Phần 2
QUAN HỆ LAO ĐỘNG, TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI,
QUYỀN LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
THỰC HIỆN QUYỀN TỰ DO HIỆP HỘI
TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
THEO CAM KẾT CỦA HIỆP ĐỊNH CPTPP: THỰC TRẠNG VÀ ĐỊNH HƯỚNG GIẢI PHÁP
PGS.TS. Nguyễn Thị Bích Loan1
Tóm tắt: Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) là một hiệp định thương mại
tự do (FTA – Free Trade Agreement) có cam kết ở mức độ cao nhất hiện nay về quan hệ lao động. Hiệpđịnh
CPTPP về cơ bản cũng giống như các FTA khác làkhông đưa ra các tiêu chuẩn mới về lao động mà chỉ nhấn
mạnh nhiều đến quyền lao động thông qua nội dung chương 19 của hiệp định. Trong đó, hiệp định CPTPP
khẳng định lại quyền tự do lập hội theo quy định tại Công ước số 87 (năm 1948) của ILO và yêu cầu các
thành viên của CPTPP phải cam kết thực hiện. Bài viết sử dụng kết hợp các dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp có
được từ cuộc khảo sát tại 62 doanh nghiệp trên khắp cả nước với 305 phiếu khảo sát được sử dụng để phân
tích dữ liệu nhằm đưa ra được bức tranh tổng quát về nội dung quyền tự do hiệp hội theo cam kết của hiệp
định CPTPP cũng như việc thực hiện quyền tự do hiệp hội trong quan hệ lao động doanh nghiệp Việt Nam.
Trên cơ sở đó, tác giả cũng đưa ra giải pháp đề xuất thực hiện quyền tự do hiệp hội trong quan hệ lao động
doanh nghiệp nước ta theo cam kết của hiệp định CPTPP.
Từ khóa: Quyền tự do hiệp hội, quan hệ lao động doanh nghiệp, hiệp định CPTPP
Abstract: The comprehensive and progressive Trans-Pacific agreement (CPTPP) is a Free Trade Agreement
(FTA) committed to the highest commitment level of industrial relations. The CPTPP is essentially the same
as the other FTAs that do not introduce new labor standards, but much emphasis on labor rights through
the content of chapter 19 of the agreement. In particular, the CPTPP reaffirmed the right to freedom of
association according to the ILO Convention No. 87 (1948) and requires all members of CPTPP to commit to
implement. The paper uses a combination of secondary data and primary data obtained from a survey of
62 enterprises across the country with 305 surveys used to analyze data in order to have the whole picture
about the content of freedom of association according to the commitments of the CPTPP as well as the
implementation of the right to freedom of association in Vietnamese enterprises labor relations. On that
basis, the author also proposed solutions to implement the right to freedom of association in our enterprise
labor relations according to the commitments of CPTPP.
Keywords: The right to freedom of association; industrial relations; CPTPP.
1. GIỚI THIỆU
Quan hệ lao động (QHLĐ) trong doanh nghiệp (DN) hệ thống tương tác giữa người sử
dụng lao động (NSDLĐ) người lao động (NLĐ) (hoặc tổ chức đại diện cho họ) xảy ra trong quá
1 Email: bichloandhtm@gmail.com, Trường Đại học Thương mại.
224 QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
trình hai bên hợp tác làm việc theo hợp đồng lao động để đạt được lợi ích cá nhân NSDLĐ, NLĐ
và mục tiêu chung của doanh nghiệp(DN) dựa trên cơ sở pháp luật.
