Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
88
1. Đặc điểm của doanh nghiệp
Việt Nam
Thứ nhất, Việt Nam doanh nghiệp chủ
yếu có quy mô vừa và nhỏ.
Ở Việt Nam, số lượng doanh nghiệp vừa
nhỏ chiếm tỷ lệ tuyệt đối, với hơn 95%.
Đó là nơi thu hút nhiều lao động, tạo công ăn
việc làm, hạn chế thất nghiệp, đóng góp vào
GDP, duy trì tính năng động của thị trường
lao động, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa
các địa phương quốc gia. Doanh nghiệp
vừa và nhỏ có lợi thế năng động và linh hoạt,
nhưng dễ bị tác động trước những biến đổi bất
lợi của môi trường sản xuất, kinh doanh. Khả
năng đầu nguồn lực để nâng cao năng lực
quản trị sản xuất, kinh doanh, trong ứng dụng
công nghệ bị hạn chế. Ngoài ra, với quy
nhỏ, sự kết nối mạng lưới sản xuất tham
gia chuỗi cung ứng toàn cầu cũng gặp nhiều
khó khăn. Đây thách thức không nhỏ đối
với việc xây dựng truyền văn hóa doanh
nghiệp do hạn chế về trình độ nhận thức của
các nhà quản lý, lãnh đạo doanh nghiệp vừa
nhỏ Việt Nam. Họ chưa quan tâm tới
vấn đề này, mà chỉ coi đây là một công cụ để
làm gia tăng lợi nhuận. Nếu không thấy lợi
ích của việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp,
họ sẽ không tiếp tục triển khai. Hậu quả là,
con đường kinh doanh của họ đi theo lối mòn
kinh nghiệm.
Thứ hai, doanh nghiệp Việt Nam lịch
sử hình thành và phát triển chưa lâu.
Thời phong kiến, chưa xuất hiện thuật
ngữ “doanh nghiệp”; thương nghiệp hầu như
không phát triển, các thương gia không được
coi trọng. Họ được cho là tầng lớp cuối cùng
trong thang bậc hội: “sĩ - nông - công -
thương”. Tuy vậy, vẫn có một số học giả mẫn
tuệ đề cao vai trò của thương nghiệp, như
Quý Đôn từng khái quát: "phi nông bất ổn",
"phi công bất phú", "phi thương bất hoạt",
"phi trí bất hưng". Khi thực dân Pháp đô hộ
nước ta, chỉ một số doanh nhân tiêu biểu
góp phần vào sự hình thành, phát triển của
VĂN HÓA DOANH NGHIỆP - VỚI TRÁCH NHIỆM
CỦA NGƯI ĐỨNG ĐẦU
ThS. NGUyễN KIM CHI
Đại học KHXH&NV Hà Nội
TÓM TẮT
Văn hóa doanh nghiệp bao giờ cũng là sản phẩm của cộng đồng doanh nghiệp,
chịu qui định ở mức độ khá lớn bởi văn hóa của người đứng đầu. Sự tác động qua
lại giữa yếu tố văn hóa của người đứng đầu và cộng đồng doanh nghiệp là một quá
trình vận động không ngừng. Những biến đổi của văn hóa doanh nghiệp cơ bản phụ
thuộc vào thiết chế văn hóa mà doanh nhân tạo ra.
Dựa theo mối qua rất hệ biện chứng ấy sẽ thấy vai trò văn hóa của người đứng
đầu có ý nghĩa dẫn dắt như thế nào. Vì thế, trách nhiệm xã hội của người đứng đầu
phải xây dựng văn hóa cho mình để làm nhân tố dẫn dắt, lan tỏa. Những yếu tố
đó không chỉ biểu hiện trong trình độ, kỹ năng thể hiện trong bản thân người đứng
đầu khi duy hành động, còn phải được thẩm thấu vào những chính sách
của họ trong mọi hoạt động của doanh nghiệp
89
tHs. nguyễn kim cHi
doanh nghiệp Việt Nam như Lương Văn Can,
Bạch Thái Bưởi, Nguyễn Sơn Hà, Nguyễn
Quyền,...
