intTypePromotion=1

BÁO CÁO KHOA HỌC: "NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ NẤM MÚA GRIFOLIA FRONDOSA"

Chia sẻ: Linh Ha | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:13

0
266
lượt xem
49
download

BÁO CÁO KHOA HỌC: "NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ NẤM MÚA GRIFOLIA FRONDOSA"

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nấm múa, nấm lỗ mọc chùm, nấm toạ kê (Maitake) là một loài nấm ăn quý, có giá trị dinh dưỡng và dược liệu cao. Từ lâu loài nấm này đã được nhân dân các vùng ở châu Âu, châu Mỹ và đặc biệt là ở châu Á, chú ý thu hái ngoài thiên nhiên. Nhu cầu tiêu thụ loại nấm này ngày càng nhiều, nên bên cạnh việc thu hái ngoài thiên nhiên con người đã tiến hành nuôi trồng chủ động chúng, chủ yếu tại Đông Á, đặc biệt là Nhật Bản. ...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: BÁO CÁO KHOA HỌC: "NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ NẤM MÚA GRIFOLIA FRONDOSA"

  1. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ NẤM MÚA GRIFOLIA FRONDOSA Trịnh Tam Kiệt, Vũ Thị Kim Ngân, Trịnh Kiều Oanh, Trần Thị Lan, Hoàng Văn Vinh Trung tâm Công nghệ Sinh học - ĐHQG Hà nội Nấm múa, nấm lỗ mọc chùm, nấm toạ kê (Maitake) là một loài nấm ăn quý, có giá trị dinh dưỡng và dược liệu cao. Từ lâu loài nấm này đã được nhân dân các vùng ở châu Âu, châu Mỹ và đặc biệt là ở châu Á, chú ý thu hái ngoài thiên nhiên. Nhu cầu tiêu thụ loại nấm này ngày càng nhiều, nên bên cạnh việc thu hái ngoài thiên nhiên con người đã tiến hành nuôi trồng chủ động chúng, chủ yếu tại Đông Á, đặc biệt là Nhật Bản. Từ năm 1990 sản lượng nấm múa đã tới 7000 tấn, năm 1994 đã tăng lên 14.200 tấn và ngày nay đã trên 20.000 tấn, trong đó hơn 90% được tiêu thụ tại thị trường Nhật Bản giá nấm múa đắt gấp 3 lần so với nấm ĐôngKô. Ngoài giá trị dinh dưỡng, giá trị dược liệu của loài nấm quý này càng ngày càng được làm sáng tỏ.
  2. Ở đây chúng tôi xin trình bày những kết quả đã thu nhận được về loài nấm này ở Việt Nam. I. NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - Việc điều tra thu mẫu ngoài thiên nhiên và nghiên cứu các đặc điểm hình thái của nấm được tiến hành theo Trịnh Tam Kiệt (3), Ryvarden và Gilbertson (6). - Sự mọc và sự hình thành quả thể nấm được tiến hành theo Trịnh Tam Kiệt (1986) và Schwantes (1971). - Nghiên cứu các hợp chất thiên nhiên theo U. Graefe và cộng sự (1). II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 1. Hình thái quả thể nấm ngoài thiên nhiên
  3. Quả thể nấm dạng cụm (búi) hình cầu không có quy luật, với đường kính từ 20- 40 cm, được hình thành từ những mô nấm riêng biệt trên gốc chung ngắn, phân nhánh nhiều lần nâng dần lên cao, màu trắng xám đến màu crem. Từng mũ nấm dạng quạt đến dạng sò, dạng thuỳ, cuống đính bên, kích thước 5-10 cm. Mặt trên mũ dạng sợi, gờ nối phóng xạ, hầu như nhẵn, màu nâu tới nâu xám. Mặt dưới mô là ống nấm nhỏ, trắng đến crem khi già. Ống nấm miệng đa giác đều hầu như tròn đến kéo dài ra, 1-2 ống trong 1 mm, ống nấm dài tới 3 cm, không phân tầng. Mô nấm hơi phân nhánh vùng đồng tâm, màu crem đến hơi vàng, khi khô có sắc thái hồng. Cấu trúc dạng sợi, chất hải miên, mềm, nhiều nước khi tươi. Mùi vị nấm rõ rệt, chua, hơi đắng. Đặc điểm hiển vi: Bào tử hình elíp rộng, nhẵn, trong suốt, với giọt dầu, kích thước 5-6 x 3.5- 4.5 m. Giá có 4 tiểu bính, không có khoá ở gốc các giá. Hệ thống sợi nấm: Một loại sợi có vách ngăn, một bộ
