
49
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Tập 36, Số 3 (2024): 49-58
*Email: nguyenphuongmai.dhhv@gmail.com
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
Tập 36, Số 3 (2024): 49 - 58
JOURNAL OF SCIENCE AND TECHNOLOGY
HUNG VUONG UNIVERSITY
Vol. 36, No. 3 (2024): 49 - 58
Email: tapchikhoahoc@hvu.edu.vn Website: www.jst.hvu.edu.vn
SỬ DỤNG TƯ LIỆU GỐC TRONG DẠY HỌC BÀI 13 “VIỆT NAM
TRONG NĂM ĐẦU SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945”
(SGK LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÝ 9, BỘ KẾT NỐI TRI THỨC VỚI CUỘC SỐNG)
THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
Nguyễn Phương Mai1*, Trần Thị Bình2
1 Khoa Khoa học Xã hội và Văn hóa du lịch, Trường Đại học Hùng Vương, Phú Thọ
2 Trường Trung học phổ thông số 1 Thành phố Lào Cai, Lào Cai
Ngày nhận bài: 28/6/2024; Ngày chỉnh sửa: 13/7/2024; Ngày duyệt đăng: 20/7/2024
DOI: https://doi.org/10.59775/1859-3968.210
Tóm tắt
Tư liệu gốc có vai trò vô cùng quan trọng trong nghiên cứu và học tập lịch sử. Sách giáo khoa Chương trình
Giáo dục phổ thông 2018 có nhiều điểm mới với hệ thống tư liệu gốc nhằm phát triển năng lực tư duy và
thực hành lịch sử cho học sinh. Tuy nhiên, việc sử dụng những tư liệu này trên thực tế còn gặp nhiều khó khăn
đối với cả giáo viên và học sinh, đặc biệt ở cấp Trung học cơ sở. Trong bài viết này, bằng phương pháp nghiên
cứu lý thuyết, khảo sát và thông qua hệ thống tư liệu gốc trong Bài 13. Việt Nam trong năm đầu sau Cách mạng
tháng Tám năm 1945 (Sách giáo khoa Lịch sử và Địa lý lớp 9 - bộ Kết nối tri thức với cuộc sống), chúng tôi chỉ
ra: (1) Vai trò của tư liệu gốc trong dạy học lịch sử; (2). Biện pháp để sử dụng hiệu quả tư liệu gốc để phát triển
năng lực học sinh trong bài học này.
Từ khóa: Tư liệu lịch sử, tư liệu gốc, sách giáo khoa, lịch sử, Kết nối tri thức với cuộc sống, phát triển năng lực
1. Đặt vấn đề
Lịch sử là tất cả những sự vật, hiện tượng
đã diễn ra trong quá khứ. Nhận thức lịch sử
không thể trực tiếp quan sát mà phải thông
qua việc tạo biểu tượng để từ đó khôi phục
lại quá khứ. Tuy nhiên, việc tạo biểu tượng
lịch sử cho học sinh (HS) gặp khó khăn phức
tạp, dễ dẫn đến việc “hiện đại hóa lịch sử”.
Bởi vậy, để HS nhận thức đúng lịch sử cần
phải cung cấp tài liệu, sự kiện chính xác
cùng với đó là những hình ảnh cụ thể. Trong
đó, tư liệu gốc (TLG) có vị trí vô cùng quan
trọng đối với việc phục dựng lại quá khứ.
Với phương pháp dạy học theo hướng tiếp
cận năng lực hiện nay thì TLG càng trở nên
cần thiết hơn. Bởi vậy, các nhà khoa học, các
nhà giáo dục đã đặc biệt quan tâm đến việc
đưa TLG vào sách giáo khoa (SGK) Chương

50
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Nguyễn Phương Mai và Trần Thị Bình
trình Giáo dục phổ thông (GDPT) 2018. Vấn
đề đặt ra là phải sử dụng TLG như thế nào
cho hiệu quả? Đã có những nghiên cứu đi
trước tiếp cận vấn đề này ngay từ khi Chương
trình GDPT 2018 trong quá trình xây dựng,
như các nghiên cứu của Lê Thị Dung [1],
Nguyễn Văn Ninh [2, 3], Nguyễn Quốc Pháp
[4]... Các nghiên cứu tập trung vào vai trò
của TLG trong việc xây dựng SGK gắn với
mục tiêu của chương trình mới. Từ sau khi
Chương trình GDPT 2018 được triển khai,
sử dụng TLG như thế nào để hiệu quả càng
được quan tâm hơn nữa. Các nghiên cứu đã
hướng đến tập trung giải quyết vấn đề trong
một bài học lịch sử cụ thể.
