
Bài giảng Kinh tế vĩ mô
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KINH TẾ HỌC VĨ MÔ
Các vấn đề về kinh tế xuất hiện do chúng ta mong muốn nhiều hơn so với cái
chúng ta có thể nhận đƣợc. Mỗi thứ chúng ta nhận đƣợc bị hạn chế bởi thời gian và thu
nhập hiện có. Kết quả là mọi ngƣời luôn có những mong muốn không đƣợc thỏa mãn.
Cái mà tổng thể xã hội có thể nhận đƣợc bị giới hạn bởi các nguồn lực sản xuất mà
chúng ta có thể sử dụng.
Tƣơng tự nhƣ gia đình thì một xã hội phải đối mặt với nhiều quyết định. Một xã
hội cần phải quyết định cái gì cần phải làm và ai sẽ làm việc đó. Cần phải có một số
ngƣời sản xuất thực phẩm, một số ngƣời khác sản xuất quần áo và cũng cần một số
ngƣời khác thiết kế phần mềm máy tính. Một khi xã hội đã phân bổ đƣợc mọi ngƣời
vào những ngành nghề khác nhau, nó cũng phân bổ sản lƣợng hàng hóa và dịch vụ mà
họ đã sản xuất ra. Nó sẽ quyết định ai sẽ ăn trứng, cá, thịt, rau; nó sẽ quyết định ai sẽ
có xe ô tô riêng để đi và ai sẽ phải sử dụng xe buýt.
1.1. NHỮNG KHÁI NIỆM TRONG KINH TẾ HỌC
1.1.1. Kinh tế học
Kinh tế học là môn khoa học ra đời cách đây hơn hai thế kỷ. Từ đó đến nay kinh
tế học đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, do đó cũng đã xuất hiện khá nhiều các
định nghĩa về kinh tế học. Một số khái niệm về kinh tế học đƣợc nhiều nhà kinh tế
hiện nay sử dụng:
(1). Kinh tế học là môn khoa học nghiên cứu những lựa chọn của cá nhân và xã
hội về cách thức sử dụng nguồn tài nguyên có hạn.
(2). Kinh tế học là môn khoa học nghiên cứu hoạt động của con ngƣời trong sản
xuất và tiêu thụ hàng hoá.
(3). Kinh tế học là môn khoa học nghiên cứu việc lựa chọn cách sử dụng hợp lý
nhất các nguồn lực để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ nhằm thoả mãn cao nhất nhu
cầu cho mọi thành viên trong xã hội.
Việc quản lý nguồn lực xã hội có ý nghĩa quan trọng vì nguồn lực có tính khan
hiếm, nghĩa là xã hội có các nguồn lực hạn chế (tài nguyên thiên nhiên, đất đai,…) và
vì thế không thể sản xuất mọi hàng hóa và dịch vụ mà mọi ngƣời mong muốn (tƣơng
tự nhƣ một hộ gia đình không thể đáp ứng mọi mong muốn của tất cả mọi ngƣời).
Do vậy, kinh tế học nghiên cứu quyết định của con người và xã hội về những lựa
chọn để đáp ứng nhu cầu trong hiện tại cũng như trong tương lai. Những lựa chọn này
đƣợc biểu hiện thành những hiện tƣợng kinh tế.
Kinh tế học nghiên cứu hiện tƣợng này trên hai góc độ:
- Góc độ bộ phận: hộ gia đình, doanh nghiệp, thị trƣờng,… (kinh tế vi mô)

Bài giảng Kinh tế vĩ mô
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
2
- Góc độ toàn bộ nền kinh tế (kinh tế vĩ mô)
1.1.2. Kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô
- Kinh tế vi mô: Kinh tế vi mô là một bộ phận của kinh tế học; nó nghiên cứu,
phân tích quyết định của các đơn vị kinh tế riêng lẻ nhƣ doanh nghiệp, hộ gia đình. Do
vậy, kinh tế học vi mô nghiên cứu và phân tích các vấn đề kinh tế cụ thể nhƣ: cung,
cầu hàng hóa; tiêu dùng cá nhân; sản xuất, chi phí, giá cả, lợi nhuận; cạnh tranh, độc
quyền;…
- Kinh tế vĩ mô: Kinh tế vĩ mô là một bộ phận của kinh tế học; nó nghiên cứu,
phân tích quyết định của một quốc gia. Nó quan tâm tới mục tiêu kinh tế chung của
một nền kinh tế tổng thể. Do vậy, kinh tế vĩ mô nghiên cứu và phân tích các vấn đề
chung của toàn bộ nền kinh tế nhƣ: tổng sản phẩm, thu nhập quốc dân, lạm phát, thất
nghiệp, đầu tƣ, tiết kiệm,…
Nguyên tắc cơ bản nhất của kinh tế vi mô là các hộ gia đình và doanh nghiệp “tối
đa hóa” – tức là họ tìm cách hành động hợp lý cho phép đạt đƣợc mục tiêu đề ra trong
điều kiện có những giới hạn nhất định. Trong kinh tế học vi mô, các hộ gia đình ra
quyết định mua hàng hóa sao cho tối đa hóa mức độ thỏa mãn của mình – điều mà các
nhà kinh tế gọi là lợi ích và các doanh nghiệp đƣa ra quyết định sản xuất nhằm tối đa
hóa lợi nhuận.
