CÁC YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH THÀNH CÔNG CỦA MỘT KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO
VẤN ĐỀ THỰC TẾ CỦA VIỆT NAM
Phạm Đức Chính*
1 - Phạm Hồng Quất**
2
Trần Thị Hồng Liên***
3- Trần Quang Văn****
4
TÓM TT: Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về khởi nghiệp và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Nhưng, khởi
nghiệp không phải là một thứ mốt thời thượng mà sử dụng nó người ta có thể trở thành triệu phú, người
giầu có trong một thời gian ngắn. Khởi nghiệp như một sự khởi đầu trên con đường nhận thức các thay đổi
đang diễn ra quanh chúng ta và xác định lại các ưu tiên trong thiết kế mô hình kinh doanh. Khởi nghiệp đổi
mới sáng tạo là khả năng của một cá nhân trong việc chuyển ý tưởng kinh doanh thành hành động, bao
gồm sự sáng tạo, sự đổi mới và chấp nhận mạo hiểm, cũng như khả năng lên kế hoạch và quản trị những
dự án để đạt được mục tiêu. Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo sẽ tạo nên những doanh nghiệp dựa trên sự đổi
mới với những lợi thế cạnh tranh rõ ràng và tiềm năng tăng trưởng cao, theo đuổi những cơ hội toàn cầu
và đóng góp cao vào sự phát triển kinh tế của quốc gia, khai thác hiệu quả các nguồn lực địa phương, góp
phần xóa đói giảm nghèo thực hiện công bằng xã hội.
Tuy nhiên, để có thể thích ứng với mỗi giai đoạn phát triển, với mỗi nhà sáng lập trong một điều kiện môi
trường nhất định, doanh nghiệp khởi nghiệp có nhu cầu cần được hỗ trợ khác nhau. Các chính sách của
Chính phủ và cộng đồng cần tính tới yếu tố này để đảm bảo sự hỗ trợ được cung cấp đúng địa chỉ, đúng
thời điểm. Bài viết này sẽ phân tích cơ sở khoa học của khởi nghiệp sáng tạo có thể thành công, cũng như
yêu cầu của những chính sách hỗ trợ để đảm bảo tăng trưởng, cũng như thực trạng phát triển của các khởi
nghiệp Việt Nam hiện nay.
1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
1.1.Khởi nghiệp và Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
Khởi nghiệp. rất nhiều cách hiểu khác nhau về khởi nghiệp. Khởi nghiệp thể hiểu sự cam
kết của một hoặc nhiều người về việc khởi động thành lập doanh nghiệp, phát triển một sản phẩm hay
dịch vụ, mua lại một doanh nghiệp đang hoạt động hoặc một hoạt động sinh lợi nào đó. Khởi nghiệp
nghĩa là tạo ra những giá trị lợi ích cho con người hoặc cho nhóm khởi nghiệp, cho các cổ đông trong
doanh nghiệp, cho người lao động, cho cộng đồng, nhà nước và xã hội. Khởi nghiệp bằng việc thành
lập doanh nghiệp sẽ tạo tăng trưởng kinh tế và dưới một góc độ nào đó sẽ tham gia vào việc phát triển
kinh tế hội, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, hỗ trợ việc hình thành, tạo ra việc làm cho hội
(Blank, 2013).