Năm học 2024-2025, SGK lớp 9 được
thực hiện, đánh dấu khóa học đầu tiên sẽ
hoàn thành Chương trình GDPT 2018 cấp
THCS. Nhiều khó khăn và thách thức đặt ra
đối với người giáo viên cả về nội dung và
phương pháp dạy học, trong đó có môn Lịch
sử. Với dung lượng kiến thức khá “nặng” ở
từng bài học, việc sử dụng TLG trong dạy
học lịch sử lớp 9 nhận được sự quan tâm sâu
sắc của các thầy cô trên các diễn đàn giáo
dục. Lựa chọn một bài học với hệ thống TLG
phong phú, Bài 13. Việt Nam trong năm đầu
sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 (Sách
giáo khoa Lịch sử và Địa lý lớp 9 - bộ Kết
nối tri thức với cuộc sống), chúng tôi hướng
đến mục tiêu góp phần vào định hình phương
pháp khai thác TLG hiệu quả nhằm phát triển
năng lực học sinh. Những vấn đề được chúng
tôi tập trung làm rõ là: Vai trò của TLG trong
dạy học lịch sử; Đặc điểm hệ thống TLG
trong Bài 13. Việt Nam trong năm đầu sau
Cách mạng tháng Tám năm 1945; Phương
pháp sử dụng hiệu quả TLG trong bài học.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết của chúng tôi dựa trên cơ sở
phương pháp luận là lý luận chủ nghĩa Mác-
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của
Đảng và Nhà nước Việt Nam về vấn đề giáo
dục và giáo dục lịch sử.
Phương pháp được sử dụng trong bài
viết chủ yếu là phương pháp Nghiên cứu lý
thuyết. Chúng tôi vận dụng những kiến thức
cơ bản về giáo dục học, tâm lý học, phương
pháp dạy học lịch sử, các tài liệu lịch sử liên
quan đến nội dung Bài 13.Việt Nam trong
năm đầu sau Cách mạng tháng Tám năm
1945 (Sách giáo khoa Lịch sử và Địa lý lớp 9
- bộ Kết nối tri thức với cuộc sống); Chương
trình Tổng thể, Chương trình Lịch sử cấp
Trung học cơ sở 2018 để xác định mục tiêu,
đưa ra phương pháp, cách thức sử dụng TLG
trong bài học.
Ngoài ra, chúng tôi cũng tiến hành khảo
sát thực tiễn tại một số trường THCS trên
địa bàn thành phố Việt Trì (Thọ Sơn, Nông
Trang, Kim Đức, Vân Cơ, Hùng Lô) để đánh
giá thực trạng, từ đó đưa ra biện pháp sử
dụng hiệu quả cũng như góp phần khắc phục
hạn chế, tồn tại việc sử dụng TLG trong dạy
học lịch sử.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Vai trò của tư liệu gốc trong dạy học
lịch sử
3.1.1. Tư liệu gốc là gì?
“Tư liệu lịch sử gốc là tư liệu lịch sử
mang những thông tin đầu tiên về sự kiện
lịch sử được phản ánh lại, ra đời cùng thời
gian và không gian của sự kiện lịch sử, là
bằng chứng gần gũi, xác thực nhất của lịch
sử. Tư liệu lịch sử gốc mang giá trị đặc biệt
mà không một loại tài liệu nào có được” [5].
Tư liệu gốc (TLG) có nhiều hình thức đa
dạng như văn bản, hiện vật, hình ảnh, âm thanh.
TLG có thể là một phần của sự kiện như:
văn bản, văn kiện, hiện vật, âm thanh, hình

51
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Tập 36, Số 3 (2024): 49-58
ảnh phản ánh một phần hoặc toàn bộ nội
dung của sự kiện lịch sử; cũng có thể là bài
viết, nhận định, đánh giá, hồi ký, nhật ký...
của những người trực tiếp tham gia sự kiện,
có điều kiện tốt nhất để tiếp xúc với sự kiện
dưới nhiều cách thức khác nhau.
TLG phản ánh chân thực sự kiện lịch sử
hoặc mối quan hệ giữa sự kiện với xã hội tại
thời điểm xảy ra sự kiện, ít thể hiện suy nghĩ
chủ quan.