Vì các vấn đề kinh tế mà kinh tế vĩ mô nghiên cứu phát sinh từ tác động qua lại
giữa nhiều hộ gia đình và doanh nghiệp, nên kinh tế vi mô và kinh tế vĩ mô có mối
quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Khi nghiên cứu nền kinh tế với tƣ cách một tổng
thể, chúng ta phải xem xét quyết định của các chủ thể kinh tế cá biệt. Ví dụ: để hiểu
đƣợc yếu tố nào quyết định tổng mức chi tiêu của ngƣời tiêu dùng, chúng ta cần phải
biết về cách thức một gia đình quyết định về mức chi tiêu hiện tại và tiết kiệm bao
nhiêu cho tƣơng lai. Để hiểu đƣợc yếu tố nào quyết định tổng chi tiêu cho đầu tƣ,
chúng ta cần phải biết cách thức một doanh nghiệp quyết định có nên xây dựng một
nhà máy mới hay không.
Do vậy, trong quản lý kinh tế cần thiết phải giải quyết tốt các vấn đề kinh tế trên
cả hai phƣơng diện: vi mô và vĩ mô. Nếu chỉ tập trung vào những vấn đề kinh tế vi mô
nhƣ tăng sản lƣợng của doanh nghiệp mà không có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nƣớc thì
không thể phát triển kinh tế một cách ổn định, bình đẳng, tạo môi trƣờng thuận lợi cho
hoạt động của doanh nghiệp.
1.1.3. Kinh tế học thực chứng và kinh tế học chuẩn tắc
- Kinh tế học thực chứng: Là một cách tiếp cận của kinh tế học, nó nghiên cứu
và mô tả các hiện tƣợng kinh tế xã hội một cách khách quan và khoa học. Dù chính
kiến của con ngƣời có khác nhau nhƣng hiện tƣợng đó vẫn diễn ra đúng nhƣ quy luật

Bài giảng Kinh tế vĩ mô
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
3
khách quan. Ở một chừng mực nào đó, ngƣời ta có thể coi nó nhƣ một môn khoa học
tự nhiên. Nói ngắn gọn thì kinh tế học thực chứng là mô tả và phân tích các sự kiện,
hiện tƣợng, những mối quan hệ trong nền kinh tế. Nó trả lời câu hỏi “là bao nhiêu? là
gì? nhƣ thế nào?”
- Kinh tế học chuẩn tắc: Là một cách tiếp cận của kinh tế học liên quan đến
quan điểm đạo lý, chính trị của một quốc gia. Nó đƣa ra những lời chỉ dẫn, khuyến
nghị dựa trên cơ sở đánh giá theo tiêu chuẩn cá nhân.
Các nhà kinh tế luôn tìm cách đánh giá xem thế giới kinh tế vận hành nhƣ thế
nào. Để theo đuổi mục tiêu này, họ phân biệt hai câu hỏi: thế giới là gì? Thế giới cần
phải nhƣ thế nào?
Ví dụ: Chẳng hạn, có hai nhà kinh tế học đang bàn về luật tiền lƣơng tối thiểu.
Bạn có thể nghe thấy họ nói những điều sau:
Ông A: Luật tiền lƣơng tối thiểu gây ra thất nghiệp.
Ông B: Chính phủ cần tăng tiền lƣơng tối thiểu.
Tạm thời chúng ta chƣa bàn đến việc có đồng ý với các nhận định trên hay
không, mà chú ý rằng A và B đang khác nhau ở điều mà họ tìm cách làm. Ông A đang
nói nhƣ một nhà khoa học: ông đang khẳng định phƣơng thức vận hành của thế giới.