  4. phận quan sát thấy có khoá. Sợi nấm trong mô thông thường có dạng phồng lên, đạt kích thước tới 10 - 40 m chiều rộng. Nấm mọc ở gốc của cây sống, đặc biệt là Quercus và Castanea, cũng như thân và rễ cây mục. Nấm múa đầu tiên được mô tả với tên Polyporus frondorus Fr. Hiện nay được chuyển sang chi khác với tên Grifola frondosa (Dicks: Fr) S. F. Gray. Loài nấm này rất dễ nhầm với loài Dendropolyposus umbellatus (Grifola umbellata (Pers. ex Fr.) Donk = Polyporus umbelllatus Fr.). Domanski (1967) và Ryvarden (1976) nhấn mạnh sự hiện diện của khoá trên các vách ngăn của tế bào nấm, trong khi Bondarzev (1953) mô tả sợi nấm trong mô không có khoá. Ở Đức và Trung Âu chúng được gọi là "nấm cuộn" vì nguyên nhân sau: những mô nấm nhỏ rất dễ khô khi tuyết rơi, vấn hợp và quận tròn với nhau. Nấm mọc vào mùa thu, rất hiếm, thường ở chỗ đã có xuất hiện vào mùa trước, nấm một năm. Phân bố ở Châu Âu, Bắc Mỹ, Châu Á và Châu Úc. Ở Việt nam chúng tôi mới
  5. gặp ở vùng núi Tam Đảo. 2. Nghiên cứu sự mọc và sự hình thành quả thể trong nuôi cấy thuần khiết Sự mọc của nấm trong nuôi cấy thuần khiết được tiến hành nuôi cấy trên môi trường thạch khoai tây. Sợi nấm màu trắng, mọc lan đều mọi hướng của mặt thạch với tốc độ 183,7 m/h ở 25OC. Khi lan kín bình tam giác ở vùng có miếng cấy và lân cận chuyển sang màu vàng. Khoảng 30- 40 ngày sau khi cấy hình thành mầm mống quả thể dạng mụn màu xám, sau phát triển thành khối mô dạng bán cầu, đến cầu, lõm, sẻ thuỳ, đạt kích thước 0,5 - 2 cm nhưng không có phân hoá tiếp để hình thành quả thể thành thục.
  6. Hình 1. Grifollia frondosa nuôi trồng trên giá thể mùn cưa. (Quả thể non mọc cụm). Hình 2. Grifollia frondosa nuôi trồng trên giá thể mùn cưa. (Quả thể trưởng thành).
  7. Nuôi cấy trên giá thể mùn cưa có bổ xung dinh dưỡng, sợi nấm mọc kín bịch sau 35-40 ngày cấy giống. Sợi nấm mọc đạt tốc độ 120 m/h, chậm hơn đáng kể so với mọc trên môi trường thạch ở nhiệt độ 25OC ± 2. Sau khoảng 70 ngày nuôi cấy trong điều kiện mát và lạnh nấm hình thành mô sẹo và phát triển hình thành quả thể dạng u lồi, phân hoá thành nhiều thuỳ đạt kích thước khá lớn (4-8-10 cm chiều rộng). Nếu được tạo những điều kiện thuận lợi cho ra quả thể như: ánh sáng, nhiệt độ thấp, độ ẩm cao gần như bão hoà…chúng phân hoá thành các quả thể non dạng búi và phát triển thành quả thể dạng bản, dạng thìa có kích thước 3-4-6-8cm, màu nâu tối. Khi già mép trở nên sắc, có sẻ thuỳ, lượn sóng nhiều hay ít và màu trở nên nhạt hơn, có sắc thái vàng. Ống nấm màu trắng sạch. Sự mọc của nấm được nuôi cấy trong môi trường lỏng có thành phần dinh dưỡng sau: D- glucosse 10, malz 20, bột đậu nành 2, bột nấm men 1, KH2PO4 1, MgSO4. 7 H2O 0.5, pH 5,5. Nuôi cấy tạo sinh khối được tiến hành trong tủ
  8. cấy tối, có nhiệt độ 23OC, lắc với tốc độ 110 vòng/ phút trong 12 ngày thì thu sinh khối để nghiên cứu các hợp chất tự nhiên của sợi. 3. Bước đầu nghiên cứu về các hợp chất tự nhiên Những nghiên cứu về các hợp chất tự nhiên của nấm múa được triển khai bước đầu theo U. Graefe và cộng sự (1). Hình 3. Sắc ký cột và sắc ký lớp mỏng của dịch chiết G. frondosa.
  9. Hình 4. HPLC của dịch chiết G. frondosa Các kết quả cho thấy ngoài grifolan và các nhóm chất có phân tử lớn, nấm múa chứa một lượng rất lớn ergosterol và nhiều terpenoid khác. Các nghiên cứu sàng lọc và tách thuần khiết các chất đang được tiếp tục tiến hành. Nhiều tác giả khác cũng đã chỉ ra những chất có hoạt tính y sinh học của nấm múa chủ yếu là các polysacharid, trong đó đáng chý ý nhất là grifolan, grifolin, protein có kim loại trong cấu trúc, lectin…Hàm lượng các chất béo của nấm múa cũng rất đáng chú ý, đặc biệt là các chất béo không no. Nấm múa có chứa hàng loạt các nguyên tố khoáng, trong
