intTypePromotion=1

Tiểu luận đề tài:" Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị"

Chia sẻ: Lê Văn Hải Hải | Ngày: | Loại File: DOC | Số trang:27

0
596
lượt xem
109
download

Tiểu luận đề tài:" Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Sự nghiệp cách mạng nước ta trong hơn 80 năm qua ( từ 1930 đến nay) luôn gắn liền với tổ chức cộng sản , Đảng cộng sản Việt Nam. Là một Đảng của giai cấp vô sản và của toàn thể dân tộc Việt Nam. Là một Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện hơn 40 năm qua.Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta có nhiều tổ chức nhiều phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc diễn ra một cách sôi nổi mạnh mẽ, nhưng đều bị thất bại...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Tiểu luận đề tài:" Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị"

  1. Tiểu luận Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị" 1
  2. MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU: ............................................................ Error! Bookmark not defined. CHƯƠNG I: HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ NƯỚC TA TRƯỚC THỜI KÌ ĐỔI MỚIError! Bookmark CHƯƠNG II: XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI ............................................................................................................................ 6 1 . Quá trình hình thành đường lối xây dựng hệ thống chính trị trong thời kì đổi m ới ................................ ................................ .......................................................... 6 2 . Mục tiêu quan điểm và chủ trương xây dựng hệ thống chính trị trong thời kì đổi mới ................................ ................................ .................................................... 9 2 .1 Mục tiêu việc xây dựng hệ thống chính trị trong thời kì đổi mới ..................... 9 2 .2 Quan điểm của đảng cộng sản Việt Nam về hệ thống chính trị ..................... 10 2 .2.1 Quan điểm về giai cấp và việc vận dụng nó trong xâ y dựng hệ thống chính trị nước ta thời kì đổi mới. ........................................................................ 10 2 .2.2. Quan điểm bảo đảm sự thống nhất biện chứng giữa kinh tế và chính trị, giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị. ................................ ......................... 11 2 .3. Quan điểm về xây dựng nhà nu ớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam .. 13 3 . Chủ trương xây dựng hệ thống chính trị trong thời kì đổi mới:........................... 16 CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐƯ ỜNG LỐI CHÍNH TRỊ TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI ..................................................................................... 20 1 . Thực trạng của hệ thống chính trị nước ta từ năm 1986 đến nay. ........................ 20 2 . Thành tựu trong công cuộc xây dựng hệ thống chính trị trong thời kì đổi mới. ... 20 3 . Hạn chế trong công cuộc xây dựng hệ thống chính trị trong thời kì đổi mới. ...... 24 KẾT LUẬN: ................................................................................................ ............. 25 TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................ ................................ ......................... 26 ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNH H Ệ THỐNG CHÍNH TRỊ 2
  3. TRONG THỜI K Ì Đ ỔI MỚI MỞ ĐẦU Sự nghiệp cách mạng nước ta trong hơn 80 năm qua ( từ 1930 đến nay) luôn gắn liền với tổ chức cộng sản , Đảng cộng sản Việt Nam. Là một Đ ảng của giai cấp vô sản và của toàn thể dân tộc Việt Nam. Là một Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện hơn 40 năm qua Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta có nhiều tổ chức nhiều phong trào đ ấu tranh giành độc lập dân tộc diễn ra một cách sôi nổi mạnh mẽ, nhưng đều bị thất bại. Tuy nhiên kể từ khi được đặt d ưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, mà người đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đạt được nhiều thắng lợi to lớn giành lại độc lập dân tộc. Giành được thắng lợi đó đường lối lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt N am là một trong những yếu tố hết sức quan trọng, trong đó việc xây dựng hệ thống chính trị từ trung ương đến cấp cơ sở là m ột trong những yếu tố quan trọng quyết định đến mọi