3.1.2. Vai trò của tư liệu gốc trong dạy
học lịch sử
Tư liệu gốc có vai trò đặc biệt quan trọng
trong quá trình dạy học của giáo viên (GV)
và học tập của học sinh (HS). Tư liệu gốc góp
phần quan trọng vào việc đạt được những
mục tiêu cơ bản của bài học.
Về mặt kiến thức: Với đặc điểm riêng,
TLG giúp HS có được những kiến thức
khách quan nhất, chính xác nhất về các sự
kiện, hiện tượng, nhân vật... trong quá khứ.
Việc sử dụng TLG là một trong những nhân
tố để đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa
học và tính đảng trong giáo dục lịch sử.
Về kỹ năng, năng lực: Sử dụng TLG có ý
nghĩa quan trọng giúp HS phát huy kỹ năng
phân tích, nhận định; năng lực nhận thức lịch
sử bởi lịch sử không thể trực tiếp quan sát
các sự kiện đã diễn ra, chỉ có thể tư duy qua
tài liệu.
TLG là căn cứ tốt nhất để người học tiếp
cận, xem xét sự kiện một cách chân thực
và khách quan. Bởi vậy, TLG là cơ sở để tổ
chức các hoạt động nhận thức tích cực, sáng
tạo, phát huy năng lực của HS; đảm bảo cho
HS chủ động, tích cực khám phá hiện thực
dưới sự tổ chức, điều khiển của người thầy.
Về thái độ, tư tưởng, tình cảm: Sử dụng
TLG trong dạy học lịch sử giúp đào tạo thế
hệ trẻ có tinh thần khoa học, tiếp cận chân lý
khách quan, loại bỏ dần sự giáo điều, duy ý
chí trong nhận thức và hành động. Học sinh
có được tinh thần chủ động trong tìm tòi học
hỏi, từ đó hình thành nên những phẩm chất
tốt không chỉ trong học tập mà trong cuộc
sống nói chung.
Kiến thức lịch sử trong SGK ít nhiều
mang tính chủ quan của cơ quan, người viết,
biên soạn sách. Trong bối cảnh đổi mới giáo
dục hiện nay, việc phát huy năng lực, tính tự
chủ của HS là mục tiêu quan trọng, vì vậy sử
dụng TLG là con đường tiếp cận khoa học
lịch sử của HS một cách hiệu quả nhất.
3.1.3. Ưu điểm, hạn chế và những lưu ý
khi sử dụng tư liệu gốc trong dạy học lịch sử
Việc sử dụng TLG trong dạy học lịch sử có
ưu điểm và hạn chế nhất định. Kết quả khảo
sát của chúng tôi ở các trường THCS cũng
cho thấy nhiều khía cạnh quan trọng về vai
trò, ý nghĩa, hiệu quả của việc sử dụng TLG.
Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn không ít
khó khăn trong quá trình sử dụng.
Đối với giáo viên, TLG được đánh giá là
một công cụ hữu ích, giúp HS tiếp cận sự
kiện lịch sử một cách chân thực, khách quan,
từ đó nâng cao khả năng phân tích và tư duy
lịch sử. Song việc tìm kiếm và sắp xếp tư liệu
phù hợp với nội dung bài học gặp không ít
trở ngại, đặc biệt là khi tư liệu phức tạp hoặc
yêu cầu thời gian dài để giải thích. Trong khi
đó, HS cảm thấy hứng thú hơn với các bài
học có sử dụng TLG bởi tính chân thực và
sinh động mà chúng mang lại. Học sinh phản
hồi rằng TLG giúp các em dễ dàng tưởng
tượng và hiểu sâu hơn về các sự kiện lịch
sử, đồng thời phát triển kỹ năng tự nghiên
cứu. Dù vậy, một số em gặp khó khăn trong
việc hiểu ý nghĩa của TLG mà không có sự
hướng dẫn từ GV. Để nâng cao hiệu quả sử
dụng TLG, giáo viên đề xuất cần có thêm các
khóa bồi dưỡng về phương pháp giảng dạy
cũng như sự hỗ trợ từ nhà trường trong việc
cung cấp các nguồn tư liệu chất lượng. Học
sinh cũng mong muốn tham gia nhiều hơn vào
các hoạt động trải nghiệm thực tế liên quan

52
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Nguyễn Phương Mai và Trần Thị Bình
đến tư liệu gốc, như tham quan bảo tàng hay
các hoạt động ngoại khóa [6]. Nhìn chung, cả
GV và HS đều nhận thấy vai trò quan trọng
của TLG trong việc tăng cường tính thực tiễn
cũng như hiệu quả của việc dạy học lịch sử.