Giai đoạn sau 1954, miền Bắc nước ta
thực hiện chế độ hạch toán kinh tế trong các
nghiệp quốc doanh, quốc hữu hóa tất cả nhà
máy, xí nghiệp. Năm 1975 đất nước hòa bình,
thống nhất, Việt Nam xây dựng nền kinh tế
vận hành theo chế kế hoạch hóa tập trung
bao cấp kéo dài đến năm 1986, trong đó chỉ
thừa nhận chế độ sở hữu nhà nước sở hữu
tập thể. Bước sang thời kỳ đổi mới, với mong
muốn xóa bỏ dần chế tập trung, quan liêu
bao cấp của nền kinh tế kế hoạch hóa, phát
triển nền kinh tế năng động, hiện đại, Đảng
Cộng sản Việt Nam đã đưa ra chủ trương lớn
là tự do hóa thương mại và thúc đẩy kinh tế
nhân. Điều này đã tạo điều kiện cho các doanh
nghiệp Việt Nam không ngừng mở rộng về
quy mô. Từ đây, doanh nghiệp được coi là lực
lượng chủ lực trong phát triển kinh tế mở
rộng hội nhập quốc tế. Cùng với đường lối đổi
mới, các chính sách phát triển kinh tế, các luật
về doanh nghiệp ra đời tạo hành lang pháp
thừa nhận cách pháp nhân tạo điều kiện
để doanh nghiệp phát triển. Các Luật Công ty,
Luật Doanh nghiệp Nhà nước, Luật Doanh
nghiệp nhân ra đời vào năm 1990 đến
năm 1999 hai luật đầu được thống nhất thành
Luật Doanh nghiệp (sửa đổi năm 2005
2014), cùng với các Luật Đầu nước ngoài,
Luật Thuế giá trị gia tăng,... đã tạo ra bước đột
phá về duy, nền tảng pháp bản thúc
đẩy các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần
kinh tế gia tăng về số lượng, mở rộng về quy
mô, phong phú về loại hình và hoạt động ngày
càng hiệu quả. Mặc mới ra đời phát
triển, nhưng doanh nghiệp Việt Nam đã thể
hiện tính năng động, linh hoạt, không ngừng
hoàn thiện vươn lên để nhanh chóng tiếp cận
thị trường trong ngoài nước, chủ động bắt
kịp sự phát triển với các doanh nghiệp trên thế
giới, từng bước thích nghi với xu thế hội nhập
kinh tế quốc tế và khu vực.
Thứ ba, qui nhỏ, năng lực cạnh tranh
chưa cao nên tính ổn định thấp
Đa phần các doanh nghiệp Việt Nam
qui vừa nhỏ, năng lực cạnh tranh yếu.
thế, trước những biến động của kinh tế thế
giới và thị trường, doanh nghiệp Việt Nam khó
thích ứng vượt qua các rủi ro của sự biến
đổi. Thực tế cho thấy, cuộc khủng khoảng tiền
tệ mấy năm qua đã tác động sâu sắc đến các
doanh nghiệp nước ta, làm cho hàng chục ngàn
doanh nghiệp lao đao, rơi vào tình trạng phá
sản hoặc ngừng hoạt động, không ít lao động
mất việc làm. Điều đó chứng tỏ rằng, qui
tiềm năng hạn hẹp của các doanh nghiệp
nguyên nhân dẫn tới năng lực cạnh tranh
thấp, dễ bị tác động bởi những biến đổi của thị
trường, nên hầu như không có tính ổn định.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
thể hiện khả năng duy trì mở rộng thị
phần, khả năng hoạt động hiệu quả môi
trường cạnh tranh trong ngoài nước.