thắng lợi. Ở nước ta tồn tại nhiều hệ thống chính trị khác nhau, hệ thống chính trị trung ương tập quyền ( phong kiến ) hệ thống chính trị cai trị thực dân Pháp, chế độ thực dân kiểu mới ( ngụy quyền) nhưng hệ thống chính trị do Đảng cộng sản Việt Nam xây dựng là một hệ thống chính trị tiến bộ nhất vì luôn đặt lợi ích dân tộc quốc gia hàng đầu H ệ thống chính trị được đảng ta thường xuyên hoàn thiện và có bước phát triển mới, quá trình đổi mới hệ thống chính trị nước ta thể hiện rõ hơn trong thời kì đổi mới ( từ 1986 đến nay) từng bước đưa nước ta thoát khỏi khó khăn, về kinh tế nước ta thoát khỏi mức nghèo và được xếp vào hàng các nước đang phát triển, chính trị xã hội nước ta đ ược xếp vào một trong những nước có nền chính trị ổn định nhất trên thế giới. Từ những thành quả đạt được vị trí của đảng cộng sản Việt Nam được xác lập và củng cố ngày càng vững chắc Đảng cộng sản Việt Nam xứng đáng là một chính đảng của 3
  4. dân tộc Việt Nam Từ những năm giữa thập niên 80 của thế kỉ XX hệ thống chủ nghĩa xã hội bắt đầu có sự dạn nứt và sụp đổ. Năm 1991 chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô sụp đổ dẫn đến sự sụp đổ ho àn toàn hệ thống xã hội chủ nghĩa, nguyên nhân của sự sụp đổ chính là sự khủng hoảng về đường lối lãnh đ ạo hệ thống chính trị mất ổn định xa dần học thuyết chủ nghĩa xã hội của Mac-Lê Nin. ở nước ta mặc dù trước đó( từ 1945 đến 1985) luôn coi Liên Xô là anh cả của chủ nghĩa xã hội mô hình kiểu mẫu hành động một cách dập khuôn máy móc theo Liên Xô. Năm 1985 M. GOOC-BA-CHOP lên lắm quyền lãnh đạo đổi mới Liên Xô. Trước yêu cầu thựuc tiễn cần phải đổi mới và trước sựu đổi mới của Liên Xô năm 1986 Đ ảng ta tiến hành công cuộc đổi mới. Tuy nhiên giai đoạn này nước ta đã tách ra khỏi sự ảnh hưởng của Liên Xô đổi mới phù hợp với tình hình thực tiễn ở Việt Nam kiên định con đường chủ nghĩa xã hội, coi chủ nghĩa xã hội là con đường phát triển duy nhất của đất nước. Mục đích của việc nghiên cứu Đảng lãnh đ ạo xây dựng hệ thống chính trị trong thời kì đ ổi mới nhằm để phát hiện xác lập thành quả của đảng trong việc xây dựng hệ thống chính trị từ 1986 đến nay. Làm rõ quá trình đổi mới từng bước hoàn thiện hệ thống chính trị của Đảng , thấy được vai trò quan trọng của Đảng cộng sản Việt Nam với hệ thống chính trị. V à thấy được giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cộng sản Việt Nam đã xây dựng lên một Đ ảng cầm quyền vì lợi ích của nhân dân, tư tưởng của Người không chỉ có ý nghĩa trong cách magj mà còn soi sáng cho con đường đổi mới của đất nước hiện nay 1. Hệ thống chính trị nước ta trước thời kỳ đổi mới. Sơ lược về hệ thống chính trị: Hệ thống chính trị : là tổng thể những tổ chức thực hiện quyền lực chính trị được xã hội chính thức thừa nhận. HTCT tư sản hiện đại thể hiện nền dân chủ tư sản, bao gồm: nhà nước tiêu biểu cho quyền lực công, với các cơ 4
  5. quan lập pháp (nghị viện), cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp; các chính đảng; các tổ chức nghề nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội, cùng tham gia hoạt động chính trị (tranh cử, tham gia chính quyền, biểu tình, vận động quần chúng...) H ệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt N am thể hiện bản chất của nền dân chủ x ã hội chủ nghĩa, theo cơ chế: Đảng lãnh đ ạo, N hân dân làm chủ, N hà nước quản lí. Đảng Cộng sản, với tư cách là đội tiên phong của giai cấp công nhân và đại biểu cho lợi ích của nhân dân lao động và của toàn dân tộc, có sứ mạng lãnh đạo toàn bộ xã hội thông qua nhà nước và các đoàn thể nhân dân; bộ máy nhà nước ,có chức năng quản lí mọi mặt đời sống xã hội; các đoàn thể nhân dân có chức năng tập hợp các giai cấp, tầng lớp xã hội tham gia việc quản lí nhà nước, quản lí xã hội. Ở nhiều nước, có hình thức liên minh chính trị như m ặt trận, bao gồm một số chính đảng và tổ chức xã hội tán thành cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội và sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Từ khi ra đời (3 -2-1930) Đảng cộng sản đã lãnh đ ạo cách mạng Việt Nam đạt được nhiều thành tựu to lớn, đưa nước ta vượt qua nhiều khó khăn thử thách. G iành chính quyền về tay nhân dân,từng bước xây dựng hệ thống chính trị từ trung ương tới cấp cơ sở. Đảng đã xây dựng được mối quan hệ Đảng lãnh đạo,nhân dân làm chủ,nhà nước quản lý thành một cơ chế chung trong hoạt động của hệ thống chính trị ở tất cả các cấp địa phương. Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt được công tác xây dựng hệ thống chính trị còn nhiều hạn chế Trong hệ thống chuyên chính vô sản giai đoạn này, mối quan hệ giữa Đ ảng, Nhà nước và nhân dân ở từng đơn vị chưa được xác định thật rõ; mỗi bộ phận, mỗi tổ chức trong hệ thống chuyên chính vô sản chưa làm tốt chức năng của mình. Chế độ chịu trách nhiệm không nghiêm, pháp chế xã hội chủ nghĩa còn nhiều thiếu sót Bộ máy nhà nước cồng kềnh và kém hiệu quả mà cơ chế quản lý thì 5
