intTypePromotion=1

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Học tập phong cách ngôn ngữ : Phần 1

Chia sẻ: Lê Na | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:121

0
150
lượt xem
34
download

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Học tập phong cách ngôn ngữ : Phần 1

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

 Phần 1  Tài liệu Học tập phong cách ngôn ngữ Chủ tịch Hồ Chí Minh gồm một số bài viết: Hồ Chí Minh với ngôn ngữ (Hoàng Văn Hành); Viết gì, viết cho ai, viết thế nào? (Hoàng Tuệ); Một số suy nghĩ trong khi tìm hiểu di sản của Hồ Chủ tịch về ngôn ngữ (Nguyễn Kim Thản);...; Đọc Ngục trung nhật ký (Nhữ Thành). Tài liệu sẽ giúp bạn hiểu hơn về phong cách ngôn ngữ của Người cũng như sự am hiểu của Người trong tiếng Việt. Mời bạn đọc cùng tham khảo.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Chủ tịch Hồ Chí Minh - Học tập phong cách ngôn ngữ : Phần 1

  1. HẠI HỤL VI, TRUNG l’ÂM thông TIN-THƯVIỀN VIỆN NGÔN NGỮ HỌC 808 H 2 9 1 /8 0 DX.016341 ^ TẬP PHONG CÁCH NGÔN NGỮ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH NHÀ XUẤT BẢ N K H O A HỌC XẪ HỘI
  2. ỦY BAN KHOA HỌC XÃ HỘI V IỆ T NAM VIỆN NGÔN NGỮ HỌC HỌC TẬP• « PHONG CÁCH NGỔN NGỮ CHỦ TIGH HỒ CHÍ MINH NHÀ XUẤT BẢN KHOA HỌC XÃ HỘI HÀ NỘI — 198Ü
  3. L Ờ I NỎI ĐẰU hầ tịc h H ồ Chi Minh đã g iư ơ n g cao ngọn cờ độ c lập dàn tộc và chủ n g h ĩn x ã hội dắl dẫn dán tộc Việt N a m suot t r ê n nử a the kỷ qua bên bỉ, ữnh d ũ n g tiến hàhti cuộc dấu tranh quyêt liệt, g ian kh o , cu8i cúng giành đư ợc thẳng lợi vẻ vang, đạt tớ i đ ỉn h vinh quanq n h ư hiệ n nay. '' Đ ả n g la, dá n lộc ta liếp lục g iư ơ n g cao ngọn cờ đó trong gini doạn rá rh m ạng niớit trong mọi cổng cuộc của sự nghiệp x đ y d ự n q I>á bảo vệ T o quốc ,rS hội chủ nạh~a. Ngọn cố' ấy cũng lá ngọn cờ chỉ đạo công cuộc g iữ gìn s ự Ironq iîàni cỉia tiỉng V iệt, một nội dung của cách m ạ n q tư tư ở ng và van hóa • y h ữ n g tư tirởnọ lở n của Ngirởi vầ liỊn g nói, (( t h ừ cảít cải vô cùng lảu đời vá nô cùng qui bán của d á n tộc », là cơ sở lỳ lưậiì rìi th ự c tiễn cho chinh sách của Đ ảng íỉá N h à nii-ờc ta trong lĩn h nực nàij. Cùng vời nh ữ n g lời chỉ qiáo, N(JITỜÌ dẫ d ĩ lại cha chứng ta nhữ n g m ẫu inực v¡S cách nói, cách viếí. N ọười đã uiểt báo, dã sáng tác uần học bằng tiẽ n íỊ P h á p , với m ột văn p h o n g ¡'ìít P h á p , dã lủm thơ ỉìirởng hànọ c h ữ H á n oởi m ột iứin phonq ỉiirờnq, TSnq, dã sử dạng điêu luỊỊẾn tiënrj Việt tià tạo ra m ọt pliori') cách (tặc sắc Việl N a m . Các bài nòi, bài viết rủa N q ư ờ i dè h iĩu m à sáu sắc, ngắn nqọn m à d'âij