Ông B đang nói nhƣ một nhà tƣ vấn: ông khẳng định điều mà ông muốn làm để thay
đổi thế giới.
Nhìn chung, các nhận định về thế giới bao gồm hai loại. Một loại có tính thực
chứng nhƣ nhận định của ông A. Các nhận định thực chứng mang tính chất mô tả.
Chúng khẳng định thế giới là nhƣ thế nào. Loại thứ hai có tính chuẩn tắc nhƣ nhận
định của ông B. Các nhận định chuẩn tắc có tính chất khuyến nghị. Chúng khẳng định
thế giới cần phải nhƣ thế nào.
Sự khác biệt then chốt giữa nhận định thực chứng và nhận định chuẩn tắc là ở
chỗ chúng ta đánh giá tính chân thực của nó nhƣ thế nào. Về nguyên tắc, chúng ta có
thể xác nhận hoặc bác bỏ nhận định thực chứng bằng cách xem xét bằng chứng thực
tế. Một nhà kinh tế có thể đánh giá nhận định của ông A bằng cách phân tích số liệu về
những thay đổi trong tiền lƣơng thực tế và những thay đổi theo thời gian của thất
nghiệp. Ngƣợc lại, việc đánh giá nhận định chuẩn tắc liên quan đến cả các giá trị và
thực tế. Không thể đánh giá nhận định của ông B chỉ bằng cách sử dụng số liệu. Việc
quyết định xem chính sách nào là tốt và chính sách nào chƣa tốt không phải là một vấn
đề thuần túy khoa học. Nó còn gắn với quan điểm của chúng ta về đạo đức, tôn giáo và
triết lý chính trị.
Tuy nhiên, nhận định thực chứng và nhận định chuẩn tắc có mối quan hệ với
nhau. Quan điểm thực chứng về cách vận hành thế giới ảnh hƣởng tới quan điểm
chuẩn tắc về việc những chính sách nào là đáng mong muốn. Nếu nhận định của ông A

Bài giảng Kinh tế vĩ mô
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
4
rằng tiền lƣơng tối thiểu gây ra thất nghiệp đúng, nó có thể dẫn đến việc từ bỏ kết luận
của ông B là Chính phủ cần tăng tiền lƣơng tối thiểu. Do vậy, khi nghiên cứu kinh tế
học cần phải luôn luôn nhớ tới sự phân biệt giữa nhận định thực chứng và nhận định
chuẩn tắc.
1.1.4. Những đặc trƣng cơ bản của kinh tế học
1.1.4.1. Kinh tế học nghiên cứu sự khan hiếm các nguồn lực một cách tương đối với
nhu cầu kinh tế xã hội
Đây là đặc trƣng kinh tế cơ bản gắn liền với tiền đề nghiên cứu và phát triển của
môn kinh tế học. Không thể sản xuất một loại hàng hoá nào đó để thoả mãn đầy đủ
mọi nhu cầu của con ngƣời đƣợc.Vì nhu cầu thì đa dạng, còn nguồn lực thì hữu hạn do
đó cần phải cân đối, lựa chọn.
1.1.4.2. Tính hợp lý của kinh tế học
Đặc trƣng này thể hiện ở chỗ, khi phân tích hoặc lý giải một sự kiện kinh tế nào
đó, cần phải dựa trên các giả thiết hợp lý nhất định và diễn biến của sự kiện kinh tế
này. Tuy nhiên, cần lƣu ý rằng tính hợp lý chỉ có tính chất tƣơng đối vì nó phụ thuộc
vào điều kiện môi trƣờng của sự kiện kinh tế.
Ví dụ 1: Muốn phân tích hành vi ngƣời tiêu dùng muốn mua thứ gì? số lƣợng là
bao nhiêu? thì kinh tế học giả định họ tìm cách mua đƣợc nhiều hàng hoá dịch vụ nhất
trong số thu nhập hạn chế của mình.
Ví dụ 2: Để phân tích xem doanh nghiệp sẽ sản xuất cái gì, bao nhiêu? bằng cách
nào? có thể giả định rằng doanh nghiệp sẽ tìm cách tối đa hoá lợi nhuận trong giới hạn
nguồn lực của doanh nghiệp.
1.1.4.3. Kinh tế học là một bộ môn nghiên cứu mặt lượng
Với đặc trƣng này kinh tế học thể hiện kết quả nghiên cứu kinh tế bằng các con
số có tầm quan trọng đặc biệt. Khi phân tích kết quả của các hoạt động chỉ nhận định
nó tăng lên hay giảm đi thì chƣa đủ mà phải thấy đƣợc sự biến đổi của nó nhƣ thế nào?
là bao nhiêu?