  6. tập trung quan liêu, bao cấp là nguyên nhân trực tiếp; các cơ quan dân cử các cấp được lựa chọn, bầu cử và ho ạt động một cách hình thức . Không ít cơ quan chính quyền không tôn trọng ý kiến của nhân dân làm m ất đi tính dân chủ, trong việc thực hiện các chính sách không chú trọng làm công tác vận động quần chúng, mà nặng về việc dùng các biện pháp mệnh lệnh hành chính. Sự lãnh đạo của Đảng chưa ngang tầm những nhiệm vụ của giai đoạn mới, chính sách của Đảng đưa ra không đáp ứng được yêu cầu giải quyết những vần đề kinh tế -xã hội cơ bản và cấp bách. Tồn tai một số hạn chế trên là do việc coi nhẹ công tác xây dựng Đảng, có tình trạng tập chung quan liêu bao cấp độc đoán chiêm quyền trong phương thức lãnh đạo, nhiều đảng viên bị tha ho á biến chất. trong 10 năm (1976-1986) trên 19 vạn đảng viên b ị đưa ra truy tố trước pháp luật, phần lớn là cán bộ đảng viên bị tha hoá về đạo đức, làm giam uy tín của đảng và giảm lòng tin của quần chúng nhân dân vào Đ ảng. Đảng chưa phát huy tốt vai trò và chức năng của các đoàn thể trong việc giáo dục, động viên quần chúng tham gia quản lý kinh tế - xã hội. Các đoàn thể chưa tích cực đổi mới phương thức hoạt động đúng với tính chất của tổ chức quần chúng. Những hạn chế, sai lầm đã làm ảnh hưởng rất lớn đến cách mạng V iệt Nam, đó là tác nguyên nhân chính chủ yếu kìm hãm sự phát triển về mọi mặt của đất nước kinh tế- văn hoá-xã hội,là nguyên nhân gây tụt hậu đe doạ đến sự tồn vong của đất nuớc. Đứng truớc tình hình đó để khác phục những hạn chế, sai lầm, đưa đất nước thoát ra khỏi tình trạng lạc hậu Đảng ta đã tiến hành việc đổi mới hệ thống chính trị. CHƯƠNG II: XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI 1. Quá trình hình thành đ ường lối xây dựng hệ thống chính trị trong thời 6
  7. kì đổi mới N hận thức mới về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị Đ ảng ta khẳng định đổi mới là một quá trình, bắt đầu từ đổi mới kinh tế, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, đồng thời từng bước đổi mới hệ thống chính trị. Phải tập trung đổi mới kinh tế trước hết, vì có đổi mới thành công về kinh tế mới tạo được điều kiện cơ bản để tiến hành đổi mới hệ thống chính trị thuận lợi. Mặt khác, nếu không đổi mới hệ thống chính trị, thì đổi mới kinh tế sẽ gặp trở ngại. Hệ thống chính trị được đổi mới kịp thời, phù hợp sẽ là điều kiện quan trọng để thúc đẩy đổi mới và phát triển kinh tế. Như vậy, đổi mới hệ thống chính trị là nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi từ thể chế kinh tế kế ho ạch hoá tập trung, quan liêu, bao cấp sang thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. N hận thức mới về mục tiêu đổi mới hệ thống chính trị Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) khẳng định “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân”. Báo cáo chính trị tại Đại hội VII (năm 1991) nhấn mạnh, thực chất của việc đổi mới và kiện toàn hệ thống chính trị nước ta là xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới N hận thức mới về đấu tranh giai cấp và về động lực chủ yếu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Đ ại hội IX cho rằng: “Trong thời kỳ quá độ, có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều thành phần kinh tế, giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau, nhưng cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xã hội ta đã thay đổi nhiều cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế, xã hội. Mối quan hệ giữa 7