Nói cách khác, sử dụng TLG có ưu điểm so
với các phương pháp dạy học truyền thống
trước đây, khi người GV là chủ thể của hoạt
động dạy học. Nhưng để phát huy tối đa giá
trị của TLG, cần thiết phải có biện pháp hỗ trợ
cụ thể, giúp khắc phục các khó khăn trong quá
trình giảng dạy và học tập. Sử dụng TLG phải
được kết hợp cùng với các phương pháp, kỹ
thuật dạy học hiện đại.
Qua nghiên cứu, chúng tôi cho rằng sử
dụng TLG trong dạy học lịch sử là một yêu
cầu bắt buộc để phát triển phẩm chất, năng
lực học sinh. Tuy nhiên, TLG có đặc trưng
riêng bởi vậy việc sử dụng chúng trong dạy
học lịch sử cần chú ý những nguyên tắc sau:
Thứ nhất: Cần đảm bảo nguồn gốc và tính
xác thực của tư liệu gốc đưa ra.
Ngoại trừ bài học ở thực địa HS mới có
khả năng tiếp cận trực tiếp với nguồn tư liệu
hiện vật, còn lại TLG được sử dụng trong
dạy học lịch sử chủ yếu là văn bản, hình ảnh,
âm thanh, video. Vì vậy, khi sử dụng, GV
cần có sự ghi chú rõ ràng nguồn gốc của tư
liệu mà mình sử dụng như: tư liệu được lấy
từ đâu? Nguồn gốc xuất xứ có độ tin cậy hay
không? Đa phần hiện nay, GV sẽ tiếp cận
những tư liệu ngoài SGK trên mạng Internet
vì vậy điểm đáng lưu ý là cần sử dụng những
trang có tính tin cậy khoa học cao. Với tư
liệu thành văn, nếu không tiếp cận trực tiếp
được văn bản gốc thì cần sử dụng các cuốn
sách của những học giả uy tín; ghi rõ năm
xuất bản, nhà xuất bản, số trang.
Thứ hai: Về mặt nội dung của TLG: Cần
lựa chọn tư liệu phù hợp với đối tượng HS
bởi đây là loại tư liệu khó khai thác nhất, hay
nói cách khác là tính vừa sức. Nếu là video,
âm thanh cần có sự chọn lọc kỹ, không chỉ
đảm bảo về nguồn gốc, tính xác thực mà còn
cần thiết chú ý đến thời gian, dung lượng
tránh việc sa đà vào việc xem, dẫn đến tình
trạng “cháy giáo án”. Nếu là đoạn trích văn
bản cần ngắn gọn, súc tích, phù hợp với đối
tượng HS; không sử dụng những đoạn trích
khó hiểu, những thuật ngữ khó và không đưa
vào ngôn ngữ nước ngoài.
Thứ ba: Cần kết hợp nhiều tư liệu với các
quan điểm khác nhau trong bài học bởi TLG
không phải là một tư liệu tổng hợp mà chỉ
phản ánh một khía cạnh, chi tiết nào đó của
sự kiện, hiện tượng đã xảy ra trong quá khứ.
Muốn khôi phục một cách sinh động, chính
xác, cần có sự kết hợp tư liệu ở nhiều khía
cạnh, góc độ. Tuy nhiên, tùy thuộc vào đối
tượng và năng lực học sinh mà giáo viên có
sự chọn lọc, sử dụng phù hợp.
Bên cạnh đó, SGK chỉ có thể cung cấp
một số tư liệu nhất định. Trong bối cảnh hiện
nay, việc sử dụng công nghệ thông tin sẽ giúp
cho cả GV và HS tiếp cận được nguồn tư liệu
phong phú, sinh động và chân thực hơn để bổ
sung cho những hạn chế của SGK.
3.2. Đặc điểm hệ thống TLG trong Bài 13.
Việt Nam trong năm đầu sau Cách mạng
tháng Tám năm 1945 (SGK Lịch sử và Địa
lý lớp 9 - bộ Kết nối tri thức với cuộc sống)
Bài 13. Việt Nam trong năm đầu sau Cách
mạng tháng Tám năm 1945 là bài học đầu
tiên của Chương 4. Việt Nam từ năm 1945
đến năm 1991 (Phần Lịch sử Việt Nam -
SGK Lịch sử và Địa lý lớp 9 - bộ Kết nối tri
thức với cuộc sống), gồm 6 trang sách (từ 61
đến 66).
