HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM THỊ ĐÀO
ẢNH HƯỞNG CỦA LỢN ĐỰC LAI (PIÉTRAIN Re-Hal DUROC)
CÓ THÀNH PHẦN DI TRUYỀN KHÁC NHAU ĐẾN NĂNG SUẤT
SINH SẢN CỦA NÁI LAI F1 (LANDRACE YORKSHIRE)
VÀ NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG THỊT CỦA CÁC CON LAI
THƯƠNG PHẨM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2015
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
PHẠM THỊ ĐÀO
ẢNH HƢỞNG CỦA LỢN ĐỰC LAI (PIÉTRAIN Re-Hal DUROC)
CÓ THÀNH PHẦN DI TRUYỀN KHÁC NHAU ĐẾN NĂNG SUẤT
SINH SẢN CỦA NÁI LAI F1 (LANDRACE YORKSHIRE)
VÀ NĂNG SUẤT, CHẤT LƢỢNG THỊT CỦA CÁC CON LAI
THƢƠNG PHẨM
CHUYÊN NGÀNH: CHĂN NUÔI
MÃ SỐ: 62.62.01.05
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS VŨ ĐÌNH TÔN
2. GS. TS ĐẶNG VŨ BÌNH
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên
cứu đƣợc trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chƣa từng dùng bảo vệ để lấy bất kỳ học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã đƣợc cám
ơn và các thông tin trích dẫn trong luận án này đều đƣợc chỉ rõ nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 27 tháng 10 năm 2015
Tác giả luận án
Phạm Thị Đào
i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án, tôi đã nhận đƣợc
sự động viên, quan tâm, giúp đỡ hết sức quý báu của các cá nhân và tập thể.
Nhân dịp này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và trân trọng cảm ơn thầy giáo
hƣớng dẫn PGS.TS. Vũ Đình Tôn và GS.TS. Đặng Vũ Bình, đã tận tình hƣớng dẫn, đƣa ra những ý kiến quý báu, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành tốt luận án.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Ban
chủ nhiệm Khoa, các thầy giáo, cô giáo Khoa Chăn nuôi, các thầy giáo, cô giáo Bộ môn Chăn nuôi chuyên khoa, Bộ môn Di truyền - Giống vật nuôi, Phòng thí nghiệm trung tâm,
cán bộ Trung tâm Nghiên cứu liên ngành PTNT, Ban Quản lý đào tạo, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã ủng hộ và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận án này.
Tôi xin chân thành cảm ơn đến các chủ trang trại bà Phạm Thị Mây, ông Phạm
Văn Lanh (tỉnh Hải Dƣơng) và ông Nguyễn Văn Binh (tỉnh Hƣng Yên) đã tạo mọi điều kiện cơ sở vật chất giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận án này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học, lãnh đạo Sở Nông nghiệp & PTNT Hải Dƣơng, lãnh đạo, cán bộ Phòng Chăn nuôi, các bạn bè, đồng nghiệp và đặc
biệt là ngƣời thân trong gia đình đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình th
Xin trân trọng cảm ơn./.
Tác giả luận án
Phạm Thị Đào
ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục các chữ viết tắt
v
Danh mục các bảng
vi
Danh mục các biểu đồ
vii
Trích yếu luận án
viii
Thesis abstract
x
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1
1.1
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
1
1.2
Mục tiêu
3
1.3
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3
1.4
Những đóng góp mới của luận án
4
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
5
2.1
Cơ sở lý luận về lai giống
5
2.1.1
Tính trạng số lƣợng và các yếu tố ảnh hƣởng
5
2.1.2
Lai giống và ƣu thế lai
7
2.2
Các chỉ tiêu sinh sản và các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng sinh sản ở
lợn nái
12
2.2.1 Các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái
12
2.2.2 Các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng sinh sản của lợn nái
12
2.3
Các chỉ tiêu đánh giá sinh trƣởng, khả năng cho thịt, chất lƣợng thịt và
các yếu tố ảnh hƣởng
18
2.3.1 Các chỉ tiêu đánh giá sinh trƣởng, khả năng cho thịt và chất lƣợng thịt
18
2.3.2 Các yếu tố ảnh hƣởng đến sinh trƣởng, khả năng cho thịt và chất lƣợng thịt
18
2.4
Tình hình nghiên cứu ở ngoài nƣớc và trong nƣớc
24
2.4.1
Tình hình nghiên cứu ở ngoài nƣớc
24
2.4.2
Tình hình nghiên cứu ở trong nƣớc
30
iii
PHẦN 3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
35
3.1
Đối tƣợng nghiên cứu
35
3.2
Địa điểm nghiên cứu
36
3.3
Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu
36
3.3.1
Theo dõi và đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái
36
3.3.2
Theo dõi và đánh giá khả năng sinh trƣởng của con lai
40
3.3.3 Đánh giá năng suất thân thịt và chất lƣợng thịt của con lai
43
PHẦN 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
50
4.1
50
Năng suất sinh sản của lợn nái F1(Landrace × Yorkshire)
4.1.1 Ảnh hƣởng của một số yếu tố đến năng suất sinh sản
50
51
4.1.2 Năng suất sinh sản của lợn nái F1(Landrace × Yorkshire)
4.1.3
Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa
62
4.2
Khả năng sinh trƣởng của ba tổ hợp lai
65
4.2.1
Sinh trƣởng và hiệu quả chuyển hoá thức ăn của lợn con từ sau cai sữa
đến 60 ngày tuổi
65
4.2.2 Khả năng sinh trƣởng của ba tổ hợp lai giai đoạn nuôi thịt
68
4.3
Năng suất thân thịt và chất lƣợng thịt của ba tổ hợp lai
76
4.3.1 Năng suất thân thịt
76
4.3.2 Chất lƣợng thịt
88
4.3.3
Thành phần hoá học của thịt
98
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
102
5.1
Kết luận
102
5.2
Đề nghị
103
Danh mục công trình đã công bố
104
Tài liệu tham khảo
105
Phụ lục
119
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BQ
Bảo quản
CB
Chế biến
cs
cộng sự
DFD
Dark, Firm, Dry (thịt sẫm màu, chắc, khô)
Du
Duroc
GLM
General Linear Model (Mô hình tuyến tính tổng quát
Khối lƣợng
KL
Landrace
L
LSM
Least Square Mean (trung bình bình phƣơng nhỏ nhất)
Landrace × Yorkshire
LY
Móng Cái
MC
Metabolisable Energy (Năng lƣợng trao đổi)
ME
Piétrain
Pi
PiDu
Lợn đực lai Piétrain × Duroc
PiDu25 Lợn đực lai 25% Piétrain Re-Hal × 75% Duroc
PiDu50 Lợn đực lai 50% Piétrain Re-Hal × 50% Duroc
PiDu75 Lợn đực lai 75% Piétrain Re-Hal × 25% Duroc
Pale, Soft, Exudative (thịt nhợt màu, mềm nhão, rỉ dịch)
PSE
SCS
Sau cai sữa
TĂ
Thức ăn
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
TL
Tỷ lệ
TS
Tổng số
TTTĂ
Tiêu tốn thức ăn
VCK
Vật chất khô
Y
Yorkshire
v
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
Số lƣợng lợn nái nghiên cứu trong mỗi tổ hợp lai
37
3.1
Thành phần dinh dƣỡng của thức ăn nuôi lợn nái và lợn con
37
3.2
Số lƣợng lợn theo dõi sinh trƣởng trong mỗi tổ hợp lai
40
3.3
Thành phần dinh dƣỡng của thức ăn nuôi lợn thịt
41
3.4
Số lƣợng lợn đo độ dày mỡ lƣng và tỷ lệ thịt nạc trong mỗi tổ hợp lai
44
3.5
Số lƣợng lợn mổ khảo sát để đánh giá năng suất thân thịt và chất lƣợng
3.6
thịt trong mỗi tổ hợp lai
44
Mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố đến tính trạng sinh sản
50
4.1
Năng suất sinh sản của lợn nái lai F1(L × Y) phối với đực lai PiDu có
4.2
thành phần di truyền khác nhau
52
Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa
63
4.3
Mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố đến tính trạng sinh trƣởng từ sau cai
4.4
sữa đến 60 ngày tuổi
65
4.5
Khả năng sinh trƣởng và hiệu quả chuyển hoá thức ăn của lợn con sau cai
sữa đến 60 ngày tuổi
67
4.6
Mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố đến tính trạng sinh trƣởng giai đoạn
nuôi thịt
69
Khả năng sinh trƣởng và hiệu quả chuyển hoá thức ăn của ba tổ hợp lai
71
4.7
Mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố đến tính trạng năng suất thân thịt
76
4.8
Độ dày mỡ lƣng, độ sâu cơ thăn và tỷ lệ thịt nạc xác định trên cơ thể lợn sống
78
4.9
Các chỉ tiêu năng suất thân thịt
82
4.10
Các yếu tố ảnh hƣởng đến các chỉ tiêu chất lƣợng thịt của ba tổ hợp lai
89
4.11
Giá trị pH thịt ở các thời điểm khác nhau sau khi giết thịt
90
4.12
Các chỉ tiêu về tỷ lệ mất nƣớc và độ dai của thịt
93
4.13
4.14 Màu sắc thịt của các con lai
96
Các yếu tố ảnh hƣởng đến thành phần hóa học của thịt
98
4.15
Hàm lƣợng vật chất khô, protein, mỡ thô và khoáng tổng số trong cơ thăn
4.16
của ba tổ hợp lai
99
vi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
STT
Tên biểu đồ
Trang
Khối lƣợng trung bình của lợn con sơ sinh
57
4.1
Khối lƣợng lợn con cai sữa của các tổ hợp lai
60
4.2
Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa
64
4.3
Tăng khối lƣợng của lợn con từ sau cai sữa đến 60 ngày
66
4.4
Hiệu quả chuyển hoá thức ăn của lợn con từ sau cai sữa đến 60 ngày tuổi
68
4.5
Tăng khối lƣợng của các tổ hợp lai giai đoạn nuôi thịt
73
4.6
Hiệu quả chuyển hoá thức ăn của ba tổ hợp lai giai đoạn nuôi thịt
75
4.7
Độ dày mỡ lƣng xác định trên cơ thể lợn sống
78
4.8
Tỷ lệ thịt nạc xác định trên cơ thể lợn sống
81
4.9
Tỷ lệ thịt nạc xác định trên thân thịt xẻ
84
4.10
Độ dày mỡ lƣng của ba tổ hợp lai khi mổ khảo sát
87
4.11
Hàm lƣợng protein thô của cơ thăn
100
4.12
vii
TRÍCH YẾU LUẬN ÁN
Họ và tên: PHẠM THỊ ĐÀO
I/ Tóm tắt mở đầu:
Tên đề tài: ―Ảnh hưởng của lợn đực lai (Piétrain Re-Hal Duroc) có thành phần di truyền khác nhau đến năng suất sinh sản của nái lai F1(Landrace Yorkshire) và năng suất, chất lượng thịt của các con lai thương phẩm”.
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 62.62.01.05
Cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
II/ Nội dung bản trích yếu
1. Mục đích nghiên cứu của luận án
Xác định đƣợc lợn đực lai PiDu có thành phần di truyền phù hợp phối giống với lợn nái lai F1(Landrace Yorkshire) nhằm nâng cao năng suất sinh sản, sinh trƣởng, tỷ lệ thịt nạc và đảm bảo đƣợc chất lƣợng thịt.
2. Đối tượng nghiên cứu
Lợn đực lai PiDu với tỷ lệ giống Piétrain Re-Hal là 25%, 50% và 75%.
3. Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng
Trong Luận án đã áp dụng các phƣơng pháp nghiên cứu chính sau đây:
- Phƣơng pháp điều tra: Từ số liệu thống kê về các trang trại của địa phƣơng,
khảo sát lựa chọn 2 trang trại chăn nuôi lợn tại huyện Cẩm Giàng, thành phố Hải Dƣơng
tỉnh Hải Dƣơng và 1 trang trại huyện Văn Giang tỉnh Hƣng Yên để triển khai đồng thời
3 tổ hợp lai và có đủ cơ sở vật chất để tiến hành nghiên cứu.
- Phƣơng pháp bố trí thí nghiệm:Thí nghiệm đƣợc bố trí theo phƣơng pháp phân
lô so sánh. Quy trình kỹ thuật và chế độ chăm sóc nuôi dƣỡng lợn nái lai và con lai nuôi
thịt của ba tổ hợp lai áp dụng cho các trại đảm bảo nhƣ nhau.
- Sử dụng các phƣơng pháp thƣờng quy đang đƣợc áp dụng cho việc nghiên cứu theo dõi nhằm đánh giá đƣợc năng suất sinh sản đàn lợn nái F1(LandraceYorkshire) phối giống với đực PiDu25, PiDu50 và PiDu75 và đánh giá đƣợc khả năng sinh trƣởng
của lợn lai nuôi thịt từ các tổ hợp lai trên.
- Các chỉ tiêu về chất lƣợng thịt lợn đƣợc phân tích tại Bộ môn Di truyền - giống
vật nuôi và Phòng thí nghiệm trung tâm, khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt
Nam.
- Các số liệu đƣợc xử lý theo phƣơng pháp thống kê sinh học bằng phần mềm
SAS 9.1 (2002).
viii
4. Các kết quả chính đạt được và kết luận
- Luận án có ý nghĩa khoa học trong việc đóng góp thêm các tƣ liệu về khả năng
sản xuất của lợn đực lai PiDu trong điều kiện sản xuất chăn nuôi nƣớc ta.
- Đã nghiên cứu tổng quan các vấn đề liên quan đến đề tài luận án nhƣ: Cơ sở lý
luận về lai giống; Các chỉ tiêu sinh sản và các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng sinh sản ở lợn
nái; Các chỉ tiêu đánh giá sinh trƣởng, khả năng cho thịt, chất lƣợng thịt và các yếu tố
ảnh hƣởng; Tình hình nghiên cứu về lai giống và sử dụng lợn đực có giống Piétrain Re-
Hal và Duroc ở ngoài nƣớc và trong nƣớc.
- Đã đánh giá đƣợc các yếu tố ảnh hƣởng đến các tính trạng năng suất sinh sản của lợn nái lai F1(LandraceYorkshire) khi phối giống với lợn đực lai PiDu có thành phần di truyền khác nhau và các yếu tố ảnh hƣởng đến năng suất sinh trƣởng, chất
lƣợng thịt lợn lai thƣơng phẩm đƣợc tạo ra từ các tổ hợp lai này.
- Đánh giá đƣợc năng suất sinh sản của lợn nái lai F1(Landrace Yorkshire)
phối với lợn đực lai PiDu có thành phần di truyền khác nhau.
- Đánh giá đƣợc khả năng sinh trƣởng, tiêu tốn thức ăn của lợn lai nuôi thịt và
năng suất, chất lƣợng thịt của các con lai đƣợc tạo ra từ lợn đực lai PiDu có thành phần di truyền khác nhau phối với lợn nái lai F1(Landrace Yorkshire). Lợn thịt của ba tổ hợp lai đều có khả năng sinh trƣởng tốt, đáp ứng đƣợc các tiêu chuẩn về chất lƣợng thịt
nhƣ độ pH, tỷ lệ mất nƣớc, màu sắc thịt, độ dai của thịt và các thành phần hoá học của
thịt.
- Đề nghị phát triển và sử dụng lợn đực PiDu rộng rãi trong chăn nuôi trang trại.
Khuyến khích sử dụng lợn đực lai PiDu25 để nâng cao năng suất sinh trƣởng. Khuyến
khích sử dụng lợn đực lai PiDu50 và PiDu75 để nâng cao năng suất sinh sản, năng suất thân
thịt và chất lƣợng thịt trong chăn nuôi lợn ở miền Bắc Việt Nam.
Luận án đã hoàn thành và đạt đƣợc kết quả phù hợp với mục tiêu và nội dung
nghiên cứu đặt ra. Về mặt khoa học, luận án đã có những đóng góp nhất định xây dựng
phƣơng pháp nghiên cứu, luận cứ khoa học và có ý nghĩa thực tiễn giúp các cơ sở chăn
nuôi xác định tổ hợp lai thích hợp nhằm nâng cao năng suất sinh sản, năng suất và chất lƣợng thịt góp phần phát triển việc sử dụng lợn đực giống PiDu trong sản xuất chăn
nuôi lợn ở miền Bắc Việt Nam nhằm cung cấp cho thị trƣờng những sản phẩm có chất
lƣợng cao.
ix
THESIS ABSTRACT
I/ General information
PhD student: Pham Thi Dao Thesis title: Effects of crossbred boars (Piétrain Re-Hal x Duroc) with different genotype components on reproductive performance of crossbred sows F1(Landrace Yorkshire) and productive performance and meat quality of fattening pigs
Code number: 62.62.01.05
Specialized: Animal Science Education organization: Vietnam National University of Agriculture
II/ Summary
1. Objective of the research
The study aimed at identifying which genotype types of crossbred PiDu boars
were appropriate for crossbreeding with crossbred sows F1(Landrace Yorkshire) to
increase the sows’ reproductive performance, fattening pigs’ growth rate, lean
percentage and meat quality.
2. Research materials
Crossbred PiDu boars that have 25%, 50% and 75% of genotype of Piétrain Re-Hal
3. Research methods
The following methods have been applied in this research:
- Survey method: Based on the provincial statistical data about the number of
pig farms, two representative pig farms (one in Cam Giang district , another in
Haiduong city) and one pig farm in Van Giang district, Hung Yen province were
selected for the research on crossbreeding (3 crossbreds). These farms had all necessary
facilities for implementing the research.
- Experimental design: The experiment was conducted by a completely
randomized design. The feeding program and management of sows and growing pigs
were all the same among the farms.
- The standard methods were applied to measure the sow’s reproductive performance and growth productivity of the growing pigs born in three crossbred
between sows F1(LandraceYorkshire) and crossbred boars (PiDu25, PiDu50 và
PiDu75).
-The carcass quality was measured at the laboratory of Department of Animal
Genetics and Breeding and Central Laboratory of Faculty of Animal Science, Vietnam
National University of Agriculture
- Data was analysed by statistical biostatistics using SAS 9.1 sofware
x
4. Results and conclusions
- The study had a significantly scientific contribution in term of productive
performance of crossbred boars PiDu raising in the farming condition in Vietnam
- The study has reviewed a wide range of literature about related aspects of pig
production such as: Principle genetics and breeding; reproductive indicators and factors
affecting reproductive performance of sows; indicators for determining pig’s growth,
carcass productivity and quality; current research results and application of Piétrain Re-
Hal and Duroc boar breeds in Vietnam and other countries.
- The research has identified several factors affecting the reproductive
performance of sows F1 (LandraceYorkshire) crossed with PiDu boars with different
genotype components. Several factors affecting growth perfomance and meat quality of
growing pigs born in three crossbreds has also been examined.
- The reproductive performance of sows F1 (LandraceYorkshire) crossed with
boars PiDu having different genotype components has been evaluated in this study.
- This study was also identified the growth perfomance, feed conversion
efficiency, meat productivity and quality of fattening pigs born in different crossbreed
combinations between sows F1(Landrace Yorkshire) and PiDu boars with different
genotype components. In three crossbreed combinations, the fattening pigs had a high
growth rate, a good meat quality that meets the pork standard requirements about
several parameters such as pH, drip loss, color, tenderness and meat chemical
composition.
- Based on the research results, the study has suggested to applying and
developing the crossbred PiDu boars in the pig production of farms. The crossbred
PiDu25 boar is recommended for promoting the growth perfomance. The crossbred
PiDu50 and PiDu75 boar should be used to cross with sows to improve sow
reproductive performance, carcass productivity and quality of pigs in pig production in
North of Vietnam.
The study has completed and achieved good results that are appropriate with the research objectives and contents. In the scientific point of view, the study has a
significant contribution in term of research methodology and scientific references.
Moreover, the study plays an important role to make several recommendations about
selecting appropriate genotype combinations in order to improve sow reproductive
performance, growth productivity and meat quality. According to results of the study,
the PiDu boars will be applied and developed widely in pig farms, contributing to the
development of pig production in North of Vietnam and help to produce high quality
pork for consumers in the market.
xi
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Chăn nuôi lợn ở Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong cung cấp thực
phẩm cho xã hội. Trong thời gian qua, ngành chăn nuôi lợn đang có những thay
đổi đáng kể, theo Trung tâm tin học và thống kê, Bộ Nông nghiệp & PTNT (2014), tính đến ngày 1 tháng 10 năm 2014, tổng đàn lợn trong cả nƣớc đạt 26,80
triệu con, tăng 1,9% so với năm 2013. Chất lƣợng con giống từng bƣớc đƣợc cải
tạo theo hƣớng nạc hoá đàn lợn, thể hiện thông qua tỷ lệ lợn ngoại và lợn lai
nhiều giống ngoại ngày càng tăng trong tổng đàn lợn.
Trƣớc yêu cầu ngày càng cao của thị trƣờng về số lƣợng và chất lƣợng, rất
cần đến các giải pháp công nghệ phù hợp và qui mô sản xuất đủ lớn để đáp ứng
nhu cầu ngƣời tiêu dùng trong nƣớc và phục vụ xuất khẩu.
Để có đƣợc đàn lợn thịt có tốc độ tăng trƣởng nhanh và đạt tỷ lệ thịt nạc ở mức tối đa của phẩm giống, bên cạnh nâng cao tiến bộ di truyền, chọn lọc tốt, cải
tiến chế độ chăm sóc nuôi dƣỡng và điều kiện chuồng trại... thì việc tạo ra những
tổ hợp lai trên cơ sở kết hợp đƣợc một số đặc điểm tốt của mỗi giống, dòng cao
sản và đặc biệt sử dụng triệt để ƣu thế lai của chúng là rất cần thiết. Nhiều công
trình nghiên cứu ở trong và ngoài nƣớc, cũng nhƣ thực tiễn của sản xuất đã
khẳng định những tổ hợp lai nhiều giống khác nhau đều có xu hƣớng tăng số con
sơ sinh sống mỗi ổ, nâng cao khả năng sinh trƣởng, giảm chi phí thức ăn cho mỗi
kg tăng khối lƣợng, nâng cao tỷ lệ và chất lƣợng thịt nạc. Hầu hết các nƣớc có
nền chăn nuôi lợn phát triển trên thế giới đều sử dụng các tổ hợp lai để sản xuất
hàng thƣơng phẩm, mang lại năng suất và hiệu quả kinh tế cao, giảm chi phí thức
ăn, tiết kiệm thời gian nuôi.
Khi nghiên cứu trên con lai giữa nái Yorkshire với đực Piétrain và Landrace, Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006a) kết luận rằng tổ hợp
lai Piétrain Landrace có khối lƣợng sơ sinh/con và khối lƣợng cai sữa/con cao
hơn so với tổ hợp lai Landrace Yorkshire; tăng khối lƣợng trung bình trong
thời gian nuôi thịt, tỷ lệ móc hàm và tỷ lệ thịt nạc ở tổ hợp lai Piétrain
Yorkshire cũng có xu hƣớng cao hơn nhƣng tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lƣợng
lại thấp hơn.
1
Năng suất sinh sản của các tổ hợp lai giữa nái Landrace, Yorkshire và
F1(LY) phối với đực PiDu là tƣơng đối cao, ổn định và không có sự sai khác rõ rệt giữa 3 tổ hợp lai (Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thuý, 2009). Tác giả cũng
khẳng định rằng con lai có sự tham gia của đực PiDu có sức sinh trƣởng tƣơng
đối cao, đặc biệt con lai 4 giống (PiDu LY) có xu hƣớng thể hiện đƣợc ƣu thế
lai về tăng khối lƣợng so với con lai 3 giống (PiDu Y và PiDu L).
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010) cũng cho rằng năng suất sinh sản, sinh trƣởng và năng suất thịt của tổ hợp lai 4 giống cao hơn và tiêu tốn thức ăn thấp hơn so với tổ hợp lai 2 giống. Nên sử dụng lợn đực PiDu phối
với nái F1(LY) để đạt đƣợc năng suất cao hơn trong thực tế (Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn, 2010). Việc sử dụng đực PiDu phối với nái ngoại (Landrace,
Yorkshire và LY) đạt đƣợc năng suất cao nhƣng vẫn đảm bảo đƣợc chất lƣợng
thịt tốt (Phan Xuân Hảo và Nguyễn Văn Chi, 2010; Nguyễn Văn Thắng và Vũ
Đình Tôn, 2010).
Lợn đực Piétrain có ƣu điểm tỷ lệ thịt nạc cao, nhƣng tốc độ sinh trƣởng
chậm hơn. Trong khi đó, đực Duroc có tốc độ sinh trƣởng nhanh hơn, lƣợng mỡ giắt trong thịt nạc lớn hơn. Để tận dụng ƣu điểm và hạn chế tối đa những nhƣợc
điểm của 2 dòng đực này, sử dụng đực lai giữa Piétrain và Duroc là giải pháp tốt
nhất, vừa tận dụng đƣợc ƣu thế lai của con đực nhằm nâng cao năng suất chăn
nuôi vừa cải thiện đƣợc chất lƣợng sản phẩm.
Dòng đực Piétrain cổ điển do sự tồn tại của allene lặn n nằm ở locus
halothan (Ollivier et al., 1975), cho nên lợn dễ bị stress và tỷ lệ thịt PSE (Pale, Soft, Excudative) cao đã làm cho chất lƣợng thịt kém. Khoa Thú y, Trƣờng Đại
học Liège đã tạo ra dòng lợn Piétrain Re-Hal, một allen C từ locus halothan của
giống lợn Large White đƣợc chuyển vào bộ gen của Piétrain cổ điển (Hanset et
al., 1995; Leroy et al., 1999, 2000) và dòng lợn kháng stress này có thƣơng hiệu
là Piétrain Re-Hal.
Các nghiên cứu trong nƣớc đã khẳng định các con lai với sự tham gia của lợn đực lai PiDu có sức sinh trƣởng cao, tiêu tốn thức ăn thấp, chất lƣợng thịt đảm bảo (Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thuý, 2009; Nguyễn Văn Thắng và Vũ
Đình Tôn, 2010; Phan Xuân Hảo và cs., 2009).
Tuy nhiên trong các nghiên cứu về sử dụng lợn đực lai PiDu, các tác giả chƣa đề cập đến thành phần di truyền tham gia của giống Piétrain và Duroc là
2
bao nhiêu. Việc xác định rõ thành phần di truyền tham gia của Piétrain và Duroc là rất quan trọng. Với các thành phần di truyền khác nhau có thể phù hợp với
từng điều kiện chăn nuôi khác nhau là vấn đề cần đƣợc nghiên cứu.
1.2. MỤC TIÊU
1.2.1. Mục tiêu chung
Xác định đƣợc lợn đực lai PiDu có thành phần di truyền phù hợp phối
giống với lợn nái lai F1(Landrace Yorkshire) nhằm nâng cao năng suất sinh sản, sinh trƣởng, tỷ lệ thịt nạc và đảm bảo đƣợc chất lƣợng thịt.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá đƣợc năng suất sinh sản của lợn nái lai F1(Landrace Yorkshire)
phối giống với lợn đực lai PiDu25, PiDu50 và PiDu75.
- Đánh giá đƣợc khả năng sinh trƣởng, tiêu tốn thức ăn của các con lai thƣơng phẩm đƣợc tạo ra từ lợn đực lai PiDu25, PiDu50 và PiDu75 phối với lợn
nái lai F1(Landrace Yorkshire).
- Đánh giá đƣợc năng suất thân thịt và chất lƣợng thịt của các con lai
thƣơng phẩm đƣợc tạo ra từ lợn đực lai PiDu25, PiDu50 và PiDu75 phối với lợn
nái lai F1(Landrace Yorkshire).
- Xác định đƣợc tổ hợp lai thích hợp và góp phần phát triển việc sử dụng lợn đực lai PiDu trong sản xuất chăn nuôi lợn.
1.3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Cung cấp các thông tin khoa học liên quan đến năng suất sinh sản của lợn
nái F1(Landrace Yorkshire) đƣợc phối giống với lợn đực lai PiDu có thành phần di truyền khác nhau và năng suất sinh trƣởng, chất lƣợng thịt của các con
lai từ các tổ hợp lai này.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Giúp các cơ sở chăn nuôi xác định tổ hợp lai thích hợp nhằm nâng cao năng suất sinh sản, năng suất và chất lƣợng thịt góp phần phát triển việc sử dụng
lợn đực lai PiDu trong sản xuất chăn nuôi lợn ở miền Bắc Việt Nam.
- Đóng góp thêm dữ liệu về năng suất và chất lƣợng sản phẩm của các tổ
hợp lai trong chăn nuôi lợn để sử dụng trong nghiên cứu khoa học, chuyển giao
kỹ thuật và giảng dạy học tập.
3
1.4. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
- Đánh giá đƣợc sự khác biệt về năng suất sinh sản của lợn nái lai
F1(Landrace Yorkshire) khi phối giống với lợn đực lai PiDu 25, 50 và 75% thành phần di truyền của đực Piétrain Re-Hal.
- Đánh giá đƣợc sự khác biệt về năng suất, chất lƣợng thịt của 3 tổ hợp lai
giữa đực lai PiDu 25, 50 và 75% thành phần di truyền của đực Piétrain Re-Hal
với lợn nái lai F1(Landrace Yorkshire).
4
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LAI GIỐNG
2.1.1. Tính trạng số lƣợng và các yếu tố ảnh hƣởng 2.1.1.1. Tính trạng số lượng
Tính trạng số lƣợng là những tính trạng mà ở đó sự sai khác giữa các cá
thể là sự sai khác về mức độ mà theo Darwin thì sự khác nhau này là nguồn vật liệu cho quá trình chọn lọc tự nhiên cũng nhƣ chọn lọc nhân tạo (dẫn theo
Nguyễn Văn Thiện, 1995).
Tính trạng số lƣợng có các đặc trƣng sau:
- Các tính trạng số lƣợng chịu ảnh hƣởng bởi rất nhiều gen, mỗi gen chỉ có
một tác động nhỏ.
- Các tính trạng số lƣợng chịu ảnh hƣởng rất lớn bởi điều kiện môi trƣờng.
- Có thể xác định các giá trị của tính trạng số lƣợng bằng các phép đo.
- Các giá trị quan sát đƣợc của các tính trạng số lƣợng là các biến biến
thiên liên tục.
Phần lớn các tính trạng có giá trị kinh tế của vật nuôi đều là các tính trạng
số lƣợng (Nguyễn Văn Thiện, 1995). Cho đến nay, di truyền học số lƣợng đã
đƣợc nhiều nhà di truyền học và thống kê bổ sung, nâng cao và trở thành môn
khoa học có cơ sở khoa học vững chắc, đƣợc ứng dụng rộng rãi vào việc cải tiến
di truyền các giống vật nuôi (Nguyễn Văn Thiện, 1995; Petrop, 1984).
2.1.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới tính trạng số lượng
Theo Nguyễn Văn Thiện (1995), biểu hiện bề ngoài hoặc các đặc tính
khác của một cá thể đƣợc gọi là kiểu hình của cá thể đó đối với tính trạng số lƣợng cũng nhƣ tính trạng chất lƣợng. Kiểu hình này do kiểu gen và môi trƣờng
gây ra:
P = G + E
Trong đó, P: giá trị kiểu hình; G: giá trị kiểu gen; E: sai lệch môi trƣờng.
Kiểu hình do các gen chi phối thuộc ít nhất 2 locus trở lên đƣợc biểu thị:
P = A + D + I + Eg + Es
5
Trong đó, A: giá trị cộng gộp (giá trị giống); D: sai lệch trội; I: sai lệch tƣơng tác (sai lệch át gen); Eg: sai lệch môi trƣờng chung; Es: sai lệch
môi trƣờng riêng.
Nhƣ vậy, muốn cải tiến năng suất của vật nuôi có thể tác động bằng những
biện pháp khác nhau:
+ Tác động về mặt di truyền (G).
- Tác dụng vào hiệu ứng cộng gộp (A) bằng cách chọn lọc.
- Tác động vào hiệu ứng trội (D) và át gen (I) bằng cách lai giống.
+ Tác động về mặt môi trƣờng (E) bằng cách cải tiến điều kiện chăn nuôi:
dinh dƣỡng, chuồng trại, vệ sinh, chăm sóc...
2.1.1.3. Hệ số di truyền
Hệ số di truyền của tính trạng số lƣợng có vai trò quan trọng trong công tác
giống. Giá trị của hệ số di truyền cho ta một khái niệm về mức tiến triển có thể
đạt đƣợc khi tiến hành chọn lọc đối với một tính trạng nhất định.
Theo Phan Cự Nhân và cs. (1985), Nguyễn Văn Thiện (1995), các tính trạng
có hệ số di truyền thấp hiệu quả chọn lọc sẽ thấp, hiệu quả lai giống lại cao. Ngƣợc
lại, các tính trạng có hệ số di truyền cao, hiệu quả chọn lọc sẽ cao, hiệu quả lai giống
lại thấp.
Hệ số di truyền của một tính trạng số lƣợng là tỷ lệ giữa phần do gen quy
định với toàn bộ phần tạo nên giá trị kiểu hình. Hệ số di truyền có hai khái niệm:
hệ số di truyền theo nghĩa rộng và hệ số di truyền theo nghĩa hẹp.
* Hệ số di truyền theo nghĩa rộng
Hệ số di truyền theo nghĩa rộng (h2
G) đƣợc biểu thị bằng tỷ số giữa ), hoặc đƣợc biểu thị bằng
phƣơng sai di truyền ( ) và phƣơng sai kiểu hình (
hồi quy tuyến tính của giá trị di truyền theo giá trị kiểu hình, hoặc đƣợc biểu thị
bằng bình phƣơng của hệ số tƣơng quan giữa giá trị di truyền và giá trị kiểu hình.
Hệ số di truyền theo nghĩa rộng đƣợc biểu diễn bằng công thức:
Hệ số di truyền theo nghĩa rộng ít đƣợc sử dụng trong công tác giống vật
nuôi vì việc ƣớc tính phƣơng sai di truyền chỉ có thể thực hiện đƣợc thông qua
6
việc phân tích các cặp anh chị em sinh đôi cùng trứng. Hệ số di truyền theo nghĩa rộng đƣợc xác định qua việc phân tích các cặp anh chị em sinh đôi cùng trứng
thƣờng ở mức cao nên không phản ánh đúng khả năng di truyền của tính trạng
đƣợc xác định qua đời sau.
* Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp
Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp (h2
A) đƣợc biểu thị bằng tỷ số giữa ), hoặc đƣợc
phƣơng sai di truyền cộng gộp ( ) và phƣơng sai kiểu hình (
biểu thị bằng hồi quy tuyến tính của giá trị di truyền cộng gộp (giá trị giống) theo
giá trị kiểu hình, hoặc đƣợc biểu thị bằng bình phƣơng của hệ số tƣơng quan giữa
giá trị di truyền cộng gộp và giá trị kiểu hình. Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp
đƣợc biểu diễn bằng công thức:
Hệ số di truyền theo nghĩa hẹp biểu thị phần giá trị kiểu hình đƣợc quy
định bởi các gen truyền đạt từ thế hệ bố mẹ cho thế hệ con. Hệ số di truyền theo
nghĩa hẹp thƣờng đƣợc dùng nhiều trong công tác giống vật nuôi hơn là hệ số di
truyền theo nghĩa rộng.
2.1.2. Lai giống và ƣu thế lai 2.1.2.1. Lai giống
Lai giống là cho giao phối giữa những động vật thuộc hai hay nhiều giống
khác nhau. Lai khác dòng là cho giao phối giữa những động vật thuộc các dòng
khác nhau trong cùng một giống. Mặc dù lai khác giống xa nhau về huyết thống
hơn lai khác dòng, song hiệu ứng di truyền của cả hai kiểu lai lại tƣơng tự nhau
(Lasley, 1974; Nguyễn Hải Quân và cs., 1995).
Lai giống làm cho tần số kiểu gen đồng hợp tử ở thế hệ sau giảm đi, còn
tần số kiểu gen dị hợp tử ở thế hệ sau tăng lên.
Lai giống là phƣơng pháp chủ yếu nhằm khai thác biến đổi di truyền của quần thể gia súc. Lai giống có những ƣu việt vì con lai thƣờng có ƣu thế lai đối
với một số tính trạng nhất định.
2.1.2.2. Ưu thế lai
Ƣu thế lai là khái niệm biểu thị sức sống của con lai vƣợt trội hơn cha mẹ, khi cha mẹ là những cá thể không có quan hệ huyết thống. Ƣu thế lai không chỉ
7
thể hiện ở sức chịu đựng mà còn bao gồm cả ƣu thế về sức sống, tốc độ sinh
trƣởng, khả năng cho sữa, khả năng sinh sản và tỷ lệ chết (Lasley, 1974).
Ƣu thế lai hay sức sống con lai hoàn toàn ngƣợc với suy thoái cận huyết.
Nói chung sự suy giảm sức sống do cận huyết đƣợc khắc phục trở lại khi lai
giống (Falconer, 1993).
Thuật ngữ ƣu thế lai đƣợc nhà di truyền học ngƣời Mỹ Shull (1914) đƣa ra
và đƣợc Snell (1961) thảo luận trong nhân giống (Nguyễn Văn Thiện, 1995;
Nguyễn Hải Quân và cs., 1995) nhƣ sau: Ƣu thế lai là sự hơn hẳn của đời con đối với trung bình của đời bố mẹ. Có thể hiểu ƣu thế lai là sức sống, sức miễn kháng
đối với bệnh tật và các tính trạng sản xuất của con lai đƣợc nâng cao, khả năng
lợi dụng thức ăn tốt.
Có thể giải thích ƣu thế lai bằng các giả thiết:
- Thuyết trội: Giả thiết này cho rằng mỗi bên cha mẹ có những cặp gen trội đồng hợp tử khác nhau. Khi tạp giao ở thế hệ F1 sẽ có các gen trội ở tất cả các locus. Nếu bố có kiểu gen AABBCCddeeff và mẹ có kiểu gen aabbccDDEEFF thì thế hệ F1 sẽ có kiểu gen: AaBbCcDdEeFf.
Do tính trạng số lƣợng đƣợc quyết định bởi nhiều gen, nên xác suất xuất hiện một kiểu gen đồng hợp tử hoàn toàn là thấp. Ngoài ra, vì sự liên kết giữa các
gen trội và lặn trên cùng một nhiễm sắc thể, nên xác suất tổ hợp đƣợc kiểu gen
tốt nhất cũng thấp.
- Thuyết siêu trội: Mỗi một alen trong một locus sẽ thực hiện chức năng
riêng của mình. Ở trạng thái dị hợp tử thì cả hai chức năng này đồng thời đƣợc
biểu lộ. Mỗi gen có một khả năng tổng hợp riêng, quá trình này đƣợc thực hiện trong những điều kiện môi trƣờng khác nhau. Do vậy kiểu gen dị hợp tử sẽ có
khả năng thích nghi tốt hơn với những thay đổi của môi trƣờng.
- Tƣơng tác gen: Tƣơng tác giữa các gen trong cùng một locus dẫn tới
hiện tƣợng trội không hoàn toàn. Tƣơng tác giữa các gen trong các locus khác nhau, bao gồm vô số các kiểu tƣơng tác phức tạp, đa dạng, phù hợp với tính chất
phức tạp, đa dạng của sinh vật.
Cơ sở thống kê của ƣu thế lai
Cơ sở thống kê của ƣu thế lai do Falconer đƣa ra từ năm 1964. Ƣu thế lai ở F1: HF1 = dy2, trong đó d là giá trị của kiểu gen dị hợp tử, y là sai khác về tần
8
số gen giữa 2 quần thể bố mẹ. Ƣu thế lai sinh ra bởi ảnh hƣởng đồng thời của tất cả các locus là tổng của tất cả các giá trị riêng rẽ của từng locus: HF1 = dy2. Nhƣ vậy, ƣu thế lai ở F1 phụ thuộc vào giá trị của các kiểu gen dị hợp tử và sự khác biệt về tần số gen giữa hai quần thể.
Ƣu thế lai ở F2: HF2 = 1/2dy2, do đó HF2 = 1/2 HF1
Thay đổi trung bình từ F1 đến F2 cũng đƣợc coi nhƣ là hiện tƣợng suy hoá cận huyết. Theo Falconer (1993), ƣu thế lai ở F1, F2 có thể phức tạp do ảnh hƣởng của mẹ. Chẳng hạn, tính trạng số con trong ổ của lợn. Ƣu thế lai quan sát đƣợc ở F1 không có đóng góp của mẹ. Ở F2, mặc dù ƣu thế lai mất đi một nửa nhƣng lại có ảnh hƣởng ƣu thế lai của mẹ, do mẹ là con lai F1.
Ảnh hƣởng của mẹ bao gồm tất cả những đóng góp, những ảnh hƣởng tốt
hoặc xấu do kiểu hình mẹ gây ra đối với kiểu hình của đời con. Ảnh hƣởng của
mẹ đối với kiểu hình của đời con có thể do những sự khác nhau về di truyền, về
ngoại cảnh hoặc sự phối hợp khác nhau giữa di truyền và ngoại cảnh của những
cá thể mẹ khác nhau gây ra. Ảnh hƣởng của mẹ có thể đƣợc thực hiện trong quá
trình thụ tinh, có chửa và tiết sữa nuôi con. Các ảnh hƣởng này có thể chỉ xuất hiện tức thời, song cũng có thể kéo dài suốt đời của con vật và đƣợc thực hiện
bởi nhiều cơ chế sinh học khác nhau. Theo Đặng Vũ Bình (2002), có 5 loại ảnh
hƣởng của mẹ:
- Ảnh hƣởng của nguyên sinh chất nhƣng không phải là ADN ngoài nhân.
- Ảnh hƣởng của nguyên sinh chất do ADN ngoài nhân.