  8. các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Lợi ích giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích toàn dân tộc trong mục tiêu chung là: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa x ã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay là thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng nước nghèo, kém phát triển; thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức, bất công, đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực, sai trái; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, nhân dân hạnh phúc. Động lực chủ yếu phát triển đất nước là đại đo àn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội”. N hận thức mới về cơ cấu và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị H ệ thống chính trị vận hành theo cơ chế: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”; trong đó, Đảng vừa là m ột bộ phận của hệ thống chính trị, vừa là “hạt nhân” lãnh đ ạo hệ thống ấy, hoạt động trong khuôn khổ H iến pháp, pháp luật. Không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. N hà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đ ảng Cộng sản lãnh đạo; có chức năng thể chế hoá và tổ chức thực hiện đ ường lối, quan điểm của Đảng. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là liên minh chính trị của các đoàn thể nhân dân và các cá nhân tiêu biểu của các giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo; là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; hoạt động theo phương thức hiệp thương dân chủ, có vai trò 8
  9. quan trọng trong việc thực hiện phản biện, giám sát xã hội, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Nhân dân là người làm chủ xã hội, làm chủ thông qua Nhà nước và các cơ quan đại diện, đồng thời làm chủ trực tiếp thông qua cơ chế “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”; làm chủ thông qua hình thức tự quản. N hận thức mới về xây dựng Nhà nước pháp quyền trong hệ thống chính trị Trong tư duy về hệ thống chính trị, vấn đề đổi mới tư duy về Nhà nước có tầm quan trọng đặc biệt. Thuật ngữ “xây dựng nhà nước pháp quyền” lần đầu tiên được đề cập tại Hội nghị Trung ương 2 khoá VII (1991). Đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (1991) và các Đại hội VIII, IX và X , Đ ảng tiếp tục khẳng định nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và làm rõ thêm nội dung của nó. Đó là: Nhà nước quản lý xã hội bằng H iến pháp và pháp luật; pháp luật giữ vị trí tối thượng trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội; người dân được hưởng mọi quyền dân chủ, có quyền tự do sống và làm việc theo khả năng và sở thích của mình trong phạm vi pháp luật cho phép. N hận thức mới về vai trò của Đảng trong hệ thống chính trị. Đ ảng Cộng sản cầm quyền là Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không làm thay Nhà nước. Đảng quan tâm xây dựng củng cố Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, phát huy vai trò của các thành tố này trong quản lý, điều hành xã hội. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng phải đồng bộ với đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, đổi mới kinh tế. 2. Mục tiêu quan điểm và chủ trương xây d ựng hệ thống chính trị trong thời kì đổi mới 2 .1 Mục tiêu việc xây dựng hệ thống chính trị trong thời kì đổi mới. 9
  10. M ục tiêu trong việc xây dựng hệ thống chính trị trong thời kì đ ổi mới của Đảng cộng sản Việt Nam. Trước tiên Đảng làm thanh lọc đội ngũ các cán bộ Đảng viên làm trong sạch tổ chức Đảng, xoá bỏ hiện tượng quan liêu,bao cấp,chiêm quyền của một bộ phận cán bộ lãnh đ ạo nhằm thực hiện tốt hơn quyền dân chủ xã hội chủ nghĩa,phát huy và nâng cao hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân. Toàn bộ tổ chức và hoạt động cảu hệ thống chính trị nước ta trong thời kì đổi mới với mục tiêu xây d ựng ho àn thiện nền dân chủ xẫ hội chủ nghĩa bảo đảm mọi quyền thuộc về tay nhân dân. Thay đổi cơ chế làm việc, quản lý kinh tế-văn hóa-xã hội, thúc đẩy các hoạt động phát triển, với một mục tiêu trên cả đó là một xã hội ổn định dân giàu, nước mạnh,công bằng dân chủ văn minh. 2 .2 Quan điểm của đảng cộng sản Việt Nam về hệ thống chính trị 2 .2.1 Quan điểm về giai cấp và việc vận dụng nó trong xây dựng hệ thống chính trị nước ta thời kì đổi mới. Q uan điểm về giai cấp luôn được thể hiện một cách quán triệt và bao trùm xuyên suốt mục tiêu con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đưa đất nước ta thoát khỏi tiòh trạng nghèo nàn lạc hậu, phát triển về mọi mặt, công bằng dân chủ văn minh. Quá trình này được tiến hành bởi toàn dân với lực lượng lòng cốt là nhân dân lao động được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản, và sự quản lý của nhà nước của nhân dân do nhân dân và vì nhân dân. Đây vừa là ý trí của giai cấp công nhân và vừa là ý trí của cả dân tộc. trong chính trị và hệ thống chính trị quan diểm đó càng được thể hiện rõ nét: chính trị là quan hệ giữa các giai cấp; không có chính trị nằm ngoài giai cấp và những giai cấp nào thong s trị xã hội thì nhất thiết phải thống trị hệ thống chính trị, thông qua hệ thống chính trị giai cấp đó thực hiện quyền thống trị của giai cấp mình đối với xã hôị. Ở nước ta trong thời kì đổi mới còn nhiều giai cấp nhiều tầng lớp, trong đó nhân dân lao động bao gồm công nhân, nông dân, trí thức và các tầng lớp 10