* PGS,TSKH., Khoa Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế-Luật, ĐHQG-HCM, email: chinhpd@uel.edu.vn
** TS., Bộ Khoa học và Công nghệ, email: hongquat@gmail.com
*** TS., Khoa Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Kinh tế-Luật, ĐHQG-HCM, email: lientth@uel.edu.vn
**** TS., Trung tâm nghiên cứu Kinh tế-Tài chính, Trường Đại học Kinh tế-Luật, ĐHQG-HCM, email: vantq@uel.edu.vn
1172 HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC TẾ KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TO QUỐC GIA
Một công ty khởi nghiệp hoạt động nhằm giải quyết một vấn đề mà giải pháp (đối với vấn đề đó) chưa
rõ ràng và sự thành công không được đảm bảo. Công ty khởi nghiệp là một tổ chức do con người sáng lập,
được thiết kế nhằm mục đích tạo ra những sản phẩm và dịch vụ mới trong các điều kiện cực kỳ không chắc
chắn. Hoạt động khởi nghiệp nghĩa người sáng lập vừa nhân viên vừa ông chủ hoặc cao hơn nữa sau
khi cùng một nhóm nhà sáng lập mở công ty sẽ cùng nhau tìm kiếm lợi nhuận trong khuôn khổ pháp lý của
công ty khởi nghiệp. Người khởi nghiệp một người kiếm tiền bằng cách bắt đầu công việc kinh doanh
hoặc vận hành công việc kinh doanh, đặc biệt là khi việc này bao gồm sự chấp nhận rủi ro về tài chính. Tức
là, khởi nghiệp cũng chính là việc người sáng lập bắt đầu làm chủ các hoạt động kinh doanh của mình, gắn
với việc tạo ra sản phẩm và bán ra thị trường để có thu nhập. Chính vì vậy, khởi nghiệp luôn có tên gọi gắn
với khởi nghiệp kinh doanh.
Khởi nghiệp không phải một trò chơi, không phải để học hỏi kinh nghiệm, lại càng không phải
một trải nghiệm. Khởi nghiệp là quá trình hoạt động thực tiễn trong việc tìm kiếm lợi nhuận, lợi ích dựa trên
sự kết hợp giữa nhân tổ chức. Thành lập phát triển doanh nghiệp sản phẩm cũng phương
tiện của quá trình khởi nghiệp (Blank, 2013). Theo Schumpeter & Backhaus (2003), khởi nghiệp hoạt
động tạo ra sự kết hợp mới của (1) giới thiệu một hàng hóa mới, hoặc một chất lượng mới của hàng hóa,
(2) giới thiệu phương pháp sản xuất mới, (3) mở ra một thị trường mới, (4) đạt được một nguồn cung cấp
nguyên liệu hoặc thành phần mới, hoặc (5) sắp xếp lại ngành nghề.
Mục tiêu của khởi nghiệp chắc chắn không chỉ để tạo ra một sản phẩm người dùng yêu thích, mà còn
một phương thức kinh doanh thể lôi kéo càng nhiều người tham gia vào cả cung cấp tiêu dùng càng
tốt. Tức là, nhà khởi nghiệp sẽ phải tính đến việc làm sao để tăng thêm số người cùng sản xuất và mở rộng
số lượng người tiêu dùng. Nhưng đó, vẫn chưa phải là phần quan trọng nhất. Kinh nghiệm của những khởi
nghiệp thành công cho thấy, tất cả các công ty đều bắt đầu với một sản phẩm tốt đến nỗi những người
tiêu dùng đầu tiên của họ đều tự nguyện giới thiệu với những người khác. Nếu nhà khởi nghiệp không
làm được điều này thì chắc chắn sẽ thất bại. Hoặc nhà khởi nghiệp sẽ tự huyễn hoặc mình rằng người dùng
nào cũng yêu thích sản phẩm đó, và rồi cũng sẽ thất bại.
Đằng sau sự phát triển của mỗi công ty công nghệ luôn là sự song hành của hai yếu tố kĩ thuật và con
người. Thách thức không chỉ nằm việc phát triển công nghệ, còn quản những người hoàn thiện
và vận hành công nghệ ấy.
Tóm lại, để một khởi nghiệp thành công, nhà sáng lập cần một ý tưởng tuyệt vời, một đội cộng tác
có ý chí quyết tâm đưa sản phẩm đến với bất kỳ ai đón nhận nó với phương thức kinh doanh hoàn toàn chứa
đầy những sáng tạo. Kinh nghiệm quản trị một doanh nghiệp lớn, hay một doanh nghiệp nước ngoài chưa
hẳn đã mang lại kinh nghiệm quản cho một khởi nghiệp mới bởi tại các doanh nghiệp lớn thường
các quy trình kinh doanh được chuẩn hóa, phân khúc, phân đoạn. Trong khi đó, khởi nghiệp sáng tạo đòi
hỏi người chủ doanh nghiệp phải duy hệ thống để phát triển năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp,
thu hút nhà đầu tư, quản trị rủi ro, đầu mạo hiểm. Theo nghiên cứu của Shikhar (2015) từ Trường Kinh
doanh Harvard cho thấy, 75% của tất cả các khởi nghiệp là không thành công bởi người sáng lập có những
nhầm lẫn như đã nêu trên.
Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
Theo Blank (2013), doanh nghiệp khởi nghiệp phải dựa trên một công nghệ mới hoặc tạo ra một
hình thức kinh doanh mới, xây dựng một phân khúc thị trường mới, nghĩa phải tạo ra sự khác biệt
không chỉ ở trong nước mà với tất cả công ty trên thế giới. Nhiều khởi nghiệp bắt đầu từ chính tiền túi
1173
INTERNATIONAL CONFERENCE STARTUP AND INNOVATION NATION
của người sáng lập, hoặc đóng góp từ gia đình và bạn bè. Một số trường hợp khác thì gọi vốn từ cộng
đồng. Tuy nhiên, phần lớn các nhà khởi nghiệp sáng tạo đều phải gọi vốn từ các nhà đầu tư thiên thần
ở giai đoạn gieo mầm và đầu tư mạo hiểm trong giai đoạn phát triển. Tài sản trí tuệ thường là đặc tính
tiêu biểu của sản phẩm từ một khởi nghiệp sáng tạo. vậy, ngay cả khi sản phẩm không dựa nhiều
vào công nghệ, thì khởi nghiệp cũng cần áp dụng công nghệ để đạt được mục tiêu kinh doanh cũng
như tham vọng tăng trưởng.
Cũng theo Blank (2013), đặc điểm của bất kỳ khởi nghiệp sáng tạo nào cũng đều bao hàm hai nội
dung: (1) Ý tưởng kinh doanh mang tính đột phá, tức tạo ra một điều đấy chưa hề trên thị trường
hoặc tạo ra một giá trị tốt hơn so với những thứ đang sẵn, chẳng hạn như thể tạo ra một phân khúc
mới trong sản xuất, một hình kinh doanh hoàn toàn mới, hoặc một loại công nghệ độc đáo, chưa từng
có trước đó. (2) Giá trị tăng trưởng vượt trội so với truyền thống, một công ty khởi nghiệp được gọi là sáng
tạo sẽ không đặt ra giới hạn cho sự tăng trưởng, và họ có tham vọng phát triển đến mức lớn nhất có thể. Họ
tạo ra sự ảnh hưởng cực lớn, có thể được xem là người khai phá thị trường.
Schumpeter (1947) cho rằng, chức năng chính yếu và cụ thể của một doanh nhân là xây dựng và thực
hiện các kết hợp sáng tạo mới để đạt được mục đích lợi nhuận, góp phần tăng trưởng kinh tế quốc gia. Hoạt
động kinh doanh là việc tạo ra sự kết hợp mới của các công ty và cá nhân trong các mạng liên kết xã hội và
đạt mục tiêu về kinh tế. Những kết hợp sáng tạo này trở thành yếu tố quyết định tăng trưởng khả năng
cạnh tranh của các quốc gia, trong đó nhà doanh nghiệp hoạt động kinh doanh của mình.
Khởi nghiệp sáng tạo bao gồm nhiều hình thức khác nhau. Trước đó, Shumpeter (1934), đã phân loại
đổi mới sáng tạo gồm 5 nhóm chính bao gồm: Cung cấp sản phẩm mới hoặc cải tiến chất lượng sản phẩm
hiện có; Thiết kế phương thức sản xuất mới; Phát triển thị trường mới; Phát triển nguồn cung ứng mới
Đổi mới cấu trúc hoạt động của tổ chức.
Các nghiên cứu kế thừa sau này đã chỉ ra hai hướng chính đổi mới sáng tạo về sản phẩm, dịch
vụ và đổi mới sáng tạo về quy trình. Hướng thứ nhất, đổi mới sản phẩm liên quan đến các thay đổi và điều
chỉnh chức năng sản phẩm được thương mại hóa đổi mới về quy trình liên quan đến cách thức cung ứng
dịch vụ, trong đó trọng tâm là chất lượng và giá thành. Như vậy, đổi mới về sản phẩm liên quan đến việc bổ
sung các chức năng mới so với các sản phẩm mặt trên thị trường. Hướng thứ hai, đổi mới về quy trình
liên quan đến quá trình công nghệ từ thiết kế đến phân phối và thương mại hóa.