  10. đó K có tới 2%, Mg từ 200 - 325 mg % và cả Ge (hàm lượng lên tới 49 ppb). Có rất nhiều thực nghiệm về giá trị chữa bệnh của nấm múa. Người ta sử dụng nhiều nhất là nước chiết quả thể và sợi nuôi cấy nấm múa, trong đó thành phần chủ yếu là các polysacharid (đặc biệt là grifolan). Hàng loạt nghiên cứu về tác dụng chống ung thư, tăng cường khả năng miễn dịch của Grifolia frondosa trong đó phải kể đến grifolan 1N, grifolan 7N, grifolan MNF-5N, grifolan 2E và beta - 1,3 glucan đã được triển khai (4, 5, 8, 9). Chúng có tác dụng tăng cường đáng kể khả năng miễn dịch của cơ thể thông qua tác động tích cực lên tế bào Lympho T, đại thực bào…Tác dụng của nấm múa đối với bệnh tim mạch dường như có liên quan tới hàm lượng ergosterin rất cao khi chiết xuất trong các dung môi hữu cơ (từ 50 đến 150 IE trong 100 gr nấm tươi). Ngoài ra phải kể đến tác dụng làm giảm lượng đường trong máu đối với các bệnh nhân bị tiết niệu (2). Nấm múa là một loại nấm ăn quý mọc ở vùng ôn đới và cận nhiệt đới vào mùa thu. Khi nuôi cấy thuần khiết trên môi trường thạch khoai tây nấm mọc tốt ở nhiệt độ 25OC và
  11. hình thành mầm mống quả thể, mô đệm dạng gò, dạng củ có chia thuỳ nhưng không phát triển thành quả thể thành thục. Khi nuôi cấy trong dịch thể ở 23OC nấm tạo thành sinh khối dạng hạt hình cầu, màu trắng với trọng lượng đáng kể. Trên giá thể mùn cưa có bổ xung dinh dưỡng nấm múa có khả năng hình thành quả thể với năng xuất khá cao nhưng đòi hỏi nhiệt độ mát, lạnh, chế độ ẩm và chiếu sáng đặc biệt. Theo chúng tôi tại các vùng núi cao như Sapa, Tam Đảo, Ba Vì…chúng ta có thể nuôi trồng loài nấm này với chi phí hợp lý và có thể nuôi cấy tạo sinh khối trong nuôi cấy dịch thể. TÀI LIỆU THAM KHẢO. 1. U. Graefe and other (2001), "Colossolactones, new triterpenoid metabolites from a Vietnamese mushroom, Ganoderma colossum". J. Nat. Products (USA), 64, 236- 239. 2. A. Inoue, N. Kodama and N. Nanba (2002), "Effect of Maitake (Grifolia frondosa) D. fraction on the control of
  12. the the T Lymph Node Th.1/Th.2 proportion", Biol. Pharm. Bull. 25(4) 536- 540. 3. Trịnh Tam Kiệt (1981), Nấm lớn ở Việt Nam, Nxb khoa học, Hà nội. 4. J. Lelley (1997), Die Heilkraft der Pilze, (S. 113-115). 5. Ohno N, Adachi Y, Suzuki I, Oikawa S, Sato K, Ohsawa M, Yadomae T (1986),. "Antitumor activity of a beta- 1,3- glucan obtained from liquid cultured mycelium of Grifola frondosa". J Pharmacobiodyn. 9(10): 861- 4. 6. R. Ryvarden & R. L. Gilbertson. 1993: European polypores. Part 1. Oslo- Norway. 7. Schwantes H. O. und Salttler, P. W., (1971), "Methoden zur Messung der Wachstumsgeschwindigkeit von Pilzmycelien". Oberhess. Naturwiss. Zeitschr. 38: 5- 18. 8.Takeyama T, Suzuki I, Ohno N, Oikawa S, Sato K, Ohsawa M, Yahomae T (1988), "Distribution of grifolan NMF-5N (I/B), a chemically modified antitumor beta- glucan in mice" J Pharamacobiodyn, 11(6): 381- 5. 9. Takeyama T, Suzuki I, Ohno N, Oikawa S, Sato K, Ohsawa M, Y adomae T (1987), "Host- mediated antitumor effect of grifolan NMF-5N, a polysaccharide obatined from
  13. Grifola frondosa". J Pharmacobiodyn, 10(11): 644-51. SUMMARY STUDIES ABOUT GRIFOLIA FRONDOSA Trinh Tam Kiet, Vu Kim Thi Ngan, Trinh Kieu Oanh, Tran Thi Lan, Hoang Van Vinh Center of Biotechnology - Vietnam national University, Hanoi The mushroom Maitake Grifolia frondosa (Syn. Polyporus frondosus) was cultivated on potato agar as well as in liquid medium. In the mycelium we can find a lot of the swollen hyphe with the size 10- 40 m. On sawdust substrate Grifolia frondosa is able to produce full developed fruit bodies. The bioactive compounds of fruit- bodie as well as mycelium in liquid culture were evaluated. The effect of the Maitake’s extraction was also discussed.

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản