
vietnam medical journal n01&2 - february- 2020
66
Annals of translational medicine, 2016. 4(13).
4. Den Ruijter, H.M., et al., Long-term outcome in
men and women after CABG results from the
IMAGINE trial. Atherosclerosis, 2015. 241(1): p. 284-8.
5. Rezaei-Hachesu, P., et al., Comparison of
coronary artery disease guidelines with extracted
knowledge from data mining. Journal of
cardiovascular and thoracic research, 2017. 9(2): p. 95.
6. Dương Ngọc Định, H.H.Q.T., Nghiên cứu ứng
dụng thang điểm EUROSCORE II trong tiên lượng
tử vong sớm trên bệnh nhân phẫu thuật bắc cầu
nối chủ vành. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí
Minh, 2014. 18(1): p. 188-193.
7. Paone, G., et al., Red blood cells and mortality
after coronary artery bypass graft surgery: an
analysis of 672 operative deaths. The Annals of
thoracic surgery, 2015. 99(5): p. 1583-1590.
8. Bennett-Guerrero, E., et al., Variation in use of
blood transfusion in coronary artery bypass graft
surgery. Jama, 2010. 304(14): p. 1568-75.
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TRANG THIẾT BỊ CHẨN ĐOÁN
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TIỀN GIANG NĂM 2019
Tạ Văn Trầm*
TÓM TẮT17
Đặt vấn đề: Trang thiết bị y tế rất đa dạng và
phong phú về chủng loại, tuy nhiên trang thiết bị chẩn
đoán và nhân lực sử dụng tại các Bệnh viện vẫn chưa
hợp lý, chưa đáp ứng tốt nhu cầu khám chữa bệnh.
Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu với hy
vọng góp phần nâng cao hiệu quả quản lý trang thiết
bị chẩn đoán. Mục tiêu: mô tả thực trạng quản lý
trang thiết bị chẩn đoán tại 03 khoa nghiên cứu.
Phương pháp: mô tả cắt ngang, lấy mẫu toàn bộ các
loại máy móc, thiết bị, hệ thống thiết bị đồng bộ phục
vụ cho công tác chẩn đoán; toàn bộ nhân viên y tế tại
03 khoa nghiên cứu. Kết quả: 67/85 trang thiết bị
hoạt động bình thường (78,8%); 36/85 trang thiết bị
có thời gian sử dụng từ 01 – 05 năm (42,35%); 62/85
trang thiết bị sử dụng hàng ngày (72,94%). 56,1%
đánh giá quản lý chưa tốt trang thiết bị do công tác
tập huấn/đào tạo cho sử dụng, bảo quản trang thiết bị
tại khoa; 86% đánh giá sau mỗi ca trực hoặc sau khi
sử dụng trang thiết bị thì khoa làm tốt việc bàn giao;
80,7% đánh giá trình độ sử dụng trang thiết bị tại
khoa đáp ứng yêu cầu. Kết luận: thực trạng số lượng
và tình trạng hiện tại của trang thiết bị tương đối đáp
ứng nhu cầu khám chữa bệnh, tuy nhiên có tới 25/85
trang thiết bị có thời gian sử dụng trên 10 năm (29,41
%) và hiện vẫn còn đang sử dụng. Thực trạng quản lý
trang thiết bị tương đối tốt, tuy nhiên cũng còn một số
tiểu mục cần phải khắc phục trong thời gian tới và đó
là cơ sở để Bệnh viện tiến hành những cải tiến nhằm
năng cao công tác quản lý trang thiết bị tại Bệnh viện.
Từ khóa:
Thực trạng quản lý trang thiết bị chẩn
đoán, Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang.
SUMMARY
THE STATUS OF MANAGEMENT
DIAGNOSTIC EQUIPMENT IN TIEN GIANG
GENERAL HOSPITAL IN 2019
Background: Medical equipment is very diverse
*Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang
Chịu trách nhiệm chính: Tạ Văn Trầm
Email: tavantram@gmail.com
Ngày nhận bài: 4.12.2019
Ngày phản biện khoa học: 22.01.2020
Ngày duyệt bài: 3.2.2020
and rich in categories, however diagnostic equipment
and human resources used in hospitals are still
unreasonable and do not meet the needs of medical
examination and treatment. Therefore, we carry out
research in the hope of contributing to improving the
efficiency of management of diagnostic equipment.
Objective: describe the status of management of
diagnostic equipment in 03 research faculties.
