Chính sách triều Nguyễn:
Triều Nguyễn khuyến học ngoại ngữ
Những năm đầu thế kỷ XIX, sự giao lưu giữa nước ta với bên ngoài có điều kiện
mở rộng không chỉ với các nước trong khu vực như Trung Quốc, các nước Đông
Dương, Đông Nam Á mà đã mở rộng sang phương Tây và cả châu Mỹ. Ý thức
được tầm quan trọng ngôn ngữ giao tiếp, các ông vua triều Nguyễn đã nhanh
chóng ban bố những chủ trương, chính sách về dạy và học các thứ tiếng nước
ngoài nhằm xây dựng đội ngũ quan lại biết ngoại ngữ phục vụ công tác giao
thương quốc tế.
Phát tiền cho học ngoại ngữ
Dưới triều Vua Minh Mạng, việc đào tạo ngoại ngữ được chú ý song song với việc
đào tạo hàng ngũ quan văn, quan võ, tuyển chọn nhân tài giúp nước. Qua lời dụ
cho Bộ Lễ vào năm 1835, có thể thấy Vua Minh Mạng đã nhận thức tầm quan
trọng của người biết tiếng và chữ nước ngoài trong việc giúp nhà nước giao lưu
quốc tế.
Vua Minh Mạng cho rằng văn tự Tây dương chỉ có 24 chữ cái, hiểu được 24 chữ
ấy thì những chữ khác đều do đấy mà ra, học cũng chẳng khó. Vì vậy, Vua Minh
Mạng đã chỉ thị cho Bộ Lễ truyền cho các Bộ, Viện và toàn bộ nội các lựa chọn
con em các thuộc viên quan kinh doãn, chọn lấy các học trò và nhân dân trong hạt
từ 16 tuổi trở xuống, mà có chút tư chất thông minh, thông văn nghĩa kinh sử để
triều đình hậu cấp cho lương ăn để học tập ngôn ngữ văn tự nước ngoài. Sau khi
học xong mà đạt yêu cầu sẽ được bổ dụng.
Vào năm 1838, Vua Minh Mạng đã phê duyệt chương trình đào tạo tiếng nước
ngoài với những quy định rất cụ thể cho học trò quán Tứ Dịch học tập văn tự
ngoại quốc. Khóa trình này ghi rõ: Thanh âm và từ ngữ Tây Dương khó hơn tiếng
Xiêm, Lào. Do vậy, những người mới học trong 3 tháng, chữ Tây mỗi ngày học 2-
3 chữ; chữ Xiêm, Lào mỗi ngày 7-8 chữ. Những người đã học hơn 6 tháng: chữ
Tây mỗi ngày 4-5 chữ, thêm lên đến 6-7 chữ; chữ Xiêm, Lào mỗi ngày 8-9 chữ,
thêm lên đến 11-12 chữ.
Triều đình cũng quy định người thông minh thì không câu nệ theo hạn định này.
Tổ chức học đi đôi với tổ chức kiểm tra, đánh giá. Cứ 3 tháng một kỳ, một nhân
viên Bộ Lễ và một nhân viên nội các sẽ đến nơi học để sát hạch. Người nào thông
minh, chuyên cần thì được thưởng, ai xao lãng, lười biếng, kể cả người dạy lẫn
người học đều phải bị trừng phạt cả.
Đối với tiếng Trung Quốc, lời chỉ dụ của Vua Minh Mạng nói rõ: Giao cho Hà Nội
chọn 2-3 người nhà Thanh (người Hoa) ở trong tỉnh, thành và lo chọn người là con
em của các sĩ dân để dạy và học tiếng Trung Quốc. Tất cả những người này đều
được cấp tiền lương theo chế độ như sau: thầy giáo lĩnh 1 quan tiền/tháng và 1
phương gạo. Triều đình bố trí người thường xuyên đôn đốc nhắc nhở người học để
họ nhanh chóng thông thạo ngoại ngữ, có thể dùng vào việc sai phái và phiên dịch.