- Ảnh hƣởng của mẹ trong giai đoạn trƣớc khi đẻ.
- Ảnh hƣởng của mẹ thông qua sự truyền kháng thể từ mẹ sang con.
- Ảnh hƣởng của mẹ sau khi sinh.
Theo Dickerson (1974), khi lai giữa hai giống con lai chỉ có ƣu thế lai cá thể. Khi lai 3 giống, nếu dùng đực của giống thuần giao phối với nái lai, con lai có cả ƣu thế lai cá thể và ƣu thế lai của mẹ, do mẹ là con lai F1. Nếu dùng đực lai giao phối với nái của giống thứ 3, con lai có ƣu thế lai cá thể và ƣu thế lai của bố, do bố là con lai F1. Trong lai 4 giống, con lai có cả ƣu thế lai cá thể, cả ƣu thế lai của mẹ và ƣu thế lai của bố.
Sử dụng các phƣơng pháp của Dickerson (1972) đƣa ra phƣơng trình dự
tính năng suất ở con lai với các tổ hợp lai.
9
- Lai 2 giống:
MA = M + gA + mA + pA
MB = M + gB + mB + pB
MAB = M + 1/2 gA + 1/2 gB + mA + pB + hAB
MBA = M + 1/2 gA + 1/2 gB + mB + pA + hAB
Trong đó:
M: Trung bình của các giống tham gia.
MA, MB: Trung bình quần thể của giống A và B trong nhân giống thuần.
MAB, MBA: Trung bình của con lai từ tạp giao: cái A, đực B và ngƣợc lại.
gA, gB: Hiệu quả di truyền cộng gộp của các gen đối với giống A và B.
mA, mB: Hiệu quả của mẹ giống A và B.
pA, pB: Hiệu quả của bố giống A và B.
hAB: Hiệu quả ƣu thế lai giữa giống A và B.
- Lai 3 giống:
MAB.C = M + 1/4 (2 gC + gA + gB) + 1/2 (hAC + hBC)+ 1/2(mA + mB) + hmAB
+ pC + 1/4 rAB
Trong đó:
hAC: Hiệu quả ƣu thế lai giữa A và C; B và C.
hmAB: Hiệu quả ƣu thế lai của mẹ giữa giống A và B.
rAB: Hiệu quả của sự tái tổ hợp giữa giống A và B.
pC: Hiệu quả của bố giống C.
gC: Hiệu quả di truyền cộng tính của gen đối với giống C.
Để tính toán ƣu thế lai đối với một tính trạng nhất định từ các giá trị trung bình của đời con và giá trị trung bình của bố mẹ, Minkema (1974) đã đƣa
ra công thức:
1/2(BA + AB) – 1/2(AA + BB)
H (%) = x100 1/2 (AA + BB)
Trong đó, H: ƣu thế lai; BA: F1(bố B mẹ A); AB: F1(bố A mẹ B);
AA: bố A mẹ A; BB: bố B mẹ B)
10
2.1.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến ưu thế lai a) Tổ hợp lai
Ƣu thế lai đặc trƣng cho mỗi tổ hợp lai. Theo Trần Đình Miên và cs.
(1994), mức độ ƣu thế lai đạt đƣợc có tính cách riêng biệt cho từng cặp lai cụ thể. Theo Trần Kim Anh (2000), ƣu thế lai của mẹ có lợi cho đời con, ƣu thế lai của
lợn nái ảnh hƣởng đến số con/ổ và tốc độ sinh trƣởng của lợn con. Ƣu thế lai cá
thể ảnh hƣởng đến sinh trƣởng và sức sống của lợn con, đặc biệt ở giai đoạn sau
cai sữa. Ƣu thế lai của bố thể hiện ở tính hăng của con đực, kết quả phối giống,
tỷ lệ thụ thai. Khi lai hai giống số lợn con cai sữa/nái/năm tăng 5-10%, khi lai ba
giống hoặc lai trở ngƣợc số lợn con cai sữa/nái/năm tăng tới 10-15%, số con cai sữa/ổ nhiều hơn 1,0-1,5 con và khối lƣợng cai sữa/con tăng đƣợc 1 kg ở 28 ngày
tuổi so với giống thuần (Colin, 1998).
b) Tính trạng
Ƣu thế lai phụ thuộc vào tính trạng, có những tính trạng có khả năng di
truyền cao nhƣng cũng có những tính trạng có khả năng di truyền thấp. Những tính
trạng liên quan đến khả năng nuôi sống và khả năng sinh sản có ƣu thế lai cao
nhất. Các tính trạng có hệ số di truyền thấp thƣờng có ƣu thế lai cao, vì vậy để cải
tiến các tính trạng này, so với chọn lọc, lai giống là một biện pháp nhanh hơn, hiệu
quả hơn.
Một số tính trạng ở lợn có ƣu thế lai khác nhau: số con đẻ ra/ổ có ƣu thế
lai cá thể là 2%, ƣu thế lai của mẹ là 8%; số con cai sữa/ổ có ƣu thế lai cá thể
9%, ƣu thế lai của mẹ 11%; khối lƣợng cả ổ ở 21 ngày tuổi có ƣu thế lai cá thể
12%, ƣu thế lai của mẹ 18% (Richard, 2000).
c) Sự khác biệt giữa bố và mẹ
Ƣu thế lai phụ thuộc vào sự khác biệt giữa hai giống đem lai, hai giống càng khác biệt với nhau về di truyền bao nhiêu thì ƣu thế lai thu đƣợc khi lai giữa chúng
càng lớn bấy nhiêu (Phan Cự Nhân và cs., 1985). Lasley (1974) cho biết, nếu các giống hay các dòng đồng hợp tử đối với một tính trạng nào đó thì mức dị hợp tử cao nhất là ở F1, với sự phân ly của các gen trong các thế hệ sau mức độ dị hợp tử sẽ giảm dần.
Các giống càng xa nhau về điều kiện địa lý, ƣu thế lai càng cao. Ƣu thế lai của một tính trạng nhất định phụ thuộc đáng kể vào ngoại cảnh. Có nhiều yếu tố
ngoại cảnh ảnh hƣởng đến gia súc, cũng nhƣ ảnh hƣởng đến biểu hiện của ƣu thế lai.
11
2.2. CÁC CHỈ TIÊU SINH SẢN VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH SẢN Ở LỢN NÁI
2.2.1. Các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái
Một yêu cầu quan trọng trong chăn nuôi lợn nái là phải tăng khả năng
sinh sản nhằm đáp ứng yêu cầu cả về số lƣợng và chất lƣợng lợn cho khâu sản
xuất lợn thịt.
Ngƣời ta thƣờng quan tâm tới một số tính trạng năng suất sinh sản nhất
định, đây cũng là các chỉ tiêu quan trọng trong chăn nuôi lợn nái sinh sản.
Gordon (2004) và Legault (1980) cho rằng, trong các trại chăn nuôi hiện
đại, số lợn con cai sữa do một nái sản xuất trong một năm là chỉ tiêu đánh giá đúng
đắn nhất năng suất sinh sản của lợn nái. Tác giả cũng cho biết tầm quan trọng của
các thành phần cấu thành ảnh hƣởng đến chỉ tiêu số lợn con cai sữa do một nái sản
xuất trong một năm lần lƣợt là: số con đẻ ra trong ổ, tỷ lệ chết của lợn con từ sơ
sinh đến cai sữa, thời gian bú sữa, tuổi đẻ lứa đầu và thời gian từ cai sữa đến khi
thụ thai lứa sau. Theo Ducos (1994), các thành phần đóng góp vào chỉ tiêu số con
còn sống khi cai sữa gồm: số trứng rụng, tỷ lệ sống khi sơ sinh và tỷ lệ lợn con
sống tới lúc cai sữa.
Mabry et al. (1997) cho rằng, các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu
của lợn nái bao gồm: số con đẻ ra/ổ, số con cai sữa/ổ, khối lƣợng toàn ổ ở 21
ngày tuổi và số lứa đẻ/nái/năm. Các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu này có
tầm quan trọng về mặt kinh tế và ảnh hƣởng đến lợi nhuận của ngƣời sản xuất
lợn giống cũng nhƣ ngƣời nuôi lợn thƣơng phẩm.
2.2.2. Các yếu tố ảnh hƣởng đến khả năng sinh sản của lợn nái
Năng suất sinh sản của lợn nái có mối quan hệ chặt chẽ và phụ thuộc vào
2 yếu tố: di truyền và ngoại cảnh.
2.2.2.1. Yếu tố di truyền
Giống là yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đến các chỉ tiêu sinh sản ở lợn nái
(Venanzi et al., 1997; Đặng Vũ Bình, 1999; Hamann et al., 2004).
Năng suất sinh sản của lợn nái bao gồm các tính trạng vốn có hệ số di truyền nhỏ, lại thƣờng không tạo đƣợc áp lực chọn lọc cần thiết nên hiệu quả của chọn lọc rất thấp. Các tính trạng năng suất sinh sản có hệ số biến động khá cao. Tƣơng quan
giữa số con/ổ và khối lƣợng toàn ổ cũng nhƣ giữa khối lƣợng toàn ổ và khối lƣợng
trung bình một con lợn con là dƣơng và chặt chẽ, nhƣng giữa số con và khối lƣợng
12
trung bình một một lợn con là âm và chặt chẽ (Đặng Vũ Bình, 1995).
Yếu tố di truyền phụ thuộc vào đặc tính con giống, các giống lợn khác
nhau thì có năng suất khác nhau. Theo Rydhmer et al. (1995) hệ số di truyền
( ) tính trạng tuổi đẻ lứa đầu, số con đẻ ra sống/ổ và khoảng cách lứa đẻ lần lƣợt là: 0,27; 0,13; 0,08. Theo Tolle et al. (1999) cũng cho hệ số di truyền của chỉ
tiêu số con đẻ ra sống và số con cai sữa/ổ là 0,09-0,12 và 0,05-0,07.
Theo nghiên cứu của Legault (1985 )(dẫn theo Rothschild and Bidanel, 1998), căn cứ vào khả năng sinh sản, sức sản xuất thịt, các giống lợn chia làm 4
nhóm chính:
- Các giống đa dụng nhƣ Y, L và một số dòng nguyên chủng đƣợc xếp vào
loại có khả năng sản xuất thịt và sinh sản khá.
- Các giống chuyên dụng "dòng bố" nhƣ Pi, L của Bỉ, Hampshire, Poland,
China có khả năng sinh sản trung bình nhƣng khả năng sản xuất thịt cao
- Các giống chuyên dụng "dòng mẹ", đặc biệt một số giống chuyên sản
của Trung Quốc nhƣ Taihu (điển hình là Meishan) có khả năng sinh sản đặc biệt
cao nhƣng khả năng cho thịt kém.
- Các giống địa phƣơng có đặc tính chung là khả năng sinh sản và sức sản
xuất thịt kém, song có khả năng thích nghi tốt với môi trƣờng.
Các giống "dòng bố" thƣờng có khả năng sinh sản thấp hơn so với các giống đa dụng, ngoài ra chúng có chiều hƣớng hơi kém về khả năng nuôi con, tỷ lệ lợn con
chết trƣớc khi cai sữa của giống này cao hơn so với L và Y (Blasco et al., 1995).
Lengerken and Pfeiffer (1987) cho biết lợn nhạy cảm với stress có khả
năng cho nạc cao song khả năng sinh sản bị hạn chế, giảm thời gian sử dụng đối
với gia súc giống, kết quả thụ thai thấp và tỷ lệ hao hụt cao trong quá trình chăn
nuôi và vận chuyển. Nhƣng Biedermann et al. (1998) không thấy ảnh hƣởng của gen halothan đối với khả năng sinh sản ở lợn nái.
Tỷ lệ lợn con bị chết sau khi đẻ trung bình là 11% (6-13%), trong đó 7% là do bị mẹ đè (Grandinson et al., 2003). Colin (1998) cho biết: Tỷ lệ lợn con bị chết ngay sau khi sinh chiếm 2-10%, có thể 11% chết trong tuần tuổi đầu tiên. Trung bình tỷ lệ lợn con chết từ khi đẻ ra cho tới khi cai sữa là 12% (5-25%). Tỷ
lệ lợn con chết trƣớc khi cai sữa chiếm tới 60,10% ở ngày đầu tiên; 23,6% từ
ngày 2-7 sau đẻ và 16,2% sau 7 ngày (Gordon, 2004).
13
Nhƣ vậy năng suất sinh sản của lợn nái chịu ảnh hƣởng của giống và các thể, mỗi một giống có một đặc tính sản xuất gắn liền với năng suất và hiệu quả
kinh tế của nó, giống khác nhau thì có năng suất khác nhau.
2.2.2.2. Các yếu tố ngoại cảnh
Nhiều kết quả nghiên cứu đã khẳng định có nhiều yếu tố ảnh hƣởng tới
khả năng sinh sản của lợn nái nhƣ: chế độ nuôi dƣỡng, tuổi, khối lƣợng phối,
phƣơng thức phối, lứa đẻ, mùa vụ, nhiệt độ môi trƣờng, thời gian chiếu sáng,
bệnh tật... (Riha et al., 2000; Sohst, 1997).
- Chế độ nuôi dƣỡng
Dinh dƣỡng là yếu tố hết sức quan trọng để đảm bảo khả năng sinh sản
của lợn nái. Lợn nái và lợn cái hậu bị có chửa cần đƣợc cung cấp đủ về số và
chất lƣợng các chất dinh dƣỡng để có kết quả sinh sản tốt.
Rothschild and Bidanel (1998) cho biết các mức ăn khác nhau trong giai đoạn
từ cai sữa đến phối giống trở lại có ảnh hƣởng tới tỷ lệ thụ thai. Yamada et al.
(1998) nhận thấy nuôi dƣỡng hạn chế lợn cái trong giai đoạn hậu bị sẽ làm tăng
tuổi động dục lần đầu, tăng tỷ lệ loại thải so với nuôi dƣỡng đầy đủ. Nuôi dƣỡng
tốt lợn nái trƣớc khi động dục có thể làm tăng số lƣợng trứng rụng, tăng số phôi
sống (Ashworth et al., 2000).
Các nghiên cứu của Flowers et al. (1989), Rhoder et al. (1991) và Cassar
et al. (1994), cho biết áp dụng chế độ dinh dƣỡng ―Flushing‖ trong pha sinh
trƣởng của buồng trứng của lợn nái nên đã làm tăng số lƣợng trứng rụng (85% so
với 64%) và tăng lƣợng progesteron trong máu (10,5 ng so với 4,5 ng/ml) (dẫn
theo Gordon, 1997). Lodge and Hardy (1968) cho biết: tăng lƣợng thức ăn thu
nhận trong thời kỳ động dục có ảnh hƣởng đến số trứng rụng (dẫn theo Gordon,
1997). Brooks and Cole (1972) cho biết, lợn nái ăn gấp đôi lƣợng thức ăn ở giai
đoạn trƣớc khi phối giống và ở ngày phối giống so với bình thƣờng có tác dụng
làm tăng số lƣợng trứng rụng và số con đẻ ra /ổ (dẫn theo Gordon, 1997).
Nuôi dƣỡng lợn nái với mức cao ở thời kỳ chửa đầu có thể làm tăng tỷ lệ chết phôi ở lợn nái mới đẻ (Prunier et al., 2000), làm giảm 20-30% số phôi khi nuôi với mức dinh dƣỡng bình thƣờng (Whaley et al., 1997). Theo nghiên cứu của Cozler et al. (2000) và Pettigrew and Tokach (1991) cho biết nuôi dƣỡng lợn nái với mức năng lƣợng cao trong thời kỳ có chửa sẽ làm giảm mức thu nhận thức ăn trong thời kỳ tiết
sữa nuôi con và ngăn cản sự phát triển của tuyến vú (dẫn theo Gordon, 1997).
14
Nên cho lợn nái nuôi con ăn tự do để đáp ứng nhu cầu dinh dƣỡng. Giảm lƣợng thức ăn thu nhận khi nuôi con sẽ làm giảm khối lƣợng cơ thể, hậu quả là
thời gian động dục trở lại dài, giảm tỷ lệ thụ tinh và giảm số phôi sống (Brand et
al., 2000; Graham et al., 2000). Theo Chung et al. (1998), tăng lƣợng thức ăn thu
nhận ở lợn nái tiết sữa sẽ làm tăng sản lƣợng sữa và tăng khả năng tăng trọng của lợn con. Gordon (2004) cho biết: tăng lƣợng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa
ở giai đoạn đầu và giữa chu kỳ tiết sữa sẽ có tác dụng giảm thời gian động dục trở lại hơn là tăng lƣợng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn cuối,
tăng lƣợng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn giữa và cuối chu kỳ
tiết sữa sẽ có tác dụng tăng khối lƣợng cai sữa hơn là tăng ở giai đoạn đầu.
Mục tiêu của nuôi dƣỡng lợn nái là làm sao cho số ngày không sản xuất ít nhất, khối lƣợng cơ thể tăng phù hợp trong thời kỳ có chửa và có đƣợc khối
lƣợng cơ thể thích hợp trong thời kỳ nuôi con.
Robinson (1991), cho biết nuôi dƣỡng lợn nái trong thời kỳ tiết sữa nuôi
con với mức protein thấp trong khẩu phần sẽ làm tăng thời gian động dục trở lại
(dẫn theo Gordon, 1997). Theo Close et al. (1985) và Cole (1990), mức dinh
dƣỡng protein thấp trong thời kỳ chửa cuối sẽ làm cho lợn nái phải huy động dinh dƣỡng của cơ thể để nuôi thai (dẫn theo Clowes et al., 2003). Theo Pike and Boaz
(1969), mức dinh dƣỡng protein thấp trong thời kỳ chửa cuối sẽ làm giảm khả
năng tiết sữa của lợn mẹ, do đó dẫn đến lợn nái sinh sản kém (dẫn theo Gordon,
1997). Nuôi dƣỡng lợn nái trong thời kỳ tiết sữa nuôi con với mức lyzin thấp và
protein thấp sẽ làm suy yếu sự phát triển của bao noãn, giảm khả năng trƣởng
thành của tế bào trứng, giảm số con đẻ ra và số con sơ sinh sống/ổ (Yang et al.,
2000), tăng tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ và giảm tốc độ sinh trƣởng của lợn con
(Cheng et al., 2000). Podtereba (1997) xác nhận có 9 axit amin cần thiết đóng vai
trò quan trọng trong quá trình sinh sản và trong quá trình phát triển của phôi.
- Mùa vụ
Mùa vụ là yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đến khả năng sinh sản của lợn nái. Gaustad-Aas et al. (2004) cho biết mùa vụ có ảnh hƣởng đến số con đẻ ra/ổ. Mùa có nhiệt độ cao là nguyên nhân làm kết quả sinh sản ở lợn nái nuôi chăn thả thấp, tỷ lệ chết ở lợn con cao (Akos et al., 2004). Theo Quiniou et al. (2000), nhiệt độ cao làm lợn nái thu nhận thức ăn thấp, tỷ lệ hao hụt lợn nái tăng và tỷ lệ động dục
trở lại sau cai sữa giảm.
15
Tỷ lệ thụ thai bị ảnh hƣởng bởi nhiệt độ và mùa vụ. Lợn nái phối giống vào các tháng nóng có tỷ lệ thụ thai thấp, làm tăng số lần phối giống, giảm khả
năng sinh sản từ 5-20%. Nhiệt độ cao làm tăng tỷ lệ lợn nái không động dục,
giảm tỷ lệ thụ thai, giảm khả năng sống của thai (Pistoni, 1997). Nhiều nghiên
cứu đã chỉ rõ ảnh hƣởng của stress nhiệt đến khả năng sinh sản của lợn nái. Theo Pastison (1980) nhiệt độ cao làm cho tỷ lệ loại thải nái cao (30-50%) và làm thiệt
hại về kinh tế trong chăn nuôi nái sinh sản (dẫn theo Gordon, 1997). Nghiên cứu của Mauget (1982) nhận thấy từ tháng 7 đến tháng 11, lợn nái dễ dàng không
động dục (dẫn theo Gordon, 1997). Số con đẻ ra/ổ khi phối giống vào mùa hè có
thể ít hơn một con so với khi phối giống vào mùa thu, mùa đông (Peltoniemi et
al., 2000; Koketsu et al., 1998).
Các tác giả nhận thấy về mùa hè, nhiệt độ cao làm giảm tính nhạy cảm
bình thƣờng của chu kỳ động dục. Claus and Weiler (1985) cho biết từ tháng 5
đến tháng 8 khoảng cách từ khi cai sữa đến động dục trở lại ở lợn nái tăng so với
các tháng khác (dẫn theo Gordon, 1997) .
Prunier et al. (1994) cho thấy nhiệt độ cao làm giảm thu nhận thức ăn của
lợn nái đẻ (dẫn theo Gordon, 1997). Stress nhiệt có thể làm giảm tỷ lệ thụ thai tới 20%, giảm số phôi sống 20% và do đó làm giảm thành tích sinh sản của lợn nái
(Peltoniemi et al., 2000).
- Tuổi và lứa đẻ
Clark and Leman (1996) cho biết, tuổi và lứa đẻ đều là yếu tố quan trọng
ảnh hƣởng đến số con đẻ ra/ổ (dẫn theo Gordon, 1997). Lợn nái kiểm định có tỷ lệ
đẻ thấp hơn so với lợn nái sinh sản (Koketsu et al., 1998). Số lƣợng trứng rụng thấp
nhất ở chu kỳ động dục thứ nhất, tăng đến 3 tế bào trứng ở chu kỳ động dục thứ hai
và đạt tƣơng đối cao ở chu kỳ động dục thứ ba (Deckert et al., 1998). Theo Warrick
et al. (1989) cho biết, số con đẻ ra tƣơng quan thuận với số lƣợng trứng rụng (dẫn
theo Gordon, 1997).
Lứa đẻ là yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đến khả năng sinh sản của lợn nái vì có sự khác nhau về chức năng theo tuổi của lợn nái. Khả năng sinh sản của lợn nái thƣờng thấp nhất ở lứa đẻ thứ nhất, đạt cao nhất ở lứa đẻ 3, 4, 5 và sau đó gần nhƣ là ổn định hoặc hơi giảm khi lứa đẻ tăng lên. Venanzi et al. (1997) cho biết số con đẻ ra/ổ tăng từ lứa đẻ một đến lứa đẻ thứ tƣ, ở lứa đẻ thứ tám trở đi số lợn con mới đẻ bị chết tăng lên. Số con đẻ ra/ổ có quan hệ chặt chẽ đến tuổi của lợn
16
nái và giảm nhanh sau 4-5 tuổi. Lợn mới đẻ lứa đầu thƣờng hay sợ hãi, do đó tỷ lệ thụ thai thấp và tỷ lệ chết thai cao (Grandinson et al., 2003). Lợn đẻ lứa đầu
tiên thƣờng có số con đẻ ra, khối lƣợng sơ sinh nhỏ hơn so với những lứa đẻ sau
(Colin, 1998).
- Số lần phối và phƣơng thức phối giống
Nghiên cứu của Clark and Leman (1986) nhận thấy, số lần phối giống trong
một lần động dục ở lợn nái ảnh hƣởng tới số con đẻ ra/ổ (dẫn theo Gordon, 1997).
Clark and Leman (1986) cho biết, phối đơn trong một chu kỳ động dục ở lúc động dục cao nhất có thể đạt đƣợc số con đẻ ra/ổ cao, nhƣng phối hai lần trong một chu
kỳ động dục làm tăng số con đẻ ra/ổ (dẫn theo Gordon, 1997). Tilton and Cole
(1982) thấy rằng khi phối giống cho lợn nái trực tiếp ba lần, mỗi lần cách nhau 24
giờ tăng hơn 1,3 con/ổ so với phối hai lần (dẫn theo Gordon, 1997).
Theo Anon (1993), phối giống kết hợp giữa thụ tinh nhân tạo và nhảy trực
tiếp có thể làm tăng 0,5 lợn con so với phối riêng rẽ (dẫn theo Gordon, 1997).
Phối giống bằng thụ tinh nhân tạo, tỷ lệ thụ thai và số con đẻ ra/ổ đều thấp hơn
(0-10%) so với phối giống trực tiếp (Colin, 1998), nhƣng kết quả nghiên cứu của
Alexopoulos et al. (1997) lại ngƣợc lại.
- Thời gian cai sữa
Xue et al. (1993) phân tích 14.925 lứa đẻ của 39 đàn lợn nái ở Mỹ nhận
thấy, thời gian bú sữa của lợn con dài, lợn nái có số con sơ sinh và số con sơ sinh
sống/ổ cao, thời gian động dục trở lại ngắn, khoảng cách từ khi đẻ đến phối giống
trở lại dài, khoảng cách lứa đẻ dài (dẫn theo Gordon, 1997).
Gaustad-Aas et al. (2004) và Mabry et al. (1997) cho biết, phối giống sớm sau khi đẻ, tỷ lệ đẻ và số con đẻ ra/ổ thấp hơn so với phối giống muộn. Theo Gordon
(2004), giảm thời gian cai sữa từ 20 xuống 15 ngày sẽ làm giảm 0,2 con trong ổ,
giảm thời gian cai sữa từ 15 xuống 10 ngày sẽ làm giảm trên 0,2 con trong ổ.
Lợn nái cai sữa ở 28-35 ngày, thời gian động dục trở lại 4-5 ngày, có thể phối giống và có thành tích sinh sản tốt (Colin, 1998). Theo các tác giả Newport (1977) và Cole et al. (1975) cho biết, không nên phối giống cho lợn nái sớm hơn ba tuần sau khi đẻ, phối giống sớm sẽ làm giảm khả năng sinh sản của lợn nái
(dẫn theo Gordon, 1997).
Theo Tonn et al. (1995), lợn nái phối giống khi cai sữa lợn con sớm có số lƣợng trứng rụng thấp (15,9 so với 24,6) và số phôi ít ở ngày chửa thứ 11, lợn nái
17
cai sữa sớm có tỷ lệ thụ thai thấp, số phôi sống ít và thời gian động dục trở lại dài
(dẫn theo Gordon, 1997).
2.3. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ SINH TRƢỞNG, KHẢ NĂNG CHO THỊT, CHẤT LƢỢNG THỊT VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG
2.3.1. Các chỉ tiêu đánh giá sinh trƣởng, khả năng cho thịt và chất lƣợng thịt Để đánh giá năng suất và chất lƣợng thịt của lợn, ngƣời ta sử dụng các
nhóm chỉ tiêu nuôi vỗ béo, năng suất thân thịt và chất lƣợng thịt.
Theo Clutter and Brascamp (1998), các chỉ tiêu quan trọng đánh giá sinh
trƣởng của lợn thịt bao gồm: tăng trọng hàng ngày, thu nhận thức ăn, tiêu tốn
thức ăn, tốc độ tăng trƣởng thịt nạc, tiêu tốn thức ăn cho tăng trƣởng thịt nạc và
tuổi đạt khối lƣợng giết thịt. Giữa tăng trọng hàng ngày và tiêu tốn thức ăn có
mối tƣơng quan di truyền âm và chặt chẽ, r = -0,69- 0,99, giữa tăng trọng hàng
ngày và thu nhận thức ăn có mối tƣơng quan di truyền dƣơng, r = 0,28- 0,37
(Sellier, 1998).
Colin (1998) cho biết, các chỉ tiêu đánh giá chất lƣợng thân thịt quan trọng
là tỷ lệ thịt móc hàm, dài thân thịt, tỷ lệ thịt nạc hoặc tỷ lệ thịt nạc/mỡ, độ dày mỡ
lƣng và diện tích cơ thăn. Các chỉ tiêu đánh giá chất lƣợng thịt bao gồm: độ dai,
khả năng giữ nƣớc (tỷ lệ mất nƣớc), hao hụt khi nấu, năng suất chế biến, hàm
lƣợng glycogen, protein trong cơ, pH của cơ sau giết mổ 45 phút (pH45) và 24
giờ (pH24), màu sắc thịt, tính chất sợi cơ.... Trong đó các chỉ tiêu tỷ lệ mất nƣớc,
màu sắc thịt, pH thịt là quan trọng nhất.
2.3.2. Các yếu tố ảnh hƣởng đến sinh trƣởng, khả năng cho thịt và chất lƣợng thịt 2.3.2.1. Yếu tố di truyền
Các giống lợn khác nhau có khả năng sinh trƣởng và cho thịt khác nhau
(Evan, 2003; Labroue et al., 2000).
Giống ảnh hƣởng đến tốc độ sinh trƣởng, khả năng tích lũy mỡ. Theo
Colin (1998) và Sellier (1998), các giống Pi, L Bỉ và L Đức có thịt đùi, tỷ lệ thịt nạc và diện tích cơ thăn cao hơn các giống lợn khác. Các giống lợn địa phƣơng thƣờng có tốc độ sinh trƣởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và tỷ lệ thịt nạc thấp,
nhƣng tỷ lệ mỡ trong cơ lại cao (Labroue et al., 2000).
Khả năng sinh trƣởng và cho thịt của các giống lợn không giống nhau. Khả năng này phụ thuộc vào quá trình lớn lên của con vật tức là quá trình sinh
18
trƣởng, đó là quá trình tích lũy các chất chủ yếu là protein (Wood et al.,1987) .
Puigvert et al. (2000) cho biết, giống là yếu tố quan trọng ảnh hƣởng đến
chất lƣợng thịt, còn khối lƣợng giết thịt, khẩu phần thức ăn, tính biệt và điều kiện
môi trƣờng ít ảnh hƣởng đến chất lƣợng thịt .
Các chỉ tiêu nuôi vỗ béo nhƣ tăng khối lƣợng/ngày đêm, tiêu tốn thức
ăn/kg tăng khối lƣợng, thu nhận thức ăn/ngày có hệ số di truyền ở mức độ trung bình (h2 = 0,31) (Clutter and Brascamp, 1998), các chỉ tiêu thân thịt nhƣ tỉ lệ móc hàm, chiều dài thân thịt, tỉ lệ nạc hoặc tỉ lệ nạc/xƣơng, độ dày mỡ lƣng, diện tích cơ thăn có hệ số di truyền cao (h2 = 0,3 - 0,6) (Sellier, 1998). Theo Stewart and Schinkel (1989) và Ducos (1994), các chỉ tiêu về thân thịt có hệ số di truyền tƣơng đối cao trong số đó của tỉ lệ móc hàm là thấp nhất (h2 = 0,3 - 0,5) và chiều dài thân thịt là cao nhất (h2 = 0,56 -0,57). Các tính trạng thuộc chất lƣợng thịt nhƣ khả năng giữ nƣớc (tỉ lệ mất nƣớc), màu sắc thịt, cấu trúc cơ, thành phần hóa học của cơ, pH1 và pH2 sau khi giết thịt có hệ số di truyền ở mức 0,1 đến 0,3 (Sellier, 1998).
Tƣơng quan di truyền giữa một cặp tính trạng là thuận và chặt chẽ nhƣ
giữa tăng khối lƣợng và thu nhận thức ăn (r = 0,65), bên cạnh đó là các tƣơng
quan nghịch và chặt nhƣ giữa tỉ lệ nạc với độ dày mỡ lƣng (r = - 0,87) (Stewart and Schincket, 1989), tỉ lệ mất nƣớc và pH2 (r = -0,71) với khả năng giữ nƣớc (r = - 0,94) (Sellier, 1998). Ngoài ra, các kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa
học đã xác nhận các chỉ tiêu thân thịt nhƣ tỉ lệ móc hàm, tỉ lệ nạc, độ dày mỡ
lƣng, chiều dài thân thịt và diện tích cơ thăn là khác nhau ở các giống khác nhau.
Lợn L có chiều dài thân thịt dài hơn so với lợn Y khoảng 1,5 cm; ngƣợc lại tỉ lệ móc hàm ở Y lại cao hơn so với L (Haminell et al. 1993); lợn Hampshire có thân
thịt nhiều nạc hơn nhƣng thƣờng ngắn hơn và có khối lƣợng lớn hơn so với lợn Y
(Smith et al.,1990).
Con lai cho ƣu thế lai hơn bố mẹ về tăng khối lƣợng (10%) và lƣợng thức ăn
thu nhận hàng ngày (Sellier, 1998). Nghiên cứu của Liu et al. (2000) cho biết, con lại 3 giống có ƣu thế lai về tăng khối lƣợng tới 16,44 %, ƣu thế lai về tiêu tốn thức ăn là -8,18 % trong khi đó con lai trở ngƣợc có ƣu thế lai về tăng khối lƣợng chỉ đạt
7,03%, tiêu tốn thức ăn là - 2,7 %.
Kết quả nghiên cứu của Lachowiez et al. (1997) cho biết, thịt của con lai mềm và nhiều nƣớc, năng suất chế biến cao, màu thịt sáng hơn so với của lợn
19
thuần. Popovic (1997) cho biết, thịt của các con lai L × Y, Y × L, Du × (L × Y), Hampshire × (L × Y), Du × (Y × L), Hampshire × (Y × L) có màu sắc và khả
năng giữ nƣớc tốt.
Nhiều công trình nghiên cứu chỉ ra rằng thịt PSE có chất lƣợng thấp và nó thƣờng là kết quả cuối cùng của hội chứng stress. Khi lợn bị stress có thể chết
trên đƣờng vận chuyển đƣa đi bán, hoặc nếu sống sót cho đến lúc giết mổ thì
cũng có nhiều ảnh hƣởng đến việc xuất hiện thịt PSE .
Thịt có chất lƣợng cao khi chƣa xử lý sẽ có màu hồng tƣơi, thớ cơ chắc, mặt thịt không rỉ nƣớc và có một ít vân. Những đặc điểm này làm cho thịt có độ
bóng, chắc, thơm, có chất dinh dƣỡng cao khi đƣợc nấu đúng cách. Ngoài ra thịt
lợn có chất lƣợng cao vẫn giữ đƣợc phần lớn dịch thể của nó khi cắt, bao gói,
ƣớp lạnh hoặc khi nấu cũng nhƣ khi xử lý, xông khói, xay nghiền trong quá trình
chế biến thành sản phẩm của nhà máy. Theo Judge et al. (1996), thịt lợn PSE có
chất lƣợng thịt kém vì các lý do sau
- Mềm, nhão, mất thớ, nhợt nhạt và nhìn không hấp dẫn;
- Cơ thịt trở thành toan tính, nhất là lúc mới giết mổ và protein bị mất đi
khả năng lƣu giữ dịch thể của thịt. Mặt thịt có ít hoặc không có vân;
- Thịt thăn và cơ đùi thƣờng lộ ra 2 sắc thái khác nhau ở các lát cắt.
- Khi còn là thịt tƣơi chƣa chế biến, thịt tiết ra dịch khi cắt hoặc treo (đôi
khi độ mất nƣớc cao hơn 7%) thịt chuyển thành màu xám, không hấp dẫn ngƣời
mua và chóng ôi hơn thịt bình thƣờng;
- Khi dùng để chế biến các thực phẩm dạng công nghiệp (hun khói, xúc
xích) thịt có độ mất nƣớc cao (vƣợt quá 3 - 10 % so với mức bình thƣờng), màu
sắc không đồng nhất, các thớ cơ rời rạc, khó thái miếng;
- Các mảnh thịt ƣớp lạnh bị mất quá nhiều dịch thể khi giải đông.
Trong một số trƣờng hợp, lợn có hội chứng stress không gây nên trạng
thái thịt PSE mà là DFD. Thịt DFD là một biểu hiện không mong đợi, dễ bị thối
hỏng hơn vì độ pH cao, nó có một số nhƣợc điểm khác với thịt PSE.
Thịt DFD có màu thẫm, rắn chắc và khô hoàn toàn trái ngƣợc với PSE, nhƣng cũng không hấp dẫn vì màu đỏ thẫm là dấu hiệu của lợn già loại thải, thịt không tƣơi hoặc bị mất nƣớc trong khi bảo quản (Sebranek and Judge, 1996).
Ngăn ngừa xuất hiện thịt PSE và DFD là một khâu quan trọng trong việc nâng
20
cao chất lƣợng thịt lợn. Giải pháp về mặt di truyền là kiểm tra và loại bỏ những lợn nhạy cảm stress ra khỏi đàn, tức là kiểm tra gen nhạy cảm stress (gen
halothan) của từng gia súc giống. Đây là một giải pháp cơ bản và quan trọng nhất
vì nó giải quyết đƣợc tận gốc cơ sở di truyền quyết định chất lƣợng thịt. Các giải
pháp khác nhằm hạn chế sự xuất hiện thịt kém phẩm chất (yếu tố ngoại cảnh) chứ không thể loại bỏ hết đƣợc các nguy cơ làm xuất hiện thịt kém phẩm chất ngay
từ bản thân con vật (di truyền).
2.3.2.2. Yếu tố ngoại cảnh a) Dinh dưỡng
Dinh dƣỡng là yếu tố quan trọng nhất trong số các yếu tố ngoại cảnh chi
phối sinh trƣởng và khả năng cho thịt của gia súc. Theo Wood et al. (2004), nuôi
lợn thịt bằng khẩu phần protein thấp, lợn sẽ sinh trƣởng chậm, khối lƣợng giết thịt
thấp. Mức năng lƣợng và protein thấp trong khẩu phần làm tăng khả năng tích luỹ
mỡ, tăng tỷ lệ mỡ trong cơ (Chang et al., 2003). Theo Colin (1998) cho biết, lƣợng
protein của khẩu phần hàng ngày có quan hệ chặt chẽ với mức tăng trƣởng nạc
hàng ngày.
Lenartowiez et al. (1998) cho biết, mức năng lƣợng cao trong khẩu phần
sẽ làm tăng tốc độ tăng trọng, giảm tiêu tốn thức ăn so với mức năng lƣợng thấp.
Mức năng lƣợng và protein trong khẩu phần thấp sẽ làm tăng quá trình tích luỹ
mỡ trong cơ (Chang et al., 2003).
Chất khoáng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với lợn thịt. Tốc độ sinh
trƣởng và cả phẩm chất thịt cũng thay đổi tuỳ thuộc vào mối quan hệ giữa các
vitamin với các chất khoáng. Jondreville et al. (2003) cho biết, bổ sung Cu, Zn
một cách hợp lý vào khẩu phần có tác dụng tăng khả năng sinh trƣởng và giảm ô
nhiễm môi trƣờng. Theo Swigert et al. (2004), bổ sung Mg có thể làm tăng pH
cơ, do đó làm giảm tỷ lệ thịt PSE, nâng cao chất lƣợng thịt. Geesink et al. (2004) cho biết, bổ sung Mg, tryptophan, vitamin E và vitamin C trong thời gian nhất
định có tác dụng nâng cao chất lƣợng thịt lợn.
Mức thu nhận thức ăn phụ thuộc vào sự cân bằng các chất dinh dƣỡng. Mức thu nhận thức ăn cao sẽ có mức sinh trƣởng cao. Theo Lorenzo et al. (2003) cho biết, tăng thu nhận thức ăn ở giai đoạn sinh trƣởng sớm khi hiệu quả sử dụng thức ăn
cao và sinh trƣởng nạc mạnh sẽ giảm quá trình tích luỹ mỡ, giảm tiêu tốn thức ăn.
Giữa mức tăng trọng và thu nhận thức ăn có mối tƣơng quan chặt (r = 0,94). Ở giai
21
đoạn sinh trƣởng sớm, hiệu quả sử dụng thức ăn và sinh trƣởng nạc phụ thuộc chặt
chẽ vào mức thu nhận thức ăn.
Hiệu quả sử dụng protein bị ảnh hƣởng bởi nhiều yếu tố. Lợn hƣớng nạc
có hiệu quả sử dụng protein cao hơn so với lợn hƣớng mỡ, lợn còn non cao hơn lợn trƣởng thành, lợn đực cao hơn lợn cái và lợn đực thiến. Khẩu phần có đủ axit
amin tốt hơn khẩu phần không đủ. Tăng mức lysine, protein trong khẩu phần sẽ
làm tăng thu nhận thức ăn và tăng tốc độ sinh trƣởng.
Lợn nuôi bằng khẩu phần dinh dƣỡng cao (protein, năng lƣợng) sẽ có sự phát triển mạnh mẽ về thịt nạc, mỡ và tỷ lệ mỡ trong cơ thấp hơn, tỷ lệ xƣơng
cao hơn so với lợn nuôi bằng khẩu phần dinh dƣỡng thấp (Wood et al., 2004).
Theo Colin (1998), hình thức nuôi dƣỡng hạn chế thức ăn và số lƣợng
năng lƣợng trong khẩu phần có ảnh hƣởng đến thành phần thân thịt. Ở lợn đƣợc
nuôi dƣỡng tự do, năng lƣợng thu nhận cao hơn so với nhu cầu nên tích luỹ mỡ
nhiều hơn, lợn biểu hiện tăng trọng của phần thịt nạc cao hơn và qua đó nâng cao
đƣợc số lƣợng thịt nạc. Tuy nhiên, tỷ lệ thịt nạc sẽ thấp hơn. Mức thức ăn thấp sẽ
làm tốc độ sinh trƣởng nạc kém, mức thức ăn cao sẽ làm tăng quá trình tích luỹ
mỡ. Kim et al. (2000) cho biết sự ảnh hƣởng của nuôi dƣỡng theo giai đoạn có
ảnh hƣởng tới tốc độ sinh trƣởng, tỷ lệ tiêu hoá các chất dinh dƣỡng và một số
chỉ tiêu năng suất thân thịt. Kết quả cho thấy nuôi dƣỡng lợn thịt theo hai giai
đoạn có hiệu quả kinh tế và môi trƣờng tốt hơn so với nuôi một giai đoạn.