Methods: Descriptive cross-sectional, sampling all
types of machinery, equipment, system of
synchronized equipment for the diagnostic work; all
health workers in 03 research faculties. Results: 67/85
equipment operating normally (78.8%); 36/85
equipment have the time of use from 01 to 05 years
(42.35%); 62/85 equipment used daily (72.94%).
56.1% of the assessment of equipment management
is not good due to training / training for the use and
maintenance of equipment in the department; 86%
rated that after every shift or after using the
equipment, the department did a good job of handing
over; 80.7% rated the use of equipment at the faculty
as required. Conclusion: actual number and current
status of equipment are relatively meet the needs of
medical examination and treatment, but there are up
to 25/85 equipment have a life of more than 10 years
(29.41%) and still in use. The status of equipment
management is relatively good, but there are still a
number of subsections that need to be addressed in
the near future and that is the basis for the hospital to
make improvements to improve equipment
management. at the hospital.
Key words:
Actual situation of managing
diagnostic equipment, Tien Giang Central General Hospital
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay trang thiết bị y tế (TTBYT) tại các cơ
sở y tế rất đa dạng, phong phú về chủng loại,
được đầu tư bằng các nguồn vốn khác nhau,
nhưng cũng chưa đáp ứng được việc phục vụ số
lượng bệnh nhân ở các bệnh viện, trình độ của
người trực tiếp sử dụng TTBYT và trình độ
chuyên môn của các cán bộ kỹ thuật chưa theo
kịp phát triển về công nghệ của các TTBYT [7].
Bệnh viện Đa khoa Tiền Giang là bệnh viện hạng
1 tuyến tỉnh trực thuộc Sở Y tế Tiền Giang, với

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 487 - THÁNG 2 - SỐ 1&2 - 2020
67
qui mô 1000 giường bệnh. Số bệnh nhân đến
khám và điều trị bệnh tại bệnh viện luôn trong
tình trạng quá tải, hàng năm, bệnh viện tiếp
nhận khoảng 692.923 lượt khám bệnh, 68.170
lượt điều trị nội trú [1]. Với bối cảnh thực tế
trên, ngoài sự nỗ lực của đội ngũ thầy thuốc và
nhân viên y tế (NVYT) thì rất cần có một hệ
thống TTB công nghệ cao đáp ứng được yêu cầu
của công tác khám chữa bệnh (KCB). Ngoài ra,
cùng với sự tiến bộ vượt bậc của nền Y học trên
thế giới, nhu cầu chẩn đoán sớm, nhanh, chính
xác ngày càng cần thiết trong đó phải kể đến vai
trò của chẩn đoán xét nghiệm, chẩn đoán hình
ảnh. Tính đến thời điểm hiện tại, Bệnh viện đã
có nhiều TTBCĐ có giá trị lớn, hiện đại được đưa
vào sử dụng như: Máy chụp cộng hưởng từ
(MRI), máy CT Scanner, hệ thống X-Quang số
hóa, máy X-Quang chụp nhũ ảnh, Máy huyết học
tự động, máy miễn dịch tự động, HT Elisa bán tự
động, máy đông máu tự động,…đã giúp cho
bệnh viện triển khai nhiều kỹ thuật mới đáp ứng
nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao của
nhân dân. Câu hỏi đặt ra là việc quản lý TTBCĐ
tại Bệnh viện hiện nay như thế nào? Mặt khác
cũng chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu về vấn
đề này. Chúng tôi nghiên cứu đề tài nầy nhằm
Mô tả thực trạng quản lý trang thiết bị chẩn
đoán tại Khoa Chẩn đoán hình ảnh, Khoa Xét
nghiệm và Khoa Giải phẫu bệnh của Bệnh viện
Đa khoa Trung tâm Tiền Giang năm 2019.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang
Đi tưng nghiên cứu:
*Tiêu chuẩn chọn:
Trang thiết bị chẩn đoán:
Các loại máy, thiết bị hoặc hệ thống thiết bị đồng
bộ phục vụ cho công tác chẩn đoán trong lĩnh vực
y tế (dựa vào bảng phân loại TTBYT theo nội
dung chuyên môn) tại 03 khoa nghiên cứu.
NVYT: NVYT của Khoa Chẩn đoán hình ảnh,
Xét nghiệm và Giải phẫu bệnh làm việc tại khoa
từ 01 năm trở lên đồng ý tham gia nghiên cứu.
