Câu 2. Điểm mới của Hiến pháp sửa đổi
VOV.VN - Sau 21 năm từ Hiến pháp năm 1992, đất nước ta có Hiến pháp sửa đổi mới, Hiến pháp
của thời kỳ hội nhập, thời kỳ đổi mới.
Sáng ngày 28/11/2013, tuyệt đại đa số Đại biểu Quốc hội khóa XIII (97,59%) đã ấn nút thông qua Dự
thảo sửa đổi Hiến pháp (SĐHP) năm 1992 để trở thành Hiến pháp của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam sửa
đổi. Như vậy sau 21 năm từ Hiến pháp năm 1992, đất nước ta Hiến pháp sửa đổi mới, Hiến pháp của
thời kỳ hội nhập, của thời kỳ đổi mới. Hiến pháp của một đất nước ngày càng phát triển, dân chủ, văn minh.
Nhìn lại quá trình soạn thảo, lấy ý kiến, tiếp thu chỉnh lý, Hiến pháp sửa đổi có những điểm mới sau:
Thứ nhất, với cách “người trong cuộc”y ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp đã nêu bật những cái
mới của dự thảo sửa đổi Hiến pháp lần này là: có 11 chương 120 điều, so với Hiến pháp năm 1992 thì giảm
27 điều, dự thảo chỉ giữ nguyên 7 điều, bổ sung 12 điều mới sửa đổi lên đến 101 điều. Trong đó s
sắp xếp các chương, như chương 11 về Quốc huy, Quốc kỳ, Quốc ca, thủ đô nhập vào chương 1. Về chế độ
chính trị ở chương 5 trong Hiến pháp hiện hành, về quyền và nghĩa vụ bản công dân được đưa lên vị trí
chương 2 với tên gọi mới là quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân; có 1 chương hoàn toàn
mới là chương 10, quy định về các thiết chế hiến định độc lập.
Về nội dung, ngay từ Lời nói đầu được sửa đổi theo hướng khái quát, đọng, súc tích ngắn gọn
chỉ bằng 1/3 so với Lời nói đầu của Hiến pháp hiện hành. Thứ hai, về chủ quyền nhân dân thì được thể hiện
rõ và nhất quán trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, làm nổi bật vai trò của nhân dân, là chủ thể cao
nhất, duy nhất của quyền lực nhà nước. Thứ ba, thể chế hóa, nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước, bảo
đảm xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Điểm mới thứ 4 nội dung kinh tế, văn hóa, hội, giáo dục, khoa học công nghệ, môi trường được thể
hiện theo hướng ngắn gọn rõ ràng và mang tính nguyên tắc, bảo đảm tính ổn định lâu dài của Hiến pháp; nội
dung này trước đây 2 chương, chương 2 chương 3, bây giờ được nhập lại thành chương mới
chương 3. Điểm mới thứ 5, việc dành hẳn 1 chương về thiết chế hiến định độc lập, 2 điều, tại chương
10 quy định về Hội đồng bầu cử quốc gia và kiểm toán nhà nước.
Thứ hai, cái mới của Hiến pháp từ góc độ các Đại biểu Quốc hội (ĐBQH): 498 ĐBQH được cử tri cả
nước ủy quyền, đại diện cho ý nguyện của nhân dân đã dành tâm huyết, trí tuệ và thời gian thảo luận ở tổ,
hội trường; đã trăn trở, tranh luận, phân tích, bàn thảo một cách kỹ lưỡng, thận trọng, khoa học; đã góp ý,
tham gia từng câu, từng chữ, từng dấu chấm, dấu phẩy của bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Nhiều đại biểu
còn giữ nguyên từ bản dự thảo đầu tiên cho đến bản dự thảo sửa đổi cuối cùng để đối chiếu, so sánh về s
tiếp thu, chỉnhcủa Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Có đại biểu rất phấn khởi vì ý kiến của mình được
tiếp thu, chỉnh sửa câu, chữ trong bản dự thảo sửa đổi Hiến pháp… Qua đó cho thấy các ĐBQH đã hiểu rất
rõ vai trò, trọng trách của mình trước cử tri, trước đất nước.
Cái mới của các ĐBQH tại kỳ họp này còn chỗ, không chỉ nhận thấy vai trò, trọng trách của mình
trước một sự kiện có tính chất lịch sử mà còn nhận thức rất rõ ý nghĩa, nội hàm, nội dung từng chương, từng
điều của Hiến pháp. Các ĐBQH đã có thời gian, không gian để thẩm thấu, để hiểu và nhận thấy trách nhiệm,
vinh dự, tự hào, hạnh phúc được trực tiếp tham gia, góp ý, trao đổi; được trực tiếp tham gia quyết định
Hiến pháp sa đổi lần này bằng việc ấn nút thông qua vào thời khắc quan trọng. Trọng trách ấy, vinh dự ấy
sự kết tinh về ý chí, nguyện vọng của cử tri được đặt lên vai các ĐBQH; đồng thời cũng đòi hỏi khách
quan tất yếu trong thời kỳ mới của cách mạng nước ta.
Thứ ba, cái mới của Hiến pháp từ góc độ nhân dân cử tri cả nước: Hiến pháp đầu tiên ra đời năm
1946, sau đó các Hiến pháp 1959, 1980, 1992. Mỗi bản Hiến pháp đều vai trò, sứ mệnh lịch sử riêng
của nó. Tuy nhiên, không phải cán bộ hay cử tri nào cũng có điều kiện, thời gian để theo dõi và hiểu biết sâu
sắc, đầy đủ về Hiến pháp; thậm chí có những cán bộ, cử tri xem Hiến pháp là của ai đó cao xa, không phải là
của mình. Nhưng lần này, qua gần một năm với hàng chục triệu ý kiến, hàng nghìn hội nghị, hội thảo của các
tầng lớp hội, mới thấy rằng nhân dân, cử tri, các nkhoa học, quản lý... rất quan tâm, đóng p trí tuệ
vào dự thảo sửa đổi Hiến pháp. Tuy còn mt bộ phận, một số người thuộc các tầng lớp nhân dân và ngay cả
một số ĐBQH của chúng ta còn những ý kiến khác nhau nhưng tuyệt đại bộ phận nhân dân Quốc hội
đã đồng tình cao với sửa đổi Hiến pháp lần này.
Cái mới và cũng cái được lớn nhất của Hiến pháp sửa đổi đó là nhân dân cử tri cả nước đã coi
Hiến pháp của chính mình; Hiến pháp thực s đạo luật bản tầm ảnh hưởng để định hướng và
điều chỉnh các hoạt động của đất nước, của xã hội, thông qua các luậtcác văn bản dưới luật; đây bản
Hiến pháp đổi mi cho thời kỳ tiếp tục đổi mới của đất nước chúng ta. Hiến pháp sửa đổi lần này thực s đã
thể hiện sự kế thừa các Hiến pháp trước, thể hiện đầy đủ ý chí, tinh hoa, nguyện vọng của đồng bào, cử tri
của cả nước và phát triển ở một tầm vóc mới; thực sự là Hiến pháp của dân, do dân và vì dân./.
Nhà báo Nguyễn Đăng Tiến
Tổng Giám đốc Đài TNVN
Nguồn: http://vov.vn/chinh-tri/quoc-hoi/diem-moi-cua-hien-phap-sua-doi-294642.vov
Mô't sô) điê+m mơ)i cơ ba+n cu+a Hiê)n pha)p nươ)c Cô'ng ho.a xa0 hô'i
chu+ nghi0a Viê't Nam sư+a đô+i
Sau một thời gian tổ chức lấy ý kiến đóng góp của toàn thể quần chúng nhân dân và thông qua
quá trình tiếp thu, chỉnh của quan soạn thảo, Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 đã được
thông qua sau 3 lần cho ý kiến tại các kỳ họp Quốc hội với tỷ lệ 97,59%. Hiến pháp nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi (sau đây gọi tắt là Hiến pháp sửa đổi) với 11 chương, 120 điều (giảm
1 chương 27 điều so với Hiến pháp năm 1992) nhiều điểm mới cả về nội dung kỹ thuật lập
hiến; bố cục hợp lý, chặt chẽ và khoa học, bảo đảm các quy định của Hiến pháp đúng tầm là đạo luật
cơ bản, có hiệu lực pháp lý cao nhất, có tính ổn định lâu dài. Những điểm mới cụ thể như:
Một là, phần Lời nói đầu của Hiến pháp sửa đổi xúc tích, ngắn gọn hơn so với Hiến pháp năm 1992.
