intTypePromotion=1

Bàn về khái niệm kiểm soát trong giáo trình quản trị học tại Việt Nam

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:11

0
79
lượt xem
5
download

Bàn về khái niệm kiểm soát trong giáo trình quản trị học tại Việt Nam

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết này đóng góp thêm những nội dung về khái niệm “kiểm soát” vào quá trình đào tạo tại Việt Nam.Qua đó tránh sự chuyển đổi máy móc nhưng ít đề cập rõ những giá trị mới đối với sự phát triển của môn quản trị học. Chức năng kiểm soát gắn liền với tư tưởng phòng ngừa, quản lý quá trình, sự tham gia của mọi người với vai trò là chủ quá trình và quan hệ mật thiết với quản trị rủi ro trong thế giới ngày nay. Với luận điểm nêu trên, bài viết mong muốn góp thêm những kiến thức vào các giáo trình quản trị học đang được phổ biến rộng rãi tại Việt Nam.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Bàn về khái niệm kiểm soát trong giáo trình quản trị học tại Việt Nam

TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM – SỐ 1 (46) 2016<br /> <br /> 117<br /> <br /> BÀN VỀ KHÁI NIỆM KIỂM SOÁT TRONG<br /> GIÁO TRÌNH QUẢN TRỊ HỌC TẠI VIỆT NAM<br /> Hoàng Mạnh Dũng1<br /> Hoàng Hữu Lượng2<br /> <br /> Ngày nhận bài: 07/10/2015<br /> Ngày nhận lại: 06/12/2015<br /> Ngày duyệt đăng: 04/01/2016<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Từ năm 2000 đến nay, các giáo trình quản trị học tiếng Việt đã lần lượt chuyển khái niệm<br /> “kiểm tra” thành “kiểm soát”. Sự thay đổi cần phù hợp với các hệ thống quản lý mới. Bài viết<br /> này đóng góp thêm những nội dung về khái niệm “kiểm soát” vào quá trình đào tạo tại Việt<br /> Nam.Qua đó tránh sự chuyển đổi máy móc nhưng ít đề cập rõ những giá trị mới đối với sự phát<br /> triển của môn quản trị học. Chức năng kiểm soát gắn liền với tư tưởng phòng ngừa, quản lý quá<br /> trình, sự tham gia của mọi người với vai trò là chủ quá trình và quan hệ mật thiết với quản trị<br /> rủi ro trong thế giới ngày nay. Với luận điểm nêu trên, bài viết mong muốn góp thêm những kiến<br /> thức vào các giáo trình quản trị học đang được phổ biến rộng rãi tại Việt Nam.<br /> Từ khóa: Kiểm tra, kiểm soát, kiểm soát quá trình.<br /> ABSTRACT<br /> Since 2000, the Vietnamese management textbooks have in turn replaced the concept of<br /> "kiểm tra" (inspection, check) with "kiểm soát" (control). This change requires the unity of<br /> awareness to complement the knowledge to suit the new management system. This paper aims at<br /> enriching the knowledge on "kiểm soát" for the training practice in Vietnam, thereby avoiding<br /> the impracticality in such transfer which is usually short at mentioning the new values that can<br /> be brought to the development of management subject. The control function is definitely<br /> associated with prevention, process management, the involvement of people as owners of the<br /> process and relationship with risk management in this world. Based on such point of view, this<br /> paper is expected to provide more updated knowledge as valuable complement to the current<br /> popular Vietnamese management textbooks.<br /> Keywords: Checking, controlling, process control.