Mối quan hệ về sinh trƣởng giữa cơ, mỡ và xƣơng sẽ ảnh hƣởng đến sự
phát triển của gia súc. Lợn sinh trƣởng chậm khi giết mổ ở tuổi cao sẽ có tỷ lệ
cao về xƣơng và mỡ. Lợn sinh trƣởng cao sẽ có nhiều mỡ cao hơn lợn sinh
trƣởng bình thƣờng, đặc biệt ở con đực (Evan et al., 2003).
b) Thời gian nuôi
Thành phần hoá học của cơ thể thay đổi phụ thuộc vào tuổi của gia súc,
khối lƣợng, tính biệt, chế độ nuôi dƣỡng. Khi sơ sinh, nƣớc chiếm 77%, protein 18%, lipit 2% và khoáng tổng số là 3%. Ở giai đoạn trƣởng thành, nƣớc chiếm
64%, protein 16%, lipit 16% và khoáng tổng số 3%.
Khối lƣợng cơ thể càng tăng, tỷ lệ mỡ càng cao. Mức nuôi dƣỡng cao, lợn sẽ béo hơn, lợn nuôi hạn chế sẽ ít mỡ và nhiều nạc. Theo Larzul et al. (1998),
khối lƣợng giết thịt ảnh hƣởng đến màu sắc thịt và cấu trúc sợi cơ. Thời gian
nuôi càng dài, tỷ lệ mỡ trong thân thịt càng tăng và tỷ lệ thịt nạc càng giảm.
22
c) Mùa vụ
Huang et al. (2004) cho biết, mùa vụ có ảnh hƣởng rõ rệt tới độ dày mỡ
lƣng và hiệu quả sử dụng thức ăn. Lợn nuôi trong mùa hè và mùa đông có độ dày
mỡ lƣng thấp hơn so với mùa thu và mùa xuân (Choi et al., 1997). Stress nhiệt có liên quan tới mức sinh trƣởng chậm vì khả năng thu nhận thức ăn thấp. Lisiak et
al. (2000) nhận thấy lợn mổ vào mùa hè có tỷ lệ thịt nạc cao hơn so với lợn mổ
vào mùa đông. Kuchenmeister et al. (2000) cho biết, chất lƣợng thịt giảm xuống
đối với lợn mổ vào mùa hè và mùa đông. Nhiệt độ cao về mùa hè làm tăng tỷ lệ thịt PSE (Guardia et al., 2004). Neill et al. (2003) cho biết, các tháng trong năm
có ảnh hƣởng tới một số chỉ tiêu chất lƣợng thịt.
d) Chăm sóc và nuôi dưỡng
Nhiệt độ chuồng nuôi cao hoặc thấp hơn nhiệt độ giới hạn cho phép đều
bất lợi cho sinh trƣởng của lợn thịt. Che tối chuồng nuôi trong giai đoạn vỗ béo
hoặc sử dụng các thuốc an thần nhằm hạn chế hoạt động sẽ có lợi cho quá trình
tích luỹ các chất dinh dƣỡng.
Goft et al. (2003) nhận thấy giun sán là nguyên nhân quan trọng làm giảm
hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn thịt. Do đó việc vệ sinh, tẩy giun sán là hết
sức cần thiết.
Số lƣợng lợn nuôi thịt trong một ô chuồng có ảnh hƣởng đến khả năng
tăng trọng, thu nhận thức ăn, tiêu tốn thức ăn nhƣng không ảnh hƣởng đến tỷ lệ
thịt nạc (Turner, 2003). Theo Ekachat et al. (1997), tiếng động quá lớn và nhanh
làm giảm sinh trƣởng và hiệu quả sử dụng thức ăn ở lợn thịt. Lợn ở những ổ đẻ
có số con để nuôi/ổ cao sẽ có khối lƣợng giết thịt thấp, nhƣng tỷ lệ thịt nạc cao
hơn so với lợn ở những ổ đẻ có số con để nuôi/ổ thấp (Buczynski et al., 2000).
Các điều kiện trƣớc khi giết mổ, bắt lợn, thời gian vận chuyển, nơi nhốt, điều kiện khi giết mổ là nguyên nhân gây nên stress và tăng tỷ lệ thịt PSE
(Guardia et al., 2004). Thời gian vận chuyển không nên kéo dài quá 3 giờ, nếu thời gian vận chuyển quá 3 giờ đồng thời với mật độ cao sẽ làm tăng tỷ lệ thịt PSE. Gregory (1998) cho biết cho lợn ăn vào buổi sáng trong ngày giết mổ có thể làm tăng tỷ lệ thịt PSE, nhất là giết mổ ngay khi tới lò mổ. Cho lợn nghỉ ngơi 2-3
giờ trƣớc khi giết mổ có tác dụng làm giảm tỷ lệ thịt PSE. Mùa vụ trong năm
cũng có ảnh hƣởng tới tỷ lệ thịt PSE và DFD. Tỷ lệ thịt DFD cao là do điều kiện kém trƣớc khi giết mổ (Neill et al., 2003). Guardia et al. (2004) cho biết tỷ lệ thịt
23
PSE tăng cao ở mùa hè. Thời gian vận chuyển, mật độ lợn, thời gian nhốt lợn
trƣớc khi giết thịt ảnh hƣởng lớn đến tỷ lệ thịt PSE, DFD.
e) Tính biệt
Evan et al. (2003) cho biết lợn đực lớn nhanh hơn lợn cái. Lợn đực không
thiến có tốc độ lớn nhanh nhƣng không đƣợc ngƣời tiêu dùng ƣa thích vì mùi của
nó (Kortz et al., 2000). Kortz et al. (2000) cũng xác nhận lợn đực có khả năng
tăng trọng và tỷ lệ thịt nạc cao hơn lợn cái tới 3%. Lợn đực thiến có nhiều mỡ
trong cơ, ít mỡ dƣới da so với lợn cái (Kolstad et al., 1997). Kortz et al. (2000) cho biết lợn đực không thiến và lợn cái có diện tích cơ thăn lớn hơn lợn đực
thiến, thịt của lợn đực không thiến có hàm lƣợng vật chất khô và tỷ lệ mỡ trong
thịt thấp hơn so với đực thiến, nhƣng cao hơn về trị số pH thịt so với lợn đực
thiến và lợn cái. Kortz et al. (2000) cho thấy thịt của lợn cái không tốt hơn thịt
của lợn đực thiến. Theo Guardia et al. (2004) lợn đực không thiến có tỷ lệ thịt
PSE cao hơn lợn cái và lợn đực thiến 0,5 %.
2.4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NGOÀI NƢỚC VÀ TRONG NƢỚC
2.4.1. Tình hình nghiên cứu ở ngoài nƣớc
Lai giống là biện pháp quan trọng để sản xuất lợn thịt có năng suất cao,
chất lƣợng thịt tốt ở nhiều nƣớc trên thế giới. Nửa đầu thế kỷ 20 nội dung chủ
yếu của công tác giống lợn là chọn lọc và nhân thuần bằng các phƣơng pháp
kiểm tra lợn đực giống qua đời sau. Nhƣng từ nửa sau thế kỉ này do có thêm về
những về những hiểu biết mới về ƣu thế lai và sự phát triển mạnh lai kinh tế ở
lợn. Thời kì đầu chỉ mới áp dụng các tổ hợp lai kinh tế đơn giản nhƣ lai giữa 2
giống lợn, về sau có nhiều tổ hợp lai kinh tế phức tạp từ ba, bốn, năm giống lợn
và cao hơn nữa là các chƣơng trình lai tạo lợn hybrid.
Theo Gordon (1997), lai giống trong chăn nuôi lợn đã có từ hơn 50 năm
trƣớc. Việc sử dụng lai hai, ba, bốn giống để sản xuất lợn thịt thƣơng phẩm đã trở thành phổ biến (Xue et al., 1997; Whaley et al., 1997). Kết quả nghiên cứu
của Hansen et al. (1997) cho biết lai hai giống (Du White composite) và
(Meishan White composite) thì con lai có tốc độ sinh trƣởng tốt hơn lợn
Meishan thuần, lợn lai (Du White composite) tăng trọng cao hơn (Meishan
White composite). Lai hai, ba, bốn giống đã trở thành phổ biến trong chăn nuôi lợn tại Ba Lan (Ostrowski and Blicharski, 1997; Grzeskowiak et al., 2000;
Migdal et al., 2000).
24
Grzeskowiak et al. (2000) cho thấy lai hai giống giữa Hampshire Du đạt
giá trị pH1 của thịt cao hơn so với Pi Du và Pi thuần. So sánh giữa các tổ hợp lai hai, ba, bốn giống, Ostrowski and Blicharski (1997), Buczyncki et al. (1998),
Eckert et al. (1998), Kapelanski et al. (1998), Lenartowiez et al. (1998) và
Grzeskowiak et al. (2000) cho thấy con lai có 25 và 50 % máu Pi có tỷ lệ thịt nạc
cao và chất lƣợng thịt tốt. Sử dụng đực lai F1(PiDu) có tác dụng nâng cao diện tích và khối lƣợng cơ thăn (Gajewczyk et al., 1998). Blicharski and Ostrowski
(2000) cho thấy lợn lai có khả năng tăng trọng, tỷ lệ thịt nạc cao hơn lợn thuần và tỷ lệ thịt nạc đùi có tƣơng quan cao với tỷ lệ thịt nạc (r=0,93). Lachowiez et al.
(1997) cho biết thịt của lợn lai mềm, nhiều nƣớc và có năng suất chế biến cao
hơn thịt của lợn thuần. Các nghiên cứu của Gerasimov et al. (1997) cho biết lai
hai, ba giống đều có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản nhƣ: số con đẻ
ra/lứa, tỷ lệ nuôi sống và khối lƣợng ở 60 ngày tuổi/con. Lai hai giống làm tăng
số con đẻ ra/lứa so với giống thuần (10,9 so với 10,1 con), tăng khối lƣợng sơ
sinh và khối lƣợng khi cai sữa. Ƣu thế lai về khối lƣợng khi cai sữa tới 18,30%
(Chokhatarid, 2000). Vì vậy việc sử dụng lai hai, ba giống là phổ biến để nâng cao
khả năng sinh sản và sản xuất lợn thịt thƣơng phẩm (Dzhuneibaev and Kurenkova,
1998). Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy lợn lai có mức tăng
trọng tốt và tỷ lệ thịt nạc cao so với lợn thuần. Gerasimov et al. (1997) cho biết
trong nhiều tổ hợp lai hai, ba giống, tổ hợp lai hai giống (Du Large Black), tổ
hợp lai ba giống Du (Poltava Meat Russian Large White) có khả năng tăng
trọng cao nhƣng tiêu tốn thức ăn lại thấp so với các công thức khác. Kết quả nghiên cứu của Pogodaev and Filenko (1997) cũng có kết quả tƣơng tự. Các con lai
có chất lƣợng thịt tốt do thịt có tỷ lệ mỡ cao (Samkov, 2000). Theo Leroy et al.
(1996) cho biết lai hai giống (Pi LW) có số con khi sơ sinh, khi cai sữa và khối
lƣợng cả ổ ở 5 tuần tuổi đều cao hơn so với nái thuần. Lai hai giống giữa Pi với L
Bỉ đƣợc Smet et al. (1997) cho biết có kết quả tốt.
Nghiên cứu của White et al. (1997) nhận thấy nái lai F1(Y Meishan) có số trứng rụng, số thai và số con đẻ ra/ổ nhiều hơn giống thuần. Xue et al. (1997)
cho biết lai ba giống Du (LW L) có tốc độ sinh trƣởng, chất lƣợng thân thịt
tốt. Kim et al. (1994) nhận thấy lai hai, ba giống Du (Y L) có tốc độ sinh
trƣởng, chất lƣợng thân thịt tốt. Do đó việc sử dụng lai hai, ba giống là phổ biến
để nâng cao khả năng sinh sản và sản xuất lợn thịt thƣơng phẩm.
25
Lai giữa 3 giống lợn L, Y, Du, con lai có tốc độ tăng khối lƣợng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp và số ngày đạt khối lƣợng giết thịt 94 kg thấp hơn so với các
tổ hợp lai khác (Haminell et al., 1993).
Tại Trung Quốc lợn thịt thƣơng phẩm đƣợc sản xuất từ ba giống Du, L,
LW, đạt 90 kg ở 165 ngày tuổi (Tan et al., 2000), sử dụng nái lai (L Y) hoặc (Y
L) phối với lợn đực Hampshire và lai luân chuyển giữa ba giống Hampshire, Y, L có
kết quả tốt trong 64 tổ hợp lai khác nhau (Wang and Zhang, 1997). Việc sử dụng nái
lai (L Y) phối với đực Du đƣợc ứng dụng khá rộng rãi để nâng cao tăng khối
lƣợng và khả năng cho thịt (Liu et al., 2000). Trong 2,2 triệu con nái tại Đức đƣợc
phối giống phần lớn sử dụng tinh dịch lợn đực Pi (Gordon, 1997). Theo Sohst
(1997) nái lai F1(L Leicoma) có số con đẻ ra/lứa cao hơn nái thuần 0,5 con. Sử dụng nái lai đã trở thành phổ biến để tiến hành lai ba, bốn và năm giống trong sản
xuất lợn thịt thƣơng phẩm (Wuensch et al., 2000). Wuensch et al. (2000) cho biết
nái lai (Pi L) và (LW L) có thời gian sử dụng cao hơn so với nái thuần.
Lai giống là biện pháp quan trọng nhằm nâng cao khả năng sinh sản và
cho thịt trong chăn nuôi lợn ở Ba Lan. Tuz et al. (2000) nhận thấy lai ba giống
đạt đƣợc số con/lứa ở 1, 21, 42 ngày tuổi cũng nhƣ khối lƣợng sơ sinh/con cao
hơn hẳn so với giống thuần. Sử dụng nái lai để phối với lợn đực thứ ba có hiệu
quả nâng cao khối lƣợng khi cai sữa và khả năng tăng trọng khi nuôi thịt
(Kamyk, 1998). Lai ba, bốn giống đã trở thành phổ biến trong chăn nuôi lợn
(Ostrowski and Blicharski, 1997; Grzeskowiak et al., 2000). Nhiều tổ hợp lai ba,
bốn giống đƣợc Grzeskowiak et al. (1998) nghiên cứu và đạt kết quả tốt.
Nghiên cứu của Gerasimov et al. (1997) cho biết lai ba giống đều có tác
dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh sản nhƣ số con đẻ ra/ổ, tỷ lệ nuôi sống và khối
lƣợng ở 60 ngày tuổi/con. Gerasimov and Pron (2000) cho biết nái lai có chất lƣợng
tốt về sản xuất sữa, khối lƣợng sơ sinh, con lai sinh trƣởng tốt và có năng suất thịt xẻ cao. Việc sử dụng lai ba giống là phổ biến để nâng cao khả năng sinh sản và sản
xuất lợn thịt thƣơng phẩm (Dzhuneibaev et al., 1998). Theo các tác giả lợn lai có mức tăng trọng tốt và tỷ lệ thịt nạc cao. Gerasimov et al. (1997) cho biết trong
nhiều tổ hợp lai ba giống, tổ hợp lai ba giống Du (Poltava Meat Russian LW)
có khả năng tăng trọng cao và tiêu tốn thức ăn lại thấp so với các tổ hợp lai khác. Kết quả nghiên cứu của Pogodaev et al. (1997) cũng có kết quả tƣơng tự. Các
con lai có chất lƣợng thịt tốt do thịt có tỷ lệ mỡ cao (Samkov, 2000).
26
Ở châu Âu hiện nay, ba giống phổ biến đƣợc dùng là Pi, Hampshire và Du. Giống Pi có tỉ lệ nạc cao nhƣng tần số gen halothan cao, giống Hampshire có
khả năng kháng stress song có hạn chế tồn tại gen RN và ảnh hƣởng đến chất
lƣợng thịt, giảm năng suất thịt khi chế biến, giống Du có khả năng kháng stress
nhƣng cũng có hạn chế là tỷ lệ mỡ trong thân thịt và trong thịt nạc cao.
Tại Áo, với 4,8 triệu lợn thịt giết mổ hàng năm thì gần nhƣ tất cả đƣợc sản
xuất từ lai hai, ba giống. Nái lai đƣợc sử dụng phổ biến là F1(Edelschwein LW) và F1(Edelschwein L) đƣợc phối với lợn đực giống Pi hoặc Du để sản xuất con lai ba giống nuôi thịt (Knapp and Willam, 1998; Mayr et al., 1997).
Nhƣ vậy, hầu hết các nƣớc có nền chăn nuôi phát triển trên thế giới đều
sử dụng các tổ hợp lai kinh tế để sản xuất lợn thƣơng phầm, mang lại hiệu quả kinh
tế cao từ việc giảm chi phí thức ăn, tiết kiệm thời gian nuôi thịt và nâng cao tỷ lệ thịt
nạc nhờ ƣu thế lai. Các nhà tạo giống căn cứ vào nhu cầu thị trƣờng đòi hỏi chất
lƣợng thịt tốt, mùi vị, độ mịn… và tỷ lệ thịt nạc cao mà lựa chọn lợn đực kết thúc
trong tổ hợp lai. Đa số lợn thịt thƣơng phẩm trên thế giới đều là những tổ hợp lai từ
3, 4 hoặc 5 giống.
Lợn Piétrain xuất hiện ở vƣơng quốc Bỉ đƣợc tạo ra từ năm 1920 tại một
làng nhỏ có tên là Piétrain. Lợn Piétrain đƣợc công nhận giống mới năm 1953 tại
tỉnh Brabant và trên cả nƣớc năm 1956. Lợn Piétrain cổ điển có màu lông trắng
với các vết loang đen phân bố khắp cơ thể không cố định trên da, nhƣng năng
suất ổn định đặc trƣng bởi tỷ lệ móc hàm cao (80,8%) và tỷ lệ thịt nạc đạt 60,9%
(Camerlynck and Brankaer, 1958). Tuy nhiên, sự tồn tại của allen lặn T ở locus
halothane (Ollivier et al., 1975) với tần suất cao đã làm tăng tỷ lệ thịt PSE (Pale,
Soft, Excudative) và lợn dễ bị stress. Hanset at al. (1983) cho biết tần số kiểu gen
TT dƣơng tính với halothane đối với lợn Piétrain đực và cái ở Bỉ lần lƣợt 88,4%
và 93,3%.
Lợn Piétrain Re-Hal (kháng stress) đƣợc phát triển từ lợn Piétrain cổ điển
tại Khoa Thú y, trƣờng Đại học Liège (Bỉ) trên cơ sở phép lai trở ngƣợc để
chuyển allen C trên lợn Large White thay thế cho allen T ở locus halothane của
lợn Piétrain.
Piétrain Re-Hal có khả năng tăng khối lƣợng trung bình hàng ngày đạt
599g/ngày, dày mỡ lƣng là 1,54 cm, giá trị pH cơ thăn và mông 45 phút sau giết
thịt đạt các giá trị lần lƣợt 6,11 và ,33, giá trị pH cơ thăn 24 giờ sau giết thịt là
27
5,48 và tỷ lệ hao hụt chế biến là 32,5%. Piétrain Re-Hal có các chỉ tiêu về chất lƣợng thịt và khả năng tăng khối lƣợng trung bình ngày càng cao hơn so với
Piétrain cổ điển, nhƣng chất lƣợng thịt lại thấp hơn (Ministère des Classes
Moyennes et de L’ agriculture de Belgique, 1999). Leroy and Verleyen (1999b)
đã khẳng định rằng lợn Piétrain Re-Hal thể hiện đầy đủ các ƣu điểm của Piétrain cổ điển, nhƣng tỷ lệ mẫn cảm với stress đã giảm xuống và pH sau giết thịt đã
đƣợc cải thiện.
Do có nhiều ƣu điểm nhƣ trên giống lợn Piétrain đã đƣợc sử dụng rộng rãi
ở nhiều nƣớc trên thế giới đặc biệt ở các nƣớc châu Âu (Jones, 1998).
Việc sử dụng nái lai (L Y) phối với lợn Pi để sản xuất con lai ba giống,
sử dụng nái lai (L Y) phối với lợn đực lai (Pi Du) để sản xuất con lai bốn
giống khá phổ biến tại Bỉ (Leroy et al., 1996). Van et al. (1997) cho biết ở Bỉ
thƣờng sử dụng lợn nái lai phối giống với lợn đực Pi để sản xuất lợn thịt có tỷ lệ
thịt nạc cao và tiêu tốn thức ăn thấp (dẫn theo Warnants et al., 2003). Các tác giả
cho biết sử dụng lợn đực giống Pi là dòng đực cuối cùng phối giống với lợn nái
lai (LW L) đạt mức tăng trọng và hiệu quả kinh tế lớn nhất.
Tại Ba Lan, Ostrowski et al. (1997) tiến hành các tổ hợp lai Pi Du, Pi
Polish LW, (Pi Polish LW) (Polish LW Polish L) cho biết chất lƣợng thịt tốt
nhất ở con lai có 25 %, 50 % máu Pi. Lachowiez et al. (1997) nhận thấy không có
sự khác nhau về trị số pH thịt giữa các con lai có Pi và lợn thuần, thịt của lợn lai
mềm và nhiều nƣớc hơn so với thịt của lợn thuần. Buczyncki et al. (1998) tiến
hành lai giữa lợn đực Pi với lợn nái Polish LW, Zlotnicka Spotted và nái lai
(Zlotnicka Spotted Polish LW), con lai ba giống có mức tăng trọng, tỷ lệ thịt nạc
cao hơn con lai hai giống. Con lai Pi Pulawska, Pulawska (Pulawska L Đức)
có diện tích cơ thăn, tỷ lệ thịt nạc cao hơn so với lợn Pulawska thuần (Surdacki et
al., 1998). Kamyk (1998) cho biết sử dụng nái lai (Pulawy hybrid 990), (Pulawy
Du), (Pulawy Pi) phối với lợn đực hybrid 990, Du và Pi, con lai Pi (Pulawy
hybrid 990) có diện tích cơ thăn cao nhất. Kamyk (1998) cho biết sử dụng nái lai
(Pulawyxhybrid 990), (Pulawy Du), (Pulawy Pi) phối với lợn đực hybrid 990,
Du và Pi, con lai Pi (Pulawy hybrid 990) có diện tích cơ thăn cao nhất.
Kamyk (1998) cho biết sử dụng nái lai (Pulawyxhybrid 990), (Pulawy
Du), (Pulawy Pi) phối với lợn đực hybrid 990, Du và Pi, con lai Pi (Pulawy
hybrid 990) có diện tích cơ thăn cao nhất. Nghiên cứu cho thấy, con lai có máu Pi
28
có tỷ lệ thịt nạc và diện tích cơ thăn cao.
Legault et al. (1998) cho biết lai giữa các giống lợn địa phƣơng với lợn Du
và Pi so sánh với tổ hợp lai LW L Pháp. Kết quả cho thấy khi lai với Du hoặc
Pi đã có tác dụng nâng cao đƣợc khả năng tăng trọng, với 64g ở tổ hợp lai Pi
Gascony, 226 g ở tổ hợp lai Du Limousin, giảm tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng
với 0,49 kg ở công thức Du Gascony, 0,66 kg ở công thức Pi Gascony, tăng
tỷ lệ thịt nạc khi lai với Pi. Đối với lợn địa phƣơng, các tác giả cho biết cần áp
dụng hệ thống quản lý tốt hơn hoặc phải tiến hành lai với giống tốt để nâng cao
hiệu quả kinh tế. Simon et al. (1998) cho biết chất lƣợng thịt của các giống lợn
địa phƣơng tốt hơn so với thịt lợn lai LW L Pháp, thịt của lợn lai Pi Gascony
và Du Gascony có chất lƣợng tƣơng đƣơng so với chất lƣợng thịt của lợn địa
phƣơng, các con lai với Limousin có chất lƣợng thịt ở mức trung gian. Sử dụng
đực lai (Pi Hampshire) phối giống với lợn nái LW, L và nái lai (LW L) trong
các tổ hợp lai ba, bốn giống đã đƣợc Reinsch et al. (1997) nghiên cứu.
Sử dụng lợn đực Pi trong các tổ hợp lai hai giống đã đƣợc Kircheim et al.
(1997), Kratz et al. (2000), Baulain et al. (2000) công bố. Baulain et al. (2000) cho
biết con lai (Pi Swabian Hall Saddleback) đạt tỷ lệ thịt nạc 57,4% và có tỷ lệ mỡ
trong thịt phù hợp. Klaus et al. (2000) cho thấy con lai (Pi Hampshire) có tỷ lệ thịt
nạc và diện tích cơ thăn cao hơn con lai (Du Hampshire). Wuensch et al. (2000)
sử dụng lợn đực giống Pi trong tổ hợp lai ba giống: Pi (LW L Đức), tác giả cho
biết con lai ba giống có mức tăng trọng và hiệu quả kinh tế cao nhất. Các tổ hợp lai
bốn và năm giống có sự tham gia của Pi đƣợc Looft et al. (1997) nghiên cứu.
Lai hai giống giữa Pi với L Bỉ đƣợc Smet et al. (1997) cho biết có kết quả
tốt. Việc sử dụng nái lai (L Y) phối với lợn Pi để sản xuất con lai ba giống, sử
dụng nái lai (L Y) phối với lợn đực lai (Pi Du) để sản xuất con lai bốn giống
là khá phổ biến (Leroy et al., 1996). Van et al. (1997) cho biết ở Bỉ thƣờng sử
dụng lợn nái lai phối giống với lợn đực Pi để sản xuất lợn thịt có tỷ lệ thịt nạc cao và tiêu tốn thức ăn thấp (dẫn theo Warnants et al., 2003). Các tác giả cho biết sử
dụng lợn đực giống Pi là dòng đực cuối cùng phối giống với lợn nái lai (LWL)
đạt mức tăng trọng và hiệu quả kinh tế lớn nhất.
Nghiên cứu sử dụng Pi trong các tổ hợp lai ba giống đã đƣợc Eckert and Zak
(1998), Gajewczyk et al. (1998), Kapelanski et al. (1998), Grzeskowiak (2000), Lenartowiez et al. (1998), Urbanczyk et al. (2000), Pietruszka et al. (2000) công
29
bố, các kết quả nghiên cứu cho thấy con lai có máu Pi có tỷ lệ thịt nạc và diện tích
cơ thăn cao.
Leroy et al. (2000), dòng Piétrain Re-Hal kháng stress có tỷ lệ thịt móc
hàm và tỷ lệ thịt nạc cao đã đƣợc tạo ra ở Bỉ. Ngƣời ta thƣờng dùng lợn đực
Piétrain Re-Hal là đực cuối cùng trong các tổ hợp lai để sản xuất lợn thịt.
Tại Áo có 4,8 triệu lợn giết mổ đƣợc sản xuất từ 280 nghìn lợn nái hàng
năm thì gần nhƣ toàn bộ lợn thịt đƣợc tạo ra từ lai hai và ba giống với lợn Pi là đực
cuối cùng. Lợn nái chủ yếu là nái lai: (Edelschwein LW) và (Edelschwein L)
(Knapp et al., 1998).
Giống lợn Pi và Du là hai giống nổi tiếng trên thế giới đƣợc sử dụng làm
dòng đực cuối cùng để tạo lợn nuôi thịt thƣơng phẩm (Jones, 1998). Sử dụng đực
lai là biện pháp quan trọng để nâng cao năng suất và chất lƣợng sản phẩm
(Sellier, 2006). Đực lai (Pi Du) đã đƣợc nhiều nƣớc sử dụng trong thực tế sản
xuất. Tại Czech, Okrouhla et al. (2008) đã nghiên cứu ảnh hƣởng của đực lai (Pi
Du) và (Hampshire Pi) đến các chỉ tiêu thành phần hoá học, một số chỉ tiêu
đánh giá chất lƣợng thịt. Nhiều nghiên cứu tại Ba Lan, Đức…đã đề cập đến việc
sử dụng đực lai (Pi Du) trong sản xuất lợn thịt thƣơng phẩm (Ostrowski et al.,
1997, Lenartowiez et al., 1998). Tuy nhiên, việc nghiên cứu đầy đủ về khả năng
sử dụng lợn đực lai giữa Piétrain Re-Hal với Duroc có các thành phần di truyền khác nhau vẫn còn chƣa đƣợc đề cập đến.
2.4.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nƣớc
Nghiên cứu lai giống lợn đã đƣợc tiến hành từ năm 1958 tại Học viện
Nông-Lâm và sau đó là Viện Khoa học Nông nghiệp. Các nghiên cứu ở nƣớc ta
liên quan đến tổ hợp lai ngoại ngoại trong những năm gần đây đều tập trung
theo hƣớng đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái thuần, nái lai; so sánh năng
suất và chất lƣợng thịt của các tổ hợp lai 2, 3 và 4 giống.
Kết quả nghiên cứu của Đinh Văn Chỉnh và cs. (1999) cho thấy nái lai F1(L Y) có nhiều chỉ tiêu sinh sản cao hơn so với nái thuần L. Nái lai F1(L Y) có số con sơ sinh sống, số con cai sữa tƣơng ứng là 9,25-9,87; 8,50-8,80 con/ổ; khối
lƣợng sơ sinh và khối lƣợng cai sữa/con là 1,32kg và 8,12 kg. Nái L có số con sơ
sinh sống, số con cai sữa tƣơng ứng là là 9,00-9,83 và 8,27-8,73 con/ổ.
Phùng Thị Vân và cs. (2002) cho biết: Lai hai giống giữa đực Y và nái L
và ngƣợc lại đều có ƣu thế về nhiều chỉ tiêu sinh sản so với giống thuần, F1(Y
30
L) và F1(L Y) có số con cai sữa/ổ tƣơng ứng là 9,38 và 9,36 con; Khối lƣợng cai sữa/ổ ở 35 ngày tuổi là 79,30 và 81,50kg. Trong khi đó, nái thuần Y và L có
số con cai sữa/ổ tƣơng ứng là 8,82 và 9,26 con; khối lƣợng cai sữa/ổ ở 35 ngày
tuổi chỉ đạt 72,90kg cho cả hai giống .
Theo Phan Xuân Hảo (2006) năng suất sinh sản của lợn nái F1(L Y) là tƣơng đối cao, tuổi phối giống lần đầu, tuổi đẻ lứa đầu và khoảng cách lứa đẻ lần
lƣợt là 249,13; 365,97 và 159,02 ngày. Tổng số con sơ sinh/ổ, số con sơ sinh
sống/ổ, số con để nuôi/ổ, số con 21 ngày/ổ, số con cai sữa/ổ lần lƣợt là 10,97;
10,41; 9,88; 9,35 và 9,32 con/ổ. Tỷ lệ sơ sinh sống 95,32%, tỷ lệ nuôi sống
94,17%. Khối lƣợng sơ sinh/ổ; khối lƣợng 21 ngày /ổ, khối lƣợng cai sữa/ổ lần
lƣợt là 14,6; 49,01 và 52,28kg/ổ. Khối lƣợng sơ sinh/con, khối lƣợng 21
ngày/con và khối lƣợng cai sữa/con lần lƣợt là: 1,41; 5,27 và 5,67 kg/con.
Theo Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006b), năng suất sinh sản của
lợn nái F1(L Y) khi phối đực Pi và Du có số con đẻ ra/ổ tƣơng ứng là 10,05 và 9,63 con; Số con 21 ngày tuổi/ổ là 9,7 và 9,23 con; Số con cai sữa/ổ tƣơng ứng là
9,39 và 9,13 con; Khối lƣợng 60 ngày tuổi/con tƣơng ứng là 19,72 và 19,70kg.
Đặng Vũ Bình và cs. (2005) cho biết, nái F1 giữa hai giống L và Y, ƣu thế lai rõ nhất ở số con đẻ ra/ổ, số con để nuôi/ổ, khối lƣợng sơ sinh/ổ, sau đó là các tính
trạng số con cai sữa/ổ và khối lƣợng cai sữa/ổ. Năng suất sinh sản nái F1(L Y) có ƣu thế lai cao hơn nái F1(Y L).
Theo Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2011), nái F1(L Y) và F1(Y L) phối với đực L19 có số con đẻ ra, số con để nuôi cao hơn khi phối với đực Du,
nhƣng khối lƣợng sơ sinh, khối lƣợng cai sữa/ổ thấp hơn.
Năng suất sinh sản của các tổ hợp lai giữa nái L, Y và F1(L Y) phối với đực PiDu là tƣơng đối cao, ổn định và không có sự sai khác rõ ràng giữa 3 tổ hợp lai (Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thuý, 2009). Tác giả cũng khẳng định rằng
con lai có sự tham gia của đực PiDu có sức sinh trƣởng tƣơng đối cao, đặc biệt
con lai 4 giống (PiDu LY) có xu hƣớng thể hiện đƣợc ƣu thế lai về tăng trọng
so với con lai 3 giống (PiDu Y và PiDu L).
Các kết quả nghiên cứu của Lê Thanh Hải (2001) cũng cho biết tổ hợp lai ba, bốn giống ngoại đạt mức tăng khối lƣợng và tỷ lệ thịt nạc cao. Con lai ba
giống Du (L Y) có mức tăng khối lƣợng trung bình 634g/ngày, tỷ lệ thịt nạc
31
55,9%, tiêu tốn thức ăn 3,3 kg thức ăn/kg tăng khối lƣợng; con lai ba giống Pi
(L Y) có mức tăng khối lƣợng trung bình đạt 601g/ngày, tỷ lệ thịt nạc 58,8%, tiêu
tốn thức ăn là 3,1kg/kg tăng khối lƣợng. Con lai bốn giống (PiDu) (L Y) đạt
tăng khối lƣợng trung bình 624g/ngày, tỷ lệ thịt nạc 57,9% tiêu tốn thức ăn
3,2kg/kg tăng khối lƣợng.
Lai ba giống giữa đực Du với nái lai F1(L Y) hoặc F1(Y L) có tác dụng nâng cao các chi tiêu sinh sản, giảm chi phí thức ăn để sản xuất 1kg lợn con ở 60
ngày tuổi; số con cai sữa đạt 9,6-9,7 con/ổ và khối lƣợng con cai sữa/ổ tƣơng ứng
là 80,0-75,7 kg ở 35 ngày tuổi. Con lai giữa 3 giống Du (L Y) có mức tăng
khối lƣợng trung bình 655,9 g/ngày; tỷ lệ thịt nạc 61,81% và tiêu tốn thức ăn
2,98 kg; con lai ba giống Du (Y L) có mức tăng khối lƣợng trung bình
655,7g/ngày, tỷ lệ thịt nạc 58,71%, tiêu tốn thức ăn 2,95 kg thức ăn/kg tăng khối
lƣợng (Phùng Thị Vân và cs, 2002).
Phùng Thị Vân và cs. (2002) cho thấy con lai giống F1(L Y) đạt mức tăng khối lƣợng từ 650,90 đến 667,70 g/ngày, tỷ lệ thịt nạc 58,8%, con lai F1(Y L) đạt mức tăng khối lƣợng từ 601,50 đến 624,40 g/ngày, tỷ lệ thịt nạc 56,5%. Nguyễn
Thiện (2002) cho biết lợn lai F1(L Y) và F1(Y L) đạt tỷ lệ thịt nạc so với thịt xẻ tƣơng ứng là 58,00% và 56,50%.
Kết quả nghiên cứu của Lê Thanh Hải và cs. (2006) cho biết một số chỉ
tiêu năng suất thịt phụ thuộc vào khối lƣợng lợn và thời gian nuôi thịt, khối
lƣợng giết mổ 91,2 và 89,6 kg cho tỷ lệ móc hàm 70,5% và 69,2%; tỷ lệ thịt xẻ
70,7% và 70,4%; tỷ lệ thịt nạc 59,9% và 59,5%.
Nghiên cứu của Trƣơng Hữu Dũng (2004) cho thấy các kết quả của tổ hợp
lai giữa 2 giống Y, L và ngƣợc lại 3 giống Y, L và Du đạt mức tăng khối lƣợng và tỷ
lệ thịt nạc cao. Con lai F1(L Y) đạt mức tăng khối lƣợng từ 650,90 đến 667,70g/ngày và tỷ lệ thịt nạc từ 57,96 đến 60,00%; con lai F1(Y L) đạt mức tăng khối lƣợng từ 601,50 đến 624,40 g/ ngày, tỷ lệ thịt nạc từ 56,24 đến 56,80%. Con lai
ba giống Du (L Y) đạt mức tăng khối lƣợng từ 617,80 đến 694,10 g/ngày và tỷ
lệ thịt nạc từ 57,00 đến 61,81%; Con lai ba giống Du (Y L) đạt mức tăng khối
lƣợng từ 628,40 đến 683,10 g/ngày và tỷ lệ thịt nạc từ 56,86 đến 58,71%.
Kết quả nghiên cứu của Phạm Thị Kim Dung và cs. (2004) cho biết khả năng
tăng khối lƣợng của các giống lợn ngoại L, Y, Du và các tổ hợp lai F1(L Y), F1(Y
32
L), Du (L Y), Du (Y L) đạt mức tƣơng ứng 613,07; 616,21; 624,01; 661,26;
663,03; 667,28; 669,12 g/ngày. Tiêu tốn thức ăn của các giống lợn ngoại L, Y, Du và
các tổ hợp lai F1(L Y), F1(Y L), Du (L Y), Du (Y L) đạt mức tƣơng ứng là 3,14; 3,09; 2,87; 3.05; 3,04; 2,94; 2,93 kg/kg tăng khối lƣợng.
Kết quả nuôi thịt các tổ hợp lai Du (L Y), Du (Y L), L19 (Y L),
L19 (L Y) tại Xí nghiệp Chăn nuôi Đồng Hiệp – Hải Phòng đƣợc tác giả
Đặng Vũ Bình và cs. (2005) cho biết, tăng khối lƣợng/ngày lần lƣợt tƣơng ứng
đạt 485,15; 525,42; 484,65 và 494,43 g/ngày với mức tiêu tốn thức ăn/kg tăng
khối lƣợng là 2,40; 2,40; 2,61 và 2,56 kg; tỷ lệ móc hàm tƣơng ứng ở các tổ hợp
lai đạt 78,14; 79,70; 78,60 và 80,02%.
Lê Thanh Hải (2001) đã cho biết, đối với tăng khối lƣợng của các tổ hợp
lợn lai giữa các giống Du, L và Y thì giá trị di truyền cộng gộp đóng góp vào chúng
là 573,576 và 580 g/ngày, trong khi đó di truyền cộng gộp của bố chỉ đóng góp 15; -
8 và -7 g/ngày và di truyền cộng gộp của mẹ đóng góp -17; 9 và 8 g/ngày. Nhƣ vậy
bố là lợn Du cho kết quả cao nhất nhƣng nếu mẹ thì Du sẽ cho kết quả thấp nhất
trong các tổ hợp lai có ba giống Du, L và Y. Tác giả kết luận hiệu ứng từ bản thân
lợn mẹ cần thiết đƣợc xem xét trong việc đánh giá di truyền đối với các tình trạng
năng suất ở lợn nái.
Theo Nguyễn Thị Viễn và cs. (2003) khi nghiên cứu về tốc độ tăng khối
lƣợng của các tổ hợp lai giữa ba giống L, Du, Y, giá trị di truyền cộng gộp trực
tiếp, bố và mẹ đều tăng khối lƣợng của các tổ hợp lai giữa ba giống này tƣơng
ứng là 573; 576; 580 g/ngày.
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Đức (2003) trên các tổ hợp lai Du
(L Y), Du (Y L), (Du L) (L Y) và (Du L) (Y L) đã cho biết tổ
hợp lai ba giống của Du nuôi thịt có tốc độ tăng khối lƣợng cao, đặc biệt khi sử
dụng đực lai (Du L) đã nâng cao tính trạng tăng khối lƣợng vì chúng đƣợc thừa
hƣởng thêm ƣu thế lai của bố lai. Tác giả khẳng định sử dụng đực lai (Du L)
tạo lợn lai nuôi thịt tăng hơn 3,19 g/ngày so với sử dụng đực thuần Du khi lợn
nái đều là tổ hợp lai F1(Y L) hoăc F1(L Y). F1(Y L) hoăc F1(L Y).
Phan Xuân Hảo (2007) cho biết, tăng khối lƣợng tuyệt đối của lợn L; Y; F1(L Y) lần lƣợt là 710,56; 664,87 và 685,31 g/ngày, tiêu tốn thức ăn tƣơng ứng là 2,91; 3,07 và 2,83 kg. Tỷ lệ thịt nạc tƣơng ứng 56,17; 53,86 và 55,35 %. Cũng theo Phan
Xuân Hảo và cs. (2009) cho biết, các tổ hợp lai PiDu Y, PiDu L, PiDu F1(L
33
Y) có tỷ lệ thịt nạc tƣơng ứng là 56,21; 56,88 và 56,51%, tỷ lệ mất nƣớc tổng tƣơng
ứng 28,35; 28,46 và 28,82%; độ dai của thịt tƣơng ứng 4,29; 4,28 và 4,26 N.
Nghiên cứu của Phan Xuân Hảo và Nguyễn Văn Chi (2010) trên tổ hợp lợn
lai Omega F1(L Y) có tỷ lệ móc hàm là 81,28%; tổ hợp lợn lai PiDu F1(L Y) là 80,64%; tỷ lệ thịt nạc tƣơng ứng của hai tổ hợp lai 61,54% và 57,09%.
Trịnh Hồng Sơn và cs. (2013) công bố về khả năng sinh trƣởng của dòng
đực tổng hợp VCN03 cho thấy, khả năng tăng khối lƣợng trung bình hàng ngày
(829,80 g/ngày), tỷ lệ móc hàm (84,30%), tỷ lệ nạc (61,14%) của thế hệ 1 sau
chọn lọc đạt cao hơn so với thế hệ xuất phát (769,51 g/ngày, 84,12% và 59,74%).
Các chỉ tiêu về chất lƣợng thịt của thế hệ xuất phát và thế hệ 1 sau chọn lọc đều
đạt tiêu chuẩn tốt.