nhiều nguyên nhân dẫn đến năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp Việt Nam chưa cao
như: quy nhỏ, vốn ít, trình độ học vấn,
kiến thức kinh doanh, hiểu biết luật pháp (đặc
biệt pháp luật quốc tế) không nhiều, trình
độ tay nghề của người lao động thấp, áp dụng
khoa học công nghệ lạc hậu, phụ thuộc nhiều
vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu (kể cả các
ngành thế mạnh như da giầy, dệt may,
hàng điện tử, sản phẩm thép,... vẫn phải lệ
thuộc vào nguyên liệu bán thành phẩm nhập
khẩu; khi giá cả của chúng có xu hướng tăng,
thì lập tức nhiều nhóm sản phẩm tỷ trọng
nguyên vật liệu nhập khẩu, có khi chiếm hơn
60% giá thành sản phẩm, cũng tăng mạnh);
mặt khác, nhiều doanh nghiệp không chú
trọng đến việc xây dựng thương hiệu, chiến
lược truyền thông, chiến lược phân phối
xúc tiến thương mại,… cũng gặp khó khăn
khi thị trường chuyển hướng. Tất cả những
nguyên nhân trên dẫn đến khả năng giải thể,
ngưng hoạt động của doanh nghiệp tương đối
cao. Vài năm trở lại đây, số doanh nghiệp mới
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
90
thành lập tăng không nhiều so với số doanh
nghiệp ngừng hoạt động giải thể. Tuy
nhiên, vấn đề đặt ra số doanh nghiệp giải thể
doanh nghiệp lớn, còn doanh nghiệp thành
lập mới thường quy nhỏ [9, tr. 10].
Đây thực sự một xu hướng không lành
mạnh (không tích cực) trong sự phát triển
của một nền kinh tế, chứng tỏ “sức khỏe”
của doanh nghiệp nội địa suy giảm. Tính
riêng năm 2013, số doanh nghiệp mới thành
lập 76.955 doanh nghiệp, tăng 10,1% so
với năm trước; số doanh nghiệp dừng hoạt
động giải thể 60.737 doanh nghiệp
tăng 11,9% so với năm trước. Tốc độ doanh
nghiệp đóng cửa tăng mạnh, nhanh hơn cả
số lượng doanh nghiệp mới thành lập so với
năm 2012 [8, tr. 73].
Trước những biến động rủi ro của thị
trường, để đủ sức cạnh tranh lâu dài thể
tự tin bước vào nền kinh tế tri thức, các doanh
nghiệp Việt Nam cần phải xây dựng chiến lược
phát triển bền vững. Một trong những giải pháp
góp phần hạn chế sự phá sản tạo đà phát
triển cho các doanh nghiệp xây dựng một
nền văn hóa doanh nghiệp mang đậm bản sắc
dân tộc Việt Nam. Điều này không mâu thuẫn
với hiệu quả sản xuất kinh doanh mà trái lại, là
nền tảng cho sự tăng trưởng lâu dài và ổn định
của doanh nghiệp. Tuy nhiên, với lịch sử phát
triển doanh nghiệp doanh nhân nước ta
còn khá mới mẻ, việc xây dựng nền văn hóa
doanh nghiệp như thế nào cho phù hợp một
bài toán không đơn giản đối với những nhà
quản lý, hoạch định chính sách bản thân
doanh nghiệp.
Ngày nay, phát triểnkinh tế thị trường
không thể không phát triển doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có vai trò to lớn đến việc xây
dựng đồng bộ các loại thị trường.Với
cách là trụ cột trong sự phát triển kinh tế của
một quốc gia, quá trình đi lên của các doanh
nghiệp gắn chặt với sự tăng trưởng của đất
nước nhằm tạo ra của cải vật chất cho xã hội.
Tuy nhiên, trong xây dựng nền kinh tế thị
trường, phát triển kinh tếcần đi đôi với tiến
bộ công bằng hội, tránh tăng trưởng
kinh tế bằng mọi giá để rồi để lại hậu quả
nặng nề cho thế hệ sau.
