết rằng việc cảm thụ của người lớn
những điểm giống nhưng cũng có những điểm khác so với cm thụ của trẻ.
Trong các tiết họcn Tiếng Việt, thể học sinh phát hiện được các biện
pháp nghệ thuật song chưa hiểu được tác dụng của c giả sử dụng biện pháp
nghệ thuật đó có tác dụng gì? Bởi chính giáo viên dạy chưa tạo điều kiện đ học
sinh cảm thụ văn học tốt thông qua các gidạy dẫn đến các tiết viết bài tập làm
văn của học sinh chưa vận dụng được khả năng cảm thụ văn học làm cho các bài
văn miêu tả chưa hay, chưa sinh đng, khng bc lcảm xúc của học sinh
còn hạn chế.
Nguyên nhân chính do qtrình nhận thức của giáo viên vtầm quan
trọng của việc bồi dưỡng cảm thụ văn học cho học sinh chưa thật đầy đủ, kiến
thức về lĩnh vực cảm thụ văn học của giáo viên n nhiều hạn chế, đặc biệt
những biện pháp, kĩ năng bồi dưỡng cảm thụ văn học của giáo viên cho học sinh
còn nhiều lúng túng, hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu, do đó chưa thu hút
được học sinh vào hoạt động cm thụ một cách tích cực. Giáo viên không trả lời
được mục đích tác giả viết i này, câu chuyện này đlàm gì? Một số giáo viên
hiểu nhưng diễn đạt không ng. Số giáo viên phân tích sai cách đc thơ
cũng không phải là ít, mà đọc sai thì sẽ hiểu sai, sẽ cảm thụ không đúng, dẫn đến
chất ợng bồi dưỡng cảm thụ văn học cho học sinh trong nhà trường Tiểu học
hiện nay còn nhiều hạn chế. Tìm hiểu thực trạng dạy học cảm thụ văn học lớp
5, tôi thấy rằng việc dạy học cảm thụ văn học chưa đáp ứng được mục tiêu,
nhiệm vụ n học. Không giúp hc sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp trong
các bài văn, bài thơ, cũng nghĩa không hồi đáp được văn bản, tức việc
cảm thụ văn học thực sự chưa đạt yêu cầu.
Bên cạnh đó, nội dung cảm thụ văn học chưa được phân tách ra ràng mà
4
chỉ tích hợp vào c giờ Tập đọc, Tập làm văn, Luyện từ và câu… khiến giáo
viên muốn hướng dẫn học sinh cảm thụ văn học cũng không đủ thời gian, các
câu hỏi phần tìm hiểu bài còn mang tính chất áp đặt.
2.1.3. Hc sinh
Học sinh chưa thực sự hiểu từ “cảm thụ văn học”, hình nh đẹp”,... Các
em chưa thấy được mỗi bài văn, bài thơ một n bản nghệ thuật, dài hay
ngắn thì cũng chứa ợng thông tin nhất định về ngôn từ, hình ảnh, skiện,
tình cảm,... cho n những thông tin đó tác động o tâm hồn ngây thơ, hiếu
động của các em bị hạn chế. Học sinh n chậm trong quá trình nhận diện ngôn
ngữ trong văn bản, năng đc thành thạo đnắm được đi những từ ngữ
cần tìm nghĩa để từ đó hiểu nội dung của văn bản n nhiều hạn chế. Đọc
hiểu còn đang tách rời nhau học sinh đc nhưng học sinh không hiểu, đọc nhưng
không duy i được đọc, đọc không hiểu huống i đến cảm thụ. Phần
tìm hiểu nội dung văn bản, học sinh trả lời các câu hỏi sách giáo khoa n máy
móc, phụ thuộc quá nhiều vào từng câu, từng chữ trong văn bản, trong suy nghĩ
trlời học sinh chưa chủ đng chưa tính sáng tạo. Phần đông học sinh
chỉ dừng lại phần tìm hiểu văn bản chưa chủ động trong việc diễn đạt kết
quả cảm thụ, chưa biết rút ra i học về nhận thức, v tình cảm, nh vi sau khi
được đọc, được nghe. Đặc biệt học sinh chưa biết suy nghĩ để p phán hay
khẳng định nội dung văn bản đưa ra, học sinh không biết quan m đến mong
muốn mà người viết đặt vào chính đối tượng người đọc, người nghe.
Kết quả khảo sát khả năng cảm thụ n học của học sinh lớp 5A đầu năm
học 2018 – 2019 của giáo viên chủ nhiệm như sau:
Tổng
s HS
Điểm 1 2
Điểm 3 – 4
Điểm 5 - 6
Điểm 7 - 8 Điểm 9 - 10
26 SL % SL % SL % SL % SL %
1 3,8 6 23,07
12 46,15
3 11,5 4 15,48
Chính vậy, tôi thấy trong các nhà trường tiểu học việc đưa ra sáng kiến
“Một số biện pháp giúp học sinh lớp 5 phát triển năng lực cảm thvăn học
là vấn đề cần thiết và cấp bách.