Vũ Đình Tôn và Nguyễn Công Oánh (2010) cho biết tổ hợp lai Du F1(Y MC) có tỷ lệ thịt nạc, khối lƣợng cai sữa, khối lƣợng 60 ngày tuổi cao hơn tổ hợp
lai L F1(Y MC) và F1(L Y) F1(Y MC).
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010) cũng cho
rằng năng suất sinh sản, sinh trƣởng và năng suất thịt của tổ hợp lai 4 giống cao
hơn và tiêu tốn thức ăn thấp hơn so với tổ hợp lai 2 giống. Nên sử dụng lợn đực
PiDu phối với nái F1(LY) để đạt đƣợc năng suất cao hơn trong thực tế (Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn, 2010). Việc sử dụng đực PiDu phối với nái ngoại
(L, Y và LY) đạt đƣợc năng suất cao nhƣng vẫn đảm bảo đƣợc chất lƣợng thịt
tốt (Phan Xuân Hảo và cs., 2010; Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn, 2010).
Các công trình công bố trong và ngoài nƣớc nêu trên đã nghiên cứu tƣơng
đối toàn diện về khả năng sản xuất của lợn đực lai PiDu, nhƣng chƣa có nghiên
cứu nào đƣợc thực hiện một cách có hệ thống và đầy đủ, đặc biệt là chƣa xác
định đƣợc thành phần di truyền thích hợp của lợn đực lai PiDu trong việc nâng cao năng suất sinh sản, sinh trƣởng, tỷ lệ thịt nạc và đảm bảo đƣợc chất lƣợng
thịt của các tổ hợp lai.
Nhƣ vậy việc nghiên cứu nhằm xác định đƣợc lợn đực lai PiDu có thành
phần di truyền thích hợp khi phối giống với nái lai F1(L Y) cho tổ hợp lai có năng
suất, chất lƣợng thịt cao, phù hợp với điều kiện chăn nuôi trang trại, gia trại đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trƣờng là rất cần thiết. Nghiên cứu này cũng góp phần
thực hiện mục tiêu chiến lƣợc của toàn quốc nói chung, tỉnh Hải Dƣơng, Hƣng Yên
nói riêng đó là tăng tỷ lệ đàn lợn hƣớng nạc trong cơ cấu đàn lợn.
34
PHẦN 3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Lợn đực lai PiDu với tỷ lệ giống Piétrain Re-Hal là 25%, 50% và 75%.
Các lợn đực lai trên đƣợc tạo ra từ đàn lợn hạt nhân Piétrain Re-Hal nhập
từ Vƣơng quốc Bỉ nuôi thích nghi và nhân thuần chủng tại Xí nghiệp Chăn nuôi
Đồng Hiệp, Hải Phòng.
Tạo lợn đực lai theo sơ đồ:
Bƣớc 1: Tạo đực PiDu và nái (50% giống Piétrain Re-Hal):
♂Piétrain Re-Hal × ♀Duroc
♂F1(PiDu50) ♀F1(PiDu50)
(50% Piétrain Re-Hal + 50% Duroc) (50% Piétrain Re-Hal + 50%
Duroc)
Bƣớc 2a : Tạo đực PiDu25 (25% giống Piétrain Re-Hal)
♂Duroc × ♀F1(PiDu50) (nái đƣợc chọn từ bƣớc 1)
♂(PiDu25)
(25% Piétrain Re-Hal + 75% Duroc)
Bƣớc 2b : Tạo đực PiDu75 (75% giống Piétrain Re-Hal)
♂ Piétrain Re-Hal × ♀F1(PiDu50) (nái đƣợc chọn từ bƣớc 1)
♂(PiDu75)
(75% Piétrain Re-Hal + 25% Duroc)
Số lƣợng lợn đực lai PiDu dùng để phối giống với lợn nái F1(LY) là:
PiDu25: 3 con
PiDu50: 3 con
PiDu75: 3 con.
35
3.2. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Chúng tôi tổ chức nghiên cứu tại 3 trang trại chăn nuôi lợn ngoại, cụ thể:
- Trang trại ông Phạm Văn Lanh, phƣờng Việt Hoà, thành Phố Hải
Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng.
- Trang trại bà Phạm Thị Mây, xã Cẩm Hoàng, huyện Cẩm Giàng, tỉnh
Hải Dƣơng.
- Trang trại ông Nguyễn Văn Binh, xã Xuân Quan, huyện Văn Giang, tỉnh
Hƣng Yên.
3.3. NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.3.1. Theo dõi và đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái
3.3.1.1. Vật liệu
Lợn nái F1(L × Y)
Lợn đực lai PiDu25, PiDu50 và PiDu75.
- Nái F1(L × Y) phối với đực lai PiDu25, ký hiệu PiDu25 × F1(L × Y): 50 con
- Nái F1(L × Y) phối với đực lai PiDu50, ký hiệu PiDu50 × F1(L × Y): 35 con
- Nái F1(L × Y) phối với đực lai PiDu75, ký hiệu PiDu75 × F1(L × Y): 56 con
Nghiên cứu đƣợc thực hiện tại 3 trang trại chăn nuôi lợn ngoại: 2 trang trại
ở tỉnh Hải Dƣơng, và 1 trang trại ở tỉnh Hƣng Yên. Lợn nái đƣợc nuôi trong các
trang trại nhập từ Trung tâm nghiên cứu lợn Thụy Phƣơng - Viện Chăn nuôi.
Tiến hành nghiên cứu năng suất sinh sản với 141 lợn nái lai F1(L × Y), 176 lứa đẻ của các tổ hợp đực lai thí nghiệm. Số lƣợng lợn nái và số lứa đẻ theo
dõi trình bày trong bảng 3.1.
Trong tổng số 176 lứa đẻ đó bao gồm: 63 lứa ở tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y), 40 lứa ở tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) và 73 lứa ở tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y).
Thời gian nghiên cứu từ tháng 3 năm 2011 đến tháng 5 năm 2013.
36
Tổ hợp lai
Trang trại
Số lợn nái
Số lứa đẻ
Phạm Thị Mây
16
21
Phạm Văn Lanh
17
21
PiDu25 × F1(L × Y)
Nguyễn Văn Binh
17
21
Bảng 3.1. Số lƣợng lợn nái nghiên cứu trong mỗi tổ hợp lai
Tổng
50
63
Phạm Thị Mây
12
15
Phạm Văn Lanh
12
13
PiDu50 × F1(L × Y)
Nguyễn Văn Binh
11
12
Tổng
35
40
Phạm Thị Mây
19
24
Phạm Văn Lanh
18
24
PiDu75 × F1(L × Y)
Nguyễn Văn Binh
19
25
Tổng
56
73
Tổng cộng
141
176
3.3.1.2. Phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm đƣợc tiến hành theo phƣơng pháp bố trí theo nhóm. Lợn nái F1(L × Y) trong các tổ hợp lai đƣợc nuôi trong điều kiện chuồng hở tại các trang trại. Các lợn nái trên đƣợc đảm bảo các yếu tố đồng đều về khối lƣợng cơ
thể, nuôi dƣỡng, chăm sóc, vệ sinh phòng bệnh và phƣơng thức phối giống.
Tiêu chuẩn thức ăn hỗn hợp cho lợn nái và lợn con theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 1547: 2007), thành phần dinh dƣỡng cơ bản của thức ăn nuôi lợn nái
và lợn con trình bày trong bảng 3.2.
Loại lợn
NL trao đổi (Kcal ME/kg TĂ)
Protein thô (%)
Canxi (%)
Phot pho (%)
Nái có chửa
2900
14,0
1,0
0,6
Nái nuôi con
3000
16,0
1,0
0,6
3200
20
1,2
0,5
Lợn con tập ăn và sau cai sữa đến 15 kg
Bảng 3.2. Thành phần dinh dƣỡng của thức ăn nuôi lợn nái và lợn con
Khẩu phần thức ăn cho lợn nái chửa kỳ 1 (từ ngày thứ nhất đến ngày thứ
37
84) 2,0 - 2,4 kg/ngày, lợn nái chửa kỳ 2 (từ ngày thứ 85 đến khi đẻ) 2,5 - 2,8 kg/ngày, trƣớc khi đẻ 3 ngày cho ăn giảm dần, ngày đẻ cho ăn 0,5 - 1,0
kg/con/ngày, từ ngày nuôi con thứ 7 đến khi cai sữa cho ăn theo công thức: P= [2,0
+ (0,3 x số con/ổ)] kg.
Khẩu phần ăn cho lợn con tập ăn: tuần thứ 2 cho ăn 0,1-0,2 kg/con; tuần
thứ 3 cho ăn 0,3-0,5 kg/con/ngày.
Các chỉ tiêu theo dõi và xác định năng suất sinh sản của lợn nái bao gồm:
- Số con đẻ ra/ổ: là tổng tất cả số lợn con sinh ra bao gồm số con sơ sinh
sống, số con chết khi sinh và số con chết lƣu (con).
- Số con sơ sinh sống/ổ: là số con sơ sinh sống sau khi lợn mẹ đẻ xong (con).
- Số con để nuôi/ổ: Số con do lợn nái đẻ ra để lại nuôi (con).
- Số con cai sữa/ổ: Số con còn sống đến khi cai sữa (con).
- Tỷ lệ sơ sinh sống (%).
- Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa (%).
- Khối lƣợng sơ sinh/ổ (kg).
- Khối lƣợng cai sữa/ổ (kg).
- Khối lƣợng sơ sinh trung bình/con (kg).
- Khối lƣợng cai sữa trung bình/con (kg).
- Thời gian cai sữa (ngày).
- Thời gian phối lại, khoảng cách lứa đẻ (ngày).
- TTTĂ/1kg lợn con cai sữa (kg).
Phƣơng pháp theo dõi và đánh giá năng suất sinh sản đàn lợn nái F1(L
Y) phối giống với lợn đực lai PiDu25, PiDu50 và PiDu75:
- Dựa vào thẻ nái, sổ ghi chép tại trang trại để thu thập số liệu nghiên cứu
khả năng sinh sản của lợn nái.
- Đếm số lƣợng lợn con ở các thời điểm: sơ sinh và cai sữa.
Số con sơ sinh sống
Tỷ lệ sơ sinh sống (%) = x 100
Số con đẻ ra
38
Số con cai sữa sống
Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa (%) = x 100
Số con sơ sinh sống
- Cân khối lƣợng lợn sơ sinh từng con bằng cân đồng hồ 5 kg với phân độ
nhỏ nhất 20g, sai số nhỏ nhất ± 10g, sai số lớn nhất ± 30g. Cân khối lƣợng lợn cai sữa từng con bằng cân đồng hồ 10 kg với phân độ nhỏ nhất 50g, sai số nhỏ
nhất ± 25g, sai số lớn nhất ± 50g. Khối lƣợng sơ sinh/ổ, khối lƣợng cai sữa/ổ là
tổng khối lƣợng toàn ổ tại thời điểm sơ sinh và cai sữa.
- Thời gian cai sữa (ngày): đƣợc tính từ ngày đẻ đến ngày cai sữa lợn con.
- Thời gian phối lại (ngày): đƣợc tính từ ngày cai sữa lợn con đến ngày
phối lại có chửa.
- Khoảng cách lứa đẻ (ngày): đƣợc tính từ ngày đẻ lứa trƣớc đến ngày đẻ
lứa sau.
- TTTĂ/1kg lợn con cai sữa: dựa trên lƣợng thức ăn sử dụng cho lợn
mẹ/lứa đẻ + thức ăn tập ăn của lợn con và khối lƣợng cai sữa toàn ổ.
- Tiêu tốn thức ăn/1kg lợn cai sữa đƣợc xác định theo công thức:
Lƣợng thức ăn tiêu thụ (kg)
Khối lƣợng cai sữa/ổ (kg)
Tiêu tốn thức ăn/1kg lợn con cai sữa =
Trong đó: Lƣợng thức ăn tiêu thụ = (lƣợng thức ăn cho nái chờ phối +
lƣợng thức ăn cho nái mang thai + lƣợng thức ăn cho nái nuôi con + lƣợng thức
ăn cho lợn con tập ăn/ổ).
Số liệu đƣợc xử lý bằng phần mềm SAS 9.1 (2002). Các tham số thống kê
bao gồm: dung lƣợng mẫu (n), trung bình bình phƣơng nhỏ nhất (LSM) và sai số tiêu chuẩn (SE), so sánh các giá trị LSM bằng phƣơng pháp so sánh Duncan tại
Bộ môn Di truyền – Giống vật nuôi, Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp
Việt Nam.
Sử dụng thủ tục GLM SAS 9.1 (2002) để phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến các tính trạng sinh sản của lợn nái. Ảnh hƣởng của các yếu tố đến các tính
trạng sinh sản của lợn nái đƣợc phân tích theo mô hình thống kê:
yijklm = + Di + Fj + Lk +Tl + ijklm
39
Trong đó:
yijklm : Giá trị về các chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái;
: giá trị trung bình của quần thể về năng suất sinh sản;
Di: ảnh hƣởng của đực giống có thành phần di truyền khác nhau (i = 3);
Fj: ảnh hƣởng của trại chăn nuôi (j = 3);
Lk: ảnh hƣởng của mùa vụ (k = 2);
Tl: ảnh hƣởng của lứa đẻ (l = 6);
ijklm: sai số ngẫu nhiên
3.3.2. Theo dõi và đánh giá khả năng sinh trƣởng của con lai 3.3.2.1. Vật liệu
Sơ đồ tạo con lai thƣơng phẩm (4 giống) PiDu × F1(L × Y):
♂PiDu25 × ♀ F1(L × Y) ♂PiDu50 × ♀ F1(L × Y) ♂PiDu75 × F1(L × Y)
Con lai thƣơng phẩm (4 giống)
Số lƣợng lợn trong mỗi tổ hợp lai nuôi theo dõi sinh trƣởng thể hiện trong
bảng 3.3.
Tổ hợp lai
Trang trại
Số lợn nuôi thịt (con)
Phạm Thị Mây
22
PiDu25 × F1(L × Y)
Phạm Văn Lanh Nguyễn Văn Binh
22 20
Phạm Thị Mây
20
Phạm Văn Lanh
20
PiDu50 × F1(L × Y)
Nguyễn Văn Binh
20
Phạm Thị Mây Phạm Văn Lanh
22 23
PiDu75 × F1(L × Y)
Nguyễn Văn Binh
24
Tổng cộng
193
Bảng 3.3. Số lƣợng lợn theo dõi sinh trƣởng trong mỗi tổ hợp lai
3.3.2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đƣợc tiến hành tại 3 trang trại chăn nuôi lợn ngoại: 2 trang trại ở tỉnh Hải Dƣơng và 1 trang trại ở tỉnh Hƣng Yên từ tháng 8 năm 2011 đến tháng
40
5 năm 2013.
Các thí nghiệm nuôi theo dõi sinh trƣởng và tiêu tốn thức ăn đƣợc tiến
hành theo phƣơng pháp phân lô so sánh, với tổng số 193 lợn, trong đó 64 con ở tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y), 60 con ở tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) và 69 con ở tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y). Mỗi trại đều thực hiện cả 3 tổ hợp lai, mỗi lô từ 10 – 12 con (tỷ lệ đực cái tƣơng đƣơng nhau).
Lợn nuôi thí nghiệm đảm bảo đồng đều về khối lƣợng bắt đầu nuôi, thời
gian nuôi, chế độ chăm sóc, nuôi dƣỡng và vệ sinh phòng bệnh. Tiêu chuẩn thức ăn hỗn hợp cho lợn thịt theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 1547: 2007), thành
phần dinh dƣỡng cơ bản của thức ăn nuôi lợn thịt trình bày trong bảng 3.4.
Loại lợn
NL trao đổi (Kcal ME/kg)
Protein thô (%)
Canxi (%)
Photpho (%)
Lợn con (15 – 30 kg) Lợn choai (31 – 60 kg)
3.000 3.000
17,0 15,0
1,0 0,9
0,6 0,6
Lợn vỗ béo (>60kg)
3.000
13,0
0,9
0,6
Bảng 3.4. Thành phần dinh dƣỡng của thức ăn nuôi lợn thịt
Thời gian theo dõi: tiến hành theo dõi từ sau cai sữa (khoảng 25 ngày tuổi)
đến khi giết thịt (khoảng 165 ngày).
Đánh giá khả năng sinh trƣởng của các tổ hợp lai theo hai giai đoạn nuôi:
Giai đoạn từ sau cai sữa đến 60 ngày tuổi và giai đoạn nuôi thịt (khoảng 60 ngày
tuổi đến khi giết thịt).
* Giai đoạn từ sau cai sữa đến 60 ngày tuổi, các chỉ tiêu theo dõi bao gồm:
- Khối lƣợng khi cai sữa (kg).
- Khối lƣợng 60 ngày tuổi (kg).
- Tăng khối lƣợng từ sau cai sữa đến 60 ngày tuổi (g/con/ngày).
- Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lƣợng (kg).
Phƣơng pháp theo dõi, đánh giá khả năng sinh trƣởng của các tổ hợp lai từ
sau cai sữa đến 60 ngày tuổi:
Cân khối lƣợng lợn cai sữa bằng cân đồng hồ 10 kg với phân độ nhỏ nhất 20g, sai số tối thiểu ± 10g, sai số tối đa ± 30g. Cân khối lƣợng khi 60 ngày tuổi bằng cân đồng hồ loại 30 kg, phân độ nhỏ nhất 100 g, sai số tối thiểu ± 50g, sai số tối đa ± 150g, theo phƣơng pháp cân từng con. Lợn thí nghiệm đều đƣợc đeo
41
thẻ tai vào thời điểm cai sữa.
- Tăng khối lƣợng trong thời gian từ sau cai sữa đến 60 ngày tuổi: dựa
trên tăng khối lƣợng đƣợc trong thời gian từ sau cai sữa đến 60 ngày tuổi và số
ngày nuôi thí nghiệm.
Tăng khối lƣợng (kg)
Số ngày nuôi (ngày)
Tăng khối lƣợng (g/con/ngày) = x 1000
- Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lƣợng: dựa trên tổng khối lƣợng thức ăn và
tăng khối lƣợng trong thời gian từ sau cai sữa đến 60 ngày tuổi. Tiêu tốn thức
ăn/1kg tăng khối lƣợng đƣợc xác định theo công thức:
Lƣợng thức ăn thu nhận (kg)
Khối lƣợng tăng (kg)
Tiêu tốn thức ăn/1kg tăng khối lƣợng =
* Giai đoạn nuôi thịt (từ khoảng 60 ngày tuổi đến khi kết thúc nuôi thịt),
các chỉ tiêu theo dõi bao gồm:
- Khối lƣợng bắt đầu nuôi thịt (kg).
- Khối lƣợng kết thúc nuôi thịt (kg).
- Tăng khối lƣợng trong thời gian nuôi thịt (g/con/ngày).
- Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lƣợng (kg).
Phƣơng pháp theo dõi, đánh giá khả năng sinh trƣởng của các con lai từ 60
ngày tuổi đến khi giết thịt:
- Khối lƣợng 60 ngày tuổi và kết thúc nuôi thịt: cân khối lƣợng khi 60
ngày tuổi và kết thúc thí nghiệm.
Cân khối lƣợng khi 60 ngày tuổi bằng cân đồng hồ loại 30 kg, phân độ
nhỏ nhất 100g, sai số tối thiểu ± 50g, sai số tối đa ± 150g, cân khối lƣợng kết
thúc nuôi thịt bằng cân đồng hồ loại 150 kg, phân độ nhỏ nhất 500g, sai số tối
thiểu ± 250g, sai số tối đa ± 750g, theo phƣơng pháp cân từng con.
- Tăng khối lƣợng trong thời gian nuôi thịt: dựa trên tăng khối lƣợng đƣợc
trong thời gian nuôi thịt và số ngày nuôi thịt.
42
Tăng khối lƣợng (kg)
Số ngày nuôi (ngày)
Tăng khối lƣợng (g/con/ngày) = x 1000
- Hiệu quả chuyển hoá thức ăn của lợn thịt: dựa trên tổng khối lƣợng thức
ăn và tăng khối lƣợng trong thời gian nuôi thịt. Tiêu tốn thức ăn/1kg tăng khối lƣợng đƣợc xác định theo công thức:
Lƣợng thức ăn thu nhận (kg)
Tăng khối lƣợng (kg)
Tiêu tốn thức ăn/1kg tăng khối lƣợng =
Số liệu đƣợc xử lý bằng phần mềm SAS 9.1 (2002). Các tham số thống kê
bao gồm: dung lƣợng mẫu (n), trung bình bình phƣơng nhỏ nhất (LSM) và sai số tiêu chuẩn (SE), so sánh các giá trị LSM bằng phƣơng pháp so sánh Duncan tại
Bộ môn Di truyền – Giống vật nuôi, Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp
Việt Nam.
Sử dụng thủ tục GLM SAS 9.1 (2002) để phân tích các yếu tố ảnh hƣởng
đến các tính trạng sinh trƣởng. Ảnh hƣởng của các yếu tố đến các tính trạng sinh
trƣởng đƣợc phân tích theo mô hình thống kê:
yijkl = + Di + Fj + Lk + ijkl
Trong đó:
yijkl: giá trị về các chỉ tiêu năng suất sinh trƣởng;
: giá trị trung bình của quần thể về năng suất sinh trƣởng;
Di: ảnh hƣởng của đực giống có thành phần di truyền khác nhau (i = 3);
Fj: ảnh hƣởng của trại chăn nuôi (j = 3);
Lk: ảnh hƣởng của mùa vụ (k = 2);
ijkl: sai số ngẫu nhiên
3.3.3. Đánh giá năng suất thân thịt và chất lƣợng thịt của con lai 3.3.3.1. Xác định độ dày mỡ lưng, độ sâu cơ thăn và tỷ lệ thịt nạc trên cơ thể lợn sống a. Vật liệu
cơ thể lợn sống trình bày trong bảng 3.5.
Số lƣợng lợn lai thƣơng phẩm đo độ dày mỡ lƣng và tỷ lệ thịt nạc trên
43
Tổ hợp lai
Số lợn
Lợn đực thiến
Lợn cái
32 30
32 30
64 60
35
34
69
Bảng 3.5. Số lƣợng lợn đo độ dày mỡ lƣng và tỷ lệ thịt nạc trong mỗi tổ hợp lai
PiDu25 × F1(L × Y) PiDu50 × F1(L × Y) PiDu75 × F1(L × Y) Tổng số
97
96
193
b. Phương pháp nghiên cứu
Đo dày mỡ lƣng, độ sâu cơ thăn và tỷ lệ nạc ở mỗi tổ hợp lai đƣợc tiến hành trên 193 lợn nuôi thịt, trong đó tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) là 64 con, tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) là 60 con và tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) là 69 con cùng với thời điểm cân khối lƣợng kết thúc nuôi thịt.
- Độ dày mỡ lƣng đƣợc xác định trên lợn sống vào thời điểm kết thúc thí
nghiệm bằng máy siêu âm PigLog 105 tại hai vị trí:
Độ dày mỡ lƣng 1 (P1): Độ dày mỡ lƣng 1 tại vị trí đốt sống lƣng 3 - 4
tính từ đuôi lên, cách sống lƣng 65 mm.
Độ dày mỡ lƣng 2 (P2): Độ dày mỡ lƣng 2 tại vị trí giữa xƣơng sƣờn 3 - 4
tính từ đuôi lên, cách sống lƣng 65 mm.
- Độ sâu cơ thăn đƣợc xác định trên lợn sống cùng với độ dày mỡ lƣng
vào thời điểm kết thúc thí nghiệm bằng máy siêu âm PigLog 105.
- Tỷ lệ thịt nạc đƣợc xác định trên lợn sống cùng với độ dày mỡ lƣng vào
thời điểm kết thúc thí nghiệm bằng máy siêu âm PigLog 105.
3.3.3.2. Đánh giá năng suất thân thịt và chất lượng thịt của các tổ hợp lai a. Vật liệu
Số lƣợng lợn lai thƣơng phẩm mổ khảo sát để đánh giá năng suất thân thịt
và chất lƣợng thịt trình bày trong bảng 3.6.
Tổ hợp lai
Số lợn
Lợn đực thiến
Lợn cái
8
8
16
6 6
6 6
12 12
Bảng 3.6. Số lƣợng lợn mổ khảo sát để đánh giá năng suất thân thịt và chất lƣợng thịt trong mỗi tổ hợp lai
PiDu25 × F1(L × Y) PiDu50 × F1(L × Y) PiDu75 × F1(L × Y) Tổng số
20
20
40
44
b. Phương pháp nghiên cứu
Lợn mổ khảo sát cho nhịn đói 24 giờ trƣớc khi giết mổ. Tiến hành các thao
tác giết mổ: chọc tiết, cạo lông, xẻ đôi thân thịt, đo các chiều đo trên thân thịt để
nằm và tiến hành lấy mẫu để xác định các chỉ tiêu đánh giá năng suất thân thịt và
chất lƣợng thịt.
Các chỉ tiêu đánh giá năng suất thân thịt:
- Khối lƣợng giết thịt: Cân khối lƣợng khối lƣợng sống từng con trƣớc khi
giết thịt.
- Khối lƣợng móc hàm: Khối lƣợng thịt móc hàm là khối lƣợng thân thịt
sau khi chọc tiết, cạo lông, bỏ các cơ quan nội tạng nhƣng để lại hai lá mỡ.
- Tỷ lệ thịt móc hàm
Khối lƣợng thịt móc hàm
Tỷ lệ thịt móc hàm (%) = x 100 Khối lƣợng sống
- Khối lƣợng thịt xẻ: Khối lƣợng thịt xẻ là khối lƣợng thân thịt sau khi đã
bỏ đầu, 4 bàn chân, đuôi, hai lá mỡ ở thân thịt móc hàm.
- Tỷ lệ thịt xẻ
Khối lƣợng thịt xẻ
Tỷ lệ thịt xẻ (%) = x 100
Khối lƣợng sống
- Dài thân thịt: đo bằng thƣớc dây với độ chính xác 0,1 cm; đo từ xƣơng
Atlat đến xƣơng Pubis.
- Diện tích cơ thăn: Là diện tích của lát cắt cơ thăn tại điểm giữa xƣơng
sƣờn 13 - 14.
Phƣơng pháp xác định: Dùng giấy bóng in mặt cắt của cơ thăn tại điểm
giữa xƣơng sƣờn 13 - 14, sau đó chuyển hình mặt cắt cơ thăn sang giấy kẻ ô vuông. Cân khối lƣợng 100 cm2 giấy ô vuông (a gam) và hình mặt cắt cơ thăn trên giấy kẻ ô vuông ( b gam). Diện tích cơ thăn đƣợc tính theo công thức:
b (g) x 100 (cm2)
Diện tích cơ thăn (cm2) = a (g)
45
- Tỷ lệ thịt nạc: Tỷ lệ thịt nạc đƣợc tính theo phƣơng pháp 2 điểm của
Branscheid et al. (1987).
Tỷ lệ thịt nạc (%) = 47,978 + (26,0429 x S/F) + 4,5154 x ) – (2,5018 x
lgS) – (8,4221 x )
Trong đó:
S: dày mỡ ở giữa cơ bán nguyệt (M. glutaeus medius) (mm).
F: dày cơ đo từ phía trƣớc xƣơng bán nguyệt đến giới hạn trên của cột sống
(mm).
- Độ dày mỡ lƣng: là độ dày mỡ trung bình ở 3 vị trí cổ, lƣng và hông. Độ
dày mỡ đƣợc đo bằng thƣớc duxich với độ chính xác 0,01 mm.
Cổ: Đo tại điểm trên đốt xƣơng cổ cuối (nơi có lớp mỡ dày nhất).
Lƣng: Đo tại đốt sống lƣng cuối (nơi có lớp mỡ mỏng nhất).
Hông: Đo tại điểm giữa trên cơ bán nguyệt.
Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng thịt:
- Giá trị pH45 phút, pH24 giờ và pH48 giờ sau giết thịt.
Xác định giá trị pH45 phút sau khi giết thịt: Đo pH ở cơ thăn giữa xƣơng sƣờn 13 – 14 vào thời điểm 45 phút sau khi giết thịt bằng máy đo pH Testo 230
(Đức). Giá trị pH là trị số trung bình của 5 lần đo trên 5 điểm khác nhau theo phƣơng pháp của Clinquart (2004a).
Xác định giá trị pH24 giờ và pH48 phút sau khi giết thịt: Mẫu thịt đƣợc lấy tại cơ thăn ở vị trí xƣơng sƣờn 13 - 14 của lợn mổ khảo sát bảo quản trong hộp đá và vận chuyển về phòng thí nghiệm (mẫu đƣợc bảo quản ở nhiệt độ 40C) để phân tích các giá trị pH thịt ở thời điểm 24 và 28 giờ sau khi giết thịt). Đo pH tại các thời điểm 24 giờ (pH24) và 48 giờ (pH48) bảo quản sau khi giết thịt bằng máy đo pH Testo 230 (Đức). Giá trị pH là trị số trung bình của 5 lần đo trên 5 điểm khác nhau theo phƣơng pháp của Clinquart (2004a).
- Màu sắc thịt ở thời điểm 24 giờ và 48 giờ sau giết thịt, các giá trị màu sắc
thịt xác định:
- L* (Lightness): độ sáng
- a* (Redness): màu đỏ
- b* (Yellowness): màu vàng
46
Mẫu thịt đƣợc lấy tại cơ thăn ở vị trí xƣơng sƣờn 13 - 14 của lợn mổ khảo sát bảo quản trong hộp đá và vận chuyển về phòng thí nghiệm (mẫu đƣợc bảo quản ở nhiệt độ 40C để phân tích các chỉ tiêu màu sắc thịt ở thời điểm 24 và 48 giờ sau khi giết thịt).
Đo giá trị màu sắc đƣợc thực hiện tại thời điểm 24 và 48 giờ bảo quản sau
giết thịt bằng máy đo màu sắc thịt Minolta CR-410 (Nhật Bản). Giá trị màu sắc thịt
là trị số trung bình của 5 lần đo trên 5 điểm khác nhau theo phƣơng pháp của
Clinquart (2004b).
- Tỷ lệ mất nƣớc sau 24 và 48 giờ bảo quản (%).
Tỷ lệ mất nƣớc sau 24 và 48 giờ bảo quản (%): lấy 50 gram thịt của cơ
thăn ở vị trí xƣơng sƣờn 13 - 14 sau khi giết mổ, bảo quản mẫu trong túi nhựa kín ở nhiệt độ 40C trong 24 - 48 giờ. Cân khối lƣợng mẫu trƣớc và sau khi bảo quản để xác định tỷ lệ mất nƣớc.
Tỷ lệ mất nƣớc sau 24 giờ bảo quản:
P1 – P2 Tỷ lệ mất nƣớc (%) = x 100 P1
P1: Khối lƣợng mẫu trƣớc khi bảo quản. P2: Khối lƣợng mẫu sau khi bảo quản 24 giờ ở nhiệt độ 40C.
Tỷ lệ mất nƣớc sau 48 giờ bảo quản:
P1 – P3 Tỷ lệ mất nƣớc (%) = x 100 P1
P1: Khối lƣợng mẫu trƣớc khi bảo quản. P3: Khối lƣợng mẫu sau khi bảo quản 48 giờ ở nhiệt độ 4oC.
- Tỷ lệ hao hụt chế biến 24 và 48 giờ sau giết thịt.
Xác định tỷ lệ hao hụt chế biến (%): Xác định khối lƣợng mẫu cơ thăn sau
bảo quản (24 và 48 giờ) đƣa vào túi nhựa chịu nhiệt và hấp trong Waterbath ở nhiệt độ 800C trong vòng 75 phút, sau đó lấy mẫu túi ra và làm mát dƣới vòi nƣớc chảy ngoài túi mẫu trong 20 phút. Thấm khô bề mặt mẫu thịt bằng giấy mềm và cân khối lƣợng mẫu sau chế biến. Xác định tỷ lệ hao hụt chế biến theo
sự chênh lệch khối lƣợng mẫu trƣớc và sau khi chế biến.
47
- Độ dai của thịt tại 24 và 48 giờ sau giết thịt.
Xác định độ dai của thịt: Mẫu thịt sau khi đã xác định tỷ lệ hao hụt chế
biến, dùng dụng cụ lấy mẫu (đƣờng kính 1,25cm) lấy 5-10 mẫu (thỏi) thịt cùng
chiều với thớ cơ và đƣa vào máy Warner – Bratzler 2000D (Mỹ) để xác định lực
cắt. Độ dai của mẫu thịt đƣợc xác định là trung bình của 5-10 lần đo lặp lại.
Đánh giá chất lƣợng thịt dựa vào giá trị pH thịt, màu sắc và tỷ lệ mất nƣớc
theo phân loại của Van Laack and Kauffman (1999) (dẫn theo Kuo and Chu, 2003): thịt bình thƣờng giá trị pH45 > 5,8; pH24 < 6,1; L* < 50 và tỷ lệ mất nƣớc từ 1 – 5 %.
- Thành phần hóa học của thịt.
Mẫu thịt đƣợc lấy tại cơ thăn ở vị trí xƣơng sƣờn 13 - 14 của lợn mổ khảo sát bảo quản trong hộp đá và vận chuyển về phòng thí nghiệm bảo quản ở nhiệt độ -500C để phân tích thành phần hóa học của thịt. Các chỉ tiêu xác định thành phần hóa học của thịt gồm: Tỷ lệ vật chất khô trong cơ thăn (%), tỷ lệ protein
thô trong cơ thăn (%), tỷ lệ lipit thô trong cơ thăn (%) và tỷ lệ khoáng tổng số
trong cơ thăn (%).
Xác định tỷ lệ vật chất khô trong cơ thăn (%) theo phƣơng pháp sấy
nhiệt (sấy ở 700C đến khối lƣợng không đổi).
Tỷ lệ protein thô trong cơ thăn (%) theo phƣơng pháp Kjeldahl.
Tỷ lệ lipit thô trong cơ thăn (%) theo phƣơng pháp Soxhlet.
Tỷ lệ khoáng tổng số trong cơ thăn (%) theo phƣơng pháp đốt khô trong lò
nung (ở nhiệt độ 5500C - 6000C trong thời gian từ 2 - 3 giờ).
Các chỉ tiêu chất lƣợng thịt, thành phần hóa học của thịt đƣợc phân tích tại phòng thí nghiệm Bộ môn Di truyền – Giống vật nuôi và Phòng thí nghiệm trung
tâm, Khoa Chăn nuôi, Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Số liệu đƣợc xử lý bằng phần mềm SAS 9.1 (2002). Các tham số thống kê
bao gồm: dung lƣợng mẫu (n), trung bình bình phƣơng nhỏ nhất (LSM) và sai số
tiêu chuẩn (SE), so sánh các giá trị LSM bằng phƣơng pháp so sánh Duncan.
Sử dụng thủ tục GLM SAS 9.1 (2002) để phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến các tính trạng năng suất thân thịt và chất lƣợng thịt của con lai. Ảnh hƣởng của các yếu tố đến các tính trạng năng suất thân thịt, chất lƣợng thịt và thành
phần hoá học của thịt đƣợc phân tích theo mô hình thống kê:
48
yijklm = + Di + Fj + Lk +Sl + ijklm
Trong đó:
yijklm : Giá trị về các chỉ tiêu năng suất thân thịt, chất lƣợng thịt và thành
phần hóa học của thịt;
: giá trị trung bình của quần thể về năng suất thân thịt, chất lƣợng thịt và
thành phần hóa học của thịt;
Di: ảnh hƣởng của đực giống có thành phần di truyền khác nhau (i = 3);
Fj: ảnh hƣởng của trại chăn nuôi (j =3);
Lk: ảnh hƣởng của mùa vụ (k = 2);
Sl: ảnh hƣởng của tính biệt (l = 2);
ijklm: sai số ngẫu nhiên
49
PHẦN 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1. NĂNG SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI F1(LANDRACE × YORKSHIRE) 4.1.1. Ảnh hƣởng của một số yếu tố đến năng suất sinh sản
Kết quả sử dụng mô hình GLM phân tích các yếu tố ảnh hƣởng bao gồm
trại chăn nuôi, đực giống, lứa đẻ và mùa vụ đƣợc trình bày ở bảng 4.1.
Đực
Trại Mùa vụ Lứa đẻ
Chỉ tiêu
Số con đẻ ra
NS
**
**
***
Số con sơ sinh sống
NS
**
*
***
Số con để nuôi
NS
NS
*
***
Số con cai sữa
NS
NS
NS
***
Khối lƣợng sơ sinh/con
*
**
**
***
Khối lƣợng sơ sinh/ổ
**
**
NS
***
Thời gian cai sữa
NS
NS
NS
*
Khối lƣợng cai sữa/con
NS
**
*
***
Khối lƣợng cai sữa/ổ
NS
*
NS
***
Thời gian chờ phối
NS
NS
NS
NS
Khoảng cách lứa đẻ
NS
NS
NS
NS
Ghi chú: NS: P> 0,05;*: P< 0,05; **: P < 0,01; ***: P< 0,001
Bảng 4.1. Mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố đến tính trạng sinh sản
Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hƣởng cho thấy: Hầu hết các yếu tố đều
có những ảnh hƣởng nhất định đến các chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái.
Mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố khác nhau cũng khác nhau đối với từng chỉ
tiêu năng suất sinh sản.
- Yếu tố đực giống ảnh hƣởng có ý nghĩa thống kê đối với các chỉ tiêu
khối lƣợng sơ sinh/con (P<0,05) và khối lƣợng sơ sinh/ổ (P<0,01). Các chỉ tiêu khác nhƣ số con đẻ ra, số con sơ sinh sống, số con để nuôi, số con cai sữa, thời gian cai sữa, khối lƣợng cai sữa/con, khối lƣợng cai sữa/ổ, thời gian chờ phối và
khoảng cách giữa hai lứa đẻ không chịu ảnh hƣởng của yếu tố đực giống.
- Yếu tố trại chăn nuôi ảnh hƣởng có ý nghĩa thống kê đối với các chỉ tiêu
nhƣ số con đẻ ra, số con sơ sinh sống, khối lƣợng sơ sinh/con, khối lƣợng sơ sinh/ổ,
50
khối lƣợng cai sữa/con (P<0,01), khối lƣợng cai sữa/ổ (P<0,05). Các chỉ tiêu còn lại nhƣ số con để nuôi, số con cai sữa, thời gian cai sữa, thời gian chờ phối và
khoảng cách giữa hai lứa đẻ không chịu ảnh hƣởng của yếu tố này.
- Yếu tố mùa vụ ảnh hƣởng có ý nghĩa thống kê đến chỉ tiêu số con đẻ ra, khối lƣợng sơ sinh/con (P<0,01), số con sơ sinh sống, số con để nuôi và khối lƣợng
cai sữa/con (P<0,05). Mùa vụ không ảnh hƣởng đến các chỉ tiêu số con cai sữa,
khối lƣợng sơ sinh/ổ, thời gian cai sữa, khối lƣợng cai sữa/ổ, thời gian chờ phối
và khoảng cách giữa hai lứa đẻ.
- Yếu tố lứa đẻ có ảnh hƣởng nhiều nhất đến các chỉ tiêu sinh sản, nhƣ số
con đẻ ra, số con sơ sinh sống, số con để nuôi, số con cai sữa, khối lƣợng sơ
sinh/con, khối lƣợng sơ sinh/ổ, khối lƣợng cai sữa/con và khối lƣợng cai sữa/ổ (P<0,001), thời gian cai sữa (P<0,05). Lứa đẻ không ảnh hƣởng đến các chỉ tiêu
thời gian chờ phối và khoảng cách lứa đẻ.
Nghiên cứu của Đặng Vũ Bình và cs. (2005) cho biết, yếu tố lứa đẻ có ảnh hƣởng rõ rệt đến hầu hết các tính trạng năng suất sinh sản (P<0,01). Yếu tố mùa
vụ ít ảnh hƣởng tới năng suất sinh sản. Đực giống chỉ ảnh hƣởng có ý nghĩa
thống kê đối với số con cai sữa/lứa và khối lƣợng sơ sinh/con.
Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006b) khi nghiên cứu ảnh hƣởng
của một số yếu tố tới năng suất sinh sản của lợn nái cho biết, đực giống ảnh
hƣởng có ý nghĩa thống kê đối với chỉ tiêu khối lƣợng sơ sinh/con và khối lƣợng
cai sữa/con. Lứa đẻ là yếu tố ảnh hƣởng rõ rệt tới hầu hết các chỉ tiêu sinh sản.
Theo Šprysl et al. (2012), lứa đẻ có ảnh hƣởng rõ rệt đến số con đẻ ra
(P<0,0001). Kết quả nghiên cứu của Duziński et al. (2014) cũng cho biết, mùa
vụ có ảnh hƣởng đến khối lƣợng sơ sinh/con (P<0,05) và khối lƣợng cai
sữa/con (P<0,01). Nhƣ vậy, nghiên cứu của chúng tôi có kết quả đánh giá mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố đến năng suất sinh sản của lợn nái F1(L × Y) phù hợp với các kết quả nghiên cứu đã công bố trên, đặc biệt là công bố của các tác
giả nƣớc ngoài.
4.1.2. Năng suất sinh sản của lợn nái F1(Landrace × Yorkshire)
Kết quả nghiên cứu về năng suất sinh sản của lợn nái F1(L × Y) phối với đực lai PiDu có thành phần di truyền Piétrain Re-Hal khác nhau đƣợc trình bày ở
bảng 4.2.
51
Chỉ tiêu
n
n
n
63 63
Số con đẻ ra/ổ (con) Số con sơ sinh sống/ổ (con)
0,39 0,39
73 73
40 40
± ±
0,29 0,29
Tỷ lệ sơ sinh sống (%) Số con để nuôi/ổ (con)
12,02 0,31
73 64
40 40
63 60
± ±
8,10 0,24
5 2
Số con cai sữa/ổ (con) Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa (%)
0,30 6,89
55 53
36 36
51 50
± ±
0,24 9,56
Thời gian cai sữa (ngày) Khối lƣợng sơ sinh/con (kg) Khối lƣợng sơ sinh/ổ (kg) Khối lƣợng cai sữa/con (kg)
0,58 0,07 0,54 0,22
55 805 73 633
50 673 61 529
35 396 39 336
± ± ± ±
0,44 0,05 0,39 0,16
PiDu25 × F1(L × Y) LSM ± SE 11,33 ± 0,24 10,76 ± 0,31 96,07 ± 9,43 10,05 ± 0,25 9,90 ± 0,26 98,80 ± 8,34 24,50 ± 0,46 1,36a ± 0,05 13,90a ± 0,43 6,39 ± 0,18 59,96 ± 1,65 152,14 ± 0,79
PiDu50 × F1(L × Y) LSM ± SE 10,93 ± 10,50 ± 95,28 ± 10,00 ± 9,91 ± 96,81 ± 23,89 ± 1,58b ± 15,27ab ± 6,59 ± 62,34 ± 150,87 ±
Khối lƣợng cai sữa/ổ (kg) Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ (ngày)
2,04 0,98
55 33
36 32
51 35
1,54 0,82
Thời gian phối lại có chửa (ngày)
36
9,08 ± 0,55
36
8,88 ±
0,56
34
8,78 ±
0,57
* Ghi chú: các giá trị trong cùng một hàng mang chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05).
Bảng 4.2. Năng suất sinh sản của lợn nái lai F1(L × Y) phối với đực lai PiDu có thành phần di truyền khác nhau PiDu75 × F1(L × Y) LSM ± SE 11,53 10,97 94,55 10,45 10,04 97,10 24,61 1,54b 16,33b 6,41 64,03 ± 150,21 ±
- Số con đẻ ra/ổ
Kết quả nghiên cứu cho thấy, số con đẻ ra/ổ cao nhất ở tổ hợp lai PiDu75
× F1(L × Y) (11,53 con), tiếp đến là tổ hợp lai PiDu25 × F1 (L × Y) (11,33 con) và thấp nhất là tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) (10,93 con). Tuy nhiên, không có sự sai khác thống kê về chỉ tiêu số con đẻ ra/ổ giữa các tổ hợp lai (P>0,05).
Kết quả nghiên cứu của Lê Thanh Hải và cs. (2001) cho biết tổ hợp lai Du ×
F1(L × Y) có số con đẻ ra/ổ là 10,83 con. Theo Phùng Thị Vân và cs. (2002), số con đẻ ra/ổ của tổ hợp lai Du × F1 (L × Y) qua 3 lứa đẻ đầu là 10,00 con. Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006b) cho biết số con đẻ ra/ổ ở hai tổ hợp lai Du × F1(L × Y) và Pi × F1(L × Y) tƣơng ứng là 11,05 và 10,76 con. Theo Trƣơng Hữu Dũng (2004), số con đẻ ra/ổ từ lứa 1 đến lứa 3 của tổ hợp Du × (L × Y) và Du × (Y ×
L) trung bình là 9,9 con/ổ và 10,25 con/ổ. Nguyễn Thị Viễn và cs. (2005) cho
rằng nái F1(L × Y) có số con đẻ trung bình 10,51 con/ổ. Theo Hoàng Nghĩa Duyệt (2008) nái F1(L × Y) có số con đẻ ra là 9,67con/ổ. Nhƣ vậy, so sánh với các nghiên cứu trên thì kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi về chỉ tiêu số con
đẻ ra/ổ là cao hơn.
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của chúng tôi tƣơng đƣơng với nghiên cứu
của các tác giả đã công bố trƣớc đó: Lợn nái lai F1 (L × Y) phối giống với đực L, Du và PiDu có số con đẻ ra/ổ tƣơng ứng là 11,17; 11,25 và 11,45 con (Nguyễn
Văn Thắng và Vũ Đình Tôn, 2010). Lợn nái F1 (L × Y) phối giống với đực Du và L có số con đẻ ra/ổ tƣơng ứng là 12,05 và 11,30 con (Vũ Đình Tôn và Nguyễn
Công Oánh, 2010). Số con đẻ ra/ổ ở tổ hợp lai Pi × F1(L × Y ) là 11,30 con (Phạm Thị Đào, 2014).
- Số con sơ sinh sống/ổ và tỷ lệ sống
Số con sơ sinh sống/ổ cao nhất là tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) (10,97 con), tiếp đến là tổ hợp lai PiDu25 × F1 (L × Y) (10,76 con) và thấp nhất là tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) (10,50 con). Tuy nhiên, không có sự sai khác thống kê về chỉ tiêu số con đẻ ra/ổ giữa các tổ hợp lai (P>0,05).
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010),
lợn nái F1(L × Y) phối giống với đực L, Du, PiDu có số con sơ sinh sống/ổ đạt 10,63; 10,70; 10,88 con. Vũ Đình Tôn và Nguyễn Công Oánh (2010) cho biết,
53
lợn nái F1 (L × Y) phối giống với đực Du, L có số con sơ sinh sống/ổ là 11,78 và 10,66 con và số con để nuôi/ổ tƣơng ứng là 11,30 và 10,47 con. Số con sơ sinh
sống/ổ ở tổ hợp lai Pi x F1(L × Y) là 10,65 con (Phạm Thị Đào, 2014). McCann et al. (2008) công bố số con sơ sinh sống/ổ của hai tổ hợp lai Du × (L × Y) và Pi
× (L × Y) tƣơng ứng là 10,50 và 10,20 con. Kết quả nghiên cứu về chỉ tiêu số
con đẻ ra, số con sơ sinh sống/ổ ở ba tổ hợp lai trong nghiên cứu của chúng tôi
phù hợp kết quả công bố của các tác giả trên.
Tuy nhiên, kết quả trong nghiên cứu về số con sơ sinh sống lại thấp hơn
kết quả nghiên cứu các tổ hợp lai giữa lợn nái F1(L × Y) với đực Landrace, Piétrain Austrian và Piétrain Belgium, (Magowan et al., 2009) cho biết, số con sơ
sinh sống của các tổ hợp lai trên tƣơng ứng là 11,65; 12,89 và 11,60 con.
Tỷ lệ sơ sinh sống sau 24 giờ cao nhất là tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) (96,07%), tiếp đến là tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) với (95,28%) và và thấp nhất là tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) (94,55%), tuy nhiên không có sự sai khác thống kê về chỉ tiêu tỷ lệ sơ sinh sống giữa các tổ hợp lai (P>0,05).
Nghiên cứu của chúng tôi có kết quả tƣơng tự với kết quả nghiên cứu của
Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2011) cho biết, ở nhóm nái lai F1(L × Y) tỷ lệ sống là 96,74%, nái lai F1(Y × L) là 95,43%. Tuy nhiên kết quả của chúng tôi lại thấp hơn kết quả nghiên cứu của Phùng Thị Vân và cs. (2000), cụ thể tỷ lệ sống
của tổ hợp lợn lai D × (L × Y) và D × (Y × L) là 98,9% và 97,0%.
- Số con để nuôi/ổ
Số con để nuôi/ổ hay số lợn con có khả năng chăn nuôi ở ba tổ hợp lai đạt
tƣơng ứng là 10,05; 10,00 và 10,45 con, không có sự sai khác thống kê về chỉ
tiêu này giữa các tổ hợp lai (P>0,05).
Trƣơng Hữu Dũng (2004) theo dõi trên đàn lợn nái sinh sản tổ hợp lai Du
× (L × Y) và Du × (Y × L) cho biết số con để nuôi trong ổ đạt trung bình là 9,84
và 9,76 con/ổ. Lê Đình Phùng và Nguyễn Trƣờng Thi (2009) cho biết, ở tổ hợp
lai F1(Du × L) × F1(Y × L) có số con để nuôi là 9,84 con/ổ. Nhƣ vậy kết quả theo dõi của chúng tôi cao hơn các kết quả nghiên cứu trên.
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu về chỉ tiêu số con để nuôi/ổ ở ba tổ hợp lai
trong nghiên cứu này phù hợp kết quả công bố của Phạm Thị Đào (2014) khi
54
nghiên cứu tổ hợp lai Pi × F1(L × Y) có số con để nuôi/ổ là 10,30 con. Phan Văn Hùng và Đặng Vũ Bình (2008) nghiên cứu trên bốn tổ hợp lai cho thấy kết quả
về số con để nuôi/ổ ở tổ hợp lai Du × (L × Y) là 9,84 con; Du × (Y × L) là 10,18
con; L19 × (L × Y) là 10,03 con và L19 × (Y × L) là 10,35 con/ổ. Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010) cho biết, tổ hợp lai D × (L × Y) có số con để nuôi
trung bình là 10,54 con/ổ.
- Số con cai sữa và tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa
Số con sai sữa/ổ cao nhất ở tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) với 10,04 con, tiếp đến là tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) với 9,91 con và thấp nhất là tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) với 9,90 con. Không có sự sai khác thống kê về chỉ tiêu số con cai sữa/ổ giữa các tổ hợp lai (P>0,05).
Kết quả về số con cai sữa/ổ ở các tổ hợp lai trong nghiên cứu này có phần
cao hơn so với công bố của của Phùng Thị Vân và cs. (2002), tác giả cho biết tổ
hợp lai Du × F1(L × Y) có số con cai sữa/ổ (35 ngày) là 9,60 con. Nguyễn Thị Viễn và cs. (2005) công bố số con cai sữa của nái F1(L × Y) trung bình là 9,4 con/ổ. Nghiên cứu của Hoàng Nghĩa Duyệt (2008) cho biết số con cai sữa của nái
F1(L × Y) trung bình 9,00 con/ổ.
Số con cai sữa/ổ ở các tổ hợp lai giữa lợn nái F1(L × Y) phối giống với đực L, Du, PiDu đạt 10,06; 10,05 và 10,15 con (Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình
Tôn, 2010). Số con cai sữa/ổ ở các tổ hợp lai giữa lợn nái F1(L × Y) phối giống với đực Du, L đạt 10,60 và 10,08 con (Vũ Đình Tôn và Nguyễn Công Oánh,
2010). Số con cai sữa/ổ ở các tổ hợp lai giữa lợn nái F1(L × Y) phối giống với đực Landrace, Piétrain Austrian, Piétrain Belgium đạt tƣơng ứng là 9,98; 9,39 và
9,67 con (Magowan et al., 2009). Số con sai sữa/ổ của tổ hợp lai Pi x F1(L x Y ) là 10,15 con (Phạm Thị Đào, 2014).
Nhƣ vậy, kết quả về số con cai sữa/ổ trong nghiên cứu này khá phù hợp
với các công bố của các tác giả trong và ngoài nƣớc đã công bố nhƣ trên.
Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa là chỉ tiêu quan trọng đánh giá hiệu quả và
năng suất sinh sản của lợn nái trong thời kì nuôi con. Kết quả cho thấy tỷ lệ nuôi
sống của lợn con đến khi cai sữa ở ba tổ hợp lai đều đạt cao, trong đó tổ hợp lai
PiDu25 × F1(L × Y) có tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa là cao nhất (98,80%), tiếp đến
55
là tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) (97,10%) và tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) có tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa là thấp nhất (96,81). Không có sự sai khác thống kê
về chỉ tiêu tỷ lệ nuôi sống của lợn con đến khi cai sữa giữa các tổ hợp lai
(P>0,05).
Theo Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006b) cho biết tỷ lệ sơ sinh
sống và tỷ lệ nuôi sống lợn con ở tổ hợp lai Du × F1(L × Y) đạt 94,42 và 93,94%; với tổ hợp lai Pi × F1(L × Y) đạt tƣơng ứng 97,23 và 93,17%. Gerasimov et al. (1997) cho biết tỷ lệ nuôi sống lợn con đến cai sữa của tổ hợp lai Du × (Poltawa
Meat × LW) đạt 94,5%, tổ hợp lai hai giống Du × LW chỉ đạt 93,60% và Du ×
Large Black đạt 96,50%. Nhƣ vậy kết quả nghiên cứu cho thấy lợn nái F1(L × Y) phối giống với lợn đực lai PiDu trong nghiên cứu của chúng tôi có tỷ lệ nuôi
sống đến cai sữa có phần cao hơn so với kết quả nghiên cứu của các tác giả trên.
Tuy nhiên theo dõi của chúng tôi cho kết quả tỷ lệ sống cũng nhƣ và tỷ lệ
nuôi sống đạt tƣơng đƣơng nhƣ nghiên cứu của các tác giả Đoàn Văn Soạn và
Đặng Vũ Bình (2011); Trƣơng Hữu Dũng (2004); Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị
Thúy (2009); Vũ Đình Tôn (2009). Cụ thể theo các tác giả Đoàn Văn Soạn và
Đặng Vũ Bình (2011) cho biết tổ hợp lai Du × (L × Y) tỷ lệ sống và tỷ lệ nuôi
sống tới lúc cai sữa có giá trị cao nhất, tƣơng ứng là 97,22 % và 96,38%; tiếp đến
là tổ hợp lai L19 × (L × Y) và Du × (Y × L); thấp nhất ở tổ hợp lai L19 × (Y × L)
có tỷ lệ sống là 95,08% và tỷ lệ nuôi sống tới lúc cai sữa 94,31%. Kết quả nghiên
cứu Trƣơng Hữu Dũng (2004) cho biết tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa của Du × (L ×
Y) là 96,84 %; của tổ hợp D × (Y ×L) là 94,73%. Phan Xuân Hảo, Hoàng Thị
Thúy (2009) cho biết tỷ lệ sơ sinh sống và tỷ lệ nuôi sống tới lúc cai sữa ở tổ hợp
lai PiDu × Y là 97,34% và 98,60%; tổ hợp lai PiDu × L là 96,35% và 96,91%; tổ
hợp lai PiDu × F1(L ×Y) là 98,09% và 97,59%. Theo Vũ Đình Tôn (2009), tỷ lệ sơ sinh sống của Du × (L × Y) là 97,82%; L × F1(L × Y) là 95,17%, tỷ lệ nuôi
sống đến cai sữa Du × (L Y) là 94,17% và L × F1(L × Y) là 96,55%.
- Khối lƣợng sơ sinh trung bình/con
Khối lƣợng sơ sinh/con ở ba tổ hợp lai đạt từ 1,36 đến 1,58kg, có sự sai
khác thống kê về chỉ tiêu khối lƣợng sơ sinh/con giữa tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) và PiDu75 × F1(L × Y) (P<0,05), không có
56
sự sai khác thống kê về chỉ tiêu khối lƣợng sơ sinh/con giữa tổ hợp lai PiDu50 ×
F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) (P>0,05).
Khối lƣợng trung bình của lợn con sơ sinh của ba tổ hợp lai thể hiện trên
biểu đồ 4.1.
Biểu đồ 4.1. Khối lƣợng trung bình của lợn con sơ sinh
Khối lƣợng sơ sinh/con tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) đạt cao nhất với 1,58 kg; tiếp đến là tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) với 1,54 kg và thấp nhất ở tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) với 1,36 kg.
Nghiên cứu của Từ Quang Hiển và Lƣơng Nguyệt Bích (2005) cho rằng,
khối lƣợng sơ sinh của nái Y là 1,37 kg/con, L là 1,37 kg/con, nái F1(Y × L) là 1,31 kg/con. Vũ Đình Tôn (2009) cho biết, khối lƣợng sơ sinh của Du × (L × Y)
là 1,32 kg/con. Theo Lê Đình Phùng (2009), khối lƣợng lợn con sơ sinh của tổ
hợp lai F1(Pi × Du) × F1(L × Y) đạt 1,35 kg/con. Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010) cho biết, khối lƣợng sơ sinh của tổ hợp lai Du × (L × Y) là
1,39kg/con. Theo dõi của chúng tôi về chỉ tiêu này có phần cao hơn kết quả của
các nghiên cứu trên.
Tuy nhiên kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi tƣơng đối phù hợp với
57
nghiên cứu của Đặng Vũ Bình và cs. (2005), các tác giả cho biết ở nái F1(Y × L) khối lƣợng sơ sinh/con trung bình đạt 1,57 kg/con. Phạm Thị Đào (2014) cho biết,
khối lƣợng sơ sinh/con ở tổ hợp lai Pi × F1(L × Y ) là 1,58 kg. Kết quả Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2011) cho thấy, khối lƣợng sơ sinh/con ở tổ hợp D × (L ×
Y) có giá trị trung bình là 1,5kg/con, tổ hợp lai L19 × (L × Y) là 1,49kg/con, tổ
hợp lai D × (Y × L) là 1,47kg/con và ở tổ hợp L19 × (Y × L) là 1,45kg/con. Kết
quả nghiên cứu của Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy (2009) cho thấy ở nái
F1(L × Y) có khối lƣợng sơ sinh/con trung bình là 1,46 kg/con. Phan Xuân Hùng và Đặng Vũ Bình (2008) cho biết hai tổ hợp lai D × (Y × L) và tổ hợp lai L19 ×
(L × Y) đều có khối lƣợng sơ sinh trung bình/con là 1,49 kg/con và tổ hợp lai L19
× (Y × L) là 1,48 kg/con. Theo McCann et al. (2008) công bố, khối lƣợng sơ
sinh/con của hai tổ hợp lai Du × (L × Y), Pi × (L × Y) đều đạt 1,60 kg. Lợn nái
F1(L × Y) phối giống với đực Landrace, Piétrain Áo, Piétrain Belgium có khối lƣợng sơ sinh/con tƣơng ứng 1,54; 1,39; 1,54 kg (Magowan et al., 2009).
- Khối lƣợng sơ sinh trung bình/ổ
Khối lƣợng sơ sinh/ổ của tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) đạt cao nhất (16,33 kg), tiếp đến là tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) (15,27 kg) và thấp nhất là tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) (13,90 kg). Có sự sai khác thống kê giữa tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) (P<0,05), không có sự sai khác thống kê giữa tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) và tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) (P>0,05).
Khối lƣợng sơ sinh/ổ của 3 tổ hợp lai trong nghiên cứu này cao hơn so với
kết quả của Phùng Thị Vân và cs. (2001) cho thấy, khối lƣợng sơ sinh/ổ của nái
lai F1(Y × L) đạt trung bình là 13,2 kg/ổ, nái F1(L × Y) có giá trị trung bình là 12,9 kg/ổ. Trƣơng Hữu Dũng (2004) nghiên cứu trên 2 tổ hợp lai cho biết khối
lƣợng sơ sinh/ổ của tổ hợp lai Du × (L × Y) trung bình là 13,00 kg/ổ, tổ hợp Du
× (L × Y) có giá trị trung bình là 12,82 kg/ổ.
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006b)
cho biết, lợn nái F1(L × Y) phối giống với đực Du đạt khối lƣợng sơ sinh/ổ là 14,47 kg, khối lƣợng sơ sinh/con là 1,39 kg. Phan Xuân Hảo và cs. (2009) cho
biết, tổ hợp lai (Pi × Du) × (L ×Y) đạt khối lƣợng sơ sinh/ổ là 17,14 kg và khối
58
lƣợng sơ sinh/con tới 1,48 kg. Các tổ hợp lai giữa lợn nái F1(L × Y) phối giống với đực Du, L có khối lƣợng sơ sinh/con và khối lƣợng sơ sinh/ổ đạt tƣơng ứng
1,32 và 15,30 kg, 1,30 và 13,81 (Vũ Đình Tôn và Nguyễn Công Oánh, 2010).
Các tổ hợp lai giữa lợn nái F1(L × Y) phối giống với đực L, Du, PiDu đạt khối lƣợng sơ sinh/ổ tƣơng ứng là 14,88 kg; 14,98 kg và 15,65 kg (Nguyễn Văn
Thắng và Vũ Đình Tôn, 2010). Nhƣ vậy, khối lƣợng sơ sinh/ổ và khối lƣợng sơ
sinh/con của lợn nái F1(L × Y) phối với đực lai PiDu có thành phần di truyền khác nhau trong nghiên cứu này phù hợp với công bố của các tác giả trên.
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của chúng tôi lại thấp hơn kết quả nghiên
cứu của Phạm Thị Đào (2014) về chỉ tiêu khối lƣợng sơ sinh trung bình/ổ, tác giả
cho thấy ở tổ hợp lai Pi × F1(L × Y) có khối lƣợng sơ sinh/ổ là 17,24 kg. Nghiên cứu của Magowan et al. (2009) cho biết khối lƣợng sơ sinh/ổ của lợn nái F1(L × Y) phối giống với đực Landrace, Piétrain Áo, Piétrain Belgium tƣơng ứng là
19,32; 19,87 và 19,30 kg.
- Thời gian cai sữa
Thời gian cai sữa lợn con ở cả ba tổ hợp lai là tƣơng đƣơng nhau, tƣơng
ứng là 24,50; 23,89 đến 24,61 ngày tuổi. Không có sự sai khác thống kê về chỉ
tiêu này giữa các tổ hợp lai (P>0,05).
- Khối lƣợng cai sữa/con
Khối lƣợng cai sữa/con cao nhất ở tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) với 6,59kg/con, tiếp đến tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) với 6,41 kg/con và thấp nhất là tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) với 6,39kg/con. Không có sự sai khác thống kê về chỉ tiêu này giữa các tổ hợp lai (P>0,05).
Nghiên cứu của Từ Quang Hiển và Lƣơng Nguyệt Bích (2005) cho biết, khối
lƣợng lợn con 21 ngày ở nái L, Y và nái F1(L × Y) trung bình là 4,66; 4,87 và 4,36 kg/con. Phan Văn Hùng và Đặng Vũ Bình (2008) cho biết, khối lƣợng cai sữa trung
bình của tổ hợp lai Du × (L × Y) là 5,67 kg/con. Theo Đặng Vũ Bình và cs. (2005),
khối lƣợng cai sữa trung bình của nái F1(Y × L) là 6,22 kg/con. Vũ Đình Tôn (2009) cho biết khối lƣợng cai sữa của Du × (L × Y) là 6,35 kg/con. Nhƣ vậy kết quả nghiên
cứu của chúng tôi về chỉ tiêu này có phần cao hơn các nghiên cứu trên.
Tuy nhiên, khối lƣợng cai sữa/con lợn nái F1(L × Y) phối với đực lai PiDu
59
có thành phần di truyền khác nhau trong nghiên cứu này phù hợp với công bố của Phạm Thị Đào (2014) khi nghiên cứu trên tổ hợp lai Pi × F1(L × Y) có khối lƣợng cai sữa/con là 6,58 kg.
Kết quả còn cho thấy ở tổ hợp lai có khối lƣợng sơ sinh/con cao thì khối
lƣợng cai sữa trung bình/con lớn, nhƣ vậy tính trạng khối lƣợng ở các tổ hợp lai
có liên quan đến nhau.
Khối lƣợng trung bình cai sữa của lợn con của ba tổ hợp lai đƣợc minh
họa trên biểu đồ 4.2.
Biểu đồ 4.2. Khối lƣợng lợn con cai sữa của các tổ hợp lai
- Khối lƣợng cai sữa/ổ
Khối lƣợng cai sữa/ổ đạt cao nhất là tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) với 64,03 kg, tiếp đến là tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) với 62,34 kg và thấp nhất là tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) với 59,96 kg. Tuy nhiên giữa các tổ hợp lai không có sự sai khác thống kê (P>0,05).
Kết quả nghiên cứu của Phùng Thị Vân và cs. (2002) cho biết, sử dụng
lợn đực Du phối giống với nái F1(L × Y) đạt khối lƣợng 50,30 kg ở 21 ngày tuổi. Theo Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006a), khối lƣợng cai sữa/ổ và
khối lƣợng cai sữa/con của tổ hợp lai Du × (L × Y) đạt tƣơng ứng 69,71 và 7,20
kg với thời gian cai sữa 28,85 ngày tuổi. Công bố của Phan Xuân Hảo và cs.
60
(2009) cho biết khối lƣợng 21 ngày tuổi/ổ và khối lƣợng 21 ngày tuổi/con của tổ
hợp lai (Pi × Du) × (L ×Y) đạt tƣơng ứng 60,67 và 5,53 kg. Các tổ hợp lai giữa
lợn nái F1(L × Y) phối giống với đực Du, L có khối lƣợng cai sữa/ổ và khối lƣợng cai sữa/con đạt tƣơng ứng 66,85 và 6,35 kg, 61,58 và 6,09 kg ở 26,45;
26,97 ngày tuổi (Vũ Đình Tôn và Nguyễn Công Oánh, 2010). Kết quả nghiên
cứu của Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010) cho thấy các tổ hợp lai giữa
lợn nái F1(L × Y) phối giống với đực L, Du, PiDu đạt khối lƣợng cai sữa/ổ và khối lƣợng cai sữa/con tƣơng ứng là 55,46 và 5,45 kg, 57,02 và 5,76 kg, 58,45 và
5,79 kg, với số ngày cai sữa tƣơng ứng 22,69; 22,53; 22,67 ngày.
Kết quả nghiên cứu của các tác giả trên cũng nhƣ kết quả trong nghiên
cứu của chúng tôi cho thấy sử dụng lợn nái lai F1(L × Y) phối với đực giống khác nhau để tạo ra các tổ hợp lai ba, bốn giống có tác dụng nâng cao các chỉ tiêu sinh
sản, nhất là nâng cao khối lƣợng cai sữa lợn con.
- Thời gian phối lại có chửa
Thời gian phối lại ở ba tổ hợp lai tƣơng ứng là 9,08 ngày, 8,88 ngày và
8,78 ngày, không có sự sai thống kê giữa các tổ hợp lai về chỉ tiêu này (P>0,05).
Phùng Thị Vân và cs. (2001) cho biết thời gian động dục trở lại của nái
F1(L × Y) và F1(Y × L) trung bình là 5,2 ngày. Trƣơng Hữu Dũng (2004) cho
biết thời gian động dục trở lại của nái L và Y từ 5,02 - 5,7 ngày, nái F1(L Y) và
F1(Y × L) từ 4,95 - 5,1 ngày. Theo Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2005), thời gian động dục lại của nái F1(L × Y) là 6,2 ngày. Theo Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy (2009), ở nái F1(L × Y) thời gian động dục trở lại là 7,47 ngày. Theo Lê Đình Phùng (2009), thời gian phối lại sau cai sữa có kết quả ở F1(L × Y) trung bình là 7,9 ngày.
- Khoảng cách lứa đẻ
Khoảng cách lứa đẻ ở ba tổ hợp lai từ 150,21 đến 152,14 ngày, không có
sự sai khác thống kê giữa các tổ hợp lai (P>0,05).
Theo Orzechowska et al. (1999) khoảng cách lứa đẻ của lợn Large White
là 188,0 ngày, L Bỉ là 181,0 ngày, Du là 187,0 ngày, Pi là 195,0 ngày. Serenius et
al. (2002) cho thấy khoảng cách lứa đẻ từ lứa thứ 2 đến lứa thứ 5 ở lợn Large
White 163,2-165,9 ngày; Landrace 161,2-169,3 ngày.
61
Nghiên cứu của Trƣơng Hữu Dũng (2004) cho biết, khoảng cách lứa đẻ
của Du × (L × Y) là 157,6 ngày, Du × (Y × L) là 165,7 ngày. Nguyễn Văn Thắng
và Đặng Vũ Bình (2005) công bố khoảng cách lứa đẻ của nái F1(L × Y) là 171,07 ngày. Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy (2009) cho biết khoảng cách lứa đẻ
của nái F1(L × Y) là 153,19 ngày. Theo Vũ Đình Tôn (2009), khoảng cách lứa đẻ của Du × (L × Y) là 153,98 ngày; L × F1(L × Y) là 154,05 ngày. Theo Lê Đình Phùng (2009), khoảng cách lứa đẻ của lợn nái F1(L × Y) là 144,78 ngày. Nhƣ vậy nghiên cứu của chúng tôi cho thấy khoảng cách lứa đẻ tƣơng tự nhƣ thông báo
của Lê Đình Phùng (2009), còn lại là cho kết quả thấp hơn các nghiên cứu trên,
sở dĩ nhƣ vậy là trong thí nghiệm của chúng tôi đã thực hiện kỹ thuật tập ăn sớm
và cai sữa sớm cho lợn con, mặt khác từ sau cai sữa đến phối giống lần 1 có chửa
từ 7-9 ngày, tỷ lệ thụ thai phối lần 1 đạt từ 87-88%.
Đánh giá chung về khả năng sinh sản của ba tổ hợp lai:
- Năng suất sinh sản của tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) cao hơn về số con cai sữa/ổ so với tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) và tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) (10,04 so với 9,90 và 9,91 con).
- Khối lƣợng sơ sinh/con, khối lƣợng sơ sinh/ổ, khối lƣợng cai sữa/con và
khối lƣợng cai sữa/ổ của tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) và PiDu50 × F1(L × Y) cao hơn so với tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y).
- Sử dụng lợn đực lai PiDu có thành phần di truyền Piétrain Re-Hal khác
nhau (25; 50 và 75 %) phối với nái F1(L × Y) để tạo ra các tổ hợp lai mới đã đƣợc ngƣời chăn nuôi chấp nhận và đƣợc đƣa vào phục vụ thực tế sản xuất.
4.1.3. Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa
Chi phí thức ăn chiếm phần lớn trong tổng chi phí chăn nuôi. Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg lợn con cai sữa phụ thuộc vào giống, tuổi, khẩu phần ăn, sự cân
đối các chất dinh dƣỡng và khối lƣợng toàn ổ khi cai sữa. Vì vậy, tiêu tốn thức ăn
để sản xuất 1 kg lợn cai sữa thấp sẽ nâng cao hiệu quả chăn nuôi. Chúng tôi tiến hành tính toán về lƣợng thức ăn cho lợn nái trong một lứa đẻ bao gồm lƣợng thức ăn các giai đoạn chờ phối, chửa, nuôi con và thức ăn tập ăn cho lợn con.
Kết quả về tiêu tốn thức ăn/kg lợn con ở thời điểm cai sữa đƣợc trình bày
ở bảng 4.3 và minh họa ở biểu đồ 4.3 .
62
PiDu25 × F1(L × Y)
PiDu50 × F1(L × Y)
PiDu75 × F1(L × Y)
Chỉ tiêu
n
LSM ± SE
n
LSM ± SE
n
LSM ± SE
Thức ăn cho lợn nái chờ phối (kg)
35
21,83 ± 1,69
32
21,01 ± 1,69
33
19,94 ± 1,74
Thức ăn cho lợn nái chửa (kg)
35
243,75 ± 4,04
32
247,60 ± 4,05
33
246,57 ± 4,17
6 3
Thức ăn cho lợn nái nuôi con (kg)
35
103,25 ± 2,74
32
104,75 ± 2,74
33
107,36 ± 2,82
Thức ăn tập ăn cho lợn con (kg)
35
4,71 ± 0,21
32
4,96 ± 0,21
33
5,15 ± 0,18
Tổng thức ăn cho một nái/lứa (kg)
35
373,53 ± 5,42
32
378,33 ± 5,42
33
378,28 ± 5,67
Tiêu tốn TĂ/kg lợn con cai sữa (kg)
35
6,46 ± 0,20
32
6,28 ± 0,18
33
6,20 ± 0,18
Bảng 4.3. Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa
Kết quả cho thấy tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa thấp nhất là tổ hợp lai
PiDu75 × F1(L × Y) là 6,20 kg, tiếp đến là tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) với 6,28 kg và cao nhất là tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) với 6,46 kg. Tuy nhiên, không có sự sai khác thống kê về chỉ tiêu trên giữa các tổ hợp lai (P>0,05).
Biểu đồ 4.3. Tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình
(2006b), mức tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa của tổ hợp lai Du × F1(L × Y) là 5,76 kg. Các tổ hợp lai giữa lợn nái F1(L × Y) phối giống với đực Du, L có mức tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa 5,47 và 6,01 kg (Vũ Đình Tôn và Nguyễn
Công Oánh, 2010).
Kết quả về tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa trong nghiên cứu của chúng
tôi cao hơn so với công bố của các tác giả trên.
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của chúng tôi tƣơng đƣơng với kết quả
nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010) cho thấy, các tổ hợp
lai giữa lợn nái F1(L × Y) phối giống với đực L, Du, PiDu có mức tiêu tốn thức ăn/kg lợn con cai sữa tƣơng ứng là 6,57; 6,38 và 6,29 kg. Phạm Thị Đào (2014)
khi nghiên cứu về chỉ tiêu này trên tổ hợp lai Pi × F1(L × Y) là 6,2 kg.
64
4.2. KHẢ NĂNG SINH TRƢỞNG CỦA BA TỔ HỢP LAI
4.2.1. Sinh trƣởng và hiệu quả chuyển hoá thức ăn của lợn con từ sau cai sữa đến 60 ngày tuổi 4.2.1.1. Ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng sinh trưởng từ sau cai sữa đến 60 ngày tuổi
Trong phạm vi đề tài, chúng tôi lựa chọn các yếu tố cố định di truyền và
ngoại cảnh là giống, mùa vụ và trại chăn nuôi để nghiên cứu mức độ ảnh hƣởng
của chúng đến một số tính trạng về sinh trƣởng của các tổ hợp lợn lai. Kết quả
phân tích mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố cố định này với các tổ hợp lai trong
giai đoạn từ sau cai sữa đến 60 ngày tuổi đƣợc trình bày trong bảng 4.4.
Đực giống
Trại chăn nuôi
Mùa vụ
Các chỉ tiêu
Thời gian CS
NS
NS
NS
Thời gian từ sau CS - 60
NS
NS
NS
Khối lƣợng cai sữa/con
*
*
NS
Khối lƣợng 60 ngày/con
NS
NS
NS
Tăng khối lƣợng/ngày
NS
NS
*
TTTĂ/kg tăng khối lƣợng
NS
NS
*
Ghi chú: NS: P> 0,05; *: P< 0,05; **: P < 0,01; ***: P< 0,001
Bảng 4.4. Mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố đến tính trạng sinh trƣởng từ sau cai sữa đến 60 ngày tuổi
Qua phân tích các yếu tố ảnh hƣởng cho thấy: Các yếu tố đều có những
ảnh hƣởng nhất định đến các tính trạng sinh trƣởng từ sau cai sữa đến 60 ngày
của các tổ hợp lai. Mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố khác nhau cũng khác nhau
đối với từng chỉ tiêu năng suất sinh trƣởng.
- Ảnh hƣởng của yếu tố đực giống
Khi yếu tố đực giống đƣợc đƣa vào mô hình GLM để phân tích, kết quả
cho thấy yếu tố này ảnh hƣởng đến các chỉ tiêu tăng khối lƣợng và tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lƣợng (P < 0,05). Các chỉ tiêu còn lại nhƣ thời gian cai sữa, thời
gian từ sau cai sữa đền 60 ngày, khối lƣợng cai sữa/con và khối lƣợng 60
ngày/con không chịu ảnh hƣởng của yếu tố đực giống.
- Yếu tố trại chăn nuôi chỉ ảnh hƣởng đến chỉ tiêu khối lƣợng cai sữa/con (P<0,05) mà không ảnh hƣởng có ý nghĩa thống kê đến các chỉ tiêu nhƣ thời gian cai sữa, thời gian từ sau cai sữa đền 60 ngày, khối lƣợng 60 ngày/con, tăng khối
65
lƣợng/ngày và TTTĂ/kg tăng khối lƣợng.
- Yếu tố mùa vụ cũng chỉ ảnh hƣởng đến chỉ tiêu khối lƣợng cai sữa/con
(P<0,05), các chỉ tiêu còn lại nhƣ thời gian cai sữa, thời gian từ sau cai sữa đến 60
ngày, khối lƣợng 60 ngày/con, tăng khối lƣợng/ngày và TTTĂ/kg tăng khối lƣợng.
3.2.1.2. Tăng khối lượng và tiêu tốn thức ăn
Nâng cao năng suất sinh trƣởng và giảm tiêu tốn thức ăn là mục tiêu quan trọng để đạt đƣợc hiệu quả kinh tế cao trong chăn nuôi lợn thịt ở các trạng trại
hiện nay. Để đánh giá khả năng sinh trƣởng của lợn con chúng tôi tiến hành theo
dõi các chỉ tiêu về tăng khối lƣợng của lợn con từ sau cai sữa đến 60 ngày tuổi,
kết quả theo dõi đƣợc trình bày trong bảng 4.5.
- Tăng khối lƣợng của lợn con từ sau cai sữa đến 60 ngày
Tăng khối lƣợng của lợn con từ sau cai sữa đến 60 ngày tuổi cao nhất ở tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) (339,90 g/ngày), tiếp đến là tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) (339,51 g/ngày) và thấp nhất ở tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) (332,20g/ngày). Có sự sai khác thống kê giữa tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) và PiDu25 × F1(L × Y) (P<0,05). Không có sự sai khác thống kê giữa tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) (P>0,05).
Tăng khối lƣợng của lợn con từ sau cai sữa đến 60 ngày của ba tổ hợp lai
đƣợc minh họa trên biểu đồ 4.4.
Biểu đồ 4.4. Tăng khối lƣợng của lợn con từ sau cai sữa đến 60 ngày
66
PiDu25 × F1(L × Y)
PiDu50 × F1(L × Y)
PiDu75 × F1(L × Y)
Chỉ tiêu
n
n
n
Thời gian cai sữa (ngày)
60
69
64
Thời gian từ sau cai sữa - 60 (ngày)
60
69
64
Khối lƣợng cai sữa/con (kg)
60
69
64
6 7
Khối lƣợng 60 ngày /con (kg)
LSM ± SE 24,52 ± 0,46 35,48 ± 1,23 6,45 ± 0,18 18,51 ± 0,45
LSM ± SE 24,42 ± 0,58 35,58 ± 1,17 6,55 ± 0,22 18,63 ± 0,46
LSM ± SE 24,63 ± 0,44 35,37 ± 1,27 6,48 ± 0,16 18,23 ± 0,43
60
69
64
Tăng khối lƣợng/ngày (g/ngày)
339,90a ± 13,06
339,51a ± 15,11
332,20b ± 12,31
60
69
64
TTTĂ/kg tăng khối lƣợng (kg)
1,42a ± 0,01
1,45a ± 0,01
1,52b ± 0,02
6
6
6
* Ghi chú: các giá trị trong cùng một hàng mang chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05).
Bảng 4.5. Khả năng sinh trƣởng và hiệu quả chuyển hoá thức ăn của lợn con sau cai sữa đến 60 ngày tuổi
- Tiêu tốn thức ăn/1 kg tăng khối lƣợng của lợn con từ sau cai sữa đến 60 ngày.
Tiêu tốn thức ăn/1 kg tăng khối lƣợng của lợn con từ sau cai sữa đến 60
ngày thấp nhất ở tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) với 1,42kg, tiếp đến là tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) với 1,45 và cao nhất tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) với 1,52 kg. Có sự sai khác thống kê về chỉ tiêu này giữa tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) và tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) (P<0,05). Không có sự sai khác thống kê giữa tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) (P>0,05).
Hiệu quả chuyển hoá thức ăn của lợn con từ sau cai sữa đến 60 ngày tuổi
đƣợc minh họa trên biểu đồ 4.5.
Biểu đồ 4.5. Hiệu quả chuyển hoá thức ăn của lợn con từ sau cai sữa đến 60 ngày tuổi
4.2.2. Khả năng sinh trƣởng của ba tổ hợp lai giai đoạn nuôi thịt 4.2.2.1. Ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng sinh trưởng giai đoạn từ 60 ngày tuổi đến khi giết thịt Kết quả sử dụng mô hình GLM phân tích các yếu tố ảnh hƣởng bao gồm,
đực giống, trại chăn nuôi và mùa vụ đƣợc trình bày ở bảng 4.6.
68
Bảng 4.6. Mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố đến tính trạng sinh trƣởng giai đoạn nuôi thịt
Đực giống
Trại chăn nuôi Mùa vụ
Các chỉ tiêu
NS
Tuổi bắt đầu nuôi thịt
NS
NS
NS NS
Tuổi kết thúc nuôi thịt Thời gian nuôi thịt
* *
* *
NS
Khối lƣợng bắt đầu nuôi thịt
NS
NS
* *
Khối lƣợng kết thúc nuôi thịt Tăng khối lƣợng
* *
* *
*
TTTĂ/kg tăng khối lƣợng
*
*
Ghi chú: NS: P> 0,05; *: P< 0,05; **: P < 0,01; ***: P< 0,001
Qua phân tích các yếu tố ảnh hƣởng cho thấy: Các yếu tố đều có những
ảnh hƣởng nhất định đến các tính trạng sinh trƣởng giai đoạn nuôi thịt của các tổ
hợp lai. Mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố khác nhau cũng khác nhau đối với
từng chỉ tiêu năng suất sinh trƣởng.
- Ảnh hƣởng của yếu tố đực giống
Khi yếu tố đực giống đƣợc đƣa vào mô hình GLM để phân tích, kết quả
cho thấy yếu tố này ảnh hƣởng đến các chỉ tiêu nhƣ khối lƣợng kết thúc, tăng
khối lƣợng và tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lƣợng (P < 0,05). Kết quả này phù
hợp với kết quả của Nguyễn Văn Đức (2002) cho biết phần lớn các tính trạng sản
xuất chịu ảnh hƣởng rõ rệt bởi yếu tố giống.
- Ảnh hƣởng của yếu tố trại chăn nuôi
Đối với chỉ các chỉ tiêu nuôi vỗ béo, yếu tố trại chăn nuôi có ảnh hƣởng
đến các chỉ tiêu nhƣ tuổi kết thúc thí nghiệm, thời gian nuôi thịt, khối lƣợng kết
thúc, tăng khối lƣợng và tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lƣợng (P < 0,05). Tuy
nhiên yếu tố trại chăn nuôi không ảnh hƣởng có ý nghĩa thống kê đến chỉ tiêu
tuổi bắt đầu nuôi thịt và khối lƣợng bắt đầu nuôi thịt.