<br /> 1. Đặt vấn đề12<br /> Năm 1916, Henri Fayol là người đầu tiên<br /> đưa ra các chức năng quản trị; trong đó có<br /> khái niệm “controlling”. Tại Việt Nam dịch là<br /> “kiểm tra” khi giảng dạy môn quản trị học kể<br /> cả trước năm 1975 tại miền Nam. Với trào lưu<br /> áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo ISO<br /> 9001:2000 đã chuyển từ “kiểm tra” sang<br /> “kiểm soát”. Đến nay vẫn chưa có công trình<br /> nghiên cứu trong nước nào phân tích hai khái<br /> niệm kiểm tra và kiểm soát nhằm thống nhất<br /> 1<br /> 2<br /> <br /> nhận thức về quá trình thay đổi này. Từ lý<br /> thuyết quản trị cổ điển đến nay áp dụng chức<br /> năng “kiểm soát” đã hiệu hữu nhiều biến<br /> động. Bài viết nhằm mục đích trao đổi thêm<br /> về ý nghĩa khi sử dụng khái niệm “kiểm soát”<br /> trong các giáo trình quản trị tiếng Việt.<br /> 2. Sự xuất hiện và đi vào giáo trình<br /> quản trị học của “kiểm soát” tại Việt Nam<br /> Khái niệm “kiểm soát” được nhận biết rõ<br /> rệt thông qua sự phát triển trên lĩnh vực quản<br /> trị chất lượng như sau:<br /> <br /> TS, Trường Đại học Mở TP.HCM. Email: dungoupmu@yahoo.com.vn<br /> ThS, Trường Đại học Sài Gòn. Email: hoangluong59@gmail.com.vn<br /> <br /> 118<br /> <br /> TRAO ĐỔI HỌC THUẬT<br /> <br />  Thời kỳ sản xuất đơn chiếc 1900’s:<br /> <br /> hoàn toàn dựa vào kỹ năng và sự khéo<br /> léo của người thao tác khi kỹ thuật và<br /> công nghệ chưa phát triển. Yêu cầu<br /> năng lực cá nhân ở mức rất cao để<br /> hoàn thành công việc, người lành nghề<br /> được coi trọng; không phân biệt độ<br /> chính xác giữa hai công việc hoàn toàn<br /> như nhau; chất lượng rất tuyệt vời; tốn<br /> rất nhiều chi phí cho sản xuất.<br />  Thời kỳ sản xuất hàng loạt 1930: Lắp<br /> ráp và sản xuất theo dây chuyền nhằm<br /> tạo dòng nguyên liệu liên tục trong suốt<br /> quá trình sản xuất, chuẩn hóa các quy<br /> trình và loại bỏ lãng phí. Đặc tính của<br /> sản xuất hàng loạt là kỹ năng của người<br /> thao tác thấp, thực hiện một công việc<br /> nhỏ trong dây chuyền; số lượng rất<br /> quan trọng; sự thỏa mãn trong công<br /> việc thấp; chi phí sản xuất rẻ.<br />  Hệ thống sản xuất Toyota (TPS): Năm<br /> 1950, Toyota thực hiện chuyến nghiên<br /> cứu tại các nhà máy ở Hoa Kỳ trong<br /> hai tuần. Taiichi Ohno phát hiện sự<br /> lãng phí rất lớn từ sản xuất hàng loạt<br /> như tạo ra số lượng lớn thành phẩm và<br /> bán thành phẩm tồn kho. Toàn bộ nơi<br /> làm việc vô tổ chức và mất khả năng<br /> kiểm soát. Hình ảnh các xe nâng di<br /> chuyển hàng núi vật liệu ở khắp nơi,<br /> nhà máy giống như nhà kho khổng lồ.<br /> Từ đó, Toyota khám phá cơ hội bắt kịp<br /> các doanh nghiệp Hoa Kỳ thông qua<br /> chức năng “kiểm soát” được hệ thống.<br /> Mô hình Toyota Production System –<br /> TPS đã trở thành biểu tượng thành<br /> công nhất trên thế giới. Đến năm 2007,<br /> Toyota lần đầu tiên vượt GM về doanh<br /> số bán hàng trên phạm vi toàn thế giới<br /> đồng thời dẫn đầu về lợi nhuận liên tục<br /> cho đến nay.