Bên cạnh những thành tựu về kinh tế -
hội kinh tế thị trường mang lại, những
mặt trái của nền kinh tế này cũng đang tác
động đến con người và xã hội như: lối sống
vị kỷ, vun vén cho quyền lợi của nhân,
tưởng cục bộ, thờ ơ vớicộng đồng, đạt được
lợi nhuận bằng mọi giá; tình trạng ô nhiễm
môi trường, cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên
nhiên ngày một gia tăng, y ảnh ởng
nghiêm trọng đến đời sống của cộng đồng
dân cư,…. Có thể thy, những hành vi trái
đạo đứccủa một số doanh nghiệp Việt Nam
(kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng,
trốn thuế, lách luật, kinh doanh chộp giật
lợi nhuận trước mắt gây hại cho người tiêu
dùng, những hành vi ứng xử thiếu trách
nhiệm với người lao động những vi phạm
luật bảo vệ môi trường,...) đang cản trở việc
xây dựng “thương hiệu sạch” cho hàng hóa
của chính họ.Nếu pháp luật không nghiêm
túc xử những hành vi gây tổn thương con
người thì chẳng những trật tự, an toàn xã hội
không được đảm bảo, doanh nghiệp luôn
bị đe doạ bởi nguy cơ đổ vỡ.
Từ đây suy ra rằng, sự tồn vong của
doanh nghiệp không chỉ liên quan đến các
yếu tố về vật chất như lợi nhuận, khách hàng,
thị phần, doanh số, chất lượng hàng hóa, dịch
vụ cung ứng mà còn liên quan đến yếu tố phi
vật chất như đạo đức kinh doanh, văn hóa
doanh nghiệp, trách nhiệm hội của doanh
nghiệp. Doanh nghiệp chỉ thể tồn tại
phát triển bền vững khi khẳng định được
uy tín, thương hiệu dựa trên chất lượng
sản phẩm con người. Người tiêu dùng
đang ngày càng trở thành “người tiêu dùng
thông thái”. Nếu doanh nghiệp làm người
tiêu dùng tổn thương, mất niềm tin, sớm
muộn sản phẩm của doanh nghiệp sẽ bị tẩy
chay. Tố chất đạo đức kinh doanh đòi hỏi
91
tHs. nguyễn kim cHi
doanh nghiệp tự bồi đắp bằng sự tận tâm
phục vụ khách hàng, tôn trọng quyền, lợi
ích của khách hàng, giữ uy tín với khách
hàng. Nói tới kinh doanh có văn hoá, tức
đề cập đến vấn đề đạo đức của người kinh
doanh. Nói cách khác, kinh doanh văn
hoá kinh doanh phải đạo đức. Nhiều
doanh nghiệp nêu triết kinh doanh của
mình mang tinh thần "giá trị tốt đẹp nhất
hướng tới phục vụ con người” hay “tất cả
con người, hướng tới con người giữa
những con người". vậy, theo chúng tôi,
xây dựng nền văn hóa doanh nghiệp có thể
theo cách này, cách khác tùy vào quy mô,
tính chất, loại hình, giai đoạn phát triển của
doanh nghiệp, nhưng tóm lại, một giá trị
định hướng chung phải từ con người,
con người, phục vụ con người”.
2. Văn hóa của người đứng đầu doanh
nghiệp sở để xây dựng triển khai
văn hóa doanh nghiệp
thể tách biệt ra trong văn hóa doanh
nghiệp ba cấp độ: thứ nhất Những quá trình
cấu trúc hữu hình của doanh nghiệp (kiến
trúc, cách bài trí, công nghệ, sản phẩm, nội
quy, lễ nghi, lễ hội, biểu tượng, logo, khẩu
hiệu, ngôn ngữ, trang phục, câu chuyện,
huyền thoại về tổ chức, thái độ, cách ứng xử
của thành viên doanh nghiệp…); thứ hai
Những giá trị được chấp nhận (chiến lược,
mục tiêu, triết của doanh nghiệp); thứ ba
Những quan niệm chung (niềm tin, nhận
thức, suy nghĩ, tình cảm có tính vô thức, mặc
nhiên được công nhận trong doanh nghiệp)
[6, tr. 262].