Quan hệ lao động yếu tố giữ vai trò quyết định đến hiệu quả hoạt động của DN, yếu tố
ảnh hưởng đến uy tín và năng lực cạnh tranh của DN. Sở như vậy bởi bản chất của QHLĐ
phản ánh quan hệ tương tác cốt lõi nhất DN đó là quan hệ giữa sức lao động và tiền vốn được đại
diện bởi NLĐ NSDLĐ. Hiện nay, sở luận tri thức về QHLĐ trong DN cần được bổ sung
đáp ứng yêu cầu của thực tiễn trong xu thế hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh ra đời của nhiều định
chế kinh tế mới có tính khu vực và toàn cầu thì điều kiện ra đời, vận hành, phát triển quan hệ lao
động trong doanh nghiệp của một quốc gia tham gia ngày càng chặt chẽ và tiến gần hơn đến chuẩn
mực quốc tế. Do đó nguyên lý về các thành tố của quan hệ lao động trong doanh nghiệp bao gồm:
chủ thể quan hệ lao động, các hình thức tương tác của quan hệ lao động, cơ chế và thiết chế quan
hệ lao động... cũng cần có những bước chuyển thích hợp.
Hiệp định đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) nay là hiệp định đối tác toàn diện và
tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) một hiệp định thương mại (FTA Free Trade Agreement)
cam kết mức độ cao nhất hiện nay về QHLĐ (về những quyền bản ở nơi làm việc: tự do hiệp
hội, về đối thoại xã hội, về không phân biệt đối xử...) đặt ra nhiều thách thức đối với các yếu tố cấu
thành QHLĐ và điều kiện vận hành QHLĐ ở các tất cả các quốc gia thành viên. Đối với Việt Nam,
đây là lần đầu tiên vấn đề lao động và giải quyết tranh chấp lao động được đưa vào khuôn khổ một
FTA với những tiêu chuẩn thực thi cao (các đối tác thương mại trước đây chưa đưa ra/không đưa ra
cam kết lao động). Do xuất phát điểm với trình độ sản xuất, lực lượng sản xuất, năng lực các chủ thể
QHLĐ ở nước ta ở mức thấp hơn. Đặc biệt còn bởi vì nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam có tính đặc trưng riêng cho nên những vấn đề còn tồn tại ở nước ta rất lớn.
Bài viết tập trung vào nghiên cứu các nội dung về quyền tự do hiệp hội trong QHLĐDN theo
cam kết của CPTPP và thực trạng nội dung này tại QHLĐDN Việt Nam để làm cơ sở đưa ra một
số định hướng giải pháp nhằm phát triển QHLĐDN Việt Nam lành mạnh tuân thủ đúng điều
kiện trong các FTA mà Việt Nam theo đuổi nói chung và CPTPP nói riêng.
2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Quan hệ lao động bắt đầu được thừa nhận và trở thành hiện tượng phổ biến khi sức lao động
thực sự trở thành hàng hóa, được đem ra trao đổi và chịu sự chi phối bởi các quy luật đặc thù của
nền kinh tế thị trường. Thực tiễn QHLĐ đã phát triển cùng với sự ra đời và trưởng thành của giới
thợ và tổ chức đại diện cho họ trong xã hội tư bản. Sự ra đời của Tổ chức Lao động Quốc tế - ILO
vào năm 1919 với cách tổ chức quốc tế liên chính phủ thành lập theo quyết định của Hội
nghị hòa bình Pari, là cơ quan chuyên môn đầu tiên và duy nhất của Liên hợp quốc hoạt động trên
nền tảng cơ chế ba bên (tổ chức đại diện cho NLĐ, NSDLĐ và các cơ quan chính phủ) đã không
ngừng nỗ lực thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, hòa bình và ổn định lâu dài trên toàn thế giới
thông qua việc thực hiện các quyền, nguyên tắc bản trong lao động đã khẳng định giá trị thực
tiễn mang tính toàn cầu của QHLĐ.