Một khởi nghiệp sáng tạo được hiểu một doanh nghiệp mới thành lập, mục đích của để phát
triển sản phẩm mới, có hàm lượng tri thức cao, gắn với sự sáng tạo trong hoàn cảnh không chắc chắn. Nếu
sản phẩm đáp ứng nhu cầu mới, phân phối trên diện rộng, thậm chí toàn cầu, công ty khởi nghiệp sẽ có
hội phát triển. Các khởi nghiệp vai trò quan trọng do khơi nguồn sáng tạo, tạo việc làm tạo ra môi
trường kinh doanh cạnh tranh minh bạch trong một phương thức kinh doanh khác với những giá trị truyền
thống. Một trong những điểm nổi bật của những công ty khởi nghiệp sáng tạo là trước tiên chúng kiểm định
các mô hình kinh doanh khác nhau nhằm tìm ra hình tốt nhất do vậy chúng cần một hệ sinh thái hỗ
trợ khởi nghiệp phù hợp (Sandile, 2014).
Kết luận vấn đề này, Blank (2013) cho rằng, khởi nghiệp không phải một thứ mốt thời thượng
sử dụng người ta thể trở thành triệu phú đô la trong một thời gian ngắn. Hãy nghĩ đến khởi nghiệp
như một sự khởi đầu trên con đường nhận thức các thay đổi đang diễn ra quanh chúng ta xác định lại
các ưu tiên trong thiết kế hình kinh doanh. Khi đó, bản chất đích thực của các hoạt động khởi nghiệp
được gọi là khởi nghiệp sáng tạo.
2. CÁC YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH THÀNH CÔNG CỦA KHỞI NGHIỆP SÁNG TO
Đó những yếu tố, được gọi một cách riêng lẻ, để xác định vai trò của khởi nghiệp sáng tạo từ
khi chúng sinh ra, phát triển thành công trong vòng đời dự án. Theo nghiên cứu của Kryzanowska &
Tkaczyk, (2013) thì, có ba yếu tố có thể đóng vai trò chính trong sự ra đời, tăng trưởng, phát triển và thành
công của một khởi nghiệp, hay còn gọi 3T: Thời gian (Time), Lãnh thổ (Territory) Đội ngũ (Team
-Nguồn nhân lực).
2.1. Yếu tố thời gian, thời điểm
thể chỉ ra rằng, thời gian đóng vai trò quan trọng trong cả hình thức thời gian, đoán đúng thời điểm
khởi động và tốc độ triển khai. Trong giai đoạn phát triển ban đầu, tốc độ ngăn chặn sự khởi động thất bại,
cho phép doanh nghiệp khởi nghiệp tồn tại trong những tháng đầu tiên của vòng đời, chắc chắn là khoảng
thời gian quan trọng nhất.
Kryzanowska & Tkaczyk (2013) đã phân tích hệ số thời gian đã xác định được các yếu tố liên quan sau
đã góp phần cải thiện hiệu suất. Thời gian cần để cho cả nhà nước và nhân sự hợp tác giữa các tổ chức
nghiên cứu các doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp để thúc đẩy các thị trường nghiên
cứu định hướng phát triển. Thời gian cần để cho doanh nghiệp khởi nghiệp thích ứng với mạng lưới
(thông tin, người tham gia, kiến thức), tạo điều kiện trao đổi kiến thức về thông tin thị trường, dịch vụ, v.v.
(và theo đó giảm chi phí giao dịch). Thời gian cần để phối hợp các chỉ số là công cụ hiệu quả nhằm hỗ trợ
cả về mặt kỹ thuật lẫn tài chính.