*Tiêu chuẩn loại trừ:
- Phương tiện vận chuyển chuyên dụng.
- NVYT có thời gian làm việc tại Bệnh viện <
01 năm tính từ thời điểm nghiên cứu; hộ lý,
NVYT không tham gia quản lý và sử dụng
TTBCĐ, NVYT không đồng ý tham gia nghiên
cứu; NVYT đi học.
Thời gian v địa điểm nghiên cứu
Thời gian: tháng 4 – 8/2019
Địa điểm: Chẩn đoán hình ảnh, Xét nghiệm
và Giải phẫu bệnh.
Xác định cỡ mẫu, cách chọn mẫu
Cỡ mẫu:
- Tất cả các thiết bị y tế hiện có tại 03 khoa
nghiên cứu theo tiêu chuẩn lựa chọn.
- Chọn mẫu toàn bộ NVYT (57 NVYT) của 03
khoa nghiên cứu.
Cách chọn mẫu:
- Chọn mẫu toàn bộ các thiết bị y tế hiện có
tại 03 khoa nghiên cứu.
- Chọn mẫu toàn bộ NVYT của 03 khoa
nghiên cứu.
- Số liệu thứ cấp: Chọn toàn bộ số liệu có liên
quan đến vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp thu thập s liu:
- Phát phiếu tự điền cho tất cả nhân viên tại
03 khoa nghiên cứu.
- Số liệu thứ cấp được trực tiếp thu thập tại
Phòng Tài chính kế toán, Phòng Trang thiết bị và
03 khoa nghiên cứu.
Tiêu chuẩn đánh giá: Sử dụng thang điểm
Likert với các mức độ từ: Rất chưa tốt: 01 điểm;
Chưa tốt: 02 điểm; Bình thường: 03 điểm; Tốt:
04 điểm; Rất tốt: 05 điểm. Sau đó, thang điểm
05 cấp độ được nhóm lại thành 02 nhóm: Nhóm
chưa tốt (1- 3 điểm) và nhóm tốt (4 - 5 điểm)
đối với từng tiểu mục.
Phân tch s liu: được xử lý bằng phần
mềm Excel và phần mềm SPSS 18.0
Hạn chế nghiên cứu: Bộ câu hỏi chủ yếu là
thăm dò ý kiến của cá nhân nên không thể đòi
hỏi tất cả các câu trả lời là khách quan. Tuy
nhiên, nghiên cứu này sẽ góp phần nào nâng
cao hiệu quả quản lý TTBCĐ, đáp ứng được nhu
cầu cung cấp dịch vụ KCB của bệnh viện.
III. KT QU NGHIÊN CỨU
1. Thực trạng s lưng v tình trạng hin tại của trang thiết bị chẩn đoán tại các khoa
nghiên cứu
Bảng 1. Thực trạng số lượng và tình trạng hiện tại của TTBCĐ
Tên khoa
S
lưng
Tình trạng hin tại
Hoạt động bình
thường(%)
Đang sa
chữa(%)
Không s
dụng(%)
Hư hỏng
(%)
Chẩn đoán hình ảnh
28
75 (21)
25 (7)
Xét nghiệm
47
76 (36)
13 (6)
11 (5)
Giải phẫu bệnh
10
100 (10)

vietnam medical journal n01&2 - february- 2020
68
Có 67 trang thiết bị hoạt động bình thường, 06 trang thiết bị không sử dụng và 12 trang thiết bị
hư hỏng (đang chờ thanh lý), không có trang thiết bị đang sửa chữa. Tuy nhiên, tỷ lệ TTBCĐ hư
hỏng không cao (khoảng 14%).
Bảng 2. Phân bố số lượng các TTBCĐ theo số năm sử dụng
Thời gian s dụng
Khoa
Tổng cộng
Tỷ l (%)
CĐHA
XN
GPB
1 – 5 năm
09
22
05
36
42,35
6 – 10 năm
09
13
02
24
28,24
Trên 10 năm
10
12
03
25
29,41
Tổng cộng
28
47
10
85
100
36/85 TTBCĐ có thời gian sử dụng từ 01 – 05 năm chiếm tỷ lệ cao nhất là 42,35%. Đặc biệt có tới
25/85 TTBCĐ có thời gian sử dụng trên 10 năm chiếm tỷ lệ 29,41 % và hiện vẫn còn đang sử dụng.