Nghiên cứu về QHLĐ một chủ đề được ưa thích được lựa chọn bởi rất nhiều các nhà
khoa học, nhà nghiên cứu trên thế giới (Godard & Delaney, 2000; Trif, 2004; Warner, 1996). Trong
đó, những chủ đề quan tâm của các học giả liên quan tới sự hình thành, ra đời, phát triển, chuyển
đổi và những thách thức đối với QHLĐ. Các nghiên cứu tập trung và 3 nhóm chủ đề: (i) Nguyên
225
PHẦN 2 : QUAN HỆ LAO ĐỘNG, TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI, QUYỀN LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP
quan hệ lao động; (ii) Các yếu tố ảnh hưởng đến QHLĐ; (iii) Nghiên cứu thực tiễn QHLĐ ở các
quốc gia, khu vực kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Quá trình hội nhập toàn cầu hóa thương mại trên thế giới diễn ra ngày càng mạnh mẽ
đã chứng kiến các thế hệ FTA lần lượt ra đời. Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, mỗi hiệp định
ngay khi hình thành ý tưởng và ở những bước ban đầu của quá trình đàm phán cũng đã trở thành
chủ đề thảo luận của rất nhiều nhà nghiên cứu, với việc tập trung chỉ ra những cơ hội, thách thức
của các quốc gia thành viên và nội dung lao động trong các FTA (nếu có) theo đó cũng được giới
thiệu. Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến như:
Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam (2012), Khuyến nghị phương án đàm phán
Chương Lao động và Giải quyết Tranh chấp lao động (TCLĐ) - Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên
Thái Bình Dương. Tài liệu này được xây dụng vào thời điểm cam go nhất của quá trình đàm phán
TPPthực hiện theo nguyên tắc tham khảo nội dung lao động trong các hiệp định của các nước
thành viên TPP đã ký kết để nêu ra các khuyến nghị đối với Việt Nam.
Nguyễn Tiến Dũng, Đỗ Phú Trần Tình (2015), ”Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương và
những vấn đề đặt ra cho lao động Việt Nam”, Tạp chí cộng sản, số 107, năm 2015. Bài viết đã phân
tích cơ hội về việc làm và thu nhập của NLĐ khi Việt Nam tham gia hiệp định TPP do TPP đã đưa
những quyền lao động bản trở thành cốt lõi của hiệp định về lao động buộc thực thi quyền đó
thông qua giải quyết tranh chấp như những nghĩa vụ khác, trong đó có lựa chọn về xử phạt thương
mại. Bên cạnh những tác động tích cực, theo tác giả thì vấn đề tự do hóa thương mại của TPP sẽ
làm cho một bộ phận lao động mất việc do một số DN trong nước không có khả năng cạnh tranh
dẫn đến phải thu hẹp sản xuất, thậm chí phải giải thể hay phá sản. Giải pháp được tác giả đề xuất
đứng dưới góc độ của Nhà nước nhằm biến thách thức thành cơ hội khi tham gia TPP đó là: Nâng
cao chất lượng lao động, cải thiện các điều kiện lao động trong nước để đáp ứng các yêu cầu cam
kết; Xác lập cơ chế và các thay đổi về pháp luật một cách phù hợp nhằm đảm bảo từng bước đáp
ứng các cam kết trong TPP; Tăng cường công tác giám sát pháp luật và có chế tài nghiêm khắc với
những DN vi phạm an toàn vệ sinh lao động, DN sử dụng lao động trẻ em.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bài viết sử dụng các phương pháp tiếp cận hệ thống, logics, biện chứng để hệ thống hóa
những vấn đề bản về nội dung cam kết tự do hiệp hội trong Hiệp định CPTPP. Các phương pháp
cụ thể sử dụng để phân tích thực trạng nội dung tự do hiệp hội trong QHLĐDN Việt Nam bao gồm:
Phương pháp khảo sát điều tra
Phiếu điều tra được thiết kế bao gồm 01 mẫu. Mẫu khảo sát điều tra bao gồm cả DN quy
lớn DN quy nhỏ, đóng trên địa bàn tất các tỉnh, thành phố thuộc ba miền Bắc, Trung,
Nam. Dưới sự hỗ trợ của MOLISA, VCCI và VGCL phiếu điều tra được gửi tới 69 DN Việt Nam
nhận được phản hồi của 62 DN đang hoạt động. mỗi DN đối tượng khảo sát được lựa chọn
ngẫu nhiên theo cách thức sau:
Điều tra người sử dụng lao động: Số lượng phiếu phát ra: 120 phiếu (mỗi công ty gửi 1 - 3 phiếu
điều tra người đảm nhận một số chức danh như: Tổng giám đốc, giám đốc, phó giám đốc, trưởng
phòng nhân sự, phó phòng nhân sự…). Số phiếu thu về: 84 phiếu (số phiếu sử dụng được trong
nghiên cứu: 73; số phiếu không sử dụng được: 11 phiếu).
