
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
-------------------------------
Vũ Hải Phong
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO MẬT
KẾT NỐI TRONG HỆ THỐNG ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY
Chuyên ngành : Hệ thống thông tin
Mã số : 8.48.01.04
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ
HÀ NỘI – 2022

Luận văn được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Tất Thắng
Phản biện 1: PGS. TS. Trần Đình Quế
Phản biện 2: TS. Tạ Quang Hùng
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ tại Học
viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông
Vào lúc: 8 giờ, ngày 15 tháng 01 năm 2022
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Thư viện của Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông.

1
MỞ ĐẦU
Ngày nay, với sự linh hoạt trong triển khai/mở rộng, tối ưu chi phí
và hỗ trợ tối đa các nhu cầu của doanh nghiệp, tổ chức, điện toán đám
mây đã trở thành một giải pháp thay thế các mô hình cơ sở hạ tầng truyền
thống.
Đi kèm với sự phát triển vũ bão của điện toán đám mây, tính bảo
mật của đường truyền kết nối giữa các hệ thống đã trở thành sự quan tâm
hàng đầu khi triển khai hệ thống điện toán đám mây cho doanh nghiệp,
tổ chức. Để có được tính bảo mật đồng nhất giữa các thành phần, cần sự
tham gia giữa các nhà mạng (ISP), nhà cung cấp dịch vụ cloud (Cloud
Provider) và các hệ thống quản lý, lưu trữ dữ liệu online để đưa ra một
hệ thống bảo mật chung nhằm tối ưu tính bảo mật các kết nối liên mạng
giữa các bên.
Luận văn sẽ trình bày về một số biện pháp bảo mật điện toán đám
mây trong hệ thống quản lý doanh nghiệp theo trình tự như sau:
- Chương 1: Tổng quan và Thực trạng bảo mật trong hệ thống điện
toán đám mây
- Chương 2: Bảo mật kết nối trong hệ thống điện toán đám mây
- Chương 3: Ứng dụng hệ thống bảo mật kết nối zerotrust trong hệ
thống điện toán đám mây
- Chương 4: Kết quả và bàn luận

2
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VÀ THỰC TRẠNG BẢO MẬT
TRONG HỆ THỐNG ĐIỆN TOÁN ĐÁM MÂY
1. Tổng quan về điện toán đám mây
Điện toán đám mây– Cloud Computing là mô hình điện toán cung
cấp nguồn tài nguyên máy tính, bao gồm bất kì thứ gì liên quan đến điện
toán và máy tính cho người dùng tùy theo mục đích sử dụng thông qua
kết nối Internet.
Hay có thể nói đơn giản điện toán đám mây là việc cung cấp các
dịch vụ điện toán - bao gồm máy chủ, lưu trữ, cơ sở dữ liệu, mạng, phần
mềm, phân tích và trí tuệ - qua hệ thống mạng lưới Internet toàn cầu
(“đám mây”) để cung cấp các thay đổi mới nhanh hơn, tài nguyên co giãn
linh hoạt và tối ưu chi phí theo quy mô/nhu cầu.
Như vậy, điện toán đám mây có thể coi là bước tiếp theo của ảo
hóa, bao gồm ảo hóa phần cứng và ứng dụng, là thành phần quản lý, tổ
chức, vận hành các hệ thống ảo hóa trước đó.
1.1. Các đặc điểm chính
Tự cấu hình theo nhu cầu (On-deman self-service)
Mạng lưới truy cập rộng lớn (Broad Network Access)
Tài nguyên được chia sẻ (Resource Pooling)
Tính linh hoạt nhanh (Rapid elasticity)
Ước lượng dịch vụ (Measured service)
1.2. Lịch sử hình thành và các mốc phát triển của điện toán đám
mây

3
Năm 1999 đánh dấu một trong những cột mốc đầu tiên của điện
toán đám mây là sự ra đời của Salesforce.com, ứng dụng đã đi tiên phong
trong việc định hình khái niệm cung cấp các ứng dụng doanh nghiệp
thông qua một trang web đơn giản.
Tiếp thep Salesforce.com là sự xuất hiện của Amazon Web Services
(AWS) vào năm 2002, trong đó AWS cung cấp chuỗi các dịch vụ dựa
trên nền tảng đám mây như lưu trữ, tính toán và cả AI- trí tuệ nhân tạo
thông qua Amazon Mechanical Turk.
Vào năm 2004, Facebook chính thức ra đời và đã tạo ra một cuộc
cách mạng trong việc giao tiếp giữa người với người.
Sự phát triển nền tảng điện toán đám mây của Amazon tiếp tục được
đánh dấu vào năm 2006 khi công ty này mở rộng các dịch vụ điện toán
đám mây của mình mà khởi đầu là sự ra đời của Elastic Compute Cloud
(EC2).
Năm 2008, HTC đã công bố điện thoại đầu tiên sử dụng Android
Năm 2009, Google Apps đã chính thức được phát hành
Trong những năm 2010, các công ty đã phát triển điện toán đám
mây để tích cực cải thiện dịch vụ và khả năng đáp ứng của mình để phục
vụ nhu cầu cho người sử dụng một cách tốt nhất.
1.3. Kiến trúc hệ thống điện toán đám mây
Mô hình điện toán đám mây bao gồm mặt trước Front end và mặt
sau Back end được kết nối thông qua một mạng mà đa số trường hợp là
Internet. Phần mặt trước Front end được coi là phương tiện chuyên chở
để người dùng tương tác với hệ thống. Phần mặt sau Back end chính là