Cần phải xây dựng thực hiện văn hóa
gắn với vai trò của của tập thể của cộng
đồng. Tuy nhiên, trong bài viết này tác giả
muốn nhấn mạnh đến vai trò của người đứng
đầu doanh nghiệp đội ngũ doanh nhân trong
việc thiết kế, định hình làm lan tỏa văn hóa
doanh nghiệp trong xã hội.
Doanh nhân chính những người làm
chủ hay tham gia làm chủ doanh nghiệp sản
xuất, kinh doanh, dịch vụ trong nền kinh tế
hàng hóa. Họ chịu trách nhiệm về những hoạt
động của mình trước pháp luật, trước cộng
đồng hội. Doanh nhân người sở hữu
điều hành tổ chức kinh tế, hoặc sở hữu
một phần được đại hội cổ đông tín nhiệm
giao nhiệm vụ điều hành doanh nghiệp. Đến
nay, tầng lớp doanh nhân nước ta từng bước
trưởng thành trong thương trường về số
lượng và chất lượng. Đã đến lúc cần phải xác
định những bản sắc riêng cho đội ngũ này để
họ thể làm tốt công tác lãnh đạo, quản lý,
đưa doanh nghiệp Việt Nam ngày càng tiến
xa hơn, hội nhập với thế giới. Văn hóa doanh
nhân Việt dựa trên những yếu tố sau:
- Doanh nhân phải là ngưi tinh thần
yêu nước, dám dấn thân, hy sinh, không
ngừng tạo ra giá trị xã hội:
Khi đứng vị trí lãnh đạo, điều hành
doanh nghiệp, doanh nhân hay tập thể doanh
nhân phải duy hành động về sự phát
triển của doanh nghiệp. Tầm nhìn của doanh
nhân quyết định rất lớn tới những điểm đến
của doanh nghiệp. Thương trường chiến
trường khốc liệt, không phải doanh nhân nào
cũng chịu đựng được áp lực từ sự cạnh tranh
trong chiến trường đó. Doanh nhân thử sức
mình trong những lĩnh vực kinh doanh khác
nhau, tìm hiểu luật pháp và thị hiếu tiêu dùng
quốc tế để tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu
ngày càng tăng của thị trường trong nước
thị trường quốc tế để thể phát triển
thương hiệu Việt. Theo số liệu của Cục Đầu
nước ngoài (Bộ KH-ĐT), tính lũy kế đến
31/12/2014, đã 930 dự án của doanh nghiệp
Việt Nam đầu ra nước ngoài với tổng vốn
đăng 14,85 tỷ USD. Bên cạnh đó, 92 dự
án xin tăng vốn, nâng tổng số vốn đầu lên
gần 20 tỷ USD. Không chỉ các doanh nghiệp
tên tuổi như: Viettel, FPT hay Vinamilk, rất
nhiều doanh nghiệp nhân khác cũng đang
vươn ra nước ngoài [10].
Để lãnh đạo, quản điều hành được
doanh nghiệp, đội ngũ doanh nhân phải chấp
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
92
nhận sự hy sinh không nhỏ về thời gian, tuổi
đời, đôi khi cả hạnh phúc nhân để cống hiến
cho sự nghiệp phát triển của doanh nghiệp
Việt Nam. Đến nay, một số doanh nhân nổi
tiếng của Việt Nam đã có tên trong danh sách
những người giàu nhất Châu Á, thế giới. Đó
niềm tự hào của Việt Nam, nhưng đằng sau
thành công đó sự hy sinh không nhỏ. Như
Đoàn Nguyên Đức, vất vả toàn tâm, toàn ý lo
cho tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai hơn 20 năm
nay, ông chưa từng tổ chức chuyến du lịch
nào cho bản thân gia đình. Vị Chủ tịch Hội
đồng quản trị này rất chăm lo cho vợ con
nhưng không nhiều thời gian để sống cùng
gia đình. Một tháng may ra, ba ngày sống
cùng gia đình ở Singapore [11].