226 QUẢN TRỊ NHÂN LỰC DOANH NGHIỆP TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Điều tra người lao động: Số phiếu phát ra: 240 phiếu (mỗi công ty lựa chọn ngẫu nhiên 2 - 4 NLĐ
bao gồm: công nhân trực tiếp sản xuất (chủ yếu), CBNV các phòng ban). Số phiếu thu về: 206 phiếu
(số phiếu sử dụng được trong nghiên cứu: 178 phiếu, số phiếu không sử dụng được: 28 phiếu).
Điều tra CBCĐ: Số phiếu phát ra: 90 (mỗi công ty lựa chọn 1 - 2 CBCĐ). Số phiếu thu về:
67 phiếu (số phiếu sử dụng được trong nghiên cứu: 54 phiếu, số phiếu không sử dụng được: 13 phiếu).
Phương pháp phân tích, xử lý dữ liệu
Sau khi tiến hành khảo sát, tác giả đã tiến hành phân loại và xác định có tổng cộng 305 phiếu
hợp lệ. Số phiếu này được tổng hợp và xử lý dữ liệu thông qua công cụ phân tích SPSS 20. Với ba
đối tượng khảo sát khác nhau đã cung cấp đánh giá về các khía cạnh liên quan đến thực trạng nội
dung tự do hiệp hội trong QHLĐDN so với các tiêu chuẩn trong cam kết của Hiệp định CPTPP. So
sánh, phân tích các ý kiến đó cùng với những dữ liệu thứ cấp đã giúp tác giả có được những đánh
giá toàn diện, đa chiều về thực trạng tự do hiệp hội trong QHLĐDN Việt Nam trong mối tương
quan với nội dung cam kết của Hiệp định CPTPP.
4. NỘI DUNG CAM KẾT VỀ QUYỀN TỰ DO HIỆP HỘI TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG DOANH NGHIỆP CỦA HIỆP ĐỊNH CPTPP
4.1. Khái quát quá trình hình thành Hiệp định CPTPP
Hiệp định thương mại tự do là các cam kết mở cửa sâu hơn cam kết mở cửa thương mại bình
thường. Quá trình hội nhập và toàn cầu hóa thương mại trên thế giới diễn ra ngày càng mạnh mẽ
và đã chứng kiến thế hệ FTA ra đời.
Nguồn: Nguyễn Thị Minh Nhàn (2014, 16)
Hình 1. Tiến trình hình thành các hiệp định thương mại tự do
Nguồn gốc ra đời
Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) có nguồn gốc từ hiệp định
hợp tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership
Agreement còn gọi P4) - một hiệp định thương mại tự do được kết ngày 03 tháng 6 năm
2005, hiệu lực từ ngày 28 tháng 5 năm 2006 giữa 4 nước Singapore, Chile, New Zealand, Brunei.
P4 là một hiệp định thương mại thuộc thế hệ thứ ba với mức độ cam kết tương đối mạnh trong các
FTA Thế hệ th nht
Tập trung ở vic t do
hóa lĩnh vực thương mại
hàng hóa (cắt giảm thuế
quan loại b hàng rào phi
thuế quan)
FTA Thế hệ th hai
Mở rộng phạm vi tự do
sang các lĩnh vực dịch
vụ nhất định (xóa bỏ các
điều kiện tiếp cận th
trường trong các DV
liên quan)
FTA Thế hệ th ba
Tiếp tục mở rộng phạm vi
về tự do dịch vụ đầu tư.
P4 -
Mở rộng phạm vi tự
do sang các vấn đề phi
thương mại như lao động,
môi trường
Thế hệ TPP
Đàm phán tự do mạnh mẽ: thuế quan, m cửa dịch vụ, đầu tư, quyền s hữu trí tuệ, v sinh dịch tễ,
TBT, cạnh tranh mua sắm công, lao động, môi trường.