- Ảnh hƣởng của yếu tố mùa vụ
Yếu tố này ảnh hƣởng các chỉ tiêu nhƣ tuổi kết thúc nuôi thịt, thời gian
nuôi thịt, khối lƣợng kết thúc nuôi thịt, tăng khối lƣợng và tiêu tốn thức ăn/kg
tăng khối lƣợng (P<0,05). Mùa vụ cũng không ảnh hƣởng có ý nghĩa thống kê
đến chỉ tiêu tuổi bắt đầu nuôi thịt và khối lƣợng bắt đầu nuôi thịt.
69
Kết quả trong nghiên cứu của chúng tôi tƣơng đối phù hợp với nghiên cứu
của các tác giả Trần Thị Minh Hoàng và cs. (2003) cho biết tăng khối lƣợng chịu
ảnh hƣởng lớn của yếu tố mùa vụ và năm thí nghiệm. Hà Xuân Bộ và cs. (2013)
cho biết mùa vụ ảnh hƣởng đến các chỉ tiêu khối lƣợng bắt đầu và tăng khối
lƣợng trung bình hàng ngày.
3.2.2.2. Tăng khối lượng và tiêu tốn thức ăn giai đoạn nuôi thịt
Kết quả nghiên cứu về khả năng sinh trƣởng và tiêu tốn thức ăn của ba tổ
hợp lai đƣợc trình bày trong bảng 4.7.
- Tuổi và khối lƣợng bắt đầu nuôi thịt
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu khả năng sinh trƣởng trong giai đoạn nuôi
thịt của ba tổ hợp lai bắt đầu từ giai đoạn 60 ngày tuổi, cụ thể tổ hợp lai PiDu25
× F1(L × Y) là 60,02 ngày, tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) là 59,62 ngày và tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) là 60,09 ngày. Khối lƣợng bắt đầu nuôi ở ba tổ hợp lai cũng tƣơng đối đồng đều (từ 18,23 đến 18,63 kg/con), không có sự sai khác
thống kê về hai chỉ tiêu này giữa các tổ hợp lai (P>0,05).
Tuổi và khối lƣợng bắt đầu nuôi thịt của các tổ hợp lợn lai trong nghiên
cứu này nằm trong phạm vi công bố của nhiều tác giả. Cụ thể, tuổi bắt đầu nuôi
thịt của các tổ hợp lợn lai giữa lợn nái F1(L × Y) với đực L, Du, PiDu tƣơng ứng 61,24; 61,01; 61,20 ngày đạt khối lƣợng 21,75; 22,24; 22,15 kg (Nguyễn Văn
Thắng và Vũ Đình Tôn, 2010), khối lƣợng của các tổ hợp lai giữa đực lai (Pi ×
Du) với nái Y, L và F1(L × Y) tƣơng ứng là 20,19; 19,92 và 20,18 kg ở 61,29; 61,21 và 60,82 ngày tuổi (Phan Xuân Hảo và cs., 2009). Tuổi bắt đầu nuôi thịt
của các tổ hợp lợn lai giữa lợn nái F1(L × Y) với đực Du, L ở 60,00 ngày đạt khối lƣợng 18,63; 18,40 kg (Vũ Đình Tôn và Nguyễn Công Oánh, 2010), khối lựợng
bắt đầu nuôi của tổ hợp lai Du × (L × Y) là 19,70 kg; của con lai P × (L × Y) là
19,41 kg (Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình, 2006b).
- Tuổi và khối lƣợng kết thúc nuôi thịt của ba tổ hợp lợn lai
Tuổi kết thúc nuôi thịt của ba tổ hợp lợn lai tƣơng ứng là 169,16; 167,40 và
164,52 ngày với khối lƣợng kết thúc nuôi thịt đạt tƣơng ứng là 111,65; 103,90 và
100,30 kg với thời gian nuôi ở 109,89; 107,78 và 107,43 ngày. Không có sự sai khác
thống kê về tuổi kết thúc nuôi thịt và thời gian nuôi giữa các tổ hợp lai (P>0,05).
70
PiDu25 × F1(L × Y)
PiDu50 × F1(L × Y)
PiDu75 × F1(L × Y)
Chỉ tiêu
n
±
SE
n
±
SE
n
±
SE
Tuổi bắt đầu nuôi thịt (ngày)
64
±
0,19
±
0,19
±
0,18
Tuổi kết thúc nuôi thịt (ngày)
64
±
1,43
±
1,47
±
1,37
7 1
Thời gian nuôi thịt
64
±
1,20
±
1,24
±
1,16
Khối lƣợng bắt đầu nuôi thịt (kg)
64
0,45
±
0,46
±
0,43
Khối lƣợng kết thúc nuôi thịt (kg)
64
1,27
±
1,30
±
1,25
Tăng khối lƣợng (g/con/ngày)
64
12,50
60 60 60 60 60 60
±
12,81
69 69 69 69 69 69
±
12,31
TTTĂ/kg tăng khối lƣợng (kg)
6
LSM 60,02 169,16 109,89 18,51 ± 111,65a ± 829,42a ± 2,31a ±
0,01
6
LSM 59,62 167,40 107,78 18,63 103,90b 797,78ab 2,33a
±
0,01
6
LSM 60,09 164,52 107,43 18,23 100,30b 765,79b 2,38b
±
0,01
*Ghi chú: các giá trị trong cùng một hàng mang chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05).
Bảng 4.7. Khả năng sinh trƣởng và hiệu quả chuyển hoá thức ăn của ba tổ hợp lai
Tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) có khối lƣợng kết thúc nuôi thịt cao hơn so với hai tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) và PiDu75 × F1(L × Y). Có sự sai khác thống kê về khối lƣợng kết thúc nuôi thịt giữa tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) và PiDu75 × F1(L × Y) (P<0,05), không có sự sai khác về khối lƣợng kết thúc nuôi thịt giữa tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) (P>0,05).
Theo Trƣơng Hữu Dũng (2004), khối lƣợng lợn của các tổ hợp lai Du × (L × Y)
và Du × (Y × L) bắt đầu đƣa vào nuôi thịt lần lƣợt là 22,60 và 21,90 kg, khối
lƣợng kết thúc đạt 90,00 kg ở 185,00 và 186,00 ngày tuổi ở thí nghiệm thứ nhất;
khối lƣợng của các tổ hợp lai Du × (L × Y), và Du × (Y × L) bắt đầu đƣa vào
nuôi thịt lần lƣợt là 24,10 và 23,70 kg khối lƣợng kết thúc đạt 90,00 kg ở 172,00
và 174,00 ngày tuổi ở thí nghiệm thứ hai. Đặng Vũ Bình và cs. (2005) cho biết
các tổ hợp lai Du × (L × Y), Du × (Y × L), L19 × (L × Y) và L19 × (Y × L) nuôi
tại Xí nghiệp Chăn nuôi Đồng Hiệp Hải Phòng có khối lƣợng lúc 157 ngày tuổi
tƣơng ứng là 81,78; 76,24; 77,57 và 76,35 kg. Phan Xuân Hảo, Hoàng Thị Thúy
(2009) cho biết, kết thúc nuôi thịt ở 159 ngày tuổi, tổ hợp lai PiDu × (L × Y) có
khối lƣợng là 92,92 ± 0,45 kg. Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2010) đã cho
biết, kết thúc nuôi thí nghiệm tổ hợp lai Du × (L × Y) có khối lƣợng là 94,30 kg,
tổ hợp lai Du × (Y × L) là 93,45 kg, tổ hợp lai L19 × (L ×Y) là 92,41 kg và tổ
hợp lai L19 × (Y × L) là 91,71 kg. Trong khi kết quả nghiên cứu của Nguyễn
Văn Thắng và cs. (2010) cho biết, tuổi kết thúc nuôi thịt của các tổ hợp lợn lai
giữa lợn nái F1(L × Y) với đực L, Du, PiDu tƣơng ứng 172,26; 171,64; 171,38 ngày đạt khối lƣợng 101,59; 101,88; 103,15 kg.
Nhƣ vậy khối lƣợng kết thúc nuôi thịt của các tổ hợp lợn lai trong nghiên
cứu của chúng tôi cao hơn kết quả nghiên cứu của các tác giả trên. Cả ba tổ hợp
lai đều đạt khối lƣợng kết thúc nuôi thịt cao với thời gian nuôi ngắn (107,43 đến
109,59 ngày nuôi).
- Tăng khối lƣợng trong thời gian nuôi thịt.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tăng khối lƣợng ở tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) đạt 829,42 g/ngày, tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) đạt 797,78 g/ngày, tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) đạt 765,79 g/ngày. Không có sự sai khác thống kê về chỉ tiêu tăng khối lƣợng giữa tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu50 ×
72
F1(L × Y) (P>0,05) và không có sự sai khác thống kê về tăng khối lƣợng giữa tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) (P>0,05), có sự sai khác thống kê về tăng khối lƣợng giữa tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) (P<0,05). Tăng khối lƣợng trong thời gian nuôi thịt của các tổ hợp lai đƣợc minh họa trên biểu đồ 4.6.
Biểu đồ 4.6. Tăng khối lƣợng của các tổ hợp lai giai đoạn nuôi thịt
Qua biểu đồ trên chúng tôi thấy, tăng khối lƣợng ở tổ hợp lai PiDu25 ×
F1(L × Y) đạt cao nhất, tiếp đến là tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) và thấp nhất là tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y).
Kết quả về tăng khối lƣợng của các tổ hợp lai bốn giống trong nghiên cứu
của chúng tôi cao hơn so các tổ hợp lai ba giống của các tác giả Phùng Thị Vân và
cs. (2002), Trƣơng Hữu Dũng và cs. (2004), Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình
(2006b), Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010), Popovic (1997), Lê Thanh
Hải và cs. (2006). Cụ thể, mức tăng khối lƣợng/ngày của tổ hợp lai 3 giống Du ×
F1(L × Y) đạt 655,90g (Phùng Thị Vân và cs., 2002); 664,50g (Trƣơng Hữu Dũng và cs., 2004); 609,11g (Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình, 2006b); 723,47g
73
(Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010); 722,00g (Popovic, 1997); 750,00g (Lê
Thanh Hải và cs., 2006). Nhƣ vậy khi sử dụng lợn đực lai PiDu trong các thí
nghiệm của chúng tôi đã nâng cao tính trạng tăng khối lƣợng của vì con lai đƣợc
thừa hƣởng thêm ƣu thế lai của bố lai so với sử dụng đực thuần khi lợn nái đều là
con lai F1(L × Y).
Theo Phan Văn Hùng và Đặng Vũ Bình (2008) nghiên cứu trên bốn tổ
hợp lai D × (L × Y), D × (Y × L), L19 × (L × Y) và L19 × (Y × L) có tăng khối
lƣợng tƣơng ứng là 620,30; 599,95; 580,52 và 576,00 gram/ngày. Đoàn Văn Soạn
và Đặng Vũ Bình (2010) cho biết, các tổ hợp lai có thời gian nuôi thịt từ 60 - 165
ngày tuổi, tăng khối lƣợng cao nhất ở tổ hợp lai Du × (L × Y) (702,15 g/ngày), tiếp
đến Du × (Y × L) (694,92 g/ngày); L19 × (L × Y) (686,39 g/ngày) và thấp nhất là
tổ hợp lai L19 × (Y × L) (680,47 g/ngày). Kết quả theo dõi về tăng khối lƣợng của
các tổ hợp lai trong nghiên cứu của chúng tôi cũng cao hơn so với các kết quả
nghiên cứu trên.
Kết quả của chúng tôi phù hợp với kết luận của Phan Xuân Hảo và Hoàng
Thị Thuý (2009), các con lai có sự tham gia của đực PiDu có sức sinh trƣởng tƣơng
đối cao và con lai 4 giống PiDu × F1(L × Y) thể hiện đƣợc ƣu thế lai so với con lai 3 giống PiDu × L và PiDu × Y.
- Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lƣợng
Kết quả cho thấy tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lƣợng ở ba tổ hợp lai lần
lƣợt là 2,31kg; 2,33 kg và 2,38kg. Có sự sai khác thống kê về chỉ tiêu này giữa tổ
hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) và tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) (P<0,05), không có sự sai khác thống kê giữa tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) (P>0,05).
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lƣợng của các tổ hợp lai đƣợc thể hiện trên
biểu đồ 4.7.
Kết quả cho thấy tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lƣợng thấp nhất ở tổ hợp
lai PiDu25 × F1(L × Y), tiếp đến là tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) và cao nhất ở tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y). Tiêu tốn thức ăn ở tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) thấp hơn là phù hợp vì mức tăng khối lƣợng cao hơn.
74
Biểu đồ 4.7. Hiệu quả chuyển hoá thức ăn của ba tổ hợp lai giai đoạn nuôi thịt
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006b)
cho biết, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lƣợng của con lai ở hai tổ hợp lai Du
(L Y) và Pi (L Y) trong 4 tháng nuôi thí nghiệm là 3,05 và 3,00 kg.
Trƣơng Hữu Dũng (2004) cho biết tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lƣợng ở con lai
Du (L Y) từ 2,85 đến 3,11 kg; ở con lai Du (Y L) từ 2,90 kg đến 3,00
kg. Lê Thanh Hải (2001) nghiên cứu tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lƣợng ở con
lai 4 giống (Pi Du) (L Y) là 3,20 kg/kg. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối
lƣợng trong giai đoạn nuôi thịt của các tổ hợp lai giữa đực lai (Pi × Du) với nái
Y, L và F1(L Y) tƣơng ứng là 2,69; 2,69 và 2,68 kg (Phan Xuân Hảo và cs.,
2009). Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lƣợng trong giai đoạn nuôi thịt của các tổ
hợp lai giữa đực L, Du, (Pi × Du) với nái F1(L Y) tƣơng ứng là 2,57; 2,52;
2,48 kg (Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn, 2010). Các tổ hợp lai giữa lợn
nái F1(L × Y) với đực L, Pi Austrian, Pi Belgium có mức tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lƣợng từ 10 tuần tuổi đến khi kết thúc nuôi thịt tƣơng ứng 2,68; 2,52
và 2,59 kg (Magowan et al., 2009). Nghiên cứu của Đoàn Văn Soạn và Đặng
75
Vũ Bình (2010) cho biết, các tổ hợp lai Du × (L × Y), Du × (Y × L), L19 × (L
× Y) và L19 × (Y × L) có mức tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lƣợng tƣơng ứng
là: 2,69; 2,73; 2,76 và 2,79 kg. So với kết quả nghiên của các tác giả trên thì kết
quả nghiên cứu về tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lƣợng ở các tổ hợp lai trong thí
nghiệm của chúng tôi là thấp hơn.
Nhƣ vậy kết quả nghiên cứu cho thấy tổ hợp lai có sự tham gia của đực
lai PiDu với tỷ lệ giống Piétrain Re-Hal tăng dần (25%, 50% và 75%) thì khả
năng tăng khối lƣợng trung bình hàng ngày lại giảm dần và ngƣợc lại tiêu tốn
thức ăn/kg tăng khối lƣợng lại tăng dần.
4.3. NĂNG SUẤT THÂN THỊT VÀ CHẤT LƢỢNG THỊT CỦA BA TỔ HỢP LAI
4.3.1. Năng suất thân thịt 4.3.1.1. Ảnh hưởng của một số yếu tố đến năng suất thân thịt
Sử dụng mô hình GLM phân tích các yếu tố ảnh hƣởng bao gồm lợn đực
giống, trại chăn nuôi, mùa vụ và tính biệt đến năng suất thân thịt đƣợc trình bày ở
bảng 4.8.
Đực
Trại chăn
Mùa vụ
Tính
Các chỉ tiêu
giống
nuôi
biệt
Khối lƣợng thịt móc hàm (kg)
*
NS
*
NS
Tỷ lệ thịt móc hàm (%)
*
NS
*
NS
Khối lƣợng thịt xẻ (kg)
NS
NS
NS
NS
Tỷ lệ thịt xẻ (%)
NS
NS
NS
NS
Dài thân thịt (cm)
*
NS
NS
NS
Độ dày mỡ lƣng (mm)
*
*
NS
*
Độ sâu cơ thăn
*
NS
NS
*
Tỷ lệ thịt nạc (%)
*
NS
NS
*
Ghi chú: NS: P> 0,05; *: P< 0,05; **: P < 0,01; ***: P< 0,001
Bảng 4.8. Mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố đến tính trạng năng suất thân thịt
Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến tính trạng năng suất thân thịt
cho thấy: Các yếu tố đều có những ảnh hƣởng nhất định đến các tính trạng năng
76
suất thân thịt của các tổ hợp lai. Mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố khác nhau
cũng khác nhau đối với từng chỉ tiêu năng suất thân thịt.
- Yếu tố đực giống ảnh hƣởng đến các chỉ tiêu độ dày mỡ lƣng, độ sâu cơ
thăn và tỷ lệ thịt nạc (P < 0,05). Các chỉ tiêu còn lại nhƣ khối lƣợng thịt móc
hàm, tỷ lệ thịt móc hàm, khối lƣợng thịt xẻ, tỷ lệ thịt xẻ và dài thân thịt không
chịu ảnh hƣởng của yếu tố đực giống.
- Yếu tố trại chăn nuôi ảnh hƣởng đến các chỉ tiêu nhƣ khối lƣợng thịt móc
hàm, tỷ lệ thịt móc hàm (P < 0,05). Yếu tố này không ảnh hƣởng có ý nghĩa thống
kê đến các chỉ tiêu khối lƣợng thịt xẻ, tỷ lệ thịt xẻ, dài thân thịt, độ dày mỡ lƣng,
độ sâu cơ thăn và tỷ lệ nạc của các tổ hợp lai.
- Yếu tố mùa vụ chỉ ảnh hƣởng đến chỉ tiêu độ dày mỡ lƣng của con lai
(P<0,05) mà không ảnh hƣởng có ý nghĩa thống kê đến các chỉ tiêu nhƣ khối lƣợng
thịt móc hàm, tỷ lệ thịt móc hàm, khối lƣợng thịt xẻ, tỷ lệ thịt xẻ, dài thân thịt độ
sâu cơ thăn và tỷ lệ nạc của các tổ hợp lai.
Kết quả phân tích trong nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu
của các tác giả Huang et al. (2004) và Choi et al. (1997). Cụ thể Huang et al.
(2004) cho biết, mùa vụ có ảnh hƣởng rõ rệt tới độ dày mỡ lƣng. Theo Choi et al.
(1997), lợn nuôi trong mùa hè và mùa đông có độ dày mỡ lƣng thấp hơn so với
mùa thu và mùa xuân.
- Yếu tố tính biệt ảnh hƣởng đến hết các chỉ tiêu nhƣ khối lƣợng thịt móc
hàm, tỷ lệ thịt móc hàm, dài thân thịt, độ dày mỡ lƣng, tỷ lệ thịt nạc và độ sâu cơ
thăn (P < 0,05).
Nghiên cứu của Kortz et al. (2000) cho biết tính biệt có ảnh hƣởng đến
diện tích cơ thăn. Theo Hà Xuân Bộ và cs. (2013), tính biệt ảnh hƣởng đến các
chỉ tiêu dày mỡ lƣng và dày cơ thăn (P<0,001). Trại chăn nuôi ảnh hƣởng đến chỉ
tiêu dày cơ thăn (P<0,001) và dày mỡ lƣng (P<0,05). Mùa vụ ảnh hƣởng đến các
chỉ tiêu dày mỡ lƣng, tỷ lệ nạc (P<0,001) và dày cơ thăn (P<0,05). Xu hƣớng này
cũng đƣợc tìm thấy trong kết quả nghiên cứu của Do et al. (2013) khi nghiên cứu
trên lợn Piétrain kháng stress tại Bỉ khẳng định, lợn cái có dày mỡ lƣng cao hơn
so với lợn đực. Nhƣ vậy nghiên cứu của chúng tôi về mức độ ảnh hƣởng của các
77
yếu tố đến tính trạng năng suất thân thịt tƣơng đối phù hợp với kết quả nghiên
cứu trên.
4.3.1.2. Độ dày mỡ lưng, độ sâu cơ thăn và tỷ lệ thịt nạc xác định trên cơ thể lợn sống
Kết quả nghiên cứu về các chỉ tiêu trên lợn sống trƣớc khi giết thịt đƣợc
trình bày ở bảng 4.9.
- Độ dày mỡ lƣng.
Kết quả cho thấy các tổ hợp lai có độ dày mỡ lƣng ở vị trí 1 từ 13,67 đến
17,20 mm và độ dày mỡ lƣng ở vị trí 2 từ 11,04 đến 13,37 mm.
Độ dày mỡ lƣng xác định trên cơ thể lợn sống đƣợc thể hiện trên biểu đồ 4.8.
Biểu đồ 4.8. Độ dày mỡ lƣng xác định trên cơ thể lợn sống
Độ dày mỡ lƣng 1 và độ dày mỡ lƣng 2 xác định trên cơ thể lợn sống cao
nhất ở tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y), tiếp đến là tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) và thấp nhất ở tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y). Có sự sai khác thống kê giữa tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) và tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) (P<0,05), không có sự sai khác thống kê giữa tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) (P>0,05).
78
PiDu25 × F1(L × Y)
PiDu50 × F1(L × Y)
PiDu75 × F1(L × Y)
(n=64)
(n=60)
(n=69)
Chỉ tiêu
±
SE
±
SE
±
SE
Độ dày mỡ lƣng 1 (mm)
±
0,64
±
0,38
±
0,40
7 9
Độ dày mỡ lƣng 2 (mm)
±
0,55
±
0,48
±
0,45
Độ sâu cơ thăn (mm)
±
0,99
±
0,59
±
0,52
Tỷ lệ thịt nạc (%)
LSM 17,20a 13,37a 51,42a 56,56a
±
0,33
LSM 14,38b 11,84b 52,84a 57,95a
±
0,34
LSM 13,67b 11,04b 55,09b 59,98b
±
0,36
Ghi chú: các giá trị trong cùng một hàng mang chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05).
Bảng 4.9. Độ dày mỡ lƣng, độ sâu cơ thăn và tỷ lệ thịt nạc xác định trên cơ thể lợn sống
79
Cùng phƣơng pháp siêu âm độ dày mỡ lƣng, Kosovac et al. (2009) cho
biết độ dày mỡ lƣng 1 ở tổ hợp lai Pi × (L × Y) có giá trị thấp nhất (13,37mm),
tiếp đến là tổ hợp lai Du × (L × Y) (17,86 mm), trong khi đó ở giống thuần L có
giá trị cao nhất (19,75 mm). Độ dày mỡ lƣng 2 ở tổ hợp lai Pi × (L × Y) cũng có
giá trị thấp nhất (12,62 mm), tiếp đến là tổ hợp lai Du × (L × Y) (13,28 mm),
trong khi đó ở giống thuần L đạt giá trị cao nhất (14,00 mm).
- Độ sâu cơ thăn của tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) là 51,42 mm, tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) là 52,84 mm và tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) là 55,09 mm, có sự sai khác thống kê về chỉ tiêu này giữa tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) (P<0,05), giữa tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) (P<0,05), không có sự sai khác thống kê về chỉ tiêu này giữa tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) (P>0,05).
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có phần thấp hơn kết quả nghiên cứu của
các tác giả Do et al. (2013); Kosovac et al. (2009). Cụ thể Do et al. (2013) chỉ ra
rằng lợn cái Piétrain Re-Hal có dày cơ thăn là 57,88 mm và lợn đực Piétrain Re-Hal
có dày cơ thăn là 55,97 mm. Kosovac et al. (2009) cho biết, khi siêu âm trên lợn
sống vào thời điểm kết thúc nuôi thịt, độ sâu cơ thăn của tổ hợp lai Pi × (L × Y) là
62,25; tổ hợp lai Du × (L × Y) là 59,57 và giống thuần L là 59,25.
- Bằng phƣơng pháp siêu âm, tỷ lệ thịt nạc đo đƣợc ở ba tổ hợp lai đạt
tƣơng ứng là 56,56; 57,95 và 59,98%. Có sự sai khác thống kê về chỉ tiêu này
giữa tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) và tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) (P<0,05), không có sự sai khác thống kê giữa tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) (P>0,05).
Tỷ lệ thịt nạc của ba tổ hợp lai xác định trên cơ thể lợn sống đƣợc thể hiện
trên biểu đồ 4.9.
Qua biểu đồ trên chúng tôi thấy tỷ lệ nạc xác định bằng phƣơng pháp siêu
âm trên cơ thể lợn sống cao nhất ở tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y), tiếp đến là tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) và thấp nhất là tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y).
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tƣơng tự nhƣ kết quả của Kosovac et al.
(2009) cho biết, khi siêu âm trên lợn sống vào thời điểm kết thúc nuôi thịt, tỷ lệ
nạc ở lợn thuần L, tổ hợp lai Du × (L × Y) và Pi × (L × Y) đạt tƣơng ứng là
80
55,73; 56,94 và 60,73%. Nhƣng kết quả này lại thấp hơn kết quả của Do et al.
(2013) nghiên cứu trên lợn Piétrain Re-Hal thuần, lợn đực Piétrain Re-Hal có tỷ
lệ nạc đạt 65% và lợn cái đạt 64,03%.
Biểu đồ 4.9. Tỷ lệ thịt nạc xác định trên cơ thể lợn sống
4.3.1.3. Năng suất thân thịt khi mổ khảo sát
Năng suất thân thịt sau khi giết mổ là yếu tố quan trọng mà ngƣời giết mổ
quan tâm. Đây là những chỉ tiêu ảnh hƣởng tới hiệu quả kinh tế của ngƣời bán.
Tiến hành mổ khảo sát với tổng số 40 con lợn thịt để đánh giá năng suất
và chất lƣợng thân thịt của ba tổ hợp lai. Kết quả về các chỉ tiêu năng suất và chất
lƣợng thân thịt đƣợc trình bày ở bảng 4.10.
- Khối lƣợng giết thịt.
Khối lƣợng giết thịt cao nhất ở tổ hợp PiDu25 × F1(L × Y) (111,88 kg), tiếp đến là tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) (111,10 kg) và thấp nhất là tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) (102,17 kg), tuy nhiên không có sự sai khác thống kê về chỉ tiêu này giữa các tổ hợp lai (P>0,05).
81
Bảng 4.10. Các chỉ tiêu năng suất thân thịt
PiDu25 × F1(L × Y) (n=16) PiDu50 × F1(L × Y) (n=12) PiDu75 × F1(L × Y) (n=12) Chỉ tiêu
Khối lƣợng giết thịt (kg)
Khối lƣợng thịt móc hàm (kg)
8 2
Tỷ lệ thịt móc hàm (%)
Khối lƣợng thịt xẻ (kg) Tỷ lệ thịt xẻ (%)
* Ghi chú: các giá trị trong cùng một hàng mang chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05).
Dài thân thịt (cm) Độ dày mỡ lƣng (mm) Tỷ lệ thịt nạc (%) Diện tích cơ thăn (cm2) LSM ± SE 111,88 ± 2,60 88,70 ± 2,06 79,35 ± 0,33 78,39 ± 1,85 70,09 ± 0,43 91,50 ± 0,53 26,02a ± 1,02 54,66a ± 0,67 54,85 ± 1,71 LSM ± SE 111,10 ± 3,01 88,22 ± 2,38 80,13 ± 0,38 78,12 ± 2,25 70,97 ± 0,49 91,08 ± 0,61 23,47ab ± 1,23 56,32a ± 1,80 57,40 ± 1,97 LSM ± SE 102,17 ± 3,01 82,10 ± 2,38 80,34 ± 0,38 72,52 ± 2,25 70,90 ± 0,49 90,50 ± 0,61 21,64b ± 1,18 59,97b ± 0,77 60,74 ± 1,97
- Tỷ lệ thịt móc hàm và tỷ lệ thịt xẻ.
Tỷ lệ thịt xẻ và tỷ lệ móc hàm là những chỉ tiêu đánh giá năng suất thịt của
lợn, phụ thuộc vào giống lợn, thời gian nuôi, tuổi giết mổ, điều kiện nuôi dƣỡng
chăm sóc và mức độ nuôi vỗ béo. Tỷ lệ móc hàm của ba tổ hợp lai là gần tƣơng
đƣơng nhau (từ 79,35% đến 80,34%), không có sự sai khác thống kê về chỉ tiêu này
giữa ba tổ hợp lai (P>0,05).
Sather et al. (1995) cho biết lợn đực không thiến, lợn đực thiến và lợn cái
ở khối lƣợng khoảng 90-100 kg đạt tỷ lệ thịt móc hàm tƣơng ứng 80,50; 82,80 và
82,70%, lợn đực thiến và lợn cái có tỷ lệ thịt móc hàm cao hơn so với lợn đực
không thiến và có sự sai khác thống kê (P<0,05).
Kết quả nghiên cứu của Đặng Vũ Bình và cs. (2005) cho biết, tỷ lệ móc
hàm của tổ hợp lai D × (L × Y) là 79,70%, Du × (Y × L) là 78,14%. Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006b) cho biết, sử dụng nái F1(L × Y) phối giống với đực Du và Pi có khối lƣợng giết mổ tƣơng ứng 93,89 và 92,08 kg, tỷ lệ thịt móc
hàm của hai tổ hợp lai là 78,10 và 79,53%. Theo Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010), lợn nái F1(L × Y) phối giống với đực L, Du và PiDu, khối lƣợng giết mổ tƣơng ứng 101,16; 97,32 và 99,32 kg, tỷ lệ thịt móc hàm của ba tổ hợp lai đạt
tƣơng ứng là 79,99; 79,75 và 81,59%. Vũ Đình Tôn và Nguyễn Công Oánh (2010) nghiên cứu hai tổ hợp lai giữa lợn nái F1(L × Y) phối giống với đực Du, L cho biết tỷ lệ thịt móc hàm đạt 79,07; 78,02 %. Tổ hợp lai (Pi × Du) × Y), (Pi ×
Du) × L và (Pi × Du) × (L × Y) đạt tỷ lệ thịt móc hàm 79,57; 79,95 và 80,17 %
(Phan Xuân Hảo và cs., 2009). Nhƣ vậy, tỷ lệ thịt móc hàm của các tổ hợp lợn lai
trong nghiên cứu của chúng tôi nằm trong phạm vi công bố của các tác trên.
Tỷ lệ thịt xẻ ở tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) đạt 70,09%; tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) đạt 70,97% và tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) đạt 70,90%. Không có sự khác thống kê về chỉ tiêu này giữa ba tổ hợp lai (P>0,05).
Nghiên cứu của Phùng Thị Vân và cs. (2002) cho biết, tỷ lệ thịt xẻ của tổ
hợp lai Du × (L × Y) là 70,90 % ở lần thí nghiệm thứ nhất và 72,70 % ở lần thí
nghiệm thứ hai.
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thiện (2002 ) cho biết, con lai Du × (L ×
Y) và Du × (Y × L) nuôi tại Viện Chăn nuôi đạt tỷ lệ thịt xẻ tƣơng ứng là 72,70%
và 73,38%; tại Tam Đảo con lai Du × (L × Y) tỷ lệ thịt xẻ đạt 74,97%; Nguyễn
83
Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006b) nghiên cứu, sử dụng nái F1(L × Y) phối giống với đực Du và Pi, khối lƣợng giết mổ tƣơng ứng 93,89 và 92,08 kg, có tỷ lệ thịt xẻ đạt 69,00 và 70,95%. Lợn nái F1(L × Y) phối giống với đực L, Du và PiDu, khối lƣợng giết mổ tƣơng ứng 101,16; 97,32 và 99,32 kg có tỷ lệ thịt xẻ
đạt tƣơng ứng là 70,63; 67,93 và 71,89% (Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn,
2010). Theo Vũ Đình Tôn và Nguyễn Công Oánh (2010), hai tổ hợp lai giữa lợn nái F1(L × Y) phối giống với đực Du, L có tỷ lệ thịt xẻ đạt tƣơng ứng 70,09; 68,05 %. Tổ hợp lai (Pi × Du) × Y), (Pi × Du) × L và (Pi × Du) × (L × Y) đạt tỷ
lệ thịt xẻ là 71,37; 71,55 và 71,60 % (Phan Xuân Hảo và cs., 2009). Nhƣ vậy, tỷ
lệ thịt xẻ của các tổ hợp lợn lai trong nghiên cứu này nằm trong phạm vi công bố
của nhiều tác giả khác.
- Tỷ lệ thịt nạc.
Tỷ lệ thịt nạc của tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) đạt cao nhất với 59,97 %, tiếp đến là tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) với 56,32 % và thấp nhất là tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) với 54,66 %. Không có sự sai khác thống kê giữa tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) (P>0,05), nhƣng có sự sai khác thống kê giữa tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) và tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) (P<0,05).
Sự khác nhau về tỷ lệ thịt nạc của ba tổ hợp lai đƣợc thể hiện trên biểu đồ 4.10.
Biểu đồ 4.10. Tỷ lệ thịt nạc xác định trên thân thịt xẻ
84
Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu đã thực hiện việc xác định
các chỉ tiêu liên quan tới tỷ lệ thịt nạc trên thân thịt lợn bằng một số phƣơng pháp
khác nhau. Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006b), Phan Văn Hùng và
Đặng Vũ Bình (2008), Phan Xuân Hảo và Nguyễn Văn Chi (2010) xác định tỷ lệ
thịt nạc theo phƣơng pháp kinh điển: mổ khảo sát, lọc và tách riêng từng phần
nạc mỡ, xƣơng, da. Vũ Đình Tôn và Nguyễn Công Oánh (2010), Phan Xuân Hảo
và Hoàng Thị Thúy (2009), Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010),
McCann et al. (2008), (Kosovac et al., 2009), (Magowan et al., 2009) xác định tỷ
lệ thịt nạc theo phƣơng pháp của Branscheid et al. (1987) nhƣ trong thí nghiệm
của chúng tôi.
Với các phƣơng pháp trên, Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006b)
cho biết khối lƣợng giết mổ và tỷ lệ thịt nạc của hai tổ hợp lai Du × (L × Y) và Pi
× (L × Y) tƣơng ứng là 93,89 và 92,08 kg; 61,78 và 65,37%. Theo Phan Văn
Hùng và Đặng Vũ Bình (2008), khối lƣợng giết mổ và tỷ lệ thịt nạc của 4 tổ hợp
lai Du × (L × Y), Du × (Y × L), L19 × (L × Y), L19 × (Y × L) lần lƣợt là: 81,63;
81,19; 79,06 và 78,89 kg; 58,87; 58,96; 57,21 và 57,24%. Phan Xuân Hảo và
Nguyễn Văn Chi (2010) thông báo khối lƣợng giết mổ và tỷ lệ thịt nạc của hai tổ
hợp lai giữa đực Omega với nái F1(L × Y) và đực PiDu với nái F1(L × Y) tƣơng ứng là 94,86 và 96,19 kg; 61,54 và 57,09%.
Do phƣơng pháp xác định tỷ lệ thịt nạc khác nhau, chƣa thể đƣa ra nhận
xét so sánh kết quả nghiên cứu của chúng tôi với kết quả của các thí nghiệm
nêu trên.
Tuy nhiên, cùng phƣơng pháp xác định tỷ lệ thịt nạc, kết quả nghiên cứu
của Vũ Đình Tôn và Nguyễn Công Oánh (2010) cho biết khối lƣợng giết mổ và tỷ
lệ thịt nạc của hai tổ hợp lai Du × (L × Y) và Pi × (L × Y) tƣơng ứng là 87,42 và
86,28 kg; 55,16 và 53,39%. Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy (2009) thông báo
khối lƣợng giết mổ và tỷ lệ thịt nạc của tổ hợp lai PiDu × (L × Y) tƣơng ứng là
92,60 kg; 56,51%. Nguyễn Văn Thắng và cs. (2010) cho biết tỷ lệ thịt nạc của các
tổ hợp lai L × (L × Y), Du × (L × Y) và (Pi × Du) × (L × Y) đạt tƣơng ứng 55,56;
56,60 và 60,93%. McCann et al. (2008) công bố tỷ lệ thịt nạc của hai tổ hợp lai Du
× (L × Y), Pi × (L × Y) tƣơng ứng là 56,50 và 55,30 %. Hai tổ hợp lai Du × (L ×
85
Y) và Pi × (L × Y) đạt tỷ lệ thịt nạc tƣơng ứng là 56,94 và 60,71% (Kosocvac et
al., 2009). Các tổ hợp lai giữa lợn nái F1(L × Y) với đực L, Pi Austrian, Pi Belgium đạt tỷ lệ thịt nạc 59,90; 60,80 và 61,10 % (Magowan et al., 2009).
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi về chỉ tiêu tỷ lệ thịt nạc ở các tổ hợp lai
giữa lợn nái F1(L × Y) phối giống với đực lai PiDu25, PiDu50, PiDu75 tƣơng đối phù hợp với các công bố trong và ngoài nƣớc nhƣng lại thấp hơn công bố của
Phạm Thị Đào (2014) cho biết tỷ lệ thịt nạc của con lai Pi × F1(L × Y) đạt 60,44% khi sử dụng cùng phƣơng pháp xác định.
Nhƣ vậy, trong nghiên cứu của chúng tôi, khi xác định tỷ lệ nạc bằng cả
hai phƣơng pháp (siêu âm trên cơ thể lợn sống trƣớc khi giết thịt và mổ khảo sát)
kết quả đều cho thấy tỷ lệ thịt nạc của tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) đạt cao nhất, tiếp đến là tổ hợp lai tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) và thấp nhất là tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y).
Kết quả nghiên cứu nhận thấy khi sử dụng lợn đực lai PiDu có thành
phần di truyền của Piétrain Re-Hal lớn sẽ làm tăng tỷ lệ nạc của con lai thƣơng
phẩm. Con lai thƣơng phẩm đƣợc tạo ra từ lợn nái F1(L × Y) phối với đực lai PiDu có 75% thành phần di truyền của đực Piétrain Re-Hal đã nâng cao tính
trạng tỷ lệ nạc so với con lai thƣơng phẩm đƣợc tạo ra từ lợn nái F1(L × Y) phối với đực lai PiDu có 50 và 25% thành phần di truyền của đực Piétrain Re-Hal.
- Dài thân thịt
Chỉ tiêu dài thân thịt của ba tổ hợp lai tƣơng ứng là 91,50 cm; 91,08 cm và
90,50 cm; không có sự sai khác thống kê giữa ba tổ hợp lai (P>0,05).
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006b) cho biết,
dài thân thịt của tổ hợp lai Du × (L × Y) là 92,49cm. Nguyễn Văn Soạn và Đặng
Vũ Bình (2010) cho biết chỉ tiêu dài thân thịt của tổ hợp lai L19 × (L × Y) đạt
95,25cm, tổ hợp lai L19 × (Y × L) đạt 94,67, tổ hợp lai Du × (L × Y) đạt 93,17
và tổ hợp lai Du × (Y × L) là 91,75cm. Kết quả của chúng tôi nghiên cứu về chỉ
tiêu này thấp các kết quả nghiên cứu trên.
Tuy nhiên kết quả về chỉ tiêu dài thân thịt nằm trong phạm vi công bố của
Phan Văn Hùng và Đặng Vũ Bình (2008), dài thân thịt của Du × (L × Y) và Du ×
(Y × L) lần lƣợt là 90,87 và 90,40cm.
86
- Độ dày mỡ lƣng
Tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) có độ dày mỡ lƣng thấp nhất (21,64 mm), tiếp đến là tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) (23,47 mm) và tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) có độ dày mỡ lƣng là cao nhất (26,02 mm). Không có sự sai thống kê về độ
dày mỡ lƣng giữa tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) và tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) (P>0,05), nhƣng có sự sai khác thống kê giữa tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) và tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) (P<0,05).
Độ dày mỡ lƣng của ba tổ hợp lai đƣợc minh họa trên biểu đồ 4.11.
Biểu đồ 4.11. Độ dày mỡ lƣng của ba tổ hợp lai khi mổ khảo sát
Dày mỡ lƣng trung bình ở tổ hợp lai Du × (L × Y) và Pi × (L × Y) là 25,0
và 22,0 cm (Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình, 2006b), ở ba tổ hợp lai giữa
lợn nái F1(L × Y) phối giống với đực L, Du và PiDu, dày mỡ lƣng trung bình đạt tƣơng ứng là 24,95; 20,64 và 19,12 mm (Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn,
2010). Theo Vũ Đình Tôn và Nguyễn Công Oánh (2010), hai tổ hợp lai giữa lợn
nái F1(L × Y) phối giống với đực Du, L dày mỡ lƣng trung bình 19,48 và 23,95 mm. Nhƣ vậy kết quả nghiên cứu về chỉ tiêu này nằm trong phạm vi công bố của
các tác giả trên. Tuy nhiên kết quả của ba tổ hợp lai trên lại cao hơn kết quả của
87
Phạm Thị Đào (2014) khi nghiên cứu trên tổ hợp lai Pi × F1(L × Y) có độ dày mỡ lƣng là 16,5 cm.
Kết quả nghiên cứu cho thấy khi sử dụng lợn đực lai PiDu tạo lợn lai nuôi
thịt trong đó có thành phần di truyền của Piétrain Re-Hal lớn đã làm giảm độ dày
mỡ lƣng của cá thể lai vì chúng đƣợc thừa hƣởng thêm ƣu thế của giống Piétrain.
Cụ thể, khi sử dụng đực lai PiDu75 tạo lợn lai nuôi thịt, con lai thƣơng phẩm đã
có độ dày mỡ lƣng giảm hơn so với đực lai PiDu50 là 1,83 mm và đực lai
PiDu25 là 4,38 mm.
- Diện tích cơ thăn
Tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) có diện tích cơ thăn cao nhất (60,74 cm2), tiếp đến là tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) (57,40 cm2) và thấp nhất là tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) (54,85 cm2), tuy nhiên không có sự sai khác thống kê về chỉ tiêu này giữa ba tổ hợp lai (P>0,05).
