Victor Hugo (1802-1885)
2
Giai đoạn sáng c phong phú nhất của Victor Hugo là các m t1829 tới 1843.
Năm 1831, cuốn truyện "Nhà Th Đức Bà" (Notre Dame de Paris, dịch sang tiếng
Anh là The Hunchback of Notre Dame = anh của Nhà Th Đức Bà) là một tiểu
thuyết lịch sử, đề cập tới đời sống dưới thời Vua Louis 11. Cuốn truyện đã lên án
xã hội, đã chồng chất các đau khổ lên đầu các nạn nhân như anh gù Quasidomo
người con gái "gypsy" tên Esmeralda. Cun tiểu thuyết này đã làm xúc động
lương m của quần chúng hơn cuốn truyện đã được xuất bản khi trước, với tên
"Ngày Cuối Cùng của một TTội" (Le Dernier Jour d'un condamné, 1829) qua
đó Victor Hugo đã phản kháng án tử hình.
Cuốn truyện "Nhà ThĐức Bà" đã được dịch sang nhiều ngôn ngữ khác. Qua tác
phẩm này, Victor Hugo đã tcuộc sống bi-hài của anh gù kéo chuông cũng
như vẻ rực rỡ của ngôi giáo đường và thành ph Paris thời trước. Victor Hugo
cũng xác định rằng một tác phẩm văn học phải là một công trình của trí tưởng
tượng, của các biến đổi và những điều dị thường. Tác phm văn chương "Nhà Thờ
Đức Bà" đã xác nhận Victor Hugo là nhà văn hàng đầu của nước Pháp.
Trong thời gian cuốn truyện "Nhà Th Đức Bà" đang được viết, Vua Louis
Philippe đã trthành vvua của thể chế quân chủ lập hiến sau cuộc Cách Mạng
Tháng 7 (the July Revolution). Nhân dịp này, Victor Hugo đã m một tập thơ đề
cao skiện kể trên với tên "Dicté après Juillet 1830" (Lời thơ sau cuộc Cách
Mạng Tháng 7- 1830) đây tập thơ đi trước của loại thơ mang tính chất chính
trị của ông.
Cũng vào thời đại quân chủ tháng 7 này, Victor Hugo còn cho xuất hiện tập thơ
"Lá Thu" (Le Feuilles d'automne, 1831) vi các cảm hứngnhân và thân thương,
"Các bài ca Hoàng Hôn" (Les Chants du Crépuscule, 1835) mang tính chính trị,
"Các li nội m" (Les Voix intérieures, 1837) chứa đựng các ý tưởng nhân và
triết học, "Tia sáng và bóng tối" (Les Rayons et les Ombres, 1840) qua đó c giả
dùng tới nhiều chi tiết, màu sc và hình ảnh. Victor Hugo không chỉ biểu lcác
cảm tưởng nhân, các câu thơ của ông còn tiếng i đcập tới các vấn đề
chính trvà triết học, mang nhiều n khoăn của thời đại. Các bài thơ của Victor
Hugo gợi lên nỗi nghèo khó của người công nhân cùng các vấn đề của thế kỷ.
Victor Hugo cũng dùng thơ phú để ca ngợi sự rực rỡ của Napoléon và hô hào tr
lại các tưởng cộng hòa. Ông đã nói ra bằng các lời lẽ hùng hồn, m xao động
tâm hồn của mọi người.
Khnăng sáng tạo của Victor Hugo rất lớn lao đã thhiện qua các vở kịch. Có
hai động lực thúc đẩy ông viết kịch: ông cần một diễn đàn để trình bày các
tưởng chính trị và hội, và do nữa là Juliette Drouet, một diễn viên trẻ,
đẹp, mà ông đã quen từ năm 1833. Juliette thực ra không có tài năng diễn xuất nên
không lâu, đã tbỏ n khấu và trthành người tình trung thành kín miệng,
một thư ký một người bạn du lịch với nhà văn, cho tới năm 1883 khi ta qua
đời.