Theo đó, Hiến pháp sửa đổi khẳng định: "Trải qua mấy nghìn năm lịch s, Nhân dân Việt Nam lao động cần
cù, sáng tạo, đấu tranh anh dũng để dựng nước và giữ nước, đã hun đúc nên truyền thống yêu nước, đoàn
kết, nhân nghĩa, kiên cường, bất khuất và xây dựng nên nền văn hiến Việt Nam. Từ năm 1930, dươxi sưy laznh
đayo cu{a Đa{ng Côyng sa{n Viêyt Nam do Chu{ tiych Hô| Chix Minh saxng lâyp va| re|n luyêyn, Nhân dân ta tiến hành
cuộc đấu tranh u dài, đầy gian khổ, hy sinh đôyc lâyp, tự do của n tôyc, hạnh phúc của Nhân n.
Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc
lập, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bằng yx chix
và sức mạnh của toàn dân tộc, được sự giúp đỡ của bạn bè trên thế giới, Nhân dân ta đã giành chiến thắng
đại trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc làm nghĩa vụ
quốc tế, đạt được những thành tựu to lớn, ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đô{i mơxi, đưa đâxt nươxc đi lên
chủ nghĩa xã hội".
Hiến pháp sửa đổi lần này đã thể chế hóa Cương lĩnh của Đảng về xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa hội, kế thừa Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980
Hiến pháp năm 1992, Nhân dân Việt Nam xây dựng, thi hành và bảo vệ Hiến pháp này vì mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh trên sở phát huy dân chủ, đại đoàn kết toàn dân tộc, đề cao
được quyền con người, quyền nghĩa vụ công dân.
Hai là, Hiến pháp năm 1992 quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân ở Chương 5, nhưng
Hiến pháp sửa đổi đã đưa chế định này lên sau chương Chế độ chính trị, đặt ở Chương 2, như vậy riêng bố
cục cũng đã thể hiện tầm quan trọng của chương về quyền con người. Đồng thời, tên chương cũng đã có sự
thay đổi, cụ thể: Hiến pháp năm 1946 Chương "Nghĩa vụ quyền lợi công dân”, từ Hiến pháp năm
1959 đến Hiến pháp năm 1992 Chương "Quyền nghĩa vụ bản công dân", đến Hiến pháp sửa đổi
Chương này có tên gọi "Quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản công dân". Qua đó để khẳng định rằng,
quyền con người là quyền tự nhiên, Nhà nước phải thừa nhận, tôn trọng và cam kết bảo đảm, bảo vệ quyền
con người đúng như những công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Cụ thể Điều 14 quy định: "nước
Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế,
văn hóa, hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp pháp luật; Quyền con
người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc
phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng".
Thay cụm từ "mọi công dân" thành "mọi người", theo đó Điều 16 nêu rõ: "Mọi người đều bình đẳng
trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội".
Bổ sung thêm quy định: "Mọi người quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ.
Không ai bị tước đoạt tính mạng trái pháp luật".
Ba là, Hiến pháp sửa đổi lần này vẫn tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí của Đảng cộng sản Việt Nam,
trong đó những điểm lớn như thể hiện hơn bản chất của Đảng một cách công khai. Trong Điều 4 của
Hiến pháp trước đây không nói rõ trách nhiệm của Đảng, thì lần này Hiến pháp sửa đổi đã đưa vào và nhấn
mạnh Đảng phải gắn bó mật thiết với nhân dân. Đó là sức sống của Đảng.
Thêm vào đó, Đảng phải phục vụ nhân dân, phải chịu sự giám sát của nhân dân phải chịu trách
nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Nếu như quyết định không đúng, ảnh hưởng đến lợi
ích quốc gia, dân tộc, nhân dân thì Đảng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân và trước dân tộc. Đây là điểm
rất mới của Hiến pháp.
