VẬN CHUYỂN NGƯỜI BỊ THƯƠNG
Nghiêm Đình Phàn
1. Đại cương.
Vận chuyển người bị thương (gọi tắt là chuyển thương) nhằm đảm bảo đưa
người bị thương từ nơi bị thương về tới được cơ sở y tế và quân y có khả năng cứu
chữa tốt nhất. Trên bậc thang điều trị, việc chuyển thương thực hiện theo tuyến.
Khi các điều kiện cho phép và theo các chdẫn đã quy định trong các quy định
chuyên môn, có thtổ chức chuyển thương vượt tuyến về các cơ sở điều trị khả
năng xử trí thích hợp nhất, theo tính chất chuyên khoa của vết thương.
Vận chuyển người bị thương một nội dung công tác rất quan trọng, ảnh
hưởng trực tiếp đến tính mạng nạn nhân và đến kết quả điều trị.
2. Nguyên tắc.
2.1. Cứu chữa liên tục:
Với các nạn nhân, nhất là đối với các nạn nhân nặng, được chuyển tới tuyến
điều trị chất lượng thì tại mỗi tuyến, phải tiến hành các biện pháp khẩn cấp cần
thiết, để thể tiếp tục vận chuyển nạn nhân nặng về tới tuyến điều trị chất
lượng, mà tình trng toàn thân của nạn nhân không bị xấu đi, đáp ứng hai yêu cầu:
nhanh chóng và an toàn.
Tranh thvận chuyển sớm được các nạn nhân nặng đến các cơ sở điều trị thích
hợp sẽ hiệu quả tốt về mặt điều trị tiên lượng. Trên đường vận chuyển cần
tiến hành các biện pháp bảo đảm an toàn và săn sóc chu đáo. Các cán by tế, làm
công tác htống, các nhân viên làm công tác chuyển thương, phải ứng dụng các
biện pháp cấp cứu và bảo vệ sinh mạng của nạn nhân trên đường vận chuyển.
2.2. ngc chuyển thương phải kết hợp chặt chẽ với công tác chọn lọc, phân
loi nạn nhân:
Phải ưu tiên vận chuyển các nạn nhân có chảy máu trong,garô ở các chi, vết
thương thấu bụng, tràn khí màng phổi mở hoặc kiểu van, vết thương vùng đầu, cổ,
có ri loạn hấp, sốc nặng, vết thương bị nhiễm chất độc hoá học, chất phóng xạ.
Không vận chuyển các nạn nhân đang hấp hối, các nạn nhân này phải được
cấp cứu và xtrí cho ổn định rồi mới chuyển về tuyến sau. Phải lựa chọn những
phương tiện chuyển thương thích hợp với tình trạng bệnh các tổn thương. Với
các nạn nhân nhẹ thể khỏi được sau cứu chữa trong một thời gian ngắn thì đưa
về các trạm xá địa phương, các đơn vị quân y hoặc điều trị ngoại trú.
3. Chuyn người bị thương bằng tay không.
Được tiến hành ngoài trận địa hoặc i xảy ra tai nạn để đưa người bị
thương ra ngoài khu vực nguy hiểm đến một nơi tương đối an toàn trong khi ch
đợi chuyển về phía sau.
Vận chuyển người bị thương bằng tay không thường do một người làm, vậy
thường không thể chuyển được đi xa.
3.1. Đặt người bị thương lên đùi và lê nghiêng (hình1):
+ Đặt người bị thương nằm nghiêng về bên không bị thương.
+ Y nm nghiêng sau lưng người
bthương, mắt nhìn vcùng một hướng
với người bị thương, chân dưới co, chân
trên duỗi thẳng.
+ Đặt người bị thương nằm trên chân co ca y tá, mào chậu của người bị
thương đặt sát vào mặt trong đùi của y tá, tay trên của y ôm ngang nách người
bị thương, kéo sát vào người mình.
+ nghiêng lết đưa người bị
thương về phía sau. Khi lê nghiêng,
chân co đỡ người bị thương không cử
Hình 1
động mà phải nhấc theo từng bước của tay dưới và đạp của chân trên để di chuyển.
3.2. Bò cõng người bị thương trên lưng (hình2):
+ Đặt người bị thương nằm nghiêng về một bên.
+ Y tá bò tiếp cận người bị thương, áp sát lưng mình vào ngực người bị thương.
+ Cho người bị tơng ôm vào cổ y , y tá dùng hai chân quặp vào chân người
bị thương.
+ Y chuyển từ thế nằm nghiêng sang nm sấp, khi chuyển dùng tay m
vào quần người bị thương dùng 2 chân đkéo 2 chân người bthương lên, rồi
theo tư thế bò thấp. Khi bò chdùng một chân đạp đất để cho người bị thương
khỏi bị lắc lư hoặc lết đầu 2 bàn chân và 2 tay.
3.3. Cõng người bị thương trên lưng:
Động tác tuy đơn giản nhưng không đi được xa vì người cõng rất mỏi.
3.4. Dìu người bị thương:
Chỉ áp dụng vi người bị thương nhẹ, đi được.
3.5. Vác người bị thương trên vai.
Có ththực hiện đối với người bị thương nhẹ, không tự đi được.
3.6. Bế người bị thương.
Động tác này đơn giản nhưng cũng chỉ đi được một đoạn ngắn, vì người bế rất
chóng mệt.
4. Chuyn người bị thương bằng cáng.
Đây cách vận chuyển phbiến nhất hoả tuyến cũng như nơi xảy ra tai
nạn từ trước đến nay.
4.1. Các loại cáng:
+ Cáng bạt khiêng tay (hình3):
Hình 3
+ Cáng tre hình thuyền (hình 4):