<br /> Có lẽ, khái niệm “kiểm soát” ra đời ở<br /> Việt Nam cũng bắt nguồn từ ý tưởng của<br /> Toyota. Từ năm 1992, TS. Nguyễn Hữu<br /> Thiện, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục<br /> Tiêu chuẩn – Đo lường – Chất lượng, là người<br /> đi đầu chuyển dịch sang khái niệm “kiểm<br /> <br /> soát”. Ông có công đưa các mô hình quản trị<br /> tiên tiến và Giải thưởng chất lượng Malcolm<br /> Baldrige vào thực tiễn quản trị sinh động tại<br /> Việt Nam. Đối với giáo trình giảng dạy ở bậc<br /> đại học và sau đại học, PGS.TS Nguyễn<br /> Quang Toản là người tiên phong sử dụng khái<br /> niệm “quản lý quá trình”, “kiểm soát quá<br /> trình” trong lĩnh vực quản trị chất lượng trong<br /> nước. Ngoài ra, PGS.TS. Lê Văn Tâm,<br /> PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Diệp là những<br /> người đầu tiên đưa khái niệm “kiểm soát” vào<br /> giáo trình quản trị tiếng Việt. Sự xoát xét và<br /> ban hành tiêu chuẩn ISO 9001:2000 vừa là<br /> nguyên cớ, vừa là thời điểm thúc ép các giáo<br /> trình quản trị tiếng Việt chuyển hẳn sang khái<br /> niệm “kiểm soát”.<br /> 3. Khái niệm kiểm soát gắn với sự<br /> tham gia của mọi người trong quản lý<br /> Tại Việt Nam, Vũ Thiếu và các cộng sự<br /> dịch: “Kiểm tra là đo lường và chấn chỉnh<br /> việc thực hiện để đảm bảo rằng, các mục tiêu<br /> của xí nghiệp và các kế hoạch vạch ra để đạt<br /> tới các mục tiêu này đã đang được hoàn<br /> thành” (Vũ Thiếu, Nguyễn Mạnh Quân,<br /> Nguyễn Đăng Dậu, 1993).<br /> Lần về tư tưởng của các tác giả nổi tiếng<br /> để tìm ra sự khác biệt khi sử dụng hai khái<br /> niệm trên và ghi nhận như sau:<br /> Theo Henri Fayol: Kiểm soát là một sự<br /> cam kết bao gồm nhận biết tất cả hoạt động đã<br /> thực hiện phù hợp với kế hoạch, các thủ tục<br /> và nguyên tắc đã được chấp nhận. Đối tượng<br /> của kiểm soát nhằm chỉ ra những sai sót để<br /> được sửa chữa và phòng ngừa. Theo Ông,<br /> chức năng kiểm soát gồm:<br /> • Kiểm tra (checking) tất cả mọi hoạt<br /> động so với kế hoạch, nguyên tắc đã định trước.<br /> • Tiến hành các hoạt động khắc phục<br /> (corrective action) thích hợp.<br /> • Kiểm tra định kỳ các điểm yếu, sai lỗi<br /> và sự sai lệch từ kế hoạch.<br /> • Kiểm tra (checking) kế hoạch đảm bảo<br /> tính cập nhật và thích hợp với bối cảnh.<br /> (Chartered Management Institute, 1999).<br /> Theo Harold Koontz: Kiểm soát là các biện<br /> pháp đo lường và khắc phục nhằm đảm bảo các<br /> mục tiêu và kế hoạch đã được hoàn thành.<br /> <br /> TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM – SỐ 1 (46) 2016<br /> <br /> 119<br /> <br /> Xác định<br /> các sai lệch<br /> <br /> So sánh thực tế với<br /> các chuẩn mực<br /> <br /> Đo lường kết quả<br /> thực tế<br /> <br /> Kết quả<br /> thực tế<br /> <br /> Phân tích<br /> các nguyên nhân<br /> sai lệch<br /> <br /> Phân tích<br /> các nguyên nhân<br /> sai lệch<br /> <br /> Thực hiện các hoạt<br /> động khắc phục<br /> <br /> Kết quả<br /> mong muốn<br /> <br /> Hình 1. Vòng liên hệ ngược kiểm soát trong quản trị theo Harold Koontz<br /> Nguồn: Vũ Thiếu, Nguyễn Mạnh Quân, Nguyễn Đăng Dậu (1993), Những vấn đề cốt lõi của quản lý,<br /> NXB khoa học – kỹ thuật (pp. 643), Hà Nội.<br /> <br /> Theo Robert J. Mockler: Kiểm soát là<br /> một nỗ lực có hệ thống trong quản trị kinh<br /> doanh để so sánh kết quả thực hiện với tiêu<br /> chuẩn, kế hoạch, các mục tiêu đã đề ra. Từ đó<br /> xác định sự phù hợp và thực hiện bất kỳ hành<br /> <br /> động khắc phục cần thiết để chứng minh các<br /> nguồn lực doanh nghiệp đang được sử dụng<br /> có hiệu lực và hiệu quả khi đạt các mục tiêu.