Trên thân thịt lạnh (cold carcass), McCann et al. (2008) công bố diện tích
cơ thăn của các tổ hợp lai Du × (L × Y) và Pi × (L × Y) tƣơng ứng là 40,50 và 39,50cm2. Nghiên cứu của Trƣơng Hữu Dũng và cs. (2004) cho biết tổ hợp lai ba giống Du × (L × Y), Du × (Y × L) có diện tích cơ thăn là 41,50 cm2; Phùng Thị Vân
và cs. (2001; 2002) cho biết con lai Du (L Y) có diện tích cơ thăn 43,36 và 46,30 cm2. Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010) cho biết, tổ hợp lai L × (L × Y), Du × (L × Y) đạt tƣơng ứng 49,91 và 50,61 cm2. Nhƣ vậy con lai thƣơng phẩm
4 giống trong đó có thành phần giống Piétrain Re-Hal trong nghiên cứu của
chúng tôi có diện tích cơ thăn cao hơn con lai 3 giống của các tác giả trên.
Tuy nhiên, kết quả về diện tích cơ thăn của các tổ hợp lai trong nghiên cứu
của chúng tôi phù hợp với công bố của Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình
(2006b), hai tổ hợp lai Du × (L × Y) và Pi × (L × Y) có diện tích cơ thăn là 51,23 cm2 và 56,34 cm2. Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010) cho biết hợp lai (Pi × Du) × (L × Y) đạt 56,59 cm2.
4.3.2. Chất lƣợng thịt 4.3.2.1. Mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố đến chất lượng thịt
Kết quả đánh giá mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố đực giống, trại chăn
88
nuôi, mùa vụ và tính biệt đến các chỉ tiêu chất lƣợng thịt bằng mô hình GLM
đƣợc trình bày ở bảng 4.11.
Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến các chỉ tiêu chất lƣợng thịt
cho thấy: Các yếu tố đều có những ảnh hƣởng nhất định đến các chỉ tiêu về chất
lƣợng thịt của các tổ hợp lai. Mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố khác nhau cũng
khác nhau đối với từng chỉ tiêu chất lƣợng thịt.
Các chỉ tiêu
Đực giống
Trại chăn nuôi Mùa vụ
Tính biệt
NS
*
*
NS
pH45 phút
NS
NS
NS
*
pH24 giờ
NS
NS
NS
*
pH48 giờ
NS
NS
*
NS
Tỷ lệ mất nƣớc BQ24 (%)
NS
NS
NS
NS
Tỷ lệ mất nƣớc BQ48 (%)
*
NS
NS
NS
Tỷ lệ hao hụt sau CB24 (%)
*
NS
NS
NS
Tỷ lệ hao hụt sau CB48 (%)
NS
NS
NS
NS
Độ dai của thịt 24 (N)
NS
NS
NS
NS
Độ dai của thịt 48 (N)
L* 24 (Lightness)
*
NS
NS
NS
a* 24 (Redness)
*
NS
NS
*
b* 24 (Yellowness)
NS
NS
NS
NS
L* 48 (Lightness)
*
NS
NS
NS
a* 48 (Redness)
*
NS
NS
*
b* 48 (Yellowness)
NS
NS
NS
NS
*Ghi chú: NS: P> 0,05; *: P< 0,05; **: P < 0,01; ***: P< 0,001
Bảng 4.11. Các yếu tố ảnh hƣởng đến các chỉ tiêu chất lƣợng thịt của ba tổ hợp lai
- Yếu tố đực giống ảnh hƣởng đến các chỉ tiêu nhƣ tỷ lệ hao hụt sau CB24, tỷ lệ hao hụt sau CB48, L*24, a*24, L*48 và a*48 (P<0,05). Các chỉ tiêu còn lại
nhƣ pH45 phút, pH24 giờ, pH48 giờ, tỷ lệ mất nƣớc BQ24, tỷ lệ mất nƣớc BQ48, độ dai của thịt 24, độ dai của thịt 48, b* 24, b* 48 không chịu ảnh hƣởng bởi yếu tố này.
- Yếu tố trại chăn nuôi chỉ ảnh hƣởng đến chỉ tiêu pH45 (P < 0,05). Các chỉ
89
tiêu khác về chất lƣợng thịt không chịu ảnh hƣởng yếu tố trại chăn nuôi.
- Yếu tố mùa vụ ảnh hƣởng đến các chỉ tiêu pH45, tỷ lệ mất nƣớc BQ24, (P < 0,05). Các chỉ tiêu còn lại nhƣ pH24 giờ, pH48 giờ, tỷ lệ mất nƣớc BQ48, tỷ lệ hao hụt sau CB24, tỷ lệ hao hụt sau CB48, độ dai của thịt 24, độ dai của thịt 48,
L*24, a*24, L*48, a*48, b* 24 và b* 48 không chịu ảnh hƣởng yếu tố mùa vụ.
- Yếu tố tính biệt ảnh hƣởng đến các chỉ tiêu pH24 giờ, pH48 giờ, a* 24, a* 48 (P < 0,05). Các chỉ tiêu còn lại nhƣ pH48 giờ, tỷ lệ mất nƣớc BQ24, tỷ lệ mất nƣớc BQ48, tỷ lệ hao hụt sau CB24, tỷ lệ hao hụt sau CB48, độ dai của thịt 24, độ dai
của thịt 48, L*24, L*48, b* 24 và b* 48 không chịu ảnh hƣởng yếu tố này.
Kết quả nghiên cứu trên phù hợp với kết quả của Hà Xuân Bộ và cs.
(2013), cho biết tính biệt ảnh hƣởng đến pH24, a*24 (P<0,001).
4.3.2.2. Các chỉ tiêu pH thịt
Các kết quả thu đƣợc đối với chỉ tiêu đánh giá về độ pH của thịt thông qua
mổ khảo sát đƣợc trình bày ở bảng 4.12.
PiDu25 × F1(L × Y) (n=16)
PiDu50 × F1(L × Y) (n=12)
PiDu75 × F1(L × Y) (n=12)
Chỉ tiêu
pH45
pH24
LSM ± SE 6,48 ± 0,07 5,45 ± 0,04 5,43 ± 0,04
LSM ± SE 6,36 ± 0,08 5,54 ± 0,04 5,50 ± 0,04
LSM ± SE 6,59 ± 0,08 5,45 ± 0,04 5,44 ± 0,04
pH48
* Ghi chú: Các giá trị trong cùng một hàng mang chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05).
Bảng 4.12. Giá trị pH thịt ở các thời điểm khác nhau sau khi giết thịt
- Giá trị pH45 của thịt.
Kết quả theo dõi cho thấy cho thấy giá trị pH45 của thịt tại cơ thăn ở tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) là 6,48; tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) là 6,36 và tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) là 6,59. Không có sự sai khác thống kê về giá trị pH45 của thịt giữa ba tổ hợp lai (P>0,05).
Giá trị pH45 của thịt ở 3 tổ hợp lai đều nằm trong phạm vi nghiên cứu của nhiều thông báo trƣớc đây. Cụ thể, Lyczynski et al. (2000) cho biết thịt tại cơ
thăn của tổ hợp lai Pi × (L × Y) có giá trị pH45 thấp hơn so với tổ hợp lai L × (L × Y) (6,19 so với 6,66); Liu et al. (2000) cho biết, thịt tại cơ thăn của tổ hợp lai
90
Du × (L × Y) có giá trị pH45 là 6,30 trong khi đó giá trị pH45 của thịt tại cơ thăn ở tổ hợp lai L × (L × Y) là 6,40; giá trị pH45 của tổ hợp lai 2 giống (L × Y) là 6,15 (Phan Xuân Hảo, 2007), ở tổ hợp lai 3 giống Pi × (L × Y là 6,15; Du × (L × Y) là
6,55 (Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình, 2006b). Các tổ hợp lai giữa đực
PiDu với nái Y, L và F1(L × Y) giá trị pH45 ở cơ thăn tƣơng ứng 6,37; 6,31; 6,34 (Phan Xuân Hảo và cs., 2009). Giá trị pH45 ở cơ thăn của hai tổ hợp lai Du × (L × Y) và (DuPi) × (L × Y) tƣơng ứng là 6,62 và 6,48 (Halina et al., 2009). Theo
Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2010), khi nghiên cứu về chất lƣợng thịt của
các tổ hợp lai Du × (L × Y), Du × (Y × L), L19 × (L × Y) và L19 × (Y × L), giá
trị pH đo tại thời điểm 45 phút sau giết mổ dao động trong khoảng 6,5 - 6,6. Tại
Đan Mạch, Kortz et al. (2005) khi nghiên cứu chất lƣợng thịt lợn thuần Y và tổ
hợp lai giữa lợn nái Polis White Large (PWL) với đực Y, giá trị pH45 của thịt tại cơ thăn đạt tƣơng ứng ở lợn thuần Y là 6,53; ở tổ hợp lai giữa lợn nái PWL với
đực Y là 6,63.
- Giá trị pH24 của thịt.
Giá trị pH của cơ thăn 24 giờ sau khi giết thịt của tổ hợp lai là PiDu25 ×
F1(L × Y) là 5,45; tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) là 5,54 và tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) là 5,45. Không có sự sai khác thống kê về giá trị pH24 giữa các tổ hợp lai (P>0,05).
Phan Xuân Hảo (2007) cho biết, giá trị pH24 ở cơ thăn của tổ hợp lai 2 giống (L × Y) là 5,78. Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006b) cho biết tổ
hợp lai 3 giống Pi × (L × Y) là 5,90 và Du × (L × Y) là 5,98. Các tổ hợp lai giữa
đực PiDu với nái Y, L và F1(L × Y) giá trị pH24 ở cơ thăn tƣơng ứng là 5,59; 5,57 và 5,57 (Phan Xuân Hảo và cs., 2009). Giá trị pH24 ở cơ thăn (longissimus lumborum) của hai tổ hợp lai Du × (L × Y), (DuPi) × (L × Y) tƣơng ứng là 5,67
và 5,64 (Halina et al., 2009). Theo McCann et al. (2008), giá trị pH24 ở cơ thăn của hai tổ hợp lai Du × (L × Y) và Pi × (L × Y) là 5,56 và 5,58. Giá trị pH sau
giết mổ 24 giờ của các tổ hợp lai Du × (L × Y), Du × (Y × L), L19 × (L Y) và
L19 × (Y × L) dao động trong khoảng 5,6 - 5,7 (Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ
Bình, 2010). Khi nghiên cứu chất lƣợng thịt lợn thuần Y và tổ hợp hợp lai giữa
lợn nái Polis White Large (PWL) với đực Y, Kortz et al. (2005) cho biết giá trị
91
pH24 của thịt tại cơ thăn ở lợn thuần Y là 5,51; ở tổ hợp lai giữa lợn nái PWL với đực Y là 5,50.
Nhƣ vậy, kết quả về giá trị pH24 ở cơ thăn của 3 tổ hợp lai trong nghiên
cứu của chúng tôi thấp hơn so với các kết quả nghiên cứu trên.
- Giá trị pH của cơ thăn 48 giờ sau khi giết thịt của tổ hợp lai là PiDu25 ×
F1(L × Y) là 5,43; tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) là 5,50 và tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) là 5,44, không có sự sai khác thống kê về giá trị pH48 giờ giữa các tổ hợp lai (P>0,05).
Căn cứ vào phƣơng pháp phân loại chất lƣợng thịt dựa vào pH45 và pH24 của
Kuo and Chu (2003) thì các con lai ở ba tổ hợp lai có chất lƣợng thịt bình thƣờng.
4.3.2.3. Các chỉ tiêu về tỷ lệ mất nước và độ dai của thịt
Kết quả nghiên cứu về tỷ lệ mất nƣớc bảo quản, tỷ lệ hao hụt chế biến của
thịt sau 24, 48 giờ đƣợc thể hiện ở bảng 4.13.
- Tỷ lệ mất nƣớc của thịt bảo quản sau 24 giờ.
Kết quả cho thấy tỷ lệ mất nƣớc của thịt bảo quản sau 24 giờ ở tổ hợp lai
PiDu25 × F1(L × Y) là 2,10%; tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) là 1,83% và PiDu75 × F1(L × Y) là 1,87%. Không có sự sai khác thống kê về chỉ tiêu này giữa ba tổ hợp lai (P>0,05).
Theo Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006b), tỷ lệ mất nƣớc sau
bảo quản 24 giờ của các tổ hợp lai Du × (L × Y) và Pi × (L × Y) tƣơng ứng là
3,78 và 3,53%. Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy (2009) cho biết, tỷ lệ mất
nƣớc sau bảo quản 24 giờ ở tổ hợp lai PiDu × (L × Y) l2,73%. Tỷ lệ mất nƣớc ở
hai tổ hợp lai đực Omega và đực PiDu với nái F1(L × Y) tƣơng ứng là 2,83 và 2,84% (Phan Xuân Hảo và Nguyễn Văn Chi, 2010). Theo nghiên cứu của Đoàn
Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2010), tỷ lệ mất nƣớc sau bảo quản 24 giờ của thịt ở
4 tổ hợp lai dao động trong khoảng 2,5-2,6%. McCann et al. (2008) cho biết, tỷ
lệ mất nƣớc bảo quản 24 giờ sau giết thịt của tổ hợp lai Du × (L × Y) là 5,79%,
ở tổ hợp lai Pi × (L × Y) là 5,89%.
Nhƣ vậy, tỷ lệ mất nƣớc của thịt bảo quản sau 24 giờ của các tổ hợp lợn
lai trong nghiên cứu của chúng tôi là thấp hơn các kết quả nghiên cứu trên.
92
Bảng 4.13. Các chỉ tiêu về tỷ lệ mất nƣớc và độ dai của thịt
PiDu25 × F1(L × Y) PiDu50 × F1(L × Y) PiDu75 × F1(L × Y)
(n=16) (n=12) (n=12) Chỉ tiêu
LSM ± SE LSM ± SE LSM ± SE
2,10 ± 0,29 1,83 ± 0,33 1,87 ± 0,33 Tỷ lệ mất nƣớc BQ24 (%)
9 3
2,77 ± 0,38 2,57 ± 0,44 2,71 ± 0,44 Tỷ lệ mất nƣớc BQ48 (%)
27,46ab ± 0,71 26,23a ± 0,81 29,79b ± 0,81 Tỷ lệ hao hụt sau CB24 (%)
47,16
±
2,66
47,47 ± 3,08
46,49
±
3,08
Độ dai của thịt 24 (N)
42,66
±
2,75
43,18 ± 3,18
38,87
±
3,18
Độ dai của thịt 48 (N)
* Ghi chú: các giá trị trong cùng một hàng mang chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05).
26,67a ± 1,13 27,10ab ± 1,22 30,87b ± 1,22 Tỷ lệ hao hụt sau CB48 (%)
- Tỷ lệ mất nƣớc của thịt bảo quản sau 48 giờ.
Tỷ lệ mất nƣớc của thịt bảo quản sau 48 giờ ở ở tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) là 2,77%; tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) là 2,57% và PiDu75 × F1(L × Y) là 2,71%. Không có sự sai khác thống kê về chỉ tiêu này giữa ba tổ hợp lai
(P>0,05).
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn thông báo của Halina et al.
(2009) khi nghiên cứu tỷ lệ mất nƣớc bảo quản 48 giờ sau giết thịt của thịt ở hai
tổ hợp lai Du × (L × Y) và (Du × Pi) × (L × Y) tƣơng ứng là 5,16 và 7,73%.
- Tỷ lệ hao hụt sau chế biến 24 và 48 giờ.
Tỷ lệ hao hụt của thịt sau chế biến 24 giờ của tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) là thấp nhất (26,23%), tiếp đến là tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) (27,46%) và chỉ tiêu này cao nhất ở tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) (29,79%). Không có sự sai khác thống kê về chỉ tiêu này giữa tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) và tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) (P>0,05). Nhƣng có sự sai khác thống kê giữa tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) (P<0,05).
Tỷ lệ hao hụt của thịt sau chế biến 48 giờ ở ở tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) là 26,67%; tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) là 27,10% và tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) là 30,87%. Không có sự sai khác thống kê về chỉ tiêu này giữa tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) và tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) (P>0,05). Tuy nhiên, có sự sai khác thống kê giữa tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) (P<0,05).
Theo Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy (2009), tỷ lệ hao hụt sau CB24
ở thịt lợn PiDu × (L × Y) là 22,62 %. Nghiên cứu của Morlein et al. (2007) cho
biết, tỷ lệ hao hụt CB24 của thịt đối với tổ hợp lai giữa đực Pi với nai lai F1(Y × L) và F1(Du × L) khá cao, tƣơng ứng là 29,79 và 29,25%. Warner et al. (1997) cho rằng tỷ lệ hao hụt CB24 ở thịt lợn bình thƣờng là 25,30%. Nghiên cứu của
Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2010) cho biết tỷ lệ hao hụt CB24 dao động
trong khoảng 24,6 - 24,7%.
Theo McCann et al. (2008), tỷ lệ hao hụt CB24 giờ ở tổ hợp lai Du × (L × Y)
là 24,90%, ở tổ hợp lai Pi × (L × Y) là 25,00%.
94
Nhƣ vậy, tỷ lệ mất nƣớc của thịt chế biến của các tổ hợp lợn lai trong
nghiên cứu của chúng tôi là cao hơn các kết quả nghiên cứu trên.
- Độ dai của thịt bảo quản sau 24 giờ.
Kết quả cho thấy độ dai của thịt bảo quản 24 giờ sau giết thịt ở tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) là 47,16 N; tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) là 47,47 N và tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) là 46,49 N. Không có sự sai khác thống kê về về chỉ tiêu này giữa các tổ hợp lai (P>0,05).
Kết quả này cao hơn nghiên cứu của Phan Xuân Hảo và cs. (2009), các tác giả cho biết các tổ hợp lai giữa đực PiDu với nái Y, L và F1(L × Y) có độ dai của thịt bảo quản 24 giờ sau giết thịt tƣơng ứng là 42,90; 42,28 và 42,26 N. Theo
McCann et al. (2008), độ dai của thịt bảo quản 24 giờ sau giết thịt của tổ hợp lai
Du × (L × Y) là 36,86 N, tổ hợp lai Pi × (L × Y) là 35,45 N.
- Độ dai của thịt bảo quản sau 48 giờ.
Độ dai của thịt bảo quản 48 giờ sau giết thịt của tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) là 42,66 N; tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) là 43,18 N và tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) là 38,87 N. Tuy nhiên, không có sự sai khác thống kê về độ dai của thịt bảo quản 48 giờ sau giết thịt giữa các tổ hợp lai (P>0,05).
4.3.2.4. Các chỉ tiêu màu sắc thịt
Các kết quả thu đƣợc đối với chỉ tiêu đánh giá về màu sắc của thịt thông
qua mổ khảo sát đƣợc trình bày ở bảng 4.14.
- Giá trị L* của thịt sau 24 giờ bảo quản.
Kết quả nghiên cứu cho thấy giá trị L* của thịt sau 24 giờ bảo quản ở tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) là thấp nhất (53,89), tiếp đến là tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) (55,04) và cao nhất ở tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) (56,09). Không có sự sai khác thống kê về chỉ tiêu này giữa ba tổ hợp lai (P>0,05).
- Giá trị a* của thịt sau 24 giờ bảo quản.
Giá trị a* của thịt tại cơ thăn sau 24 giờ bảo quản ở tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) là 15,58; tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) là 16,40 và tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) là (14,10). Không có sự sai khác thống kê giữa tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) (P>0,05), có sự sai khác thống kê giữa tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) và tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) (P<0,05).
95
Bảng 4.14. Màu sắc thịt của các con lai
PiDu25 × F1(L × Y) PiDu50 × F1(L × Y) PiDu75 × F1(L × Y)
(n=16) (n=12) (n=12) Chỉ tiêu
LSM ± SE LSM ± SE LSM ± SE
9 6
L* 24 (Lightness) 55,04 ± 0,62 53,89 ± 0,72 56,09 ± 0,72
a* 24 (Redness) 15,58a ± 0,33 16,40a ± 0,40 14,10b ± 0,38
b* 24 (Yellowness) 8,25 ± 0,20 8,16 ± 0,23 8,58 ± 0,23
L* 48 (Lightness) 54,71 ± 0,55 53,94 ± 0,63 55,78 ± 0,71
a* 48 (Redness) 16,19a ± 0,32 16,06a ± 0,37 14,65b ± 0,37
* Ghi chú: các giá trị trong cùng một hàng mang chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05).
b* 48 (Yellowness) 8,79ab ± 0,27 8,24a ± 0,31 9,33b ± 0,31
- Giá trị b* của thịt sau 24 giờ bảo quản.
Giá trị b* của thịt sau 24 giờ bảo quản của ba tổ hợp lai tƣơng dao động ở
từ 8,16 đến 8,58 và không có sự sai khác thống kê về chỉ tiêu này giữa ba tổ hợp
lai (P>0,05).
Phan Xuân Hảo và cs. (2009) cho biết các tổ hợp lai giữa đực PiDu với
nái Y, L và F1(L × Y) có giá trị L* ở cơ thăn tƣơng ứng 47,11; 47,69 và 47,88;
giá trị a* tƣơng ứng 13,50; 14,00; 13,92; giá trị b* tƣơng ứng 5,89; 6,40; 6,12.
Theo McCann et al. (2008), giá trị L*, a* và b* ở cơ thăn của hai tổ hợp lai
Du × (L × Y) là 54,99; 3,98; 8,53, ở tổ hợp lai Pi × (L × Y) là 53,82; 4,20; 8,68.
Theo Halina et al. (2009), giá trị L* của thịt ở tổ hợp lai Du × (L × Y),
(DuPi) × (L × Y) tƣơng ứng 54,32; 54,18. Kortz et al. (2005) cho biết giá trị L*,
a* và b* của thịt ở lợn thuần Y tƣơng ứng là 57,64; 13,33; 11,30 và ở lợn lai Y ×
PL tƣơng ứng là 55,17; 8,68; 7,36.
- Giá trị L* của thịt sau 48 giờ bảo quản.
Giá trị L* của thịt sau 48 giờ bảo quản ở tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) là
thấp nhất (53,94), cao nhất ở tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) (55,78), tổ hợp lai
PiDu25 × F1(L × Y) ở vị trí trung gian (54,71). Tuy nhiên, không có sự sai khác
thống kê về giá trị L* 48 giữa ba tổ hợp lai (P>0,05).
- Giá trị a* của thịt sau 48 giờ bảo quản
Giá trị a* của thịt sau 48 giờ bảo quản ở hai tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y)
là 16,19; tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) là 16,06 và tổ hợp lai PiDu75 × F1(L ×
Y) là 14,65. Không có sự sai khác thống kê giữa hai tổ hợp lai PiDu25 × F1(L ×
Y) với tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) (P>0,05), nhƣng có sự sai khác thống kê
giữa tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) với hai tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) và tổ
hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) (P<0,05).
- Giá trị b* của thịt sau 48 giờ bảo quản
Giá trị b* của thịt sau 48 giờ bảo quản ở tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) là
cao nhất (9,33), tiếp đến là tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) (8,79) và thấp nhất là tổ
hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) (8,24). Không có sự sai khác thống kê giữa tổ hợp lai
PiDu25 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) và tổ hợp lai PiDu75 × F1(L
97
× Y) (P>0,05). Tuy nhiên, có sự sai khác thống kê về chỉ tiêu này giữa tổ hợp lai
PiDu75 × F1(L × Y) với tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) (P<0,05).
Các giá trị độ sáng, màu đỏ, màu vàng của thịt trong nghiên cứu của Nguyễn
Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006a) tƣơng ứng là: 47,94 - 48,05; 6,70 - 6,99 và
8,03 - 11,27. Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2010) cho biết độ sáng của thịt dao
động trong khoảng 48,7 tới 49,7; màu đỏ dao động trong khoảng 5,7 tới 6,6. Morlein
et al. (2007) cho biết độ sáng, màu đỏ, màu vàng của thịt bình thƣờng tƣơng ứng là
46,88 - 48,00; 7,95 - 8,14 và 0,07 - 0,0,42. Nhƣ vậy, màu sắc thịt của các tổ hợp lai
tƣơng đƣơng với các kết quả mà một vài nghiên cứu trong nƣớc đã công bố, có phần
cao hơn so với các số liệu của một vài tác giả nƣớc ngoài.
4.3.3. Thành phần hoá học của thịt 4.3.3.1. Ảnh hưởng của một số yếu tố đến thành phần hoá học của thịt
Sử dụng mô hình GLM phân tích các yếu tố ảnh hƣởng bao gồm đực
giống, trại chăn nuôi, mùa vụ và tính biệt đến các chỉ tiêu thành phần hóa học của
thịt lợn đƣợc trình bày ở bảng 4.15.
Các chỉ tiêu
Đực giống
Trại chăn nuôi
Mùa vụ
Tính biệt
NS
NS
NS
NS
* NS
NS NS
NS NS
NS *
Tỷ lệ VCK (%) Tỷ lệ protein thô (%) Tỷ lệ mỡ thô (%) Tỷ lệ khoáng TS (%)
NS
NS
NS
NS
NS: P>0,05 ; *: P<0,05 ; **: P<0,01 ; ***: P<0,001
Bảng 4.15. Các yếu tố ảnh hƣởng đến thành phần hóa học của thịt
Kết quả phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến các chỉ tiêu thành phần hóa
học của thịt cho thấy: Trại chăn nuôi và mùa vụ không ảnh hƣởng tới chỉ tiêu nào
về thành phần hóa học của thịt. Các yếu tố còn lại đều có những ảnh hƣởng nhất
định đến các chỉ tiêu thành phần hóa học của thịt của ở các tổ hợp lai.
- Yếu tố đực giống chỉ ảnh hƣởng đến chỉ tiêu tỷ lệ protein thô (P<0,05). Các chỉ tiêu tỷ lệ vật chất khô, tỷ lệ mỡ thô và tỷ lệ khoáng tổng số không chịu ảnh
hƣởng hƣởng của yếu tố đực giống.
- Yếu tố tính biệt ảnh hƣởng đến chỉ tiêu tỷ lệ mỡ thô trong cơ thăn (P < 0,05). Các chỉ tiêu tỷ lệ vật chất khô, tỷ lệ protein thô và tỷ lệ khoáng tổng số không chịu
ảnh hƣởng hƣởng của yếu tố tính biệt.
98
Nghiên cứu của Puigvert et al. (2000) cho biết, khẩu phần thức ăn, tính
biệt và điều kiện môi trƣờng ít ảnh hƣởng đến chất lƣợng thịt. Theo Peinado et
al. (2008), các tác giả cho rằng tính biệt không ảnh hƣởng đến vật chất khô và
protein tổng số. Nhƣ vậy kết quả phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến các chỉ tiêu
về thành phần hóa học của thịt trong nghiên cứu của chúng tôi là phù hợp với
nghiên cứu của các tác giả trên.
4.3.3.2. Hàm lượng vật chất khô, protein, mỡ và khoáng tổng số trong cơ thăn Kết quả nghiên cứu về các chỉ tiêu tỷ lệ vật chất khô, protein, mỡ và
khoáng tổng số trong cơ thăn đƣợc trình bày ở bảng 4.16.
PiDu25×F1(L × Y)
PiDu50×F1(L × Y)
PiDu75×F1(L × Y)
(n=16)
(n=12)
(n=12)
Chỉ tiêu
SE
SE
SE
0,26
0,29
0,23
0,25
0,30
0,30
0,33
Tỷ lệ mỡ thô (%)
LSM ± 26,23 ± Tỷ lệ VCK (%) Tỷ lệ protein thô (%) 21,53a ± 2,02 ± 1,39 ±
Tỷ lệ khoáng TS (%)
LSM ± 26,30 ± 0,26 0,23 22,18ab ± 2,02 ± 1,44 ±
0,30
0,30
LSM ± 26,30 ± 22,63b ± 2,06 ± 1,63 ±
0,33
* Ghi chú: các giá trị trong cùng một hàng mang chữ cái khác nhau thì sai khác có ý nghĩa thống kê (P<0,05).
Bảng 4.16. Hàm lƣợng vật chất khô, protein, mỡ thô và khoáng tổng số trong cơ thăn của ba tổ hợp lai
- Tỷ lệ vật chất khô của cơ thăn ở tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) là 26,23%; tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) là 26,30% và tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) là 26,30%; không có sự sai khác thống kê về chỉ tiêu này giữa ba tổ hợp lai (P>0,05).
- Tỷ lệ protein thô của cơ thăn
Tỷ lệ protein thô của cơ thăn ở ba tổ hợp lai tƣơng ứng 21,53 %; 22,18 %
và 22,63 %, có sự sai khác thống kê về chỉ tiêu này giữa tổ hợp lai PiDu25 ×
F1(L × Y) và PiDu75 × F1(L × Y) (P<0,05), không có sự sai khác thống kê giữa tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) với PiDu50 × F1(L × Y) (P>0,05), PiDu50 × F1(L × Y) với PiDu75 × F1(L × Y) (P>0,05).
Hàm lƣợng protein thô của cơ thăn ở ba tổ hợp lai đƣợc minh hoạ trên
biểu đồ 4.12.
99
Biểu đồ 4.12. Hàm lƣợng protein thô của cơ thăn
Tỷ lệ protein thô của cơ thăn ở tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) đạt cao nhất, tiếp đến là tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) và thấp nhất là tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y).
- Tỷ lệ mỡ thô của cơ thăn
Tỷ lệ mỡ thô của cơ thăn ở ba tổ hợp lai là gần tƣơng đƣơng nhau (2,02
đến 2,06 %), không có sự sai khác thống kê về chỉ tiêu này giữa ba tổ hợp lai
(P>0,05).
Khi phân tích thành phần hoá học của thịt ở cơ thăn với khối lƣợng móc
hàm khoảng 80 - 90kg, Halina et al. (2009) cho thấy đối với tổ hợp lai Du × (L ×
Y) và (DuPi) × (L × Y) chỉ tiêu tỷ lệ vật chất khô là 25,38 và 25,76%, tỷ lệ
protein thô tƣơng ứng là 22,64 và 22,54 và tỷ lệ mỡ thô là 2,08 và 1,44%.
Tỷ lệ mỡ thô trong thịt tại cơ thăn của tổ hợp lai Du × (L × Y) là 2,08, ở tổ
hợp lai Pi × (L × Y) là 2,40% (McCann et al., 2008). Theo Kosovac et al. (2009),
tỷ lệ mỡ trong cơ của tổ hợp lai Pi × (L × Y) thấp hơn so với tổ hợp lai Du × (L ×
Y) (1,23 so với 1,67%). Với khối lƣợng giết mổ ở 111,60 kg đối với lợn lai và mẫu
100
cơ thăn đƣợc lấy ở ngực, Okrouhla et al. (2008) cho biết ở hai mức tỷ lệ thịt nạc
khác nhau thì có thành phần khác nhau. Cụ thể, ở mức tỷ lệ thịt nạc ≥ 60 % tỷ lệ mỡ
thô, protein thô và khoáng tổng số đạt tƣơng ứng 1,56; 23,28 và 1,40 %; ở ở mức tỷ
lệ thịt nạc 55,00 - 59,90 % thì tỷ lệ mỡ thô, protein thô và khoáng tổng số tƣơng ứng
là 1,61; 23,20 và 1,39 %.
- Tỷ lệ khoáng tổng số của cơ thăn ở tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) cao nhất (1,63%), tiếp đến là tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) (1,44%) và thấp nhất là tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) (1,39%). Không có sự sai khác thống kê về chỉ tiêu này giữa ba tổ hợp lai (P>0,05).
101
PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
5.1. KẾT LUẬN
1) Năng suất sinh sản của lợn nái F1(L × Y) phối với đực lai PiDu có thành phần di truyền khác nhau.
- Sử dụng lợn đực lai PiDu75 phối với nái F1(L × Y) thì số con đẻ ra có xu hƣớng cao hơn so với sử dụng lợn đực lai PiDu25 và PiDu50 phối với lợn nái F1(L × Y) (11,53 so với 11,33 và 10,93 con).
- Sử dụng lợn đực lai PiDu75 phối với nái F1(L × Y) thì số con cai sữa toàn ổ cũng có xu hƣớng cao hơn so với sử dụng lợn đực lai PiDu25 và PiDu50 phối với lợn nái F1(L × Y) (10,04 con so với 9,90 và 9,91 con).
- Sử dụng lợn đực lai PiDu50 phối với nái F1(L × Y) có khối lƣợng trung bình lợn con sơ sinh là 1,58 kg, khối lƣợng trung bình lợn con cai sữa là 6,59 kg, đạt cao nhất, tiếp đến là tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y), tƣơng ứng với 1,54 kg và 6,41 kg và thấp nhất là tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y), tƣơng ứng với 1,36 và 6,39 kg/con. Nhƣng sử dụng lợn đực lai PiDu75 có tác dụng nâng cao khối lƣợng
lợn con sơ sinh của toàn ổ và khối lƣợng cai sữa toàn ổ so với các tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) và PiDu25 × F1(L × Y).
2) Khả năng sinh trƣởng và hiệu quả chuyển hóa thức ăn của lợn thịt
- Lợn thịt của tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) có khả năng tăng khối lƣợng cao nhất với mức 829,42 g/ngày, tiếp đến là tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) là 797,78 g/ngày và thấp nhất là tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) là 765,79 g/ngày.
- Lợn thịt của tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) có mức tiêu tốn thức ăn cho mỗi kg tăng khối lƣợng là thấp nhất với 2,31 kg, tiếp đến tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) với 2,33 kg với và cao nhất là tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) với 2,38 kg.
3) Năng suất thân thịt
- Tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) nâng cao đƣợc diện tích cơ thăn, giảm độ
dày mỡ lƣng so với hai tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) và PiDu50 × F1(L × Y).
- Tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) có tỷ lệ thịt nạc là cao nhất, đạt 59,97%, tiếp theo là tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) đạt 56,32% và thấp nhất là tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) đạt 54,66%.
102
- Tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) đạt các chỉ tiêu chất lƣợng thân thịt cao
hơn so với tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y) và tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y).
4) Chất lƣợng thịt
- Ba tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y), PiDu50 × F1(L × Y) và PiDu75 × F1(L × Y) có phẩm chất thịt tƣơng đƣơng nhau, đáp ứng đƣợc các tiêu chuẩn về chất lƣợng thịt nhƣ độ pH, tỷ lệ mất nƣớc, màu sắc thịt và độ dai của thịt.
- Tỷ lệ vật chất khô và tỷ lệ mỡ thô của cơ thăn trong ba tổ hợp lai tƣơng đƣơng nhau, tỷ lệ vật chất khô từ 26,23 - 26,30%, tỷ lệ mỡ thô trong khoảng 2,02
- 2,06%.
- Tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y) có tỷ lệ protein thô và tỷ lệ khoáng tổng
số cao hơn hai tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y) và PiDu50 × F1(L × Y).
5.2. ĐỀ NGHỊ
- Cho phép sử dụng các kết quả nghiên cứu này vào mục đích giảng dạy,
nghiên cứu trong lĩnh vực chăn nuôi lợn.
- Qua kết quả nghiên cứu, chúng tôi khuyến cáo rằng: Có thể phát triển và
sử dụng lợn đực lai PiDu (Piétrain Re-Hal × Duroc) nhƣ là đực cuối cùng phối với nái F1(L × Y) rộng rãi trong chăn nuôi trang trại. Khuyến khích sử dụng lợn đực lai PiDu25 để nâng cao năng suất sinh trƣởng. Khuyến khích sử dụng lợn
đực lai PiDu50 và PiDu75 để nâng cao năng suất sinh sản, năng suất thân thịt và
chất lƣợng thịt trong chăn nuôi lợn ở miền Bắc Việt Nam.
103
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
1. Phạm Thị Đào, Nguyễn Văn Thắng, Vũ Đình Tôn, Đỗ Đức Lực và Đặng Vũ Bình (2013). Năng suất sinh trƣởng, thân thịt và chất lƣợng thịt của các tổ hợp lai giữa lợn nái F1(Landrace × Yorkshire) với đực giống (Piétrain × Duroc) có thành phần Piétrain kháng stress khác nhau, Tạp
chí Khoa học và Phát triển, tập 11, số 2 năm 2013, trang 200 – 208.
2. Phạm Thị Đào, Nguyễn Văn Thắng, Vũ Đình Tôn, Đỗ Đức Lực và Đặng Vũ Bình (2013). Năng suất sinh sản của các tổ hợp lai giữa lợn nái F1(Landrace × Yorkshire) với đực giống (Piétrain × Duroc) có thành phần di truyền Piétrain kháng stress khác nhau, Tạp chí Khoa học kỹ
thuật chăn nuôi, số 6 [171] năm 2013, trang 2-9.
104
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Trần Kim Anh (2000). Sự cần thiết mở rộng ứng dụng hệ thống giống lợn hình tháp và sử dụng ƣu thế lai trong chăn nuôi lợn, Chuyên san chăn nuôi lợn, Hội Chăn nuôi Việt Nam, tr. 94 -112.
2. Đặng Vũ Bình (1995). Các tham số thống kê, di truyền và chỉ số chọn lọc năng xuất sinh sản lợn nái Yorkshire và Landrace, Kỷ yếu kết quả nghiên cứu khoa học chăn nuôi- thú y (1991 - 1995), Trƣờng Đại học Nông nghiệp I. tr. 61 - 65.
3. Đặng Vũ Bình (1999). Phân tích một số nhân tố ảnh hƣởng tới các tính trạng năng suất sinh sản trong một lứa đẻ của lợn nái ngoại, Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật khoa Chăn nuôi - Thú y (1996-1998), NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 5- 8.
4. Đặng Vũ Bình (2002). Di truyền số luợng và chọn giống vật nuôi, Giáo trình sau
đại học, NXB Nông nghiệp Hà Nội.
5. Ðặng Vũ Bình, Nguyễn Văn Tƣờng, Ðoàn Văn Soạn và Nguyễn Thị Kim Dung (2005). Khả năng sản xuất của một số tổ hợp lai của đàn lợn chăn nuôi tại Xí nghiệp chăn nuôi Đồng Hiệp - Hải Phòng, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp, tập IV, tr. 304 - 311.
6. Hà Xuân Bộ, Đỗ Đức Lực và Đặng Vũ Bình (2013). Ảnh hƣởng của kiểu gen halothane, tính biệt đến năng suất thân thịt và chất lƣợng thịt lợn Piétrain Re- Hal, Tạp chí Khoa học và Phát triển, 11(8), tr. 1126 - 1133.
7. Đinh Văn Chỉnh, Đặng Vũ Bình, Nguyễn Hải Quân, Phan Xuân Hảo và Hoàng Sĩ An (1999). Kết quả bƣớc đầu xác định khả năng sinh sản của lợn nái Landrace và F1(L Y) có các kiểu gen halothan khác nhau nuôi tại xí nghiệp thức ăn chăn nuôi An Khánh, Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật khoa Chăn nuôi- Thú y (1996-1998), NXB Nông nghiệp Hà Nội, tr. 9 - 11.
8. Phạm Thị Kim Dung, Nguyễn Văn Thiện, Phùng Thị Vân và Nguyễn Văn Đức (2004). Kết quả nghiên cứu về tính trạng tăng khối lƣợng và tiêu tốn thức ăn của giống lợn Duroc, Landrace, Yorkshire và tổ hợp lai giữa chúng, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, số 12, tr. 1658 - 1659.
9. Trƣơng Hữu Dũng (2004). Nghiên cứu khả năng sản xuất của các tổ hợp lai giữa ba giống lợn ngoại Landrace, Yorkshire và Duroc có tỷ lệ thịt nạc cao ở miền Bắc Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Nông nghiệp, Viện Chăn nuôi, Hà Nội.
10. Hoàng Nghĩa Duyệt (2008). Đánh giá tình hình chăn nuôi lợn ngoại ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Tạp chí Khoa học Đại học Huế, 12 (46), tr. 27 - 33.
11. Phạm Thị Đào (2014). Mô hình nuôi lợn thƣơng phẩm từ lợn đực giống Piétrain Re- Hal với lợn nái lai trên địa bàn tỉnh Hải Dƣơng, Tạp chí Khoa học và Công nghệ Hải Dƣơng, số 5, tr. 14 – 15.
12. Nguyễn Văn Đức (2002). Tăng trọng và tỷ lệ thịt nạc của nhóm lợn MC15 qua 3 thế
105
hệ chọn lọc, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, (8). tr. 692- 693.
13. Nguyễn Văn Đức (2003). Các tổ hợp lợn lai nuôi thịt đƣợc tạo ra từ lợn đực lai cho tăng khối lƣợng cao hơn so với lợn đực thuần, Tạp chí Khoa học Nông nghiệp, (6). tr. 4- 6.
14. Lê Thanh Hải (2001). Nghiên cứu chọn lọc, nhân thuần chủng và xác định tổ hợp lai thích hợp cho heo cao sản để đạt tỷ lệ thịt nạc từ 50 - 55% , Báo cáo tổng hợp đề tài cấp Nhà nƣớc KHCN 08 - 06.
15. Lê Thanh Hải, Nguyễn Văn Đồng, Nguyễn Ngọc Phục và Phạm Duy Phẩm (2006). Năng suất sinh trƣởng và khả năng cho thịt của lợn lai 3 giống ngoại Landrace, Yorkshire và Duroc, Tạp chí Khoa học kỹ thuật chăn nuôi, (4). tr. 51 - 52.
16. Phan Xuân Hảo (2006). Đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái ngoại Landrace, Yorkshire và F1(Landrace × Yorkshire) đời bố mẹ, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp, Tập IV, số 2, tr. 120 - 125.
