
Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp 65
Hiệp ước cũng cho phép Cơ quan yêu cầu việc nộp đơn hoặc các thông tin trao đổi
được đăng ký phải được làm bằng một ngôn ngữ nhất định, hoặc một trong số các
ngôn ngữ mà Cơ quan đó cho phép.
(k) Tuân thủ các Công ước khác
Hiệp ước Luật Nhãn hiệu không yêu cầu các Nước thành viên phải có nghĩa vụ tham
gia các điều ước quốc tế khác. Tuy nhiên, Điều 15 quy định các Nước thành viên phải
tuân thủ các quy định của Công ước Paris liên quan đến nhãn hiệu và Điều 3 liên
quan đến việc nộp đơn, theo đó các Nước thành viên phải đảm bảo rằng Bảng phân
loại Nice được áp dụng cho việc phân nhóm hàng hoá và dịch vụ nêu trong đơn.
(l) Quy chế và các Mẫu đơn quốc tế
Các quy định của Hiệp ước được bổ sung bằng Quy chế, Quy chế này quy định các
quy tắc liên quan đến hướng dẫn chi tiết việc thi hành các điều khoản về các thủ tục
và yêu cầu hành chính theo Hiệp ước. Quy chế này được áp dụng đối với các yêu cầu
về đơn, đại diện, ngày nộp đơn, chữ ký, thời hạn, gia hạn, cách ghi tên và địa chỉ,
cách nhận biết đơn mà không có số đơn. Ví dụ, Quy chế quy định về số lượng mẫu
nhãn hiệu cần nộp kèm theo đơn, thời hạn nộp lệ phí và nộp các tài liệu khác cho Cơ
quan như giấy uỷ quyền, yêu cầu sửa đổi trong trường hợp không đúng quy định, v.v.
Quy chế còn bao gồm 8 mẫu Đơn quốc tế về việc nộp đơn đăng ký, yêu cầu gia hạn,
ghi nhận việc thay đổi tên, địa chỉ và quyền sở hữu, sửa chữa các thiếu sót, chỉ định
đại diện, giấy xác nhận việc chuyển giao và các văn bản chuyển giao. Trong trường
hợp yêu cầu cung cấp thông tin không được quy định theo luật quốc gia nhưng lại
được thừa nhận theo yêu cầu của Hiệp ước, ví dụ, về đơn, Cơ quan phải chuẩn bị một
"Mẫu đơn quốc tế riêng". Mẫu này không được quy định thêm các yêu cầu mang tính
bắt buộc bổ sung hoặc trái với Hiệp ước hoặc Quy chế. Bằng việc sử dụng Mẫu đơn
quốc tế hoặc Mẫu đơn quốc tế riêng, người nộp đơn và các bên khác được đảm bảo
rằng Cơ quan của Bên tham gia sẽ không thể từ chối đơn đăng ký hoặc đơn yêu cầu
được làm theo các mẫu đó.
(m) Các điều khoản chuyển tiếp
Các điều khoản chuyển tiếp của Hiệp ước cho phép các Nước thành viên được hoãn
thi hành một số quy định của Hiệp ước đến ngày 28/10/2004, ví dụ, đối với hệ thống
đơn có nhiều nhóm hàng hoá, dịch vụ, quy định cấm việc yêu cầu xác nhận chữ ký
trong đơn và giấy uỷ quyền, nộp tuyên bố và/hoặc chứng cứ về việc sử dụng liên tục

Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp 66
nhãn hiệu khi yêu cầu gia hạn đăng ký nhãn hiệu và tiến hành thẩm định nội dung khi
gia hạn.
(g) Tên miền có xung đột
Điều 6 quy định rằng một tên miền sẽ bị coi là xung đột với một nhãn hiệu nổi tiếng ít
nhất nếu tên miền đó, hoặc một phần chủ yếu của nó, tạo thành sự mô phỏng, bắt
chước, biên dịch, hoặc chuyển ngữ của nhãn hiệu nổi tiếng, và tên miền đó được đăng
ký hoặc sử dụng với mục đích không trung thực.
Chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng sẽ có quyền yêu cầu, bằng quyết định của cơ quan có
thẩm quyền, người đăng ký tên miền xung đột đó phải hủy bỏ đăng ký, hoặc chuyển
giao đăng ký đó cho chủ sở hữu nhãn hiệu nổi tiếng.
Chỉ dẫn địa lý
1. Giới thiệu
Chỉ dẫn địa lý là những dấu hiệu chỉ xuất xứ được nhà sản xuất sử dụng để có được sự
thừa nhận của thị trường. Các nhãn hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hoá có lẽ là các
loại nhãn hiệu sớm nhất. Ví dụ, dòng chữ Hy Lạp khắc trên bia được tìm thấy trên các
bình Etruscan có niên đại từ 800 đến 400 năm trước công nguyên.
Luật đầu tiên của Pháp về chỉ dẫn xuất xứ của nho trồng có từ ngày 1 tháng 8 năm
1905; Một luật năm 1935 đã thiết lập hệ thống kiểm soát tên gọi xuất xứ quốc gia
(appellations d’origine contrôlée (AOC)) dưới sự kiểm soát của một cơ quan công:
Viện quốc gia về tên gọi xuất xứ (Institut Nationale des Appellations d’Origine
(INAO)); các loại pho mát được bảo hộ bởi nhiều luật, như Roquefort (1925), Comté
(1952) và Cantal (1956).
Một hệ thống bảo hộ các chỉ dẫn địa lý tạo ra một quyền độc quyền thông qua (i) việc
đăng ký một từ hoặc biểu tượng mang ý nghĩa địa lý, (ii) việc xác định mối liên hệ
giữa một sản phẩm và một lãnh thổ về mặt địa lý. Trong ví dụ thứ hai, các chỉ dẫn địa
lý là một hình thức can thiệp của nhà nước vào việc điều chỉnh sản phẩm. Các chế độ
đa phương đã phát triển việc thiết lập các tiêu chuẩn bảo hộ chỉ dẫn địa lý theo một,
hoặc cả hai chức năng này. Nhưng chế độ quan trọng nhất là Công ước Paris về Bảo
hộ sở hữu công nghiệp (1883); Thoả ước Madrid về Ngăn chặn chỉ dẫn sai hoặc lừa
dối về nguồn gốc (1891); Thoả ước Lisbon về Bảo hộ và đăng ký tên gọi xuất xứ
(1958); và Hiệp định của WTO về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền
sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS 1994).

Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp 67
2. Các định nghĩa
(a) Các chỉ dẫn địa lý
Vì có rất nhiều cách khác nhau mà việc bảo hộ các chỉ dẫn địa lý được tạo ra theo các
luật quốc gia nên không có một thuật ngữ được chấp nhận chung. Các thuật ngữ dưới
đây là các định nghĩa thông thường mà có thể được tìm thấy trong tài liệu về các chỉ
dẫn địa lý:
‘Chỉ dẫn nguồn gốc’ chỉ một dấu hiệu thể hiện việc một sản phẩm có nguồn gốc từ
một vùng địa lý đặc biệt.
‘Tên gọi xuất xứ' chỉ một dấu hiệu thể hiện việc một sản phẩm có xuất xứ từ một khu
vực địa lý đặc biệt chỉ khi các chất lượng đặc thù của sản phẩm có do môi trường địa
lý, bao gồm cả các yếu tố tự nhiên và con người.
‘Chỉ dẫn địa lý’ bao gồm cả hai khái niệm trên.
Với mục đích bàn luận các đề xuất cải cách vào tháng tư năm 2001 của Hội đồng
TRIPS, Ban thư ký WTO đã thông qua thuật ngữ "chỉ dẫn nguồn gốc địa lý" để chỉ các
sự thể hiện khác nhau được các thành viên của WTO sử dụng để bảo hộ nguồn gốc địa
lý của sản phẩm.
(b) Các nhãn hiệu
Trong các điều kiện chung, các nhãn hiệu là các dấu hiệu được sử dụng để phân biệt
hàng hoá hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp này với hàng hoá hoặc dịch vụ của
doanh nghiệp khác. Điều 15.1 Hiệp định TRIPS quy định rằng: "Dấu hiệu bất kỳ, hoặc
sự kết hợp của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một
doanh nghiệp này với hàng hoá hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác đều có thể
được coi là một nhãn hiệu". Theo định nghĩa này thì chức năng chính của nhãn hiệu là
phân biệt hàng hoá và/hoặc dịch vụ trong đó nhãn hiệu được sử dụng. Chỉ những nhãn
hiệu có tính phân biệt mới có thể thực hiện được chức năng này.
Hiệp định TRIPS không đưa ra chỉ dẫn nào về việc trong trường hợp nào thì một dấu
hiệu phải được coi là có tính phân biệt đối với hàng hoá hoặc dịch vụ nhất định. Tuy
nhiên, thường chấp nhận rằng để được coi là có tính phân biệt, các dấu hiệu được sử
dụng như nhãn hiệu phải không mang tính mô tả hoặc lừa dối.

Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp 68
Như một đề xuất chung, các chỉ dẫn địa lý không chắc được nghĩ đến hơn là mang tính
mô tả. Thực vậy, nhiều luật nhãn hiệu loại trừ một cách rõ ràng các dấu hiệu chỉ địa lý
khỏi bảo hộ như những dấu hiệu vốn mang tính phân biệt và đồng thời quy định như
một sự bảo vệ đối với sự xâm phạm nhãn hiệu, thực tế rằng một dấu hiệu khu vực địa
lý được hiểu ngầm để tuyên bố một sự liên hệ đối với xuất xứ của hàng hoá có liên
quan. Tuy nhiên, nó có thể sử dụng một tên địa lý như một nhãn hiệu trong các trường
hợp khi nhãn hiệu đó, cho dù mang tính mô tả về nguồn gốc, có được đặc tính phân
biệt (hoặc ý nghĩa thứ hai) thông qua việc sử dụng.
(c) Những sự khác nhau giữa Chỉ dẫn địa lý và Nhãn hiệu
Như đã được chỉ ra trong phần bàn luận trên đây, một chỉ dẫn địa lý là một sự mô tả
chung có khả năng áp dụng bởi mọi thương nhân ở một khu vực địa lý cụ thể đối với
hàng hóa mà có nguồn gốc từ khu vực đó. Nhãn hiệu là một dấu hiệu phân biệt các sản
phẩm của một thương nhân cụ thể với những hàng hóa của các đối thủ cạnh tranh của
mình. Vì vậy, nó không thể mang tính mô tả và không thể là tên chung.
Mọi thương nhân từ khu vực địa lý cụ thể được hưởng quyền bảo hộ chỉ dẫn địa lý đối
với sự chiếm đoạt trái phép, trong khi đó một nhãn hiệu được bảo hộ khỏi việc chiếm
đoạt trái phép theo đơn yêu cầu của chủ sở hữu đã đăng ký của nhãn hiệu đó. Nói
chung, các chỉ dẫn địa lý được giám sát và bảo hộ bởi các hiệp hội của các nhà sản
xuất ở khu vực có liên quan.
Không giống các nhãn hiệu, các chỉ dẫn địa lý không thể tự do chuyển giao từ một chủ
sở hữu này sang chủ sở hữu khác, bởi vì một người sử dụng phải có sự liên tưởng phù
hợp với khu vực địa lý và phải tương thích với thực tiễn sản xuất của khu vực đó.
3. Bảo hộ quốc tế Chỉ dẫn địa lý
(a) Công ước Paris về Bảo hộ sở hữu công nghiệp, năm 1883
Công ước đa phương đầu tiên đưa "các chỉ dẫn nguồn gốc hoặc các tên gọi xuất xứ"
vào như các đối tượng bảo hộ của pháp luật sở hữu công nghiệp, là Công ước Paris.