<br /> Các bước tiến hành kiểm soát theo Robert<br /> J.Mockler’s:<br /> <br /> Không đạt<br /> Thiết lập chuẩn mực<br /> và phương pháp<br /> đo lường kết quả<br /> <br /> Đo lường<br /> sự thực hiện<br /> <br /> Tiến hành<br /> hoạt động<br /> khắc phục<br /> <br /> So sánh với<br /> chuẩn mực<br /> <br /> Đạt<br /> <br /> Không làm gì<br /> <br /> Hình 2. Các bước tiến hành kiểm soát theo Robert J. Mockler<br /> Nguồn: James A.F. Stoner, Charles Wankel (1986), Management, Prentice-Hall International Editor<br /> (pp. 574-575), New Jersey.<br /> <br /> Nhìn chung, các định nghĩa về khái niệm<br /> “control hay controlling” hoàn toàn không có<br /> gì khác biệt giữa giáo trình quản trị tiếng Việt<br /> và thế giới. Tuy nhiên, khái niệm “kiểm soát”<br /> sẽ bao quát hơn khi gồm cả nhiều hoạt động<br /> kiểm tra (check, checking, inspection) nhằm<br /> cung cấp những kết quả đạt được. Tính nhân<br /> văn được đề cao đối với chức năng kiểm soát<br /> hoàn toàn phù hợp với quan điểm của Peter<br /> Drucker khi điều hành “công nhân tri thức”<br /> trong xã hội hậu công nghiệp. Kiểm soát hiệu<br /> quả khi có sự tham gia của mọi thành viên<br /> <br /> trong tổ chức để ra quyết định và giải quyết<br /> các sai lệch. Ý nghĩa này phù hợp với nguyên<br /> tắc: “Sự tham gia của mọi người” theo ISO<br /> 9001:2015 cũng như phương thức TQM. Nếu<br /> tách rời ý nghĩa trên, tổ chức sẽ nhận được kết<br /> quả từ sự đối phó tinh vi của nhân viên và ẩn<br /> chứa nhiều biến động bất lợi trong các hoạt<br /> động. Điều này hoàn toàn đi ngược với mục<br /> đích của chức năng kiểm soát trong quản trị.<br /> 4. Các đặc điểm của kiểm soát gắn chặt<br /> với con người với tư cách là chủ quá trình<br /> Tác giả Robert J. Mockler trình bày đặc<br /> <br /> 120<br /> <br /> TRAO ĐỔI HỌC THUẬT<br /> <br /> điểm của kiểm soát là:<br />  Một quá trình quản lý liên tục; được<br /> tiến hành trong mỗi cấp của tổ chức;<br />  Tư duy về phía trước; liên quan chặt<br /> chẽ với lập kế hoạch;<br />  So sánh kết quả đã thực hiện với<br /> chuẩn mực đã định trước;<br />  Chỉ ra những sai sót trong quá trình<br /> quản trị;<br />  Tối thiểu hóa chi phí; tiết kiệm thời<br /> gian; là công cụ đạt mục tiêu của tổ<br /> chức.<br /> Qua trình bày về ngoại diên của khái<br /> niệm “kiểm soát” toát lên một đặc điểm cơ<br /> bản là: “Đề cập đến kiểm soát là nói đến quá<br /> trình. Kiểm soát đồng nghĩa kiểm soát quá<br /> trình”. Tư tưởng kiểm soát được khởi xướng<br /> bởi Walter A. Shewhart tại Hoa Kỳ từ năm<br /> 1924. William Edwards Deming chuyển đổi<br /> phương pháp kiểm soát chất lượng bằng thống<br /> kê - SQC (Statistitcal Quality Control) sang<br /> kiểm soát quá trình bằng thống kê – SPC<br /> (Statistical Process Control) trong quản lý<br /> chất lượng. Trong đó, SPC hướng đến ba nội<br /> dung cơ bản là phân tích mục tiêu qua các<br /> biến số, nhấn mạnh đến sự lường trước và gia<br /> tăng năng suất. Kiểm soát quá trình là các<br /> hoạt động đảm bảo một quá trình được diễn ra<br /> đúng như dự đoán, ổn định và liên tục tương<br /> ứng với kết quả đúng quy định trong sự sai<br /> lệch cho phép.<br /> Kiểm soát quá trình là các bước thực hiện<br /> đảm bảo các yếu tố đầu ra của một quá trình<br /> phù hợp và ổn định với một mức độ mong<br /> muốn về kết quả thực hiện và tối thiểu về sai<br /> lệch. Như vậy, khái niệm “kiểm soát quá trình”<br /> được bổ sung hoàn thiện hơn so với quan điểm<br /> “kiểm soát” của lý thuyết quản trị cổ điển.