  11. lao động khác là chủ của xẫ hội. không xem nhẹ địa vị làm chủ của nhân dân lao động thong qua nhà nước mình, không làm giảm đi vai trò lãnh đạo của công nhân mà đại diện của nó là Đảng Cộng Sản. phát triển kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu và phân phối tuy có làm nảy sinh nhiều tầng lớp xã hội có lợi ích khác nhau song toàn bộ quá trình đó được đặt dưới sự quản lý của nhà nước với mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh. Đ ảng cũng đưa ra quan niệm không nên đưa ra quan niệm tính giai cấp một cách cứng nhắc, không lên tuyệt đối hoá mặt giai cấp, quy xã hội vào công thức “hai giai cấp một tầng lớp”. ngày nay cần phải hiểu và quan niệm giai cấp một cách biện chứng. nghĩa là phải thừa nhận trong suốt thời kì quá độ còn tồn tại nhiều giai cấp, nhiều tầng lớp xã hội có vị trí và lợi ích khác nhau. Trong hệ thống chính trị nứơc ta, tính giai cấp thống nhất với tính nhân dân với tính dân tộc. N ăm 1945 nước ta đ ã thiết lập được một hệ thống chính trị hoàn toàn khác hẳn về bản chất so với các nhà nước tồn tại trước đó, một nhà nước kiểu mới, chính quyền công nông. Nhà nước ấy do giai cáp công nhân và Đảng Cộng Sản lãnh đạo lực lượng trụ cột trong bộ máy chính là công nông. Sau ngày miền nam giải phóng, thống nhất tổ quốc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cả nước b ước vào thời kì qúa độ lên chủ nghĩa x ã hội. Trong suốt thời kì quá độ nhà nước ta là một nhà nước của dân do nhân dân vì nhân dân lấy liên minh giai cấp công nhân,nông dân và tri thức làm lền tảng được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, giữ nguyên kỉ cương và chuyên chính kiên quyết với mọi hành động xâm phạm lợi ích của tổ quốc và của nhân dân, phấn đầu cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa 2 .2.2. Quan điểm bảo đảm sự thống nhất biện chứng giữa kinh tế và chính trị, g iữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị. 11
  12. Trong quá trrình xây dựng và đổi hệ thống chính trị phải nắm vững và vận dụng sáng tạo quan điểm duy vật lịch sử, mối quan hẹ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng, Nguyên lý phương pháp luận này đòi hỏi khi xây dựng tổ chức và cơ chế vận hành của hệ thống chính khô ng đ ược tách ra với các nhiệm vụ trong lĩnh vực kinh tế, trái lại phẩi thúc đẩy kinh tế phát triển. Đ ảng không phủ nhận vai trò tích cực củ hệ thống chính trị, của việc cải cách hệ thống chính trị đối với đời sống kinh tế. trong một ho àn canh rnhất định cụ thể những cải biến chính trị và hệ thống chính trị có tác dụng mở đường thúc đẩy kinh tế phát triển bảo đảm kinh tế phục vụ đắc lực cho chiến tranh. Tuy nhiên những trường đó chỉ là trường hợp cá biệt chỉ giới hạn trong một khoảng không gian và thời gian nhất định. Từ đó tuyệt đối không thể rut ra kết luận cứ tạo ra một hệ thống chính trị “tiên tiến” để kéo nền kinh tế phát triển, đem hệ thống chính trị áp dặt vào thực tiễn, bắt buộc đời sống kinh tế phải tuân theo. Đ ặc điểm lớn nhất của nước ta là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, bị chién tranh tàn phá nặng nề, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội không thong qua chế độ tư b ản chủ nghĩa thời kì quan trọng tích luy tư bản để tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội. kinh tế nước ta trong thời kì đ ổi mới là một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước định hướng xã hội chủ nghĩa mở của quan hệ với nước ngoài, từng bước công nghiệp hoá hiện đại hoá thực hiện tăng trưởng kinh tế đi đôi với đảm bảo công bằng xã hội. Trong công cuộc đổi mới đảng ta xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị. Hai quá trình này phải kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu, nhưng trong quá trình thục hiện thì cần phải có buớc đi phù hợp. Bắt đầu công cuộc đổi mới đảng và nhà nước ta tiến hành đổi mới tư duy lý luận chính trị, đổi mơi đường lối đối nội đối ngoại, làm cơ sở cho to àn 12