Tư liệu gốc được sử dụng trong bài bao
gồm 13 tư liệu, được chúng tôi hệ thống lại ở
bảng dưới đây:

53
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Tập 36, Số 3 (2024): 49-58
Bảng 1. Hệ thống tư liệu gốc trong Bài 13. Việt Nam trong năm đầu
sau Cách mạng tháng Tám năm 1945
STT Nội dung tư liệu Loại hình
tư liệu Mục/Trang
1TL1. Đoạn trích trong Thư gửi Tổng thống Pháp Sác-lơ Đờ Gôn (5-9-1945) của
Chủ tịch Hồ Chí Minh Kênh chữ Mục 1
Trang 61
2TL2. Đoạn trích trong Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu của Chủ tịch Hồ Chí
Minh ngày 05/01/1946. Kênh chữ
3 TL3. Đoạn trích trong Hiến pháp 1946 Kênh chữ
Mục 2
Trang 62
4TL4. Hình 13.1. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các thành viên Chính phủ tuyên thệ
nhậm chức tại kì họp thứ nhất, Quốc hội khóa I (3-1946) Kênh hình
5TL5. Đoạn trích Tư liệu 1 trong Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 4, NXB Chính trị
quốc gia, năm 2011, trang 64-65. Kênh chữ
6 TL6. Hình 13.2. Người dân Hà Nội mít tinh hưởng ứng hoạt động cứu đói Kênh hình
Mục 2
Trang 63
7TL7. Đoạn trích Tư liệu 2 trong Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 4, NXB Chính trị
quốc gia, năm 2011, trang 135. Kênh chữ
8 TL8. Hình 13.3. Các tầng lớp nhân dân Thủ đô mít tinh ủng hộ Tuần lễ vàng Kênh hình
9 TL9. Hình 13.4. Một lớp Bình dân học vụ Kênh hình Mục 2
Trang 64
10 TL10. Đoạn trích Tư liệu 3. 2 trong Hồ Chí Minh: Toàn tập, Tập 4, NXB Chính trị
quốc gia, năm 2011, trang 89. Kênh chữ Mục 3
Trang 65
11 TL11. Hình 13.5. Nhân dân Nam Bộ trong những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến Kênh hình
12 TL12. Hình 13.6. Nhân dân Hà Nội ủng hộ Nam Bộ kháng chiến Kênh hình
13 TL13. Hình 13.7. Đoàn đại biểu Việt Nam đàm phán với Pháp ở Pa-ri (1946) Kênh hình Mục 3
Trang 66
Với bảng thống kê trên, có thể nhận xét:
- Về số lượng TLG được sử dụng trong
Bài 13. Việt Nam trong năm đầu sau Cách
mạng tháng Tám năm 1945 khá nhiều, trung
bình 2 tư liệu/trang sách.
- Về loại hình tư liệu: bao gồm cả kênh
chữ, kênh hình và được sử dụng tương đối
đồng đều (6 tư liệu kênh chữ, 7 tư liệu kênh
hình).
- Số lượng tư liệu được phân bố phù hợp
với dung lượng kiến thức ở từng đơn vị kiến
thức của bài học (các mục).
- Nội dung phản ánh của TLG bám sát các
đơn vị kiến thức của bài học.
Với hệ thống TLG nêu trên, GV và HS
có nhiều thuận lợi trong quá trình tiếp cận
mục tiêu của bài học lịch sử: Người giáo viên
không cần tốn công sức để tìm kiếm TLG
chất lượng để thiết kế bài giảng. Học sinh
biết được tư liệu chính xác, chân thực nhất,
từ đó vận dụng các năng lực của mình để tìm
hiểu nội dung bài học.
Tuy nhiên, hệ thống TLG trong bài cũng
đặt ra không ít khó khăn, thách thức đặc biệt
vấn đề sử dụng như thế nào cho phù hợp,
tránh việc mất quá nhiều thời gian; những
năng lực cần phát triển cho học sinh gắn với
việc khai thác các TLG là gì? Nghiên cứu
vấn đề này, chúng tôi đưa ra một số gợi ý
dưới đây.
3.3. Biện pháp sử dụng tư liệu gốc theo
hướng phát triển năng lực của học sinh
Xuất phát từ mục tiêu, yêu cầu của Chương
trình GDPT 2018, Chương trình Lịch sử và
Địa lý cấp THCS, chúng tôi xác định TLG
cần được sử dụng trong các loại bài học lịch
sử: bài học nội khóa, bài học ngoại khóa,
hoạt động trải nghiệm và hoạt động tự học để
phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh.