<br /> Theo Kathy A. Long, yếu tố thành công<br /> quan trọng cho một quá trình thực sự hiệu quả<br /> khi khẳng định "con người là chủ quá trình",<br /> không phải công nghệ mà chính con người<br /> mới giúp tổ chức thành công. Con người được<br /> kích hoạt với kiến thức, kỹ năng và được đào<br /> tạo phù hợp về sự hiểu biết quá trình. Con<br /> người trong quá trình cần sở hữu chính quá<br /> trình đó thông qua sự tham gia tích cực và<br /> <br /> được trao quyền khi thực thi công việc (Kathy<br /> A. Long, 2011).<br /> 5. Sáu nguyên tắc của kiểm soát với đặc<br /> trưng hiện diện của nguyên tắc phòng ngừa<br /> Khi thiết lập một hệ thống kiểm soát cần<br /> tuân thủ sáu nguyên tắc sau:<br />  Nguyên tắc về phản ánh kế hoạch:<br /> Hoạch định càng rõ ràng, đầy đủ và<br /> hoạt động kiểm soát được thiết kế nhằm<br /> phản ánh các kế hoạch; khi đó, kiểm<br /> soát đạt hiệu quả khi thực thi đúng các<br /> yêu cầu do tổ chức đã ấn định.<br />  Nguyên tắc phòng ngừa: “Phòng bệnh<br /> hơn chữa bệnh”' được thành lập. Kiểm<br /> soát chú ý hướng đến phòng ngừa hơn<br /> là khắc phục sau khi sai lệch xảy ra.<br /> Kiểm soát lường trước rất hữu ích theo<br /> nguyên tắc này.<br />  Nguyên tắc trách nhiệm: Trách nhiệm<br /> về các phương pháp cụ thể giải quyết<br /> độ sai lệch và đưa ra hành động khắc<br /> phục cần trao cho các cá nhân ở ngay<br /> công đoạn có vấn đề.<br />  Nguyên tắc ngoại lệ: Các nhà quản trị<br /> nên quan tâm với các trường hợp<br /> ngoại lệ như tại những nơi có độ lệch<br /> chuẩn đáng kể.<br />  Nguyên tắc đối với các điểm trọng<br /> yếu: Tất cả hoạt động vận hành đều có<br /> những điểm dễ bị tổn thương hoặc<br /> những điểm trọng yếu. Đó là nơi gây<br /> ra các rắc rối làm phát sinh độ sai lệch<br /> lớn. Nhà quản trị nên chú ý nhiều hơn<br /> để bảo vệ những điểm này.<br />  Nguyên tắc của kim tự tháp:<br /> Dữ liệu phản hồi nên được truyền đạt<br /> đến tầng dưới cùng của kim tự tháp<br /> như những người giám sát và thậm chí<br /> nhân viên ở mức thấp nhất. Điều này<br /> cung cấp cơ hội để kiểm soát tình<br /> huống riêng của họ và sẽ tốt hơn là<br /> đưa ra hành động khắc phục<br />  Các nguyên tắc trên phản ánh chính<br /> xác nội hàm của khái niệm “kiểm soát”; đặc<br /> biệt nguyên tắc phòng ngừa dẫn dắt xuyên<br /> suốt khi triển khai “kiểm soát quá trình” trong<br /> quản trị. Điều khác biệt này hầu như không đề<br /> <br /> TẠP CHÍ KHOA HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM – SỐ 1 (46) 2016<br /> <br /> cập rõ khi luận bàn về hoạt động “kiểm tra”.<br /> 6. Tầm quan trọng của chức năng kiểm<br /> soát gắn với quản trị rủi ro<br /> Theo Harold Koontz, tầm quan trọng của<br /> chức năng kiểm soát bao gồm:<br />  Kiểm soát sự thay đổi: Sự thay đổi xảy<br /> ra đối với các yếu tố môi trường như<br /> chuyển biến của thị trường; sự trỗi dậy<br /> của các sản phẩm mới; các phát hiện<br /> về vật liệu mới; các tiêu chuẩn, quy<br /> chuẩn kỹ thuật mới được ban hành áp<br /> dụng. Nhà quản trị cần nhanh chóng<br /> khám phá những thay đổi trên để tác<br /> động đến sản phẩm, dịch vụ của tổ<br /> chức. Qua đó tránh những thiệt hại<br /> không đáng có.<br />  Kiểm soát sự phức tạp: Trong một tổ<br /> chức luôn đòi hỏi nhiều cách tiếp cận<br /> chỉnh chu hơn. Đa dạng hóa sản phẩm<br /> – dịch vụ gắn liền với chất lượng<br /> nhưng lợi nhuận rất cần được duy trì.