  13. bộ đổi mới trên tất cả các lĩnh vực. Trên cơ sở đó tập chung vào đổi mới kinh tế, khắc phục khủng hoảng kinh tế xã hội, tạo tiền đề vật chất vật chất và tinh thần để giữ vững ổn định chính trị. Trong đổi mới chính trị Đảng tập chung đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị. Đổi mới tư tưởng luôn kiên trì giữ vững hệ tư tưởng chính trị chủ nghĩa Mác-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên tắc tập chung dân chủ sự lãnh đạo của đảng đối vơí nhà nước và cả hệ thống chính trị, thực hiẹn chế độ nhất nguyên về chính trị 2 .3. Quan điểm về xây dựng nhà nuớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trong việc hoàn thành hệ thống chính trị ở nước ta, Đảng ta luôn chú ý tới việc hoàn thịên nhà nước, xây dựng hệ thống pháp quyền xã hội chủ nghĩa V iệt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. N hà nước pháp quyền có nguồn gốc từ các nước tư b ản, tuy nhiên chúng ta cần phải hiểu nhà nước pháp quyền là thành quả của văn minh nhân loại chư không phải thành quả riêng của các nước tư b ản. nhà nước pháp qun là bước tiến lịch sử khắc phục nhược điểm cơ bản của nhà nước đức trị,nhân trị, nhà nước thần quyền của chế độ phong kiến và thời kì đầu của chủ nghĩa tư bản. Lý luận và thựcc tiễn cho chúng ta thấy không chỉ tồn tại nhà nước pháp quyền tư bản chủ nghĩa, mà còn có cả nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với những đặc trưng riêng trong mỗi quốc gia. Nhà nước pháp quyền tư b ản chủ nghĩa được giai cấp tư sản sử dụng nhằm phục vụ lợi ích chính trị của họ, ngược lại nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa không phục vụ lợi công bằng dân chủ văn minh, vì lợi ích của dân tộc, của nhân loại. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của dân do dân vì nhân dân tất cả quyền lực đều thuộc về tay nhân dân. Nhà nước pháp quyền thể hiện quyền lực nhà nước một cách chính đáng nhất, trong khuôn khổ một chế độ chính trị, quyền lục của nhà nước phai được xác lập và 13
  14. thực hiện trên cơ sở coi nhân dân đích thực là người chủ của quyền lực. Nhân dân người chủ của quyền lực không chỉ tạo lập lên nhà nước của mình mà còn trực tiếp hoặc thong qua các cơ quan đ ại diện thực thi quyền lực và thông qua các hình thức khác tham gia vào quản lý nhà nước, tác động mạnh mẽ đến quá trình hoạch định đường lối chính sách của Đ ảng và nhà nước trong các hoạt động lập pháp, hoạt động quản lý- đ iều hành, hoạt động tư pháp Q uyền lực nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc thống nhất trên cơ sở có sự phân công và phối hợp giữa cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Một trong những quan điểm cơ bản của việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quan điểm về quyền lực nhà nước thống nhất trên cơ sở phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đây là một quan điểm chính trị thể hiện rõ không có sự tập chung quyền lực cao độ vào một nhánh quyền lực nào theo kiểu phân lập mà các nhánh quyền lực này thống nhất ở mục tiêu chung của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nhà nước pháp quyền x ã hội chủ nghĩa Việt Nam vừa thừa nhận vị trí tối thượng của hiến pháp và các đạo luật trong đời sống xã hội; tổ chức và ho ạt động của nhà nước thực hiện trên cơ sở, Hiến pháp và pháp luật. Trong nhà nước pháp quyền, ý chí của nhân dân và sự lựa chọn chính trị đ ược xác lập một cách trung nhất, đầy đủ nhất và cao nhất bằng hiến pháp. Hiến pháp là đạo luật cơ bản của nhà nước, có hiệu lực pháp lý cao nhất, quy định chế độ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng và an ninh,quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Hiến pháp là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc duy trì và thực thi các quyền lực nhà nước, cho sự làm chủ của nhân dân, đó chính là cơ sở xét xem, đánh giá sự hợp hiến hay không hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật. 14