Bốn là, Hiến pháp sửa đổi phân định được chức năng nhiệm vụ quan lập pháp, pháp, hành
pháp so với Hiến pháp hiện nay[1]. Theo đó:
Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lc nhà nước cao nhất của nước
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn
đề quan trọng của đất nước giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước (Điều 69). Quốc hội
những nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể như sau:
- Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật;
- Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo
cáo công tác của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện
kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước quan khác do Quốc hội
thành lập;
- Quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;
Quyết định chính sách bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ
thuế; quyết định phân chia c khoản thu nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương ngân sách địa
phương; quyết định mức giới hạn an toàn n quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; quyết định dự toán ngân
sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước;
- Quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;
- Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân, Viện kiểm
sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán Nhà nước, chính quyền địa phương và cơ quan khác do
Quốc hội thành lập;
- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch
Quốc hội, Ủy viên Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội,
Thủ ớng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ
tịch Hội đồng bầu cử quốc gia, Tổng Kiểm toán Nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành
lập; phê chuẩn đề nghị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng thành
viên khác của Chính phủ, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; phê chuẩn danh sách thành viên Hội đồng
quốc phòng và an ninh, Hội đồng bầu cử quốc gia;
- Sau khi được bầu, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân
dân tối cao pha{i tuyên thêy trung tha|nh vơxi Tô{ quôxc, Nhân dân va| Hiêxn phaxp;
- Bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn;
- Quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, quan ngang bộ của Chính phủ; thành lập, giải th, nhập, chia,
điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt;
thành lập, bãi bỏ cơ quan khác theo quy định của Hiến pháp và luật;
- Bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, T
án nhân n tối cao, Viện kiểm sát nn dân tối cao trái vi Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;
- Quyết định đại xá;
- Quy định hàm, cấp trong lực lượng trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao những hàm, cấp nhà
nước khác; quy định hn cơng, huy chương danh hiệu vinh dự nc;
- Quyết định vấn đề chiến tranh hoà nh; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt
khác bảo đảm quốc png và an ninh quc gia;
- Quyết định chính sách bản về đối ngoại; phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực
củađiều ước quốc tế liên quan đêxn chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia, cách thành viên của Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng, các điều ước quốc tế về quyền
con người, quyền và nga vụ cơ bản của công dân và các điều ước quốc tế khác trái với luật, nghị quyết của
Quốc hội;
- Quyết định trưng cầu ý n.
Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội
báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chtịch nước (Điều 94). Chính phủ
những nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể như sau:
- Tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường
vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước;
- Đề xuất, xây dựng chính sách trình Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định hoặc quyết định
theo thẩm quyền để thực hin nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều này; trình dự án luật, dự án ngân sách
nhà nước và các dự án khác trước Quốc hội; trình dự án pháp lệnh trước Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- Thống nhất quản lý về kinh tế, n hóa, hội, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường,
thông tin, truyền thông, đối ngoại, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn hội; thi hành lệnh động
viên, lệnh ban bố nh trạng khẩn cấp các biện pháp cần thiết khác để bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm tính
mạng, tài sản của Nhân dân;
- Trình Quốc hội quyết định thành lập, bãi bỏ bộ, quan ngang bộ; thành lập, giải thể, nhập, chia,
điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt;
trìnhy ban thường vụ Quốc hội quyết định thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn viy hành
chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
- Thống nhất quản nền hành chính quốc gia; thực hiện quản về cán bộ, công chức, viên chức
công vụ trong các quan nhà nước; tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo của
công dân, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; lãnh đạo công tác của các bộ, quan
ngang bộ, quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp; hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân
trong việc thực hiện văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân thực hiện
nhiệm vụ,quyền hạn do luật định;
- Bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và xã hội, quyền con người, quyền công dân; bảo đảm trật tự,
an toàn xã hội;
- Tổ chức đàm phán, điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước theo ủy quyền của Chủ tịch nước;
quyết định việc ký, gia nhập, phê duyệt hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ, trừ
điều ước quốc tế trình Quốc hội phê chuẩn; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, li ích chính đáng của tổ chức
công dân Việt Nam ở nước ngoài;
- Phối hợp với Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Vit Nam và cơ quan trung ương của các tổ chức
chính trị - xã hội trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Tòa án nhân dân là quan xét xử cao nhất của nước Cộng hoà hội chủ nghĩa Vit Nam, thực
hiện quyền tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ
xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân (Điều 102).