2.2. Mt sbin pháp giúp hc sinh lp 5 phát triển năng lc cảm th văn học
2.2.1. Giáo viên – người truyền lửa cần có các kĩ năng về cảm thụ văn học
Để giúp học sinh kĩ năng cảm thụ văn học thì giáo viên phải các
năng bản. Chính giáo viên người truyền lửa, người khơi gợi cho các em
đến với những điều đẹp đẽ nhất của văn chương tác giả gửi gắm. Do đó, i
xin nêu ra 4 kĩ năng cơ bản trong cảm thụ văn học như sau:
2.2.1.1. Kĩ năng đọc hiểu ngôn t
Chất liệu của văn học ngôn từ. cp độ ban đầu này, đọc hiểu ngôn từ
được xem như là “nhận ra nghĩa của chữ”. Tuy nhiên, ở mức thấp nhất này cũng
những đòi hi nhất định, đó phải hiểu đúng. Nếu không hiểu hoặc hiểu sai
sẽ dn đến cảm thụ sai lệch nội dung của văn bản.
Trong văn bản văn học ẩn đằng sau ngôn từ tưởng, tình cảm, thái độ
của tác giả trước những vấn đề của cuộc sống. Vì vậy, ngay bước đầu tiên,
5
song song với việc nhận ra nghĩa của từ sự rung động của người đọc qua các
phương diện ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp.
2.2.1.2 . Kĩ năng phát hiện “chỗ vấp” thẩm mĩ
đây thhiểu “chỗ vấp” thẩm những tín hiệu thẩm vi . V
khái niệm “tín hiệu thẩm mĩ”, GS. Bùi Minh Toán cho rằng tín hiệu thẩm mĩ . là
loại tín hiệu chức ng thẩm mĩ: biểu hiện cái đẹp, truyền đạt bồi ỡng
cảm c về i đẹp. cũng cần hai mặt: cái biểu đạt i được biểu đạt,
nhưng i được biểu đạt ý nghĩa thẩm mĩ”. Còn thế o “tín hiệu thẩm mĩ
vi mô”; tác giả cũng đưa ra quan niệm những tín hiệu được cấu tạo trên
sở một từ hay một ngữ. Thưng gọi là nhãn tự”.
Trong quá trình đọc văn bản, không phải tất cả các từ, ngữ đều có hàm ý. Chỉ
những từ, ngữ nào chứa đựng lượng thông tin lớn, cánh cửa mời gọi người
đọc mở ra để bước vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm được gọi ch vấp
thẩm mĩ”. Những từ ngữ này khiến người đọc phải dừng lại, quan sát chúng, tự
đặt ra những u hỏi tự giải. Skhác biệt giữa từ ngữ thông thường từ
ngữ được coi “chỗ vấp thẩm mĩ” gì? Cần hiểu rằng ngôn ngữ mang bản
chất hiệu. Bất mt từ, ngữ nào cũng gồm hai mặt cái biểu đạt cái được
biểu đạt. Nhưng tín hiệu thẩm mĩ vi mô thì c hai mặt của từ ngữ thông
thường trở thành cái biểu đạt mới cho cái được biểu đạt mang tính thẩm mĩ cao.
dụ: Trong bài thơ Cửa sông của nhà thơ Quang Huy, với khả năng liên
tưởng sử dụng lớp từ ngữ rất “đắt” như “then khoá, không khép, mra” giúp
học sinh hình dung ra cửa sông n cánh cửa đhọc sinh ddàng nắm bắt. Bên
cạnh đo, tác giả đã nhẹ nhàng đưa vào các từ ngữ: ùa ra, tìm về, đến… giúp học
sinh nhận biết được hành trình về với cội nguồn, với nơi đã sinh ra của cửa sông.
Qua đó, nhắc nhở ta nhớ đến công lao, cơ đồ mà tổ tiên đã để lại.
Chỗ vấp thẩm mĩ không chỉ nằm ở từ ngữ mà còn nằm ở cấu trúc của câu thơ.
Người đọc phải tinh ý để phát hiện ra những điều khác thường của câu thơ, dòng
thơ.
Một tác phẩm văn học thực scó giá trị, thực sự đem lại cho độc giả những
cảm c mới mẻ, những rung động sâu sắc phải sự hài a giữa ni dung
hình thức. Cái tinh, cái lí phải chứa chan, phải sâu sắc nhưng lời lẽ phải dạt dào,
lấp lánh.
Vì vậy, khi bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học cho học sinh tiểu học, chúng
ta không chỉ giúp các em hiểu sâu, hiểu vnội dung tức giúp các em giải
được cái tình ý bên trong của tác phẩmcòn giúp các em tiếp cận được vẻ
đẹp của ngôn từ, vẻ đp của cách nói n chương. Các tác phẩm n học hay
thường chứa đựng các từ, ngữ thậm cmột từ, một tiếng duy nhất mang tính
gợi tả, gợi cảm, loại từ đắt nhất, có giá trị nhất. giống như chiếc chìa khóa
mở cửa vào khu vườn bí mật của tác phẩm. đó, đầy ắp tình người, tình đời,
chan chứa những nụ cười khi hạnh phúc, những giọtc mắt khi đau khổ...
Chính giáo viên người khơi gợi, kích thích, hướng dẫn học sinh đi tìm
chiếc chìa khóa mcánh cửa diệu ấy. Trong thế giới ngôn từ của tác phẩm,
người đọc phải phát hiện ra các từ ngữ đặc sắc, gói kết cái hồn phách của bài thơ
cái mà nhà nghiên cứu gọi là “nhãn tự”. Đóthể là lớp từ láy, ợng hình,