  15. Trách nhiệm qua lại giữa nhà nước và công dân là mối quan hệ chủ đạo trong xã hội, thể hiện vai trò của nhà nước “phục vụ” đ ồng thời thể hiện trách nhiệm của công dân trước nhà nước và xã hội. Trong bất kì một xã hội nào cũng cần phải có sự kết hợp cần thiết trong các lợi ích của xã hội, nhà nước là đại diện cho lợi ích chung, công dân đại diện cho lợi ích cá nhân. Trong nhà nước pháp quyền mọi công dân đều được bình đẳng, bất kể thành phần nguồn gốc xuất thân, họ có các quyền tự do và được pháp luật thừa nhận, mọi người đều có quyền biểu hiện ý chí nhân cách và chịu trách nhiệm trước hành vi của mình. N hà nước và công dân luôn có trách nhiệm qua lại với nhau, bảo đảm dân chủ, kỉ cương xã hội,hạn chế việc lạm quyền từ phía nhà nước và tự do vô chính phủ của công dân. N hà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm thực hiện nghiêm chỉnh và có thiện chí các cam kết quốc tế. Đường lối đối ngoại của nhà nước cộng ho à xã hội chủ nghĩa Việt Nam luôn thể hiện tính độc lập tụ chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá trong quan hệ các nước trên thế giới. Là công cụ quản lý tổ chức và điều chinhr nhà nước pháp luật đóng vai trò rất quan trọng đối việc thực hiện đẩy mạnh quan hệ quốc tế. Các điều ước quốc tế ngày càng thể hiện vai trò trong điều chỉnh các quan hệu xã hội đang trở thành một bộ phận trong luật pháp quốc gia. Việc thực hiện nghiêm chỉnh các điều ước quốc tế sẽ góp phân thúc đẩy việc thực hiện pháp luật, bảo đảm cho việc thực hiện tốt chức năng đối ngoại. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Sự lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng là tất yếu của lịch sử và được lịch sử dân tộc thừa nhận. Sự lanh đạo các cơ quan nhà nước thể chế hoá đ ường lối, chủ trương, 15
  16. chính sách của Đảng và tổ chức thực hiện thong qua bộ máy nhà nước. Lãnh đ ạo chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân do dân và vì dân Tiến hành kiểm tra thanh tra giám sát hoạt dộng của cơ quan nhà nước,kiểm tra các tổ chức đảng và cán bộ đảng viên, bảo đảm cho các cơ quan nhà nước và cán bộ công chức nhà nước thực hiện đúng đường lối chính sách của đảng và pháp luật của nhà nước 3. Chủ trương xây dựng hệ thống chính trị trong thời kì đổi mới: Xây dựng Đảng trong hệ thống chính trị. Trước Đại hội X, Đảng ta xác định: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Đại hội X đã bổ sung một số nội dung quan trọng: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”. Về phương thức lãnh đạo, Cương lĩnh năm 1991 xác định: “Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức kiểm tra và bằng hành động gương m ẫu của đảng viên. Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào ho ạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể. Đảng không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị”. V ề vị trí, vai trò của Đảng trong hệ thống chính trị, Cương lĩnh năm 1991 xác định: “Đảng lãnh đ ạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của 16
  17. nhân dân, hành động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Trong quá trình đổi mới, Đảng ta luôn luôn coi trọng việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị. Nghị quyết trung ương 5 khoá X về “Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với ho ạt động của hệ thống chính trị” đã chỉ rõ các mục tiêu giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo, nâng cao tính khoa học, năng lực và hiệu quả lãnh đ ạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội, sự gắn bó mật thiết giữa Đảng và nhân dân; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và trong xã hội; làm cho nước ta phát triển nhanh và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị phải được đặt trong tổng thể nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng, tiến hành đồng bộ đối với đổi mới các mặt của công tác xây dựng Đảng, với đổi mới tổ chức và hoạt động của cả hệ thống chính trị, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; đồng bộ với đổi mới kinh tế, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị phải trên cơ sở kiên đ ịnh các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, thục hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; thực hiện dân chủ rộng rãi trong Đảng và trong xã hội, đẩy nhanh phân cấp, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là cá nhân người đứng đầu Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị là công việc hệ trọng, đòi hỏi phải chủ động, tích cực, có quyết tâm chính trị cao, đồng thời cần thận trọng, có bước đi vững chắc, vừa làm 17