Bảng 3. Tần suất sử dụng TTBCĐ tại các khoa
STT
Tên khoa
Tần suất s dụng
Hàng
ngày
Hàng
tuần
Hàng
tháng
1 vài
lần/năm
Không s dụng
1
Chẩn đoán hình ảnh
21
07 (07 chờ thanh lý)
2
Xét nghiệm
34
01
01
11 (05 chờ thanh lý)
3
Giải phẫu bệnh
07
02
01
- Tại Khoa CĐHA có tổng số 28 TTBCĐ, trong đó 21 TTBCĐ được sử dụng hàng ngày và 07
TTBCĐ không sử dụng (chờ thanh lý).
- Tại Khoa Xét nghiệm có tổng số 47 TTBCĐ, trong đó 34 TTBCĐ được sử dụng hàng ngày, 01
TTBCĐ sử dụng hàng tuần, 01 TTBCĐ sử dụng một vài lần/năm và 11 TTBCĐ không sử dụng (trong
đó có 05 TTBCĐ chờ thanh lý).
- Tại Khoa Giải phẫu bệnh có tổng số 10 TTBCĐ, trong đó 07 TTBCĐ được sử dụng hàng ngày, 02
TTBCĐ sử dụng hàng tuần và 01 TTBCĐ sử dụng một vài lần/năm.
2. Đánh giá thực trạng quản l trang thiết bị chẩn đoán tại các khoa tham gia nghiên cứu
Bảng 4. Đánh giá của NVYT về quản lý TTBCĐ tại từng tiểu mục qua công tác sử dụng, bảo quản
Nội dung
Quản l tt
Quản l chưa tt
n
%
n
%
Địa điểm lắp đặt các TTBCĐ tại khoa đảm bảo điều
kiện an toàn của thiết bị khi sử dụng
26
45,6
31
54,4
Công tác tập huấn/đào tạo cho NVYT sử dụng, bảo
quản TTBCĐ tại khoa được thực hiện tốt
25
43,9
32
56,1
Kiến thức và thực hành của NVYT tại khoa đáp ứng
việc sử dụng TTBCĐ
40
70,2
17
29,8
Kiến thức và thực hành của cán bộ kỹ thuật TBYT đáp
ứng tốt việc sử dụng TTB tại khoa
30
52,6
27
47,4
Vật tư, phụ tùng thay thế đảm bảo cho TTBCĐ vận
hành tại khoa
27
47,4
30
52,6
Có 56,1% NVYT đánh giá công tác tập huấn/đào tạo cho NVYT sử dụng, bảo quản TTBCĐ tại khoa
chưa được thực hiện tốt; 54,4% NVYT đánh giá địa điểm lắp đặt các TTBCĐ tại khoa chưa đảm bảo
điều kiện an toàn của thiết bị khi sử dụng và 52,6% NVYT đánh giá vật tư, phụ tùng thay thế chưa
đảm bảo cho TTBCĐ vận hành tại khoa.
Bảng 5. Đánh giá của NVYT về quản lý TTBCĐ tại từng tiểu mục qua công tác quản lý hiện trạng
Nội dung
Quản l tt
Quản l
chưa tt
n
%
n
%
Lý lịch từng TTB tại khoa được quản lý tốt
41
71,9
16
28,1
Lý lịch thiết bị có ghi đầy đủ các thông tin từng TTB
40
70,2
17
29,8
Việc quản lý tài liệu kỹ thuật liên quan đến từng TTB tại khoa tốt
39
68,4
18
31,6
Tất cả các TTB đều có lập hướng dẫn sử dụng
42
73,7
15
26,3
Sổ nhật ký sử dụng TTB tại khoa ghi đầy đủ
43
75,4
14
24,6

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 487 - THÁNG 2 - SỐ 1&2 - 2020
69
Sau mỗi ca trực hoặc sau khi sử dụng TTBCĐ thì khoa làm tốt việc
bàn giao cụ thể
49
86
08
14
Tỷ lệ NVYT đồng ý quản lý tốt TTBCĐ cao nhất là tiểu mục sau mỗi ca trực hoặc sau khi sử dụng
TTBCĐ thì khoa làm tốt việc bàn giao cụ thể đạt tỷ lệ cao nhất là 86%. Tiểu mục thấp nhất là việc
quản lý tài liệu kỹ thuật liên quan đến từng TTB tại khoa 68,4%.