<br /> Phi tập trung hóa cũng góp phần làm<br /> gia tăng tính chất phức tạp khi điều<br /> hành tổ chức. Kiểm soát sự phức tạp<br /> để hình thành thứ tự ưu tiên cần giải<br /> quyết và giúp hệ thống quản trị không<br /> bị cuốn theo những hiện tượng không<br /> là bản chất.<br />  Kiểm soát các sai lầm: Nhà quản trị<br /> cần thiết lập các chuẩn mực đơn giản,<br /> có ý nghĩa để xử lý các thay đổi môi<br /> trường không mong muốn. Một hệ<br /> thống kiểm soát giúp nhà quản trị tìm<br /> ra những sai lỗi trước khi chúng trở<br /> nên nghiêm trọng.<br />  Kiểm soát hoạt động phân quyền:<br /> Hoạt động này rất cần một hệ thống<br /> kiểm soát nhằm đảm bảo các cấp quản<br /> trị đã hoàn thành trách nhiệm và quyền<br /> hạn được giao.<br /> (James A.F. Stoner, Charles Wankel, 1986).<br /> Tầm quan trọng của chức năng kiểm soát<br /> phản ánh mối quan hệ gắn chặt chẽ với quản<br /> lý rủi ro theo cách tiếp cận mới. Lợi ích của<br /> chức năng kiểm soát và quản trị rủi ro trong<br /> một tổ chức có nhiều điểm tương đồng và bao<br /> gồm:<br /> <br /> 121<br /> <br />  tăng khả năng đạt được các mục tiêu;<br /> cải tiến quản trị;<br />  khuyến khích quản lý chủ động;<br />  nhận thức được nhu cầu xác định và<br /> xử lý rủi ro trong toàn tổ chức;<br />  tuân thủ các yêu cầu luật định, chế<br /> định và các chuẩn mực quốc tế liên quan;<br />  thiết lập cơ sở tin cậy khi ra quyết định<br /> và lập kế hoạch;<br />  cải tiến hoạt động ngăn ngừa tổn thất<br /> và quản lý sự cố;<br />  giảm thiểu thiệt hại;<br /> (International Organization for Standardization,<br /> ISO 31000:2009).<br /> Phân tích tầm quan trọng của chức năng<br /> kiểm soát giúp nhà quản trị định hướng những<br /> điểm kiểm soát chiến lược; các phương pháp,<br /> số lượng, tần suất của hoạt động đo lường<br /> cũng như tiếp nhận các phản hồi từ kiểm soát<br /> quá trình. Đặc trưng của chức năng kiểm soát<br /> gắn liền với quản trị rủi ro. Qua đó, kiểm soát<br /> giúp nhà quản trị tìm ra những giải pháp đột<br /> phá, sáng tạo và không rập khuôn, bắt chước<br /> trong tư duy chiến lược cạnh tranh. Chức<br /> năng kiểm soát sẽ toàn diện và hiệu quả khi<br /> xây dựng tầm nhìn vượt trước thông qua phân<br /> tích và quản lý rủi ro trong thế giới đầy biến<br /> động. Khi nền kinh tế với các biến động mang<br /> tính khách quan đến từ bên ngoài và rất khó<br /> dự báo; nếu tổ chức biết thiết lập và duy trì hệ<br /> thống quản trị rủi ro sẽ nhận diện sớm và đề<br /> ra phương án phòng ngừa để hạn chế được<br /> ảnh hưởng của rủi ro theo quan điểm “phòng<br /> bệnh hơn chữa bệnh”. Đây là cơ sở cung cấp<br /> cho nhà quản trị thực hiện tốt loại hình kiểm<br /> soát lường trước.<br /> 7. Các loại hình kiểm soát trong quản<br /> trị gắn với quản lý quá trình<br /> Quản trị là một quá trình đề cập đến các<br /> chức năng thông qua một hệ thống phối hợp<br /> cùng với nỗ lực hợp tác của con người. Theo<br /> George R. Terry, quản trị là một quá trình<br /> dưới ba khía cạnh:<br />  Quản trị là một quá trình xã hội: Con<br /> người là nguồn lực quan trọng nhất<br /> nên quản trị liên quan với sự phát triển<br /> tối đa mối quan hệ các nguồn lực trong<br /> <br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2