Vở kịch đầu tiên của Victor Hugo là một kịch tcó tên là "Le Roi s' amuse" (Nhà
Vua tiêu khiển - 1832) mô tcác tình yêu nông nổi của Vua Francis I vào thời k
Phục Hưng Pháp. Cũng giống như cuốn truyện "Nhà ThĐức Bà", kịch thơ kể
trên đã chtrích các bất ng chính trị và hội tại nước Pháp. Đầu tiên vkịch
"Nhà Vua tiêu khiển" đã bchính quyền cấm đoán nhưng về sau được phép trình
diễn và lại được nhà soạn nhạc Giuseppe Verdi dùng làm lời cho nhạc kịch
Rigoletto. Bốn vở kịch thơ kế tiếp của Victor Hugo là "Lucrèce Borgia và Marie
Tudor" (1833), "Angelo, bạo chúa của thành Padoue" (Angelo, tyran de
Padoue,1835), "Ruy Blas" (1838) "Les Burgraves" (1843)(được dịch qua tiếng
Anh The Governors = các thống đốc) và vkịch sau cùng này đã không thành
công.
Tháng 9 năm 1843, người con gái của Victor Hugo tên Léopoldine mới kết hôn,
đã b chết đuối cùng người chồng trong một tai nạn, sự việc này đã khiến cho
Victor Hugo rất đau buồn. Ông đã ngưng sáng tác trong vài m, một phần cũng
vì các xáo trộn chính trị và xã hội của thời cuộc.
hội của nước Pháp vào giai đoạn này gặp nhiều bất ổn chính trị thay đổi.
Các nhà văn lãng mạn thấy rằng nhiệm vụ của họ không phải là chviết ra các c
phẩm ca ngợi vẻ đẹp, điều hay, tài năng của họ còn phải được dùng vào việc
nói lên các điều bất công trong xã hội và việc giúp đỡ các người nghèo, các người
báp bức. Nhận định này đã chấm dứt thời kỳ văn chương lãng mạn và bắt đầu
thời kỳ hiện thực và tự nhiên (realistic-naturalistic period).
Trong khi chính trvà hội của nước Pháp thay đổi, thì lập trường chính trị của
Victor Hugo cũng biến đổi theo thời gian. Từ khuynh hướng bảo hoàng của người
mẹ, Victor Hugo dần dần mở rộng quan điểm chính trị, dàn hòa với người cha vào
năm 1822 đrồi trở nên một người cộng hòa ôn hòa. Sau cuộc cách mạng m
1848, Victor Hugo được bầu m đại biểu của thành phParis vào Hội Nghị Lập
Hiến rồi về sau là Hội Nghị Lập Pháp. Ông đã ủng hộ ông hoàng Louis Napoléon
lúc đầu, nhưng vào tháng 2 năm 1851 đã xẩy ra một cuộc đảo chính và Louis
Napoléon đã hủy bỏ chế độ cộng hòa, thành lập Đế Chế Thứ Hai (the Second
Empire) tr nên Vua Napoléon III. Do thất bại trong cuộc tập hợp c công
nhân của thành phParis biểu tình chống lại nhà vua mới, Victor Hugo phải cải
trang thành một công nhân và trốn qua đất Bỉ.
Giai đoạn lưu vong (1851-1870)
Ngày 17 tháng 7 năm 1851, Victor Hugo đã trình bày trước Quốc Hội Pháp một
bài đả kích ông hoàng Louis Napoléon. Ông đã gin dữ tuyên brằng "Chúng ta
đã Napoléon Đại Đế, phải chăng chúng ta cần Napoléon Nhỏ "
(Napoléon le Petit). Lời nói "Napoléon Nhỏ" đã một câu hào chống lại
Vua Napoléon III trong 19 m. Sau khi nhà vua này đã dẹp tan được mọi chống
đối, lệnh truy nã Victor Hugo được vào ngày 3 tháng 12-1851 khiến cho ông
phải chạy qua nước Bỉ rồi các hoạt động chính trị của ông đã khiến cho chính
quyền Bỉ đã phải yêu cầu ông ra đi. Victor Hugo chạy qua nước Anh, đầu tiên cư
ngtrên đảo Jersey thuộc vùng biển Channel từ năm 1852 tới năm 1855. Victor
Hugo đã dùng các bài viết đầu tiên của thời kỳ lưu vong vào việc châm biếm và
kết tội Vua Napoléon Nhỏ, tả nhà vua này kcắp, kẻ hèn nhát bạo
chúa. Khi nước Anh và nước Pháp trở nên đồng minh chống lại nước Nga trong
trận chiến tranh Crimea, các chỉ trích của Victor Hugo đã m cho chính quyền
Anh bối rối và ông btrục xuất khỏi đảo Jersey. Ông dời sang hòn đảo Guernsey,
là nơi có thể nhìn thấy bờ biển của nước Pháp.