Trong giai đoạn đầu của quá trình khởi nghiệp, mức độ rủi ro cao hơn nhiều, hoàn toàn không chắc
chắn tiềm năng của một ý tưởng mới, điều kiện và nhu cầu công nghệ của nó. Trong giai đoạn sau, nguy
giảm đi đáng kể, vì nó được biết đến trong chuẩn bị. Theo truyền thống, quá trình dẫn đầu từ sự ra đời của
một ý tưởng sáng tạo để bán sản phẩm trên quy công nghiệp được đặc trưng bởi bốn giai đoạn chính.
Các giai đoạn này khác biệt đáng kể về tốc độ tăng trưởng doanh thu, qui mô vốn và khả năng tài chính tự
có và mức nhu cầu tài chính dự báo. Giai đoạn đầu tiên, xảy ra trong quan niệm về một ý tưởng sáng tạo,
có tính không chắc chắn cao về kết quả tương lai và nhu cầu tài chính hạn hẹp, thường gắn liền với chi phí
để thực hiện đánh giá về mặt kỹ thuật và kinh tế của dự án đầu tư. Trong giai đoạn này, doanh số bán hàng
cũng như qui mô huy động vốn bằng không. Trong giai đoạn tiếp theo (khởi động), ý tưởng này phải tuân
theo qui luật thị trường. Giai đoạn thứ hai, vốn luôn được đặc trưng bởi một mức độ không chắc chắn cao
về hội thành công của ý tưởng sáng tạo, được đặc trưng bởi nhu cầu tài chính cao có liên quan, trong giai
đoạn đầu, đến một sự vắng mặt của doanh thu qui vốn tăng lên. Giai đoạn mở rộng ban đầu (tăng
trưởng sớm) cho thấy sự tiếp xúc dần dần với rủi ro hoạt động và qui mô vốn đầu tư vào năng lực sản xuất
và sự phát triển vốn nhanh hơn (Miettinen & Luttunen, 2013).
Tầm quan trọng của yếu tố thời gian được hiểu không chỉ là tính đặc thù của hành động quản lý khởi
nghiệp mà còn là một yếu tố thiết yếu tạo ra giá trị và giấy phép để bảo vệ cốt lõi nội tại của ý tưởng sáng
tạo. Do đó, sự có mặt của vườn ươm có thể đóng một vai trò quan trọng, vì chúng có thể tạo điều kiện thuận
lợi cho giai đoạn sáng tạo và sự phát triển ban đầu của các công ty khởi nghiệp.
2.2. Yếu tố đặc thù địa phương, vùng lãnh thổ
Việc đánh giá hiệu quả của một ý tưởng kinh doanh sáng tạo liên quan đến việc xây dựng một kế hoạch
kinh doanh, rất quan trọng đối với cả kế hoạch nội bộ và để có được những quỹ cần thiết ban đầu. Rõ ràng,
cả nhà đầu tiềm năng người đầu tài chính phải quyết thông tin cần thiết để xây dựng
đánh giá một kế hoạch kinh doanh. yếu tố địa phương hay vùng lãnh thổ đóng một vai trò quan trọng
1175
INTERNATIONAL CONFERENCE STARTUP AND INNOVATION NATION
đây, thể hỗ trợ việc tạo ra các doanh nghiệp mới. Đây do tại sao, để thúc đẩy sự tăng trưởng
thành công của các công ty kinh doanh, các vườn ươm doanh nghiệp được đặt trong khu học đường và cung
cấp một loạt tài nguyên và dịch vụ hỗ trợ kinh doanh, bao gồm không gian vật lý, dịch vụ thông thường và
kết nối mạng.
Yếu tố vùng lãnh thổ đóng một vai trò quan trọng trong sự ra đời phát triển của một khởi nghiệp
sáng tạo. Khi nói đến vùng lãnh thổ tức nhấn mạnh tầm quan trọng của các nguồn lực địa phương
các mối quan hệ mạng lưới trong việc hỗ trợ tiếp cận các quỹ khả năng cạnh tranh của tổ chức khởi
nghiệp. Thông thường, trong một khu vực địa lý nhất định, diễn ra các mối quan hệ rất quan trọng giữa các
doanh nghiệp các tổ chức chính quyền địa phương. Những điều này rất quan trọng để hỗ trợ việc tạo ra
các doanh nghiệp mới cũng rất quan trọng để có được những khoản tiền cần thiết ban đầu. Nếu sự khởi
nghiệp kết nối tốt với cả các tổ chức địa phương thị trường địa phương, sẽ hội sống sót
phát triển thành công. Nếu không, ngược lại xác suất thất bại của một khởi nghiệp mới là rất cao.