Bảng 6. Đánh giá của NVYT về quản lý TTBCĐ tại từng tiểu mục qua công tác quản lý chất lượng
Nội dung
Quản l tt
Quản l chưa tt
n
%
n
%
Tại khoa làm tốt việc kiểm chuẩn TTBCĐ
39
68,4
18
31,6
Điều kiện lắp đặt, bảo quản TTBCĐ tại khoa tốt
31
54,4
26
45,6
Trình độ của NVYT trực tiếp sử dụng TTBCĐ tại khoa
đáp ứng yêu cầu
46
80,7
11
19,3
TTBCĐ đảm bảo an toàn tốt khi đưa vào sử dụng
42
73,7
15
26,3
Có đến 80,7% NVYT đánh giá trình độ của NVYT trực tiếp sử dụng TTBCĐ tại khoa đáp ứng yêu
cầu và 45,6% NVYT đánh giá quản lý chưa tốt TTBCĐ do điều kiện lắp đặt, bảo quản TTBCĐ.
IV. BÀN LUẬN
1. Thực trạng s lưng v tình trạng
hin tại của trang thiết bị chẩn đoán tại các
khoa nghiên cứu
Về thực trạng số lượng và tình trạng hiện tại
của TTBCĐ, có 7,1% TTBCĐ không sử dụng do
TTB cũ, lạc hậu, một số không sử dụng là do
không còn thực hiện sàng lọc máu.
Về thời gian sử dụng của các TTBCĐ, 36/85
TTBCĐ có thời gian sử dụng từ 01 – 05 năm
chiếm tỷ lệ cao nhất là 42,35%. Đặc biệt có tới
25/85 TTBCĐ có thời gian sử dụng trên 10 năm
chiếm tỷ lệ 29,41% và hiện vẫn còn đang sử
dụng. Nghiên cứu của chúng tôi tương đồng với
nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Chúc và cộng sự
khi kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ máy cũ
trên 10 năm còn khá cao [5] và cũng tương
đồng với nghiên cứu của Võ Thị Ngọc Hương kết
quả chỉ ra rằng TTBCĐ có thời gian sử dụng từ
01 – 05 năm chiếm tỷ lệ 46,77%; TTBCĐ có thời
gian sử dụng trên 10 năm chiếm tỷ lệ 29,03% và
hiện vẫn còn đang sử dụng [3]. Về tần suất sử
dụng TTBCĐ tại khoa, tỷ lệ TTBCĐ được sử dụng
hàng ngày là cao nhất 72,94%. Kết quả này khá
tương đồng với kết quả nghiên cứu của Võ Thị
Ngọc Hương kết quả chỉ ra rằng tỷ lệ TTBCĐ
được sử dụng hàng ngày là 74,19% [3].
Tại Khoa Giải phẫu bệnh do số lượng mẫu của
các khoa lâm sàng gửi ít nên một số TTB đang
sử dụng chưa hoạt động hết công suất. Nghiên
cứu này phù hợp với nghiên cứu của Nguyễn Thị
Kim Chúc và cộng sự khi chỉ ra rằng tỷ lệ TTBCĐ
không được sử dụng hết công suất còn khá cao
ở tất cả các bệnh viện đa khoa tỉnh, đặc biệt là ở
khoa Giải phẫu bệnh của các bệnh viện tỉnh
thuộc vùng Bắc trung bộ và Tây nguyên [5] và
cũng khá tương đồng với nghiên cứu của Võ Thị
Ngọc Hương thiết bị đang sử dụng tại khoa hoạt
động hàng ngày nhưng chưa sử dụng hết công
suất như thiết bị tại khoa Giải phẫu bệnh, do số
lượng mẫu của các khoa lâm sàng gửi ít [3].