Du học bằng ngân khố triều đình
Sau khi thực dân Pháp xâm lược (1858), việc tiếp xúc với tiếng Pháp, chữ Pháp
mở rộng hơn trước và đòi hỏi người học phải nâng cao trình độ, triều đình nhà
Nguyễn đã ban hành quy định và chế độ học tiếng Tây mới. Cụ thể: Người học
chữ Tây, tiếng Tây, hạn học tập mỗi ngày quy định là 10 chữ kể cả tiếng nói. Cứ 3
tháng một kỳ, nội các và Bộ Lễ phối hợp sát hạch. Ai đọc thuộc lòng, thông hiểu,
chữ viết đúng, ngay ngắn, nhiều đến 100 cả chữ lẫn âm thì xếp vào hạng ưu, được
thưởng 6 quan tiền; nếu được 50 cả chữ lẫn âm thì xếp vào hạng trung bình được
thưởng 4 quan tiền.
Người nào học tập trễ nải, không đủ hạn 10 chữ như trước thì phạt đánh 10 roi, cứ
10 chữ lại thêm lên một bậc. Kỳ thứ hai, nếu còn thiếu số thì chiểu theo lệ đã quy
định để đánh roi, trách phạt và mỗi tháng bị giảm đi một quan về khoản tiền cấp
cho ăn học.
Tự Đức là ông vua quan tâm đến việc học ngoại ngữ đặc biệt là tiếng Pháp. Ông
cho những việc thông thương buôn bán với nước ngoài, mở cửa, đóng tàu, đúc
súng, học tiếng là cốt yếu. Chế độ học tiếng Tây, chữ Tây dưới thời Tự Đức có
nhiều điều thuận lợi hơn trước. Tiêu chuẩn tuyển chọn cũng thông thoáng hơn.
Không nhất thiết là cử nhân, tú tài, học trò, thí sinh, khóa sinh, con em các quan
viên... Bất kỳ ai thông nghĩa sách, biết chữ, tuổi trên dưới 20 mà tình nguyện đi
học thì đều chuẩn cho đi Hương Cảng, đi sang Tây. Người đi học được cấp tiền lệ
phí, 5 năm về sát hạch, nếu thành tài thì bổ nhiệm làm quan. Sau này, những viên
quan phiên dịch (thông ngôn) này làm tốt công việc được triều đình thăng chức để
khuyến khích có nhiều người đi học ngoại ngữ hơn.
Trong bối cảnh nước ta thời nhà Nguyễn, việc đào tạo những người giỏi ngoại ngữ
để giúp cho công việc mở mang bang giao với nước ngoài, là một chính sách đúng
đắn.
13 đời Vua triều Nguyễn
1-Nguyễn Phúc Ánh (Gia Long): 1802-1819
2-Nguyễn Phúc Đảm (Minh Mạng): 1820-1840
3-Nguyễn Phúc Miên Tông (Thiệu Trị): 1841-1847
4-Nguyễn Phúc Hồng Nhậm (Tự Ðức): 1848-1883
5-Nguyễn Phúc Ưng Chân (Dục Ðức): 1883 (3 ngày)
6-Nguyễn Phúc Hồng Dật (Hiệp Hòa): 1883 (4 tháng)
7-Nguyễn Phúc Ưng Ðăng (Kiến Phúc): 1884
8-Nguyễn Phúc Ưng Lịch (Hàm Nghi): 1885
9-Nguyễn Phúc Ưng Ðường (Ðồng Khánh): 1886-1888
10-Nguyễn Phúc Bửu Lân (Thành Thái): 1889-1907
11-Nguyễn Phúc Vĩnh San (Duy Tân): 1907-1916
12-Nguyễn Phúc Bửu Ðảo (Khải Ðịnh): 1916-1925
13-Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy (Bảo Ðại): 1926-1945