
LUẬN VĂN:
Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa
kinh nghiệm phê phán

MỞ ĐẦU
Tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán là một công
trình nghiên cứu khoa học lớn của V.I.Lênin, đồng thời cũng là một trong những tác
phẩm tiêu biểu của chủ nghĩa Mác – Lênin. Tác phẩm ra đời vào những năm đầu của thế
kỷ XX, không chỉ bắt nguồn từ những biến động chính trị của nước Nga mà còn để đấu
tranh chống lại những người theo chủ nghĩa Makhơ – một trường phái với tên gọi “chủ
nghĩa kinh nghiệm phê phán” đã thu hút được sự chú ý của rất nhiều nhà triết học Nga
lúc bấy giờ. Đây cũng là một trong những tác phẩm bút chiến nổi tiếng V.I.Lênin đã kế
thừa tinh thần phê phán và cách mạng của C.Mác và Ph. Ăngghen trước đó. Với tác phẩm
này, thông qua việc phê phán những quan điểm sai lầm, phiến diện của phái Makhơ,
V.I.Lênin đã trình bày một cách có hệ thống những vấn đề cơ bản nhất của triết học Mác,
trong đó nổi bật nhất là những vấn đề của chủ nghĩa duy vật. Đó là cách Lênin phát triển
chủ nghĩa Mác lên một tầm cao mới, gắn với những điều kiện thực tiễn của nước Nga
trong những năm đầu thế kỷ XX.
Cho đến nay, tác phẩm đã ra đời được hơn 100 năm nhưng những người học tập và
nghiên cứu vẫn thấy cần tiếp tục nghiên cứu tác phẩm. Điều đó không chỉ góp phần tìm
hiểu chủ nghĩa Mác mà còn kế thừa tinh thần cách mạng, khoa học của những người sáng
lập chủ nghĩa Mác trong điều kiện mới. Trong giới hạn của một tiểu luận triết học, tôi xin
đi sâu vào phân tích một số nội dung cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng được
Lênin trình bày trong tác phẩm.

NỘI DUNG
1. Hoàn cảnh ra đời và bố cục của tác phẩm
Tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán ra đời vào đầu thế
kỷ XX, được Lênin viết trong vòng 9 tháng (từ tháng 2 đến tháng 10 năm 1908) tại
Giơnevơ và Luân Đôn, sau đó được xuất bản ở Matxcơva với số lượng lớn. Để viết tác
phẩm này, Lênin đã tập hợp khoảng 200 tài liệu từ nhiều thứ tiếng khác nhau.
Tác phẩm ra đời bắt nguồn từ những nhu cầu cấp bách cả về mặt học thuật và thực
tiễn nước Nga những năm đầu thế kỷ XX. Năm 1905 – 1907, cuộc cách mạng vô sản Nga
thất bại. Chính phủ chuyên chế Nga hoàng thực hiện cuộc đàn áp những người làm cách
mạng, tước đoạt mọi thành quả mà cuộc cách mạng dân chủ đã thu được. Lợi dụng cơ hội
đó, những kẻ phản động đã lôi kéo quần chúng khiến họ xa rời cách mạng và có tư tưởng
thỏa hiệp. Những kẻ phản động đó cũng tiến hành tấn công phong trào cách mạng cả trên
lĩnh vực chính trị, kinh tế lẫn tư tưởng.
Về chính trị, trước sự thoái trào của cách mạng, một số trí thức là đảng viên Đảng
dân chủ - xã hội và một số người trong giai cấp tư sản vốn là đồng minh của cách mạng
đã chao đảo, mất phương hướng, rời bỏ hàng ngũ đi theo chế độ chuyên chế Nga hoàng.
Điều đó cũng ảnh hưởng đến những người thuộc phái Mensêvich cũng sa sút tinh thần,
hoảng sợ. Lúc này ở Nga dấy lên phong trào chống Đảng, đòi thủ tiêu Đảng và có xu
hướng thỏa hiệp với bọn phản động, chống lại cách mạng.
Về tư tưởng, bọn phản động và cơ hội cũng dấy lên phong trào đòi xét lại chủ nghĩa
Mác. Chúng cho rằng thất bại của cuộc cách mạng 1905 – 1907 chứng tỏ học thuyết Mác
về cách mạng vô sản đã lỗi thời và theo đó, quan điểm của Mác về các hình thái kinh tế -
xã hội cũng bị phá sản. Trong thời kỳ này, ở Nga, chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo đã trỗi
dậy mạnh mẽ. Nhiều người đã phủ nhận tính quy luật trong quá trình phát triển của tự
nhiên cũng như của xã hội loài người, đồng thời phủ nhận luôn cả khả năng nhận thức
của con người. Trong giới tư sản Nga đã xuất hiện một trào lưu tư tưởng mới – thuyết tìm
thần. Đây là một trào lưu triết học – tôn giáo phản động khi cho rằng nhân dân Nga đã
mất Chúa và cần phải tìm lại Chúa. Đại biểu tiêu biểu của trào lưu này là Bôgđanốp,
Iuskêvich, Valentinốp… Đứng trước cuộc tấn công đồng loạt như vây bủa của bọn phản
cách mạng, việc giữ vững niềm tin cách mạng của quần chúng, phê phán thế giới quan

