Văn hóa Nõ Nường :
NGUỒN GỐC KHAU KÚT
(Cuộc đại thiên di)
Trích cuốn “Văn hóa Nõ Nường” Dương Đình Minh Sơn
Đi đường thuyền sợ rơi
Đi đường bộ sợ chết
Phải chui theo đường con don
Phải luồn theo đường con dím.
Người Thái ra đi vào buổi cuối tuần trăng. Nhìn mt trăng
khuyết ở cuối dãy núi, họ hẹn nhau: hễ ai đến ở được phương
đất nào, khi làm nhà thì dựng trên nóc một cái dấu hình mt
trăng khuyết, để sau này con cháu dnhận ra người đồng tộc
của mình – và cái dấu hình mặt trăng khuyết ấy được gọi là
“khau cót” – Theo ngôn ngữ của người Thái – “khao” là
trắng, “cót” là ôm – ôm mối hận phải lìa quê hương ra đi
trong một đêm trăng trắng. Và lâu dần người ta gọi chệch
thành “khau kút”.
Một thuyết khác cho rằng, vật biểu tượng ấy ngay từ đầu tên
là ‘khau kút”.
Ở người Thái, tên kút còn gọi “kút piêu”, hoa văn thêu trên
khăn đội đầu của phụ nữ và tên của một số kỷ vật khác:
“kút”, cụt, cọc, cột và “khau” với hình chữ V 3 góc và
“khau” như khau tát nước của người Kinh. Do đó, “kút” và
“khau” là biểu tượng của Po Me – Nõ Nường.
T đó mà có chiếc “khau kút” hình mt trăng khuyết hay
hình chữ V dựng ở hai đầu nóc nhà. Ý nghĩa tâm linh về đòn
nóc nhà của người Kinh, mỗi đầu hồi có một hình, hình 3
góc, gọi là Khu đị khi ch vào mt tiền nhà hang xóm thì nhà
kia sẽ bị cháy, cho nên, nhà kia phải làm vật “hèm” bng
chiếc gương tròn đặt trên ngưỡng cửa để trừ yểm lại. Ở người
Thái quan niệm đòn nóc nhà, nhưng không có ý nghĩa ch
sang mặt tiền nhà hàng xóm là cháy nhà người ta như người
Kinh.
Một chi tiết khác phù hợp với lời nguyện ước trong việc làm
di vật “khau kút”. Theo Cầm Trọng đó là sự kiện vào cuối
thế kỷ thứ XIII Tù trưởng Lò Lạn Chượng dẫn đoàn quân
khai khẩn đến vùng đất Mường Then – nay là thành phố Điện
Biên, đứng trên núi nhìn xuống lòng chảo, thấy phố Điện
Biên, đứng trên núi nhìn xuống lòng chảo, thấy trên nóc nhà
sàn có chiếc “Khao cút” quân lính của ông reo lên: “Ôi!
đây có người đồng tộc của ta”.
Những hiện vật biểu tượng của người Thái Tây Bắc đã được
họa sĩ Đặng Trần n tổng hợp dựng trên bc tranh (hình 1);
Nằm ở chính giữa là đầu của con trâu có đủ hai sừng, bên
cạnh mỗi sừng chính đó lại có thêm nửa cuối của một chiếc
sừng trâu nữa. Ta thấy nửa chiếc sừng trâu này rất rõ hình
mặt trăng khuyết. Từ đây ta có thể nói nhóm nn ngữ Tày
Thái ở Đông Nam Á thờ thần mặt trăng. Theo nhà dân tộc
học Từ Chi, khi thấy các vùng có tc lệ chọi trâu, thờ đầu
trâu có sừng thì trước hết phải nghĩ đến việc họ thờ thần mặt
trăng, rồi mới nghĩ đến “con trâu là đầu cơ nghiệp của dân
cấy lúa nước. Bởi lẽ mặt trăng luôn thay đổi hình dạng và
người Á Đông tính lịch, ngày tng thời vụ đều dựa theo mặt
trăng (trao đổi riêng).