Với cách người tiên phong dẫn đầu
doanh nghiệp, doanh nhân chú trọng những
công việc mang lại nhiều lợi ích cho người
Việt như: tạo việc làm, tăng thu nhập nâng
cao đời sống người lao động, cho nông dân
nói riêng. Việt Nam là đất nước nông nghiệp
với 70% dân số làm nghề nông, nhưng ngành
nông nghiệp chỉ đạt tăng trưởng GDP
3%. Nông nghiệp vốn được xem là thế mạnh
của Việt Nam, nhưng người nông dân vẫn
thấp thỏm với nỗi lo chưa bao giờ “được
mùa rớt giá, được giá mất mùa”. Tỷ suất lợi
nhuận trong ngành nông nghiệp cũng luôn bị
đánh giá thấp so với nhiều ngành nghề khác.
Xuất khẩu nhiều, kim ngạch ấn tượng nhưng
thương hiệu luôn bài toán nhức nhối cho
các sản phẩm nông nghiệp của Việt Nam [12].
Cùng với đầu cho công nghiệp, dịch vụ
thường chiếm tỷ lệ lớn, thì các doanh nghiệp
cũng nên dành phần đầu thích hợp cho nông
nghiệp Việt Nam. Sau thời kỳ khủng hoảng
kinh tế vừa qua, dấu hiệu đáng mừng
các doanh nghiệp như tập đoàn Hoàng Anh
Gia Lai, tập đoàn Vingroup,… đã tăng đầu
vào nông nghiệp để nông sản Việt Nam thực
sự có chỗ đứng trong thị trường nội địa.
- Doanh nhân chăm lo giữ chữ tín:
Từ ngàn đời nay, kinh doanh chữ tín
luôn tồn tại như một giá trị trường tồn. Lối
duy “ăn xổi thì”, chụp giật, chạy theo
lợi nhuận bất chấp mọi giá đã không còn chỗ
đứng trong môi trường kinh doanh hiện đại.
Chỉ xây dựng chữ Tín mới con đường
phát triển bền vững nhất cho mọi doanh
nghiệp. Một thương hiệu có uy tín có thể bán
sản phẩm giá cao hơn sản phẩm cùng loại
của một hãng khác chưa có uy tín bằng. Như
vậy tính cạnh tranh, hay nói cách khác là khả
năng sinh lợi trong kinh doanh, không nhất
thiết phải tùy thuộc vào mặt hàng nào, công
nghệ nào hay số vốn, thực tế thể trên
độ tin cậy của người tiêu thụ mặt hàng hoặc
dịch vụ đó [13].
Hàng loạt vụ tham nhũng của người đứng
đầu doanh nghiệp như Dương Chí Dũng, Bầu
Kiên, vụ chai nước Number One ruồi của
công ty Tân Hiệp Phát, nước tương nhiễm 3
- MCDP, trốn thuế, chuyển giá của Cocacola,
không đóng bảo hiểm đầy đủ cho người lao
động của Công ty Nibelc Việt Nam trong vụ
sập giàn giáo Formosa, xả thải ra làm chết
con sông Thị Vải của công ty Vedan,… đều
những hành vi kinh doanh chà đạp lên chữ tín
của doanh nghiệp.
Doanh nhân ngưi dám chịu trách
nhiệm:
Trách nhiệm đây là: trách nhiệm với
bản thân, trách nhiệm với tổ chức trách
nhiệm hội (TNXH). Trách nhiệm với
hội của doanh nghiệp yêu cầu bắt buộc
xu hướng tất yếu thúc đẩy sự phát triển của
doanh nghiệp trong thời đại ngày nay. Mục
tiêu thực hiện TNXH nhằm khuyến khích
các doanh nghiệp thực hiện các tiêu chuẩn
hội nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm
bảo sản xuất, kinh doanh và phát triển doanh
nghiệp bền vững; tăng thu nhập cải thiện
đời sống của người lao động; đóng góp vào
sự tăng trưởng của đất nước; bảo vệ môi
trường sống. Uy tín cũng như sức cạnh tranh
của một doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào
hiệu quả kinh doanh những việc làm cụ thể
mang tính hội, mà thực chất, hiệu quả kinh