17. Phan Xuân Hảo (2007). Đánh giá sinh trƣởng, năng suất và chất lƣợng thịt ở lợn Landrace, Yorkshire và F1(Landrace × Yorkshire) đời bố mẹ, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp, tập V, số 1, tr. 31-35.
18. Phan Xuân Hảo và Hoàng Thị Thúy (2009). Năng suất sinh sản và sinh trƣởng của các tổ hợp lai giữa nái Landrace, Yorkshire và F1 (Landrace × Yorkshire) phối với đực lai giữa Pietrain và Duroc (PiDu), Tạp chí Khoa học và Phát triển, 5(4), tr. 44 - 49.
19. Phan Xuân Hảo, Hoàng Thị Thúy, Đinh Văn Chỉnh, Nguyễn Chí Thành và Đặng Vũ Bình (2009). Đánh giá năng suất và chất lƣợng thân thịt của các con lai giữa đực lai PiDu (Pietrain × Duroc) và nái Landrace, Yorkshire hay F1 (Landrace × Yorkshire), Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp, số 4, tr. 484 - 490.
20. Phan Xuân Hảo và Nguyễn Văn Chi (2010). Thành phần thân thịt và chất lƣợng thịt của các tổ hợp lai giữa nái F1 (Landrace × Yorkshire) phối với đực lai Landrace x Duroc (OMEGA) và Pietrain × Duroc (PiDu), Tạp chí Khoa học và Phát triển, tập 8, số 3, tr. 439 - 447.
21. Từ Quang Hiển và Lƣơng Nguyệt Bích (2005). Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái giống Landrace, Yorkshire và nái lai (Yorkshire × Landrace) nuôi tại trại chăn nuôi Tân Thái tỉnh Thái Nguyên, Tuyển tập các công trình nghiên cứu khoa học về chăn nuôi, NXB Nông nghiệp Hà Nội, tập I, tr. 256 - 278.
22. Trần Thị Minh Hoàng, Nguyễn Hữu Cƣờng và Nguyễn Văn Đức (2003). Một số tính trạng cơ bản của tổ hợp lợn lai giữa Pietrain và Móng Cái nuôi trong nông hộ huyện Đông Anh - Hà Nội, Tạp chí Chăn nuôi số 6 (56), tr. 4 - 6.
23. Phan Văn Hùng và Đặng Vũ Bình (2008). Khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa lợn đực Duroc, L19 với F1(Landrace x Yorkshire) nuôi tại Vĩnh Phúc, Tạp chí Khoa học và Phát triển 2008, Tập VI số 6, tr. 537 - 541.
24. Judge D. M., L. L. Chrristian, G. Eikeleboom and N. D. Marple (1996). Hội chứng stress ở lợn, Cẩm nang chăn nuôi lợn công nghiệp, Trần Trọng Chiển, Thái Đình Dũng, Bạch Quốc Minh dịch, NXB Bản đồ Hà Nội, tr. 913 - 915.
25. Lasley J. F. (1974). Di truyền học ứng dụng vào cải tạo giống gia súc, Nguyễn
106
Phúc Giác Hải dịch, NXB Khoa học và kỹ thuật Hà Nội.
26. Trần Đình Miên, Phan Cự Nhân, Nguyễn văn Thiện và Trịnh Đình Đạt (1994).
Di truyền chọn giống động vật, NXB Nông nghiệp Hà Nội.
27. Phan Cự Nhân, Trần Đình Miên và Đặng Hữu Lanh (1985). Di truyền học hoá sinh, sinh lý ứng dụng trong công tác giống gia súc Việt Nam, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội.
28. Petrop D. Ph (1984). Di truyền học và cơ sở chọn giống, Nguyễn Thị Thuận và
Nguyễn Mộng Hùng dịch, NXB Nông nghiệp Hà Nội.
29. Lê Đình Phùng (2009). Năng suất sinh sản của lợn nái F1(Landrace x Yorkshire) phối với tinh lợn đực F1(Duroc x Pietrain) trong điều kiện chăn nuôi trang trại tại Quảng Bình, Tạp chí Khoa học, số 55, 2009, tr. 41 - 51
30. Lê Đình Phùng và Nguyễn Trƣờng Thi (2009). Khả năng sinh sản của lợn nái F1(Landrace Yorkshire) và năng suất của lợn thịt ba máu (Duroc Landrace) (Yorkshire Landrace), Tạp chí Khoa học Đại học Huế, số 55, tr. 53 - 60
31. Nguyễn Hải Quân, Đặng Vũ Bình, Đinh Văn Chỉnh và Ngô Thị Đoan Trinh (1995). Giáo trình chọn giống và nhân giống gia súc, Trƣờng Đại học Nông nghiệp I - Hà Nội.
32. Sebranek G. J. and D. M. Judge (1996). Chất lƣợng con lợn, Cẩm nang chăn nuôi lợn công nghiệp, Trần Trọng Chiển, Thái Đình Dũng và Bạch Quốc Minh dịch, NXB Bản đồ Hà Nội, tr. 927 - 930.
33. Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2010). Năng suất chất lƣợng thịt của tổ hợp lai giữa nái F1(Landrace x Yorkshire) và F1(Yorkshire Landrace) phối với lợn đực Duroc và L19, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi, số 11(140), tr. 2 - 7.
34. Đoàn Văn Soạn và Đặng Vũ Bình (2011). Khả năng sinh sản của các tổ hợp lợn lai giữa nái nai F1(Landrace x Yorkshire) và F1(Yorkshire Landrace) với đực Duroc và L19, Tạp chí Khoa học và Phát triển, 9(4), tr. 614 – 621.
35. Trịnh Hồng Sơn, Nguyễn Quế Côi và Đinh Văn Chỉnh (2013). Khả năng sinh trƣởng năng suất và chất lƣợng thịt của lợn đực dòng tổng hợp VCN03, Tạp chí Khoa học và Phát triển, 11(7), tr. 965-971.
36. Tiêu chuẩn Việt Nam (2007). Tiêu chuẩn Việt Nam về thức ăn chăn nuôi, Tổng cục
Tiêu chuẩn Đo lƣờng chất lƣợng, Bộ Khoa học và Công nghệ.
37. Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2005). So sánh khả năng sinh sản của lợn nái F1(Landrace Yorkshire) đƣợc phối giống với lợn đực Pietrain và Duroc, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp, 3(2). tr. 140 - 143.
38. Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006a). Năng suất sinh sản, nuôi thịt và chất lƣợng thịt của lợn nái Yorkshire phối giống với lợn đực Landrace và Pietrain, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Chăn nuôi, 12(94), tr. 4 - 7.
39. Nguyễn Văn Thắng và Đặng Vũ Bình (2006b). Năng suất sinh sản, sinh trƣởng và chất lƣợng thịt của các tổ hợp lai giữa lợn nái F1(Landrace Yorkshire) phối giống với lợn đực Duroc và Pietrain, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp, 4(6), tr. 48 - 55.
107
40. Nguyễn Văn Thắng và Vũ Đình Tôn (2010). Năng suất sinh sản, sinh trƣởng, thân thịt và chất lƣợng thịt của các tổ hợp lai giữa lợn nái F1(Landrace Yorkshire) với đực giống Landrace, Duroc và (Pietrain Duroc), Tạp chí Khoa học và Phát triển, 8(1), tr. 98 - 105.
41. Nguyễn Văn Thiện (1995). Di truyền học số lƣợng ứng dụng trong chăn nuôi,
NXB Nông nghiệp Hà Nội.
42. Nguyễn Thiện (2002). Kết quả nghiên cứu và phát triển lợn lai có năng suất và chất lƣợng cao ở Việt Nam, Viện Chăn Nuôi 50 năm xây dựng và phát triển 1952- 2002, NXB Nông nghiệp Hà Nội, tr. 81- 91.
43. Vũ Đình Tôn (2009). Xây dựng mô hình chăn nuôi lợn hƣớng nạc tại một số huyện miền núi thuộc tỉnh Bắc Giang, Báo cáo trọng điểm Đề tài khoa học cấp Bộ, Trƣờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội.
44. Vũ Đình Tôn và Nguyễn Công Oánh (2010). Năng suất sinh sản, sinh trƣởng và chất lƣợng thịt của các tổ hợp lai giữa nái F1(Landrace Yorkshire) với đực giống Duroc và Landrace nuôi tại Bắc Giang, Tạp chí Khoa học và Phát triển, Tập 8(1), tr. 106 - 113.
45. Trung Tâm tin học và Thống kê (2014). Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch năm 2014 ngành Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
46. Phùng Thị Vân, Trần Thị Hồng, Hoàng Thị Phi Phƣợng và Lê Thế Tuấn (2000). Nghiên cứu khả năng sinh sản của lợn nái Yorkshire và Landrace, phối chéo giống. Đặc điểm sinh trƣởng và khả năng sinh sản của lợn nái lai F1(Landrace Yorkshire) và F1(Yorkshire Landrace) lai với đực Duroc, Báo cáo Khoa học Viện Chăn nuôi, Phần Chăn nuôi gia súc 1999 - 2000, tr. 196 - 206.
47. Phùng Thị Vân, Hoàng Hƣơng Trà, Lê Thị Kim Ngọc và Trƣơng Hữu Dũng (2001). Nghiên cứu khả năng cho thịt giữa hai giống Landrace, Yorkshire, giữa ba giống Landrace, Yorkshire và Duroc, ảnh hƣởng của hai chế độ nuôi tới khả năng cho thịt của lợn ngoại có tỷ lệ thịt nạc trên 52 %, Báo cáo khoa học Chăn nuôi Thú y (1999-2000), phần chăn nuôi gia súc, TP Hồ Chí Minh, tr. 207 - 219.
48. Phùng Thị Vân, Hoàng Hƣơng Trà và Trần Thị Hồng (2002). Nghiên cứu khả năng sinh sản, cho thịt của lợn lai và ảnh hƣởng của hai chế độ nuôi tới khả năng cho thịt cuả lợn ngoại có tỷ lệ thịt nạc trên 52%, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Vụ Khoa học công nghệ và Chất lƣợng sản phẩm, Kết quả nghiên cứu Khoa học chăn nuôi trong nông nghiệp và phát triển nông thôn giai đoạn 1996- 2000, Hà Nội, tr. 482 - 493.
49. Nguyễn Thị Viễn, Phạm Thị Kim Dung và Nguyễn Văn Đức (2003). Ƣu thế lai thành phần về tốc độ tăng khối lƣợng của các tổ hợp lai giữa các giống Duroc, Landrace và Large White nuôi tại Việt Nam, Tạp chí Chăn nuôi, (số 6), tr. 6 - 9.
50. Nguyễn Thị Viễn, Nguyễn Hồng Nguyên, Lê Thanh Hải, Lê Thị Tố Nga, Vũ Thị Lan Phƣơng, Đoàn văn Giải, Võ Đình Đạt (2005). Năng suất sinh sản của nái tổng hợp giữa hai nhóm giống Yorkshire và Landrace, Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn 23, tr. 51 - 54.
108
Tiếng Anh
51. Akos K. and G. Bilkei (2004). Comparison of the reproductive performance of sows kept outdoors in Croatia with that of sows kept indoors, Livestock Production Science, 85, 293-298.
52. Alexopoulos K., A. Karaglanidis, C. Boscos and J. Mavromatis (1997). Comparative study of reproductive parameters after fertilization of sows by natural service or artificial insemination, Animal Breeding Abstracts, 65 (6). ref., 2947.
53. Ashworth C. J., C. Antipatis and M. Beattie (2000). Effects of pre and post mating nutritional status on hepatic function, progesterone concentration, uterine, protein secretion and embryo survival in Meishan pigs, Animal Breeding Abstracts, 68 (12). ref., 7553.
54. Baulain U., P. Kohler, E. Kallweit and W. Brade (2000). Intramuscular fat content in some native German pigs breeds: Angelin Saddleback, Bentheimer Black Pied, Swabian Hall Saddleback, Animal Breeding Abstracts, 68(10). ref., 5954.
55. Biedermann G., W. Peschke, V. Wirimann and C. Brandi (1998). The stage of reproductive fattenning and carcass performance traits of Pi pigs of different MHS genotype produce in two breeding herds, Animal Breeding Abstracts, 66(3). ref., 1873.
56. Blasco A., J. P. Binadel and C. S. Haley (1995). Genetic and neonatal survival, The neonatal pig. Development and survial, Valey M. A. (Ed.). CAB International, Wallingford, Oxon, UK, 17-38.
57. Blicharski T. and A. Ostrowski (2000). Usefulness of different carcass evaluation
methods for high leanness pigs, Animal Breeding Abstracts, 68(8). ref., 4686
58. Buczyncki J. T., K. Szulc, E. Fajfer and A. Panek (1998). The results of crossbreeding Zlotniki WhitePolish LW sows with P, PPolish L or PZloniki Pied boar, Animal Breeding Abstracts, 66(12). ref., 8317.
59. Brand H. Van. Der., N. M. Soede and B. Kemp (2000). Nutrition follicle development and embryo survival in the pig, The role of insulin, Animal Breeding Abstracts, 68(1). ref., 258.
60. Buczynski J. T., K. Szulc, E. Fajfer, A. Panek, P. Lucinski and A. Kulczewska (2000). Effects of litter sire and body weight of piglets during rearing and slaughter results, Animal Breeding Abstracts, 68 (8). ref., 4689.
61. Camerlynck R. and R. Brankaer (1958). Some notes on the Pietrain breed of pigs in Belgium, Translated from the Dutch. Rev. Agric., 11:379-399; 575-602.
62. Chang K. C., N. D. Costa, R. Blackley, O. Southwood, G. Evans, G. Plastow, J. D. Wood and R. I. Richardson (2003). Relationships of myosin heavy chain fiber types of meat quality traits in traditional and modern pigs, Meat Science, 64, 93- 103.
63. Cheng C., H. Yen, S. Roan and J. C. Hsu (2000). Effect of reducing dietary protein and supplementing lysine during lactation on primiparous sows and litter performance, Animal Breeding Abstracts, 68(5). ref., 2763.
109
64. Choi J. G., G. J. Jbon, J. H. Lee, D. H. Kim and J. B. Kim (1997). Estimation of environmental effects on carcass traits in pigs, Animal Breeding Abstracts, 65(11). ref., 6005.
65. Chokhatarid I. G. (2000). The effectiveness of using North Caucasus boars, Animal
Breeding Abstracts, 68(9). ref., 5323.
66. Chung C. S. and A. S. Nam (1998). Effects of feeding regimes on the reproductive performance of lactating sows and growth rate of piglets, Animal Breeding Abstracts, 66(12). ref., 8369.
67. Clowes E. J., R. Kirkwood, A. Cegielski and F. X. Aherne (2003). Phase feeding protein to gestating sows over three parities reduced nitrogen excretion without affecting sow performance, Livestock Production Science, 81, 235-246.
68. Clutter A. C. and E. W. Bracamp (1998). Genetics of performance traits, The genetics of the pig, Rothchild M. F and Ruvinsky A., (Eds). CAB International, 427-463.
69. Colin T. W. (1998). The science and practice of pig production, Second Edition,
Blackwell Science Ltd, 91-130.
70. Cozler Y. L., M. Nei, E. Ringmar Cederberg and J. Y. Dourmad (2000). Effect of feeding level during rearing and mating strategy on performances of first and second litter sows, Animal Breeding Abstracts, 68 (12). ref., 7557.
71. Deckert A. E., C. E. Dewey, J. T. Ford and B. F. Straw (1998). The influence of the weaning to breeding interval on ovulation rate in parity two sows, Animal Breeding Abstracts, 66(2). ref., 1155.
72. Dickerson G. E. (1972). Inbreeding and heterosis in animal, J. Lush Symp. Anim.
Breed. Genetics.
73. Dickerson G. E. (1974). Evaluation and utilization of breed differences, proceedings of working, Symposium on breed evaluation and crossing experiments with farm animals, I V O.
74. Dzhuneibaev E. T. and N. Kurenkova (1998). Carcass quality of purebred and
crossbred pigs, Animal Breeding Abstracts, 66(4). ref., 2573
75. Do, D. L., Bo, H. X., Thomson, P. C., Binh, D. V., P. Leroy and F. Farnir (2013). Reproductive and productive performances of the stress-negative Piétrain pigs in the tropics: the case of Vietnam, Animal Production Science, 53(2): 173- 179.
76. Ducos A. (1994). Genetic evaluation of pigs tested in central station using a multiple trait animal model, Doctoral Theris, Institut National Agromique Paris-Grigson, France.
77. Duziński K., D. Knecht and S. Środoń (2014). The use of oxytocin in liquid semen doses to reduce seasonal fluctuations in the reproductive performance of sows and improve litter parameters—a 2-year study, Theriogenology, xxx, 1-7.
78. Eckert R. and G. Zak (1998). Carcass quality and the incidence of PSE and DFD meats in crossbred pigs from Polish LW sows and Polish L boars, the F1 boars (line 990P) and pure breed P boars, Animal Breeding Abstracts, 66(12). ref.,
110
8318.
79. Ekachat K. and C. Vajrabukka (1997). Effect of music rhythm on growth
performance of growing pigs, Animal Breeding Abstracts, 65(12). ref., 4774.
80. Evan E. K., A. H. Kuijpers, F. J. C. M. Van Eerdenburg and M. J. M. Tielen (2003). Coping characteristics and performance in fattening pigs, Livestock Production Science, 84, 31-38.
81. Falconer D. S. (1993). Introduction to quantitative genetics, Third Edition
Longman New York, 254- 261.
82. Gajewczyk P., A. Rzasa and P. Krzykawski (1998). Fattening performance and carcass quality of pigs from crossing the Polish LW, Polish L and P breeds, Animal Breeding Abstracts, 66 (12). ref., 8321.
83. Gaustad-Aas A. H., P. O. Hofmo and K. Kardberg (2004). The importance of farrowing to service interval in sows served during lactation or after shorter lactation than 28 days, Animal Reproduction Science, 81, 289-293.
84. Geesink G. H., R. G. C. Buren, B. Savenije, M. W. A. Verstegen, B. J. Ducro, J. G. P. V. Palen and G. Hemke (2004). Short-term feeding strategies and pork quality, Meat Science, 67, 1-6.
85. Gerasimov V. I., T. N. Danlova and E. V. Pron (1997). The results of 2 and 3
breed crossing of pigs, Animal Breeding Abstracts, 65(3). ref., 1395.
86. Gerasimov V. I. and E. V. Pron (2000). Economically beneficial characteristics. of
three breed crosses, Animal Breeding Abstracts, 68(12). ref., 7521.
87. Goft G. L., J. Noblet and C. Cherbut (2003). Intrinsic ability of the faecal microbial flora to ferment dietary fibre at different growth stages of pigs, Livestock Production Science, 81, 75-87.
88. Gordon I. (1997). Controlled reproduction in pigs, CAB international. 89. Gordon I. (2004). Reproductive technologies in farm animals, CAB International. 90. Graham J. R., L. J. Ray, S. K. Stover, J. J. Salmen and C. S. Gardiner (2000). Effects of nutrient intake and number of oestrous cycles on in vitro development of preimplantation pig embryos, Animal Breeding Abstracts, 68(1). ref., 262.
91. Grandinson K., L. Rydhmer, E. Strandberg and K. Thodberg (2003). Genetic analysis of on-farm tests of maternal behaviour in sows, Livestock Production Science, 83, 141-151.
92. Gregory N. G. (1998). Animal welfare, CABI-Publishing. 93. Grzeskowiak E., E. Pospiech, K. Borzuta and J. Stzelecki (1998). Carcass quality and meat quality in pigs of different genetic origin, Animal Breeding Abstracts, 66(12). ref., 8322.
94. Grzeskowiak E., K. Bonzuta and J. Strzelecki (2000). Slaughter value and meat quality of carcasses of commercial fatteners from crossings of hybrid sows (PLWPL) with Pi and Du boars, Anim Breeding Abstracts, 68(8). ref., 4692.
95. Guardia M. D., J. Estany, S. Balasch, M. A. Oliver, M. Gispert and A. Diestre (2004). ―Risk assessment of PSE codition due to pre-slaughter conditions and RYR-1 gene in pigs‖, Meat Science, 67, 471-478.
111
96. Halina S., K. Maria, K. Ezbieta, A. Katarzyna and Z. Andrzej (2009). Quality and technological properties of meat from Landrace-Yorkshire x Duroc and Landrace-Yorkshire x Duroc-Pietrain fatteners, Polish Journal of Food and Nuttrition Sciences, Vol 59, No 4, pp: 329-333.
97. Haminell K. I., J. P. Lafrest and J. Dafron (1993). Evaluation of the growth performance and carcass charecteristics of commercial pigs produced in Québec, Animal Science, Vol 73 (N3). pp.459
98. Hansen J. A., J. T. Yen, J. L. Nelssen, J. A. Nienaber, R. D. Goodband and T. L. Weeler (1997). Effect of somatotropin and salbutamol in three genotypes of finishing barrows growth, carcass and calorimeter criteria, Animal Breeding Abstracts, 65(12). ref., 6876.
99. Huang S. Y., W. C. Lee, M. Y. Chen, S. C. Wang, C. H. Huang, H. L. Tsou and E. C. Lin (2004). Genotypes of 5-flanking region in porcine heat-shock protein 70.2 gene effect backfat thickness and growth performance in Duroc boars, Livestock Production Science, 84, 181-187.
100. Jondreville C., P. S. Revy and D. Dourmad (2003). Dietary means to better control the environmental. Impact of copper and zinc by pigs from weaning to slaughter, Livestock Production Science, 84, 147-156.
101. Jones G. F. (1998). Genetic aspects of domestication, Common breeds and their origin, The genetic of the pig, Rothchild M. F. và Ruvinsky A., (Eds). CAB International.
102. Kamyk P. (1998). The effect of breed characteristics. of meat-type pigs on carcass and meat quality in F2 crossbreds, Anim Breeding Abstracts, 66(4). ref., 2575.
103. Kapelanski W., M. Bocian, J. Kapelanska, A. Hammermeister and S. Grajewska (1998). Evaluating meat quality in pigs with P inheritance Animal Breeding Abstracts, 66(12). ref., 8324.
104. Kim N. H., S. H. Kim, Y. C. Jung and Y. I. Park (1994). Comparison of different
crosses for certain reproductive traits in pigs.
105. Kim Y. G., J. Jin, J. D. Kim, I. S. Shin and I. K. Han (2000). Effects of phase feeding on growth performance, nutrient digestibility excretion and carcass characteristics. of finishing barrow and gilt, Animal Breeding Abstracts, 68(9). ref., 5312.
106. Kircheim U., F. Schone and W. Reichardt (1997). Effect of intramuscular fat on some meat quality traits, Animal Breeding Abstracts, 65(11). ref., 6008.
107. Knapp P. A. and A. Willam (1998). Swine production and research in Austria,
Animal Breeding Abstracts, 66(4). ref., 2589.
108. Koketsu Y., G. D. Dial and V. L. King (1998). Influence of various factors in farrowing rate on farms using early weaning, Animal Breeding Abstracts, 66(2). ref., 1165.
109. Kolstad K., N. B. Jopson and O. Vangen (1997). Breed and sex differences in fat distribution and mobilization in growing pigs fed at maintenance, Animal Breeding Abstracts, 65(7). ref., 3582.
112
110. Kortz J., J. Gardzielewska, T. Karamuski, M. Jakubowska, S. Telega and W. Natalczyk-Szymkowska (2000). Incidence of boar taint in the shoulder backfat of young boars, barrows and gilts hybrids of Polish LW and Polish L breed, Animal Breeding Abstracts, 68(4). ref., 2160.
111. Kosovac O. B., C. Zivkovie, T. Radovie and Smiljakovie (2009). Quality indicators: Carcass side and meat quality of pigs of different genotypes, Biotechnology in Animal Husbandry 25 (3-4). 173-188.
112. Kratz R., E. Schulz, G. Flachowsky and P. Glodek (2000). Soybean oil, sex, slaughter weight, crossbreeding influence on fattening performance and carcass traits of pigs, Animal Breeding Abstracts, 68(12). ref., 4715.
113. Kuchenmeister U., G. Kuln and K. Ender (2000). Seasonal effects on Ca++ transport of sarcoplasmie, reticulum and on meat quality of pig with different malignant hyperthermia status, Animal Breeding Abstracts, 68(7). ref., 4043.
114. Kuo C. C. and C. K. Chu (2003). Quality characteristics of Chinese Sausages
made from PSE pork, Meat Science, 64, 441-449.
115. Labroue F., S. Goumy, J. Gruand, J. Mourot, V. Neeiz and C. Legault (2000). Comparison with LW of pour local breeds of pigs for growth, carcass and meat quality traits, Animal Breeding Abstracts, 68(10). ref., 5991.
116. Lachowiez K., L. Gajowiski, R. Czarnecki, E. Jacyno, W. Aleksandrow, B. Lewandowska and W. Lidwin (1997). Texture and rheological properties of pig meat. A Comparison of Polish LW pigs and various crosses, Anim. Breeding Abstracts, 65(11). ref., 6009.
117. Larzul C., P. L. Roy, R. Gueblez, A. Talmant, J. Gogue, P. Sellier and G. Monin (1998). Effect of halothane genotype (NN, Nn, nn) on growth, carcass and meat quality traits of pigs slaughtered at 95 or 125 kg live weight, Anim. Breeding Abstracts, 66(4). ref., 370.
118. Legault C. (1980). Genetics. and reproduction in pig, Jahrestagung der Europarschen
vereinigung fur Tierzucht, September, 2(6). 2- 4.
119. Legault C., A. Audiot, D. Daridan, J. Gruand, H. Lagant, M. Luquet, M. Molenat, D. Rouzade and M. N. Simon (1998). ―Reference research on the evaluation of Garcon and Limousine pigs for quality products. 1. Growth performances, carcass composition, production costs‖, Animal Breeding Abstracts, 66(4). ref., 355.
120. Lenartowiez P. and J. Kulisiewicz (1998). Effect of supplementing the died with feed lard on carcass meatiness and lipid composition of meat in pigs of different breed types, Animal Breeding Abstracts, 66(12). ref., 8325.
121. Leroy P. L. and V. Verleyen (2000). Performances of the Pietrain Re-Hal, the new stress negative Pietrain line, Animal Breeding Abstracts, 68(10). ref., 5993.
122. Lisiak D., K. Borzuta, T. Piechocki, J. Strzelecki and E. Piotrowski (2000). The analysis of the meatiness changes in Polish fatteners on the basis of monitoring data from pigs slaughtered in year 1998-1999, Animal Breeding Abstracts, 68(10). ref., 5994.
123. Liu X., B. Chen and Q. Shi (2000). Effect of Duroc, Large White and Landrace
113
crosses on growth and meat production traits, Animal Breeding Abstracts, 68(12). ref., 7529.
124. Looft C., N. Reinsch, I. Rudat and E. Kalm (1997). Mapping the porcine RN gene to
chromosome 15, Animal Breeding Abstracts, 65(5). ref., 2362.
125. Lorenzo B. J., A. Roehe, G. Rave and E. Kalm (2003). Comparison of linear and nonlinear functions and covariance structures to estimate feed intake pattern in growth pigs, Livestock Production Science, 82, 15-26.
126. Lyczynski A., E. Pospiech, M. Urbaniak, Bartkowiak, E. Rzosinska, M. Szalata and A. Medynski (2000). Carcass value and meat quality of crossbreds pigs (PLWPL) and (PLWPL)P, Animal; Breeding Abstracts, 68(12). ref., 7514.
127. Mabry J. W., M. S. Culbertson and D. Reeves (1997). Effect of lactation length on weaning to first service interval, first service farrowing rate and subsequent litter size, Animal Breeding Abstracts, 65(6). ref., 2958.
128. Magowan E. and M. E. E. McCann (2009). The effect of sire line breed on the lifetime performance of slaughter generation pigs, Agri-food and Biosciences Institute www.afbini.gov.uk
129. Mayr B., A. Kleibel, G. Seiwald and H. Pfingstner (1997). Genetic determination of pig
meat quality, Animal Breeding Abstracts, 65(10). ref., 5367.
130. McCann M. E. E., V. E. Beattie, D. Watt and B.W. Moss (2008). The effect breed type on reproduction, production performance and carcass and meat quality in pigs, Irish Journal of Agricultural and Food Research 47: 171-185.
131. Minkema D. (1974). Pure breeding compared with reciprocal crossbreeding of
Dutch L (B) and Dutch Y (A) pigs, 297-312.
132. Morlein D., G. Link and M. Wener (2007). Suitability of three commercially producceds pig breeds in Germany for a meat quality program with emphasis on drip loss and eating quality, Meat Science, 77, 504 –511.
133. Neill D. J. O., P. B. Lynch, D. J. Troy, D. J. Buckley and J. P. Kerry (2003). Influence of the time of year on the incidence of PSE and DFD in Irish pig meat, Meat Science, 64, 105-111.
134. Okrouhla M., R. Stlipka, J. Citek, M. Sprysl, M. Trnka and E. Kluzakova (2008). Effect of lean meat proportion on the chemical composition of pork, Czech J Food Sci. Vol. 26, No 6: 464-469.
135. Orzechowska B. and A. Mucha (1999). An evaluation of reproductive efficiency
of sows, Animal Breeding Abstracts, 65(7). ref., 3587. T134.
136. Ostrowski A. and T. Blicharski (1997). Effect of different paternal components on meat quality of crossbred pigs, Anim Breeding Abstracts, 65(7). ref., 3587.
137. Peltoniemi O. A. T., H. Heinonen, A. Leppavuori and R. J. Love (2000). Seasonal effects on reproduction in the domestic sow in Finland, Animal Breeding Abstracts, 68(4). ref., 2209.
138. Pietruszka A., R. Czarnecki and E. Jacyno (2000). The correlations between the fattening and slaughter performance in pigs, Animal Breeding Abstracts, 68(10). ref., 6004.
114
139. Pistoni S. (1997). Evaluation of reproductive performance at some Italian farms
in 1991-1993, Animal Breeding Abstracts, 65(11). ref., 6064.
140. Podtereba A. (1997). Amino acid nutrition of pig embryos, Animal Breeding
Abstracts, 65(6). ref., 2963.
141. Pogodaev V. A. and V. F. Filenko (1997). Crosses between pigs of the Steppe and Southern types of the rapidly maturing meat breed, Animal Breeding Abstracts, 65(2). ref., 884.
142. Popovic L. (1997). The effect of reciprocal crossbreeding on growth intensity, feed conversion efficiency, meatiness and pig meat quality, Animal Breeding Abstracts, 65(12). ref., 6881.
143. Prunier A., H. Quesnel, N. Quisiou and M. L. Denmat (2000). Influence of dietary intake on plasma progesterone and embryo mortality in gilts, Animal Breeding Abstracts, 68(12). ref., 7566.
144. Puigvert X., J. Tibau, J. Soler, M. Gispert and A. Diestre (2000). Breed and slaughter weight effects on meat quality traits in hal-pig populations, Animal Breeding Abstracts, 68(10). ref., 6005.
145. Quiniou N., D. Gaudré, S. Rapp and D. Guillou (2000). Effect of ambient temperature and diet composition on lactation performance of primiparous sows, Animal Breeding Abstracts, 68(12). ref., 7567.
146. Reinsch N., D. Looft, I. Rudat and E. Kalm (1997). The kiel RN experiment final porcine chromosome 15 mapping results, Anim. Breeding Abstracts, 65(12). ref., 6901.
147. Richard M. B. (2000). Understanding animal breeding, Second Edition, by
Prentice-Hall, Inc Upper Saddle River, New Jersey 07458, 371-392.
148. Riha J., V. Jakubec and S. Kamlerova (2000). An analysis of some factors affecting the reproductive performance of sows, Animal Breeding Abstracts, 68 (5). ref., 2780.
149. Rothschild M. F. and J. P. Bidanel (1998). Biology and genetics of reproduction, The genetics of the pig, M.F. Rothchild & A. Ruvinsky (Eds). CAB International.
150. Rydhmer L., N. Lundeheim and K. Johansson (1995). Genetic parameters for reproduction traits in sows and relations to performance - test measurements, Journal. Animi. Bre. Genet. 112, pp. 33-44.
151. Samkov S. A. (2000). The content of intramuscular fat in the longissimus dorsi of
pigs, Animal Breeding Abstracts, 68(8). ref., 4701.
152. Sather A. P., D. R. C. Bailey and S. D. M. Jones (1995). Real-time ultrasound image analysis for the estimation of carcass yield and pork quality, Can. J. Anim. Sci. Downloaded from pubs aic.ca by 113.190.103.11 on 02/09/2012.
153. Sellier P. (1998). Genetic of meat and carcass traits, The genetics of the pig, M.
F. Rothchild and A. Ruvinsky (Eds). CAB International, 463-511.
154. Serenius T., M. L. Sevon-Aimonen and E. A. Mantysaari (2002). Effect of service sire and validyty of repeatability model in litter size and farrowing interval of
115
Finnish L and LW populations, Livestock Production Science, 81, 213-222.
155. Simon M. N., V. Segoviano, L. Durand, M. H. Liardou, H. Juin, G. Gandemer and C. Legault (1998). Reference research on the evaluation of Gascon and Limousin pigs for quality products. 2. Meat quality, Animal Breeding Abstracts, 66(4). ref., 361.
156. Smet S. M. D., H. Pauwels, S. D. Bie, D. I. Demeyer, J. Callewier and W. Eeckhout (1997). Effect of halothane genotype, breed, feed with drawal and lairage on pork quality of Belgian slaughter pig, Animal Breeding Abstracts, 65(2). ref., 889.
157. Smith W. C., G. Pearson and R. W. Purchas (1990). A comparison of the Duroc, Hampshire, Landrace, and Large White as terminal sire breeds of crossbred pigs slaughtered at 85 kg live weight. 1. Performance and carcass characteristics, New Zealand J. of Agricultural research 33, 89-96.
158. Sohst E. (1997). Investigation on factors affecting herd fertility in large pig herds,
Animal Breeding Abstracts, 65(11). ref., 6068.
159. Šprysl, M., J. Čítek, R. Stupka, L. Brzobohatý, M. Okrouhlá and K. E (2012). The significance of the effects influencing the reproductive performance in pigs, Research in pig breeding, 6(1): 1-5.
160. Stewart T. S. and A. P. Schinkel (1989). Genetic parameters for swine growth and carcass trait, Genetic of swine, Young L. D. (ed). ESDA- ARS, Clay Center, Nebraska.
161. Surdacki, Z., K. Lecyk, J. Burdzanowski and E. Klosowska (1998). The estimation of meat content in fatteners of some districts in the Lublin region, Animal Breeding Abstracts, 66(1). ref., 362.
162. Swigert K. S., F. K. Mckeith, J. C. Carr, M. S. Brewer and M. Culbertson (2004). Effect of dietary vitamin D3, vitamin E and magnesium supplementation on pork quality, Meat Science, 67, 81- 86.
163. Tan D., W. G. Chen, C. Zhang and L. D. F. (2000). Study on the establishment of swine selection and breeding systems, Animal Breeding Abstracts, 68(5). ref., 2786.
164. Tolle K. H., E. Thonel, W. Trappmann and F. J. Stork (1999). Possibilities of optimizing breeding value for reproduction traits for a pig breeding association, Animal Breeding the Abstracts 1999 Vol. 69 No. 4. Ref. 2148.
165. Turner S. P., D. J. Allcroft and S. A. Edwards (2003). Housing pigs in large social groups, A review of implications for performance and other economic traits, Livestock Production Science, 82, 39-51.
166. Tuz R., J. Koczanowski, C. Klocek and W. Migdal (2000). Reproductive performance of purebred and crossbred sows mated to Duroc x Hampshire boars, Animal Breeding Abstracts, 68(8). ref., 4740.
167. Urbanczyk J., E. Hanczakowska and M. Swiatkiewic (2000). Effect of Pietrain boars on fattening and slaughter traits and on blood biochemical indices in pigs, Animal Breeding Abstracts, 68(12). ref., 7536.
116
168. Venanzi J. D. and O. Verde (1997). Genetic and environmental factors, affecting litter traits in 2 pig herds in Venezuela, Animal Breeding Abstracts, 65(10). ref., 5370.
169. Wang C. and Y. Zhang (1997). Study on the optimization of crossbreeding
systems for pigs, Animal Breeding Abstracts, 65(8). ref., 4201.
170. Warnants N., M. J. Oeckel and P. M. De Van (2003). Response of growing pigs to different levels of ideal standardized digestible lysine using diets balanced in threonine, methionine and tryptophan, Livestock Production Science, 82, 201- 209.
171. Warner R. D., R. G. Kauffmanf and M. L. Greaser (1997). Muscle protein changes
pót mortem in relation to pork quality traits. Meat Science 45(3). 339 – 352.
172. Whaley S. H., V. S. Hedgpeth and J. H. Britt (1997). Evidence that injection of vitamin A before mating may improve embryo survival in gilts fed normal or high energy diets, Animal Breeding Abstracts, 65(9). ref., 4826.
173. White B. R., J. Baknes and M. B. Wheeler (1997). Reproductive physiology in Chinese Meishan pigs. A. University of Illinois perspective, Animal Breeding Abstracts, 65(8). ref., 4238.
174. Wood J. D., G. R. Nute, R. I. Richardson, F. M. Whittington, O. Southwood, G. Plastow, R. Mansbrite, N. Costa and K. C. Chang (2004). Effects of breed, died and muscle on fat deposition and eating quality in pig, Meat Science, 67, 651- 667.
175. Wuensch U., G. Niter, U. Beryfelt and L. Schueler (2000). Genetic and economic evaluation of genetic improvement schemes pigs, II: Comparison of selection strategies a three-way crossbreeding scheme, Animal Breeding Abstracts, 68(8). ref., 4708.
176. Xue J. L., G. D. Dial, J. Schuiteman, A. Kramer, C. Fisher, W. E. Warsh, R. B. Morriso and J. Squires (1997). Evaluation of growth, carcass and compound concentrations related to boar taint in boars and barrows, Animal Breeding Abstracts, 65(2). ref., 887.
177. Yamada J. and M. Nakamura (1998). Effects of full feeding and restricted feeding on the reproductive performance in the gilts and the sows, Animal Breeding Abstracts, 66(4). ref., 2637.
178. Yang H., J. E. Petigrew and R. D. Walker (2000). Lactational and subsequent (protein)
lactating sows
responses of
lysine
reproductive to dietary concentration, Animal Breeding Abstracts, 68(12). ref., 7570.
Tiếng Pháp
179. Clinquart A. (2004a). Instruction pour la mesure du pH dans la viande de porc, Département des Sciences des Denrées Alimentaires, Faculté de Médecine Vétérinaire, Université de Liège, 1-11.
180. Clinquart A. (2004b). Instruction pour la mesure de la couleur de la viande de porc par spectrocolorimetrie, Département des Sciences des Denrées
117
Alimentaires, Faculté de Médecine Véterinaire, Université de Liège, 1-7.
181. Hanset R., S. Scalais and L. Grobet (1995). Du Piétrain classique au Piétrain résistant μ l’halothane ou Piétrain Re-Hal. Ann. Méd. Vét., 139, 23 - 35.
182. Leroy P. L., F. Frédéric. G. Michel (1995-1996). Amélioration génétique des productions animales, Département de Génétique, Faculté de Médecine Vétérinaire, Université de Liège, Tom I.
183. Leroy P. L. and V. Verleyen (1999). Le porc Piétrain résistant au stress (Re-Hal) dans la filière porcine. In: Quatrième Carrefour des productions animales. Les démarches de qualité en production de viandes. Gembloux, 39-40.
184. Ministère des Classes Moyennes et de L’agriculture de Belgique (1999). Arrêté
ministériel relatif au classement des carcasses de porcs, 03 mai 1999 [Online].
185. Ollivier L., P. Sellier and G. Monin (1975). Déterminisme génétique du syndrome d'hyperthermie maligne chez le porc Piétrain. Ann. Génét. Sél. Anim., 7, 159- 166.
Tiếng Đức
186. Branscheid W., P. Komender, A. Oster, E. Sack, and D. Fewson (1987). Undersuchungen zuz objektive ermittlung der muskelfleischanteils von schweinehaelften, Zuchtungskunde 59 (3), 135-200.
187. Lengerken G. V. and H. Pfeiffer (1987). Stand und entvicklungstendezen der anwendung von methoden zur erkennung der stressempfinddlichkeit und fleischqualitaet beim schwein, Inter-symp, Zur schweinezucht, Leipzig, 172- 179.
188. Klaus F., R. Mario, L. Johann-Peter, W. Michael and B. Wolfgang (2000). Einfluss der Vatertierrasse auf die Verzehrsqualitaet von Schweinefleisch, Arch. Tierz, Dummerstorf, 43(2000) 5, 477- 485.
118
PHỤ LỤC
Hình 1. Lợn con của tổ hợp lai PiDu25 × F1(L × Y)
Hình 2. Lợn con của tổ hợp lai PiDu50 × F1(L × Y)
119
Hình 3. Lợn con của tổ hợp lai PiDu75 × F1(L × Y)
Hình 4. Con lai Pidu25 × F1(L × Y) bắt đầu nuôi thịt
120
Hình 5. Con lai Pidu50 × F1(L × Y) bắt đầu nuôi thịt
Hình 6. Con lai Pidu75 × F1(L × Y) bắt đầu nuôi thịt
121
Hình 7. Lợn thịt tổ hợp lai Pidu25 × F1(L × Y)
Hình 8. Lợn thịt tổ hợp lai Pidu50 × F1(L × Y)
122
Hình 9. Lợn thịt tổ hợp lai Pidu75 × F1(L × Y)
Hình 10. Siêu âm độ dày mỡ lƣng và tỷ lệ thịt nạc
123
Hình 11. Thân thịt con lai PiDu25 × F1(L × Y)
Hình 12. Thân thịt con lai PiDu50 × F1(L × Y)
Hình 13. Thân thịt con lai PiDu75 × F1(L × Y)
124