Như vậy ở cấp địa phương cần thực hiện các chính sách chủ động đa dạng trong lãnh thổ đầu tư vào
nghiên cứu nguồn nhân lực.Với mục đích này, các mạng lưới giữa các công ty vai trò bản trong
việc đổi mới trong một ngành hoặc lãnh thổ. Mạng lưới này nhằm tạo ra các mối quan hệ giữa sản xuất với
khách hàng, nhà cung cấp, cố vấn, các doanh nghiệp khác, kể cả đối thủ cạnh tranh, hơn nữa, làm sâu
sắc hơn các mối quan hệ với tất cả các bên trong lãnh thổ. Việc tham gia tích cực vào mạng lưới các công
ty cho phép các doanh nghiệp khởi nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ, khai thác các mối quan hệ đó
để có thể tiếp cận dễ dàng hơn các nguồn lực công nghệ và thị trường, mà sẽ không thể tận dụng nếu đứng
ngoài một vùng lãnh thổ nào đó, do đó sẽ không cải thiện được lợi thế cạnh tranh. đây vẻ ràng sự
kết nối chặt chẽ giữa hai yếu tố, đội ngũ và vùng lãnh thổ.
Đây cũng là cơ sở cho việc ra đời những mô hình khởi nghiệp địa phương với những đặc thù khác biệt
về chính trị, văn hóa, hội, khoa học kỹ thuật nhằm hướng tới xây dựng một hệ sinh thái khởi nghiệp đa
dạng trong một nền kinh tế thống nhất.
2.3.Đội ngũ nguồn nhân lực, kiến thức, kỹ năng và sự phối hợp làm việc
Bất kỳ khởi nghiệp nào cũng được bắt đầu từ một ý tưởng kinh doanh, xuất phát từ những nhu cầu
đơn giản nhất, đang hiển hiện trong cuộc sống hàng ngày. Ý tưởng đó thường dựa trên sở hình
kinh doanh đang thay đổi nhanh chóng nhờ công nghệ, khi đó những ý tưởng được gọi là những bắt đầu
khởi nghiệp sáng tạo (Souitaris & Cavaliere, 2015). Do vậy, thế mạnh của các ý tưởng khởi nghiệp sáng
tạo sản phẩm, dịch vụ hay những giải pháp mới sẽ thay chỗ cho hàng loạt nhân viên để tự động hóa
các quy trình, từ đó tạo ra giá trị mới vượt trội so với các giá trị truyền thống. Những ý tưởng sáng tạo
gắn với các mô hình kinh doanh hoàn toàn mới đem đến những giá trị đột phá cho cả nhà cung cấp, lẫn
cả người tiêu dùng và xã hội.
Những ý tưởng sáng tạo thường xuất hiện ở hầu khắp mọi lĩnh vực của xã hội thường nhật, bắt đầu từ
những nhu cầu đơn giản nhất của con người trong cuộc sống hàng ngày. Nhưng, khởi nghiệp không phải
một mốt thời thượng sử dụng người ta thể nhanh chóng trở thành những triệu phú đô la, những
ông, chủ đầy quyền uy trong một thời gian ngắn. Khởi nghiệp phải được coi như một sự khởi đầu trên
con đường nhận thức các thay đổi đang diễn ra quanh chúng ta và xác định lại các ưu tiên trong thiết kế
hình kinh doanh. Từ ngành truyền thông đến may mặc, từ giáo dục đến bán hàng tất cả đang phải trải qua
những thay đổi, thành công sẽ chỉ đến với những người biết thay đổi, bất kể đó là chuyện khởi nghiệp hay
tái khởi động một cơ sở kinh doanh truyền thống theo những mô hình mới, bao hàm cả sự độc đáo.