2. Đánh giá thực trạng quản l trang thiết
bị chẩn đoán tại các khoa tham gia nghiên cứu
Quản l trang thiết bị chẩn đoán qua
công tác s dụng, bảo quản. NVYT đánh giá
quản lý chưa tốt TTBCĐ do công tác tập
huấn/đào tạo cho NVYT sử dụng, bảo quản
TTBCĐ tại khoa; địa điểm lắp đặt các TTBCĐ tại
khoa chưa đảm bảo điều kiện an toàn của thiết
bị khi sử dụng và vật tư, phụ tùng thay thế đảm
bảo cho TTBCĐ vận hành tại khoa lần lượt là
56,1%; 54,4% và 52,6%. Nguyên nhân quản lý
TTBCĐ chưa tốt là do hiện tại tổ TTB chưa có đủ
nhân lực và trình độ để thực hiện việc đào tạo,
tập huấn, còn thiếu nhiều kỹ sư chuyên về TTB
nên việc đào tạo tập huấn chủ yếu là đưa tuyến
trên đào tạo hoặc nhờ công ty lắp đặt TTBCĐ
đào tạo, tập huấn ban đầu trước khi đưa vào sử
dụng; nhân viên sửa chữa Phòng TTB hiện tại
chưa có đủ nhân lực và trình độ chuyên môn còn
hạn chế nên khi TTBCĐ bị hư hỏng thì chỉ xử lý
được một số lỗi và phần lớn là gửi hãng sửa
chữa; nguồn kinh phí để mua sắm, bảo dưỡng,
sửa chữa TTBYT cũng còn hạn chế và thủ tục
mua sắm mất khá nhiều thời gian nên vật tư,
phụ tùng thay thế chưa đảm bảo cho TTBCĐ vận
hành tại khoa.
Quản l trang thiết bị chẩn đoán qua
công tác quản l hin trạng. Kết quả cho thấy
công tác quản lý hiện trạng TTBCĐ tương đối
tốt, mỗi TTBCĐ đều có sổ lý lịch và có ghi đầy
đủ thông tin có liên quan đến TTB, sau mỗi ca
trực hoặc sau khi sử dụng TTBCĐ thì khoa có
làm tốt việc bàn giao cụ thể, sau mỗi lần bảo
dưỡng có ghi tình trạng hoạt động hiện tại của
TTB và những đánh giá trên là tương đối chính
xác theo kiểm tra và quan sát thực tế của chúng

vietnam medical journal n01&2 - february- 2020
70
tôi về tình trạng hiện tại của TTBCĐ tại các khoa.
Quản l trang thiết bị chẩn đoán qua
công tác quản l chất lưng. Kết quả cho
thấy có đến 45,6 % NVYT đánh giá việc quản lý
chưa tốt công tác quản lý chất lượng TTBCĐ là
do điều kiện lắp đặt, bảo quản TTBCĐ tại khoa
mà cụ thể là diện tích đặt TTBCĐ còn chật hẹp
do Bệnh viện được xây dựng đã lâu đến nay đã
phát triển lên 1.000 giường bệnh và máy móc
TTBCĐ lắp đặt ngày càng nhiều nên điều kiện lắp
đặt, bảo quản TTBCĐ tại khoa chưa đảm bảo.
V. KT LUẬN
1. Thực trạng s lưng v tình trạng
hin tại của trang thiết bị chẩn đoán tại các
khoa nghiên cứu. Về số lượng và tình trạng
hiện tại của TTBCĐ: có 67 trang thiết bị hoạt
động bình thường (78,8%), 06 trang thiết bị
không sử dụng (7,1%) và 12 trang thiết bị hư
hỏng đang chờ thanh lý (14,1%).
Về phân bố số lượng các TTBCĐ theo số năm
sử dụng: có 36/85 TTBCĐ có thời gian sử dụng
từ 01 – 05 (42,35%); có tới 25/85 TTBCĐ có thời
gian sử dụng trên 10 năm (29,41 %) và hiện vẫn
còn đang sử dụng.
Về tần suất sử dụng TTBCĐ tại các khoa: số
lượng và tỷ lệ TTBCĐ được sử dụng hàng ngày là
62 TTBCĐ (72,94%), không sử dụng là 18 TTBCĐ
(21,18%), sử dụng hàng tuần 03 TTBCĐ (3,53%)
và sử dụng một vài lần/năm là 02 TTBCĐ
(2,35%), không có TTBCĐ sử dụng hàng tháng.
2. Đánh giá thực trạng quản l trang thiết
bị chẩn đoán tại các khoa tham gia nghiên cứu
Quản l trang thiết bị chẩn đoán qua
công tác s dụng, bảo quản. Có 56,1% NVYT
đánh giá quản lý chưa tốt TTBCĐ do công tác
tập huấn/đào tạo cho NVYT sử dụng, bảo quản
TTBCĐ; Có 54,4% NVYT đánh giá quản lý chưa
tốt TTBCĐ do địa điểm lắp đặt các TTBCĐ tại
khoa chưa đảm bảo điều kiện an toàn của thiết
bị khi sử dụng và 52,6 NVYT đánh giá quản lý
chưa tốt TTBCĐ do vật tư, phụ tùng thay thế
chưa đảm bảo cho TTBCĐ vận hành tại khoa.