phản động đồng thời bảo vệ chủ nghĩa Mác đã trở thành một nhiệm vụ cấp bách hơn lúc
nào hết.
Ngoài những lý do có tính chất học thuật như trên, Lênin viết tác phẩm này còn do
sự phát triển có tính chất bước ngoặt, vạch thời đại của khoa học tự nhiên, nhất là vật lý
học vào cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX với hàng loạt các phát minh mới làm đảo lộn
về căn bản quan niệm cũ về vật lý đối với thế giới. Đó là phát minh ra tia X của Rơghen
năm 1895, phát minh ra hiện tượng phóng xạ của Beccơren năm 1896, phát minh ra điện
tử của Tomxơn năm 1897 và sự xuất hiện của thuyết tương đối hẹp và rộng của Anh
xtanh năm 1905, 1907… Những thành tựu vĩ đại đó đã phá vỡ những quan niệm cũ về
vật chất và các hình thức tồn tại của vật chất khiến nhiều nhà khoa học tự nhiên đã bị mất
phương hướng, trượt từ chủ nghĩa duy vật sang chủ nghĩa duy tâm, chủ nghĩa hoài nghi.
Lập luận của họ là “vật chất đã tiêu tan” nên chủ nghĩa Mác không còn lý do gì để tồn tại
nữa.
Trong thời kỳ này, diện mạo của nền triết học phương Tây cũng có nhiều thay đổi
với sự xuất hiện của một loạt những trào lưu triết học mới trong đó phải kể đến chủ nghĩa
kinh nghiệm phê phán – một trào lưu gây gây được sự chú ý lớn của dư luận lúc bấy giờ.
Chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán do Makhơ – một giáo sự vật lý người Áo và Avênariut
– một nhà triết học duy tâm người Thụy Sĩ xây dựng nên. Thực chất của chủ nghĩa kinh
nghiệm phê phán là phân tích kinh nghiệm một cách có phê phán. Trào lưu này đã được
những nhà lý luận tiểu tư sản Nga như Bôgđanốp, Iuskêvich truyền bá rộng rãi tạo nên sự
ngộ nhận về chính trị đối với phong trào cách mạng của giai cấp công nhân. Sự thâm
nhập của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán vào Nga cũng tạo nên sự phân hóa sâu sắc
trong phong trào công nhân.
Vì những lý do trên, Lênin đã buộc phải lên tiếng để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa
Mác. Vì vậy, Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán là một tác phẩm bút
chiến, có tính luận chiến rất cao. Đọc tác phẩm, chúng ta dễ dàng nhận thấy có rất nhiều
đoạn, lối diễn đạt của Lênin rất gay gắt, có cả những ngôn ngữ đời thường. Điều đó
không chỉ phản ánh bức tranh tư tưởng sôi động, phức tạp của nước Nga lúc bấy giờ mà
còn tạo cho người đọc sự lôi cuốn.
Mục đích của tác phẩm là thông qua việc đấu tranh chống chủ nghĩa Makhơ, Lênin
đã bảo vệ những giá trị khoa học về thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa

Mác, đồng thời tiếp tục phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện mới. Trong tác phẩm
này, Lênin đã tập trung làm sáng tỏ những vấn đề của chủ nghĩa duy vật như vấn đề cơ
bản của triết học, vấn đề nhận thức luận, vấn đề vật chất và các phương thức tồn tại của
vật chất… Có thể nói, đây là một tác phẩm lớn đã trình bày khá cụ thể những vấn đề cơ
bản của chủ nghĩa duy vật nói chung và chủ nghĩa duy vật biện chứng nói riêng.
Tác phẩm bao gồm phần nhập đề “Thay lời mở đầu”, 6 phần chính và phần kết luận,
trong đó:
+ Phần nhập đề: Lênin trình bày nguồn gốc tư tưởng của phái Makhơ.
+ Chương 1: Lý luận nhận thức của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán và của chủ
nghĩa duy vật biện chứng I, Lênin vạch ra sự đối lập của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán
và chủ nghĩa duy vật biện chứng trong việc giải quyết mặt thứ nhất vấn đề cơ bản của
triết học.
+ Chương 2: Lý luận nhận thức của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán và của chủ
nghĩa duy vật biện chứng II, Lênin đã giải quyết mặt thứ hai vấn đề cơ bản của triết học.
+ Chương 3: Lý luận nhận thức của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán và của chủ
nghĩa duy vật biện chứng III, Lênin xác lập những luận điểm cơ bản về nhận thức luận
của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
+ Chương 4: Những nhà triết học duy tâm, bạn chiến đấu và kẻ kế thừa chủ nghĩa
kinh nghiệm phê phán, Lênin bàn đến những khuynh hướng phát triển của chủ nghĩa kinh
nghiệm phê phán.
+ Chương 5: Cuộc cách mạng mới nhất trong khoa học tự nhiên và chủ nghĩa duy
tâm triết học, Lênin phân tích nguyên nhân của cuộc khủng howngr thế giới quan trong
khoa học tự nhiên nói chung và trong vật lý học nói riêng, đồng thời chỉ ra con đường để
thoát khỏi cuộc khủng hoảng đó.
+ Chương 6: Chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán chủ nghĩa duy vật lịch sử; Lênin đã
phát triển chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác – Ăngghen.
+ Phần kết luận: Lênin đưa ra bốn chỉ dẫn quan trọng trong việc đánh giá chủ nghĩa
kinh nghiệm phê phán.
2. Những nội dung cơ bản về chủ nghĩa duy vật biện chứng trong tác phẩm
2.1. Vấn đề cơ bản của triết học