Ví dụ: Kết quả kinh doanh của doanh nghiệp A năm N khả quan là chƣa đủ,
chƣa thấy đƣợc điều gì mà khả quan nhƣ thế nào? Phải đƣợc lƣợng hoá thông qua các
chỉ tiêu kinh tế nhƣ: doanh thu tăng 20% so với năm N-1 với mức tăng 400 tỷ đồng;
lợi nhuận tăng 22% so với năm N-1, mức tăng tăng là 150 tỷ đồng,...
1.1.4.4. Tính toàn diện và tính tổng hợp
Đặc trƣng này của kinh tế học là khi xem xét các hoạt động và sự kiện kinh tế
phải đặt nó trong mối liên hệ với các hoạt động, sự kiện kinh tế khác trên phƣơng diện

Bài giảng Kinh tế vĩ mô
Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Nam Định
5
của một nền kinh tế thậm chí có những sự kiện phải đặt trong mối quan hệ quốc tế.
Ví dụ: “Trong giai đoạn 2000- 2005 nền kinh tế Việt Nam có mức tăng trƣởng
cao và ổn định”. Để có cơ sở của nhận định này nhà nghiên cứu phải có số liệu lý giải,
chứng minh điều đó là tốc độ tăng trƣởng bình quân hàng năm của Việt Nam là 7%,
lạm phát từ 6-8%/ năm,... và tốc độ tăng trƣởng của các nƣớc khác trong khu vực và
trên thế giới.
1.1.4.5. Kết quả nghiên cứu của kinh tế học chỉ xác định được ở mức trung bình
Vì các kết quả này phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác nhau ảnh hƣởng tới
chỉ tiêu kinh tế nghiên cứu, trong đó có rất nhiều yếu tố chỉ có thể xác định đƣợc xu
hƣớng ảnh hƣởng mà không thể xác định đƣợc mức độ ảnh hƣởng.
1.1.5. Tổ chức kinh tế của nền kinh tế hỗn hợp
1.1.5.1. Ba vấn đề cơ bản của một nền kinh tế
Tất cả các nền kinh tế quốc dân, trong mọi giai đoạn phát triển đều phải thực hiện
ba vấn đề cơ bản sau:
- Sản xuất ra những hàng hoá và dịch vụ nào? Số lƣợng bao nhiêu?
Cơ sở của vấn đề này là sự khan hiếm các nguồn lực so với nhu cầu của xã hội.
Nhiệm vụ chủ yếu mà của bất kỳ nền kinh tế nào cũng cần phải giải quyết là giảm đến
mức tối thiểu sự lãng phí trong việc sản xuất ra những sản phẩm không cần thiết và
tăng cƣờng đến mức tối đa những sản phẩm cần thiết.
- Các hàng hoá và dịch vụ đƣợc sản xuất ra nhƣ thế nào?
Việc giải quyết đúng đắn vấn đề này thông thƣờng đồng nghĩa với việc sử dụng
số lƣợng đầu vào ít nhất để sản xuất ra số lƣợng sản phẩm đầu ra nhất định.
- Hàng hoá và dịch vụ đƣợc sản xuất ra cho ai? Hay sản phẩm quốc dân
đƣợc phân phối thế nào cho các thành viên trong xã hội.
Ba vấn đề nêu trên là những vấn đề mà bất kỳ nền kinh tế nào cũng phải thực
hiện, bất kể hình thức hay trình độ phát triển của nó nhƣ thế nào. Tất cả các vấn đề này
đều mang tính lựa chọn, vì các nguồn lực để sản xuất ra sản phẩm đều khan hiếm. Cơ
sở cho sự lựa chọn này là:
- Tồn tại các cách sử dụng khác nhau các nguồn lực trong việc sản xuất ra các
sản phẩm khác nhau. Ví dụ: sản xuất sản phẩm dệt may cần đầu vào là lao động ngành
dệt may, máy may, vải, sợi,...; còn sản xuất ô tô cần lao động ngành cơ khí chế tạo,
thép, cao su....
- Tồn tại các phƣơng pháp khác nhau để sản xuất ra sản phẩm cụ thể. Ví dụ cũng
là may mặc nhƣng phƣơng pháp thủ công khác với tự động hoá.
- Tồn tại các phƣơng pháp khác nhau để phân phối hàng hoá và thu nhập cho các