Theo Điều 10(1) của Công ước Paris, quy định được xây dựng để nhằm bắt giữ việc
nhập khẩu hàng hoá mang các chỉ dẫn sai lệch về nguồn gốc của hàng hoá hoặc chỉ
dẫn sai của nhà sản xuất.
Theo Điều 10(2),

Bản dịch này do Chương trình hợp tác EC-ASEAN về sở hữu trí tuệ (ECAP II) cung cấp 69
... nhà sản xuất, nhà chế tạo, hoặc thương gia bất kỳ dù là cá nhân hay pháp
nhân, tham dự hay không vào việc sản xuất, hoặc chế tạo hoặc buôn bán các
hàng hoá như vậy và được thành lập ở khu vực bị chỉ dẫn sai lệch như nguồn
gốc hoặc tại vùng có khu vực như vậy, hoặc ở nước bị chỉ dẫn sai lệch, hoặc ở
nước nơi chỉ dẫn sai lệch về nguồn gốc được sử dụng, trong trường hợp bất kỳ
cũng được coi là bên có liên quan.
Điều 10bis cũng đưa ra sự bảo hộ chống lại các chỉ dẫn sai lệch hoặc lừa dối về nguồn
gốc như một cách thức ngăn chặn sự cạnh tranh không lành mạnh.
Theo định nghĩa, sự cạnh tranh không lành mạnh là những hành động bất kỳ tạo ra sự
nhầm lẫn hoặc những sự viện dẫn bất kỳ mà việc sử dụng chúng trong tiến trình
thương mại có khả năng khiến cho công chúng nhầm lẫn về bản chất đối với quy trình
sản xuất, các đặc tính, tính phù hợp với mục đích của chúng, hoặc chất lượng của hàng
hoá.
(b) Thỏa ước Madrid về ngăn chặn các chỉ dẫn sai hoặc lừa dối về nguồn
gốc của hàng hoá, năm 1891
Hình thức nguyên thủy của Công ước Paris cấm việc sử dụng các chỉ dẫn địa lý sai
lệch. Một số nước đã ký kết Công ước đề xuất một hình thức toàn diện hơn đối với
việc điều chỉnh được coi là lạm dụng đáng kể quyền SHTT. Năm 1891 Thỏa ước
Madrid đối với việc bảo hộ các chỉ dẫn địa lý là câu trả lời của các nước này. Điều 1
quy định tất cả hàng hóa "mang chỉ dẫn sai lệch hoặc lừa dối" tới một nước ký kết
Thỏa ước, hoặc tới một nơi ở nước đó “sẽ bị bắt giữ đối với việc nhập khẩu”. Tuy
nhiên, thoả thuận này không thu hút được sự tham gia của các nước có nền thương mại
chủ yếu như Mỹ, Đức và Ý. Vấn đề ban đầu đối với Thoả ước này và với các sửa đổi
tiếp theo là khả năng các nước không miễn trừ những chỉ dẫn địa lý đã trở thành tên
gọi chung trong phạm vi biên giới của họ.
(c) Thoả ước Lisbon về Bảo hộ và đăng ký tên gọi xuất xứ, năm 1958
Thoả ước Lisbon thiết lập một hệ thống quốc tế về đăng ký và bảo hộ tên gọi xuất xứ.
Thoả ước đã thông qua định nghĩa bằng tiếng Pháp đối với tên gọi xuất xứ bằng việc
hạn chế các chỉ dẫn được bảo hộ cho những trường hợp mà trong đó chất lượng và các
đặc tính của sản phẩm “hoàn toàn hoặc hầu như do môi trường địa lý, gồm các yếu tố
tự nhiên và con người tạo ra".
Thoả ước quy định về việc đăng ký tại Văn phòng quốc tế của WIPO các tên gọi xuất
xứ "được công nhận và bảo hộ như tại nước xuất xứ của chúng". Do đó, các nước được