  18. vừa tổng kết, vừa rút kinh nghiệm. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị ở mỗi cấp, mỗi ngành vừa phải quán triệt các nguyên tắc chung, vừa phải phù hợp với đặc điểm, yêu cầu, nhiệm vụ của từng cấp, từng ngành. X ây d ựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Chủ trương xây dựng N hà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là sự khẳng định và thừa nhận Nhà nước pháp quyền là một tất yếu lịch sử. Trong lịch sử loài người chỉ có 4 kiểu nhà nước. Nhà nước pháp quyền là cách thức tổ chức phân công quyền lực của nhà nước. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xây dựng theo 5 đặc điểm sau đây: Đó là nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Q uyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp. N hà nước tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và b ảo đảm cho Hiến pháp và các đạo luật giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh các quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. N hà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, thực hành dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật. N hà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam do một Đảng duy nhất lãnh đạo, có sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức thành viên của Mặt trận. Để việc xây dựng Nhà nước pháp quyền cần thực hiện tốt một số biện pháp lớn sau đây: 18
  19. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền. Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Hoàn thiện cơ chế bầu cử nhằm nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội. Đổi mới quy trình xây dựng luật, giảm mạnh việc ban hành pháp lệnh. Thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và chức năng giám sát tối cao. Đ ẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ theo hướng xây dựng cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại. X ây d ựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, quyền con người. Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp. N âng cao chất lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân và U ỷ ban nhân dân, bảo đảm quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương trong phạm vi được phân cấp. Xây dựng Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - x ã hội có vai trò rất quan trọng trong việc tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân; đại diện cho quyền lợi và lợi ích hợp pháp của nhân dân, đề xuất các chủ trương, chính sách về kinh tế, văn hoá x ã hội; an ninh, quốc phòng. N hà nước ban hành cơ chế để Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện x ã hội. Đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, khắc phục tình trạng hành chính hoá, nhà nước hoá, phô trương, hình thức; nâng cao chất lượng hoạt động; làm tốt công tác dân vận theo phong 19
  20. cách trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có ẩách nhiệm với dân, nghe dân nói, nói dân hiểu, làm dân tin. CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐƯỜNG LỐI CHÍNH TRỊ TRONG THỜI KÌ ĐỔI MỚI 1. Thực trạng của hệ thống chính trị nước ta từ năm 1986 đến nay. H ệ thống chính trị nước ta đã và đang đó ng vai trò tích cực trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước. Trước biến cố của tình hình thế giới sự sụp đổ hệ thống chủ nghĩa x ã hội ở Liên Xô và Đông Âu hệ thống chính trị ở nuớc ta không những không chịu sự tác động tiêu cực của hệ thống xã hội chủ nghĩa mà trái lại từng bước ổn định đưa đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, đứng vững và phát triển mở ra một phương hướng mới cho sự phát triển của đất nước. Trong quá trình tiến hành đổi mới hệ thống chính trị đảng ta đã thực hiện tốt mục tiêu đề ra “giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng bản chất cách mạng của nhà nước ta, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị, mở rộng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, tăng cường tiềm lực quốc gia, giữ vững ổn định chính trị, xã hội, củng cố mối quan hệ mật thiết của đảng và nhà nước với nhân dân”. Đó là cơ sở rất quan trọng để đánh giá về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nuớc ta trong thời kì đổi mới 2. Thành tựu trong công cuộc xây dựng hệ thống chính trị trong thời kì đổi mới. Trứơc tiên chúng ta phải nói đến vai trò lãnh đạo của Đảng, mọi thắng lợi của cách mạng nước ta kề từ nam 1930 đến nay đều mang đậm dấu ấn của Đ ảng cộng sản Việt Nam. Kể từ khi ra đời lãnh đ ạo nhân dân Việt Nam Đảng luôn đặt lợi ích của nhân dân lên hàng đầu lợi ích của Đảng chính là nhân dân. 20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2