Quản l trang thiết bị chẩn đoán qua
công tác quản l hin trạng. Tỷ lệ NVYT đồng
ý quản lý tốt TTBCĐ cao nhất là tiểu mục sau
mỗi ca trực hoặc sau khi sử dụng TTBCĐ thì
khoa làm tốt việc bàn giao cụ thể 86%. Tiểu mục
thấp nhất là việc quản lý tài liệu kỹ thuật liên
quan đến từng TTB tại khoa 68,4%.
Quản l trang thiết bị chẩn đoán qua
công tác quản l chất lưng. Có đến 80,7%
NVYT đánh giá trình độ của NVYT trực tiếp sử
dụng TTBCĐ tại khoa đáp ứng yêu cầu và 45,6%
NVYT đánh giá quản lý chưa tốt TTBCĐ do điều
kiện lắp đặt, bảo quản TTBCĐ.
KHUYN NGHỊ:
*Đi với Bnh vin. Tuyển dụng thêm nhân
lực để thực hiện công việc bảo dưỡng, sửa chữa,
đặc biệt là các kỹ sư tốt nghiệp các trường Đại
học kỹ thuật ngành TTBYT.
Thường xuyên đào tạo, tập huấn cho cán bộ
vận hành, sử dụng TTBCĐ và cán bộ kỹ thuật
thiết bị y tế thông qua một số hình thức như mời
các chuyên gia đến Bệnh viện đào tạo, tập huấn;
gửi cán bộ vận hành, sử dụng TTBCĐ và cán bộ
kỹ thuật thiết bị y tế đến các Bệnh viện tuyến
trên hoặc các công ty lắp đặt máy đào tạo, tập
huấn nhằm nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ. Tăng cường công tác kiểm tra giám
sát việc sử dụng TTBCĐ để việc sử dụng TTBCĐ
thật sự có chất lượng và hiệu quả. Sử dụng
phần mềm quản lý TTBCĐ để quản lý TTBCĐ
hiệu quả. Đầu tư mua sắm thêm TTBCĐ để đáp
ứng nhu cầu phục vụ công tác chuyên môn.
*Đi với Khoa: Về phụ trách việc quản lý và
sử dụng thiết bị phân công nhân viên có kiến
thức, trách nhiệm để phụ trách. Đồng thời tạo
điều kiện cho nhân viên nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ để khai thác tối đa tính năng kỹ
thuật và công suất của thiết bị tại khoa. Bên cạnh
đó cần phối hợp tốt với Phòng TTB để làm tốt
công tác giám sát sử dụng, ghi chép lý lịch máy
và sổ nhật ký sử dụng chính xác, đầy đủ.
TÀI LIỆU THAM KHO
1. Bnh vin Đa khoa Tiền Giang (2018), Báo cáo
công tác năm 2018 và phương hướng công tác
năm 2019, Tiền Giang.
2. Lê Văn Giao (2009), Giáo trình quản lý trang thiết
bị y tế, Hà Nội.
3. Võ Thị Ngọc Hương (2013), Nghiên cứu thực
trạng và một số yếu tố liên quan đến quản lý trang
thiết bị chẩn đoán tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Long
An năm 2013, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Y
tế công cộng, Hà Nội.
4. Chnh Phủ (2002), Quyết định số 130/2002/QĐ-TTg
ngày 04/10/2002 về việc phê duyệt Chính sách quốc
gia về Trang thiết bị y tế giai đoạn 2002 – 2010.
5. Nguyễn Thị Kim Chúc v các cộng sự (2004),
Kiểm kê và đánh giá thực trạng đầu tư trang thiết
bị chẩn đoán tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh.
6. Bộ Y tế (2001), Quản lý bệnh viện, Nhà xuất bản
y học, Hà Nội.
7. Bộ Y tế (2002), Kỷ yếu hội nghị triển khai chính sách
quốc gia về trang thiết bị y tế giai đoạn 2002 – 2010.
8. Bộ Y tế (2002), Thông tư số 13/2002/TT-BYT
ngày 13/12/2002 hướng dẫn điều kiện kinh doanh
trang thiết bị y tế.
9. Nguyen Hoang Long and et al (2006), Case
studies of computerized tomography (CT), colour
ultrasound and digestive endoscope in 5 provincial
hospitals in 2006.