Bản Hiến pháp Quốc hội thông qua lần này kết quả của quá trình chuẩn bị công phu, làm việc cần
mẫn, tâm huyết, tận tụy, nghiêm túc chắt lọc tinh hoa trí tuệ của toàn dân, tiếp thu ý kiến xác đáng của cử tri
trong ngoài nước, các chuyên gia, nhà khoa học, các ngành, các cấp cả hệ thống chính trị của các vị
đại biểu Quốc hội. Do đó, bản Hiến pháp mi thể hin tinh thần đổi mới và thể hiện được ý Đảng, lòng dân,
phản ánh được nguyện vọng của đại đa số nhân dân[2].
Tài liệu tham khảo
1. Hiến pháp Việt Nam năm 1992.
2. Hiến pháp nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi được Quốc hội thông qua ngày
28/11/2013.
Bùi Huyền
Nguồn: http://www.moj.gov.vn/tcdcpl/tintuc/Lists/NghienCuuTraDoi/View_detail.aspx?ItemID=406
Một số điểm mới về kỹ thuật lập hiến trong Hiến pháp sửa đổi
năm 2013
TCCSĐT - Ngày 28-11-2013, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp sửa đổi năm 2013 Nghị quyết
64/2013/QH13 quy định một số điểm thi hành Hiến pháp. Hiến pháp sửa đổi năm 2013 hiệu lực kể
từ ngày 01-01-2014 nhiều điểm mới so với Hiến pháp năm 1992 cả về nội dung kỹ thuật lập
hiến. Bài viết phân tích một số điểm mới về kỹ thuật lập hiến trong Hiến pháp sửa đổi năm 2013.
Kỹ thuật lập hiến
Kỹ thuật lập hiến hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ những cách thức soạn thảo, thông qua và ban hành
Hiến pháp. Theo nghĩa hẹp, kỹ thuật lập hiến kỹ năng diễn đạt Hiến pháp thông qua cách thc thể hiện
viết các điều khoản quy định của Hiến pháp.
Kỹ thuật lập hiến vai trò quan trọng trong việc bảo đảm giá trị pháp của Hiến pháp; nhân tố
quan trọng làm cho nội dung Hiến pháp được trình bày một cách khoa học, chặt chẽ, lô gích; từ đó góp phần
nâng cao chất lượng của Hiến pháp, đồng thời bảo đảm hiệu lc và hiệu quả thực thi Hiến pháp sau khi ban
hành.
Lịch sử lập hiến của nhân loại cho đến nay chủ yếu lịch sử của các bản Hiến pháp được thể hiện
dưới dạng văn bản, chỉ trừ một số rất ít quốc gia Hiến pháp được thể hiện dưới hình thc bất thành văn như
ở Anh, Ix-rai-en, Ca-na-đa. Kỹ thuật lập hiến của hiến pháp dưới dạng văn bản là kỹ năng diễn đạt hiến pháp
thông qua cách thức thể hiện, viết các điều khoản quy định của Hiến pháp. Như vậy, vềbản, kỹ thuật lập
hiến có thể xem xét ở 3 yếu tố chính:
- Một , bố cục kết cấu của Hiến pháp. Cụ thể kết cấu trong các chương, mục, điều, khoản
thứ tự sắp xếp các chương, mục, điều khoản như thế nào.
- Hai, phạm vi những nội dung cần phải thể hiện trong Hiến pháp. Cụ thể, những vấn đề nào phải
được quy định trong Hiến pháp và những vấn đề gì điều chỉnh trong các văn bản luật.
- Ba là, cách diễn đạt nội dung của Hiến pháp thông qua ngôn từ, câu chữ sao cho rõ ràng, minh bạch
nhưng lại đủ bao quát và cụ thể.
Những điểm mới về bố cục và kết cấu của Hiến pháp
Ngoài Lời nói đầu, Hiến pháp năm 2013 11 chương, 120 điều, so với Hiến pháp năm 1992 (sửa
đổi, bổ sung năm 2001) chỉ giữ nguyên 7 điều, bổ sung 12 điều mới và sửa đổi 101 điều.