  4. quan vá nhắn sinh quan cách mạng, một đạo ớửc cao c ả , m ộ t q u a n ä ' i w s á u íẩc r á i o à n d i ệ n ư? ncỊồn ngưr và cách sử dụng ngôn ngữ. c.hinh nh ữ n g đ ih i đỏ qutjẽt (ỉịnh cách chọn lìr, cách vận dụng mẹo luật lìgữ pháp. T he o q uaủ cĩữm của N ( j ư ờ i , ỈÌỌC t ạ p v à t r a n d ồ i c ả c l ĩ nói, cách uiểl là mật inậl quan trọng trong việc rèn iiĩyện đạo tìửCt íàc p h o n g CỈIƠ nqirời cách mạng. N h â n dịp kỷ niệm 90 năiiì nqàỵ sinh của Nfjircri. Viện N g ô n nqữ học Ị/iởi thiệu vởi bạn dọc tập sàrh * H ọc lọp phong cách ngồn ngữ Chủ lịch H'ô Chí Minh^' nhằm qóp phần vào uiệc tìm hiều vá học tập phonq cách ngôn nqĩr, inột m ặt qiian Irọnq trong di sản văn hóa mà N g ư ờ i dề lại cho chủng ía. Vì n hữ nq hạn ché của chủng tôi ve nâng lực, h ơ n nữa vấn đê tại khó và phirc tạp, nén cuốn sách nỏỊi sẽ có thiều sót. Chủng tôi chản Ihành m ong m ỏ i nhận được nhĩrnq ý ỉáẽn p h ê bìnlĩ x â y dựng đ ĩ ti ỉ n tớ i có nhữ ng công trìn h nghiên cứu tốt h ơ n vầ dề tải náy. V IỆ N NGÔN NG Ữ HỌC
  5. H ồ C H Ủ T Ị C H A^ỞI N G Ô N N G Ữ HOÀNG VẦN HÀNH ĩ ỈỒ Chủ tịch, vị lãnh tụvT đ
  6. vấn đề cỏ tính chất triết học, như vẩn đề về nguồn gổ< của ngôn ngữ, về quan hệ giữa ngôn ngữ và lu duv, v.v... Đứng trên quan điêm duy vật biện chứní và duy yật lịch sử, Engen đã chứng minh rằng ngôr ngữ lù sản phầm của xẵ hội loài người, chứ khônị phải là cải do thượng đế ban cho, Cùng vởi ỷ thức ngôn ngữ đã nảy sinh ra trong lao động \'à « cũng cỉ xưa như ý thức vậy». Nó là « hiện thực trực tiếp củi tư duy » (4a). Trong Bút ký triết học (3b), Chủ nghĩa duy vật V( chả nghĩa kinh nghiệm phê phán (3c), Quyên dân tội tự quỵU (3a), v.v..., V. Lênin lại c h á ỷ đỗn nhũng vấi đề như lỳ luận phân ánh và ngôn ngữ, chức nănị xẵ hôi của ngòn ngữ, yầ chính sách của Đảng cộng sả) vỏ'i tư cách là đảng cầm quyền đối với ngôn ngữ tron; một nước có nliiềụ dân tộc, v.v... Dưới ánh sáng củ; lỷ iuận phản ánh.V .Lênin đã chỉ ra nhiều vấn đề ỉhuộ về ban chất của ngòn ngữ (như tính khái quảt troa; ngôn ngữ, quan hệ giữa tên gọi và nội dung do nó biêi đạt, v.v... Lênin khẳng định rằng-« ngôn ngữ là phươriị tiện giao tiếp quan trọng nhất của con ngưòi » (4b). Ti -quan điễm cơ bản này, Lênin đầ kêu gọi giữ gin st trong sáng của tiếng Nga đễ phát huy chức năng xã hộ của nó, đồng thời kiổn quyết đấu tranh chổng tư tưởn đại Nga và đề ra nguyên tắc « dân tộc tự quyết í , nguyêi tắc bình đẳng giữa các dân tộc về mọi mặt, trong đ có ngôn ngữ. Những tư tưởng này đã đirợc J. Xtalii phát triên trong cu6n Chủ rìghĩa Mác và những vấ. đ ì ngôn ngữ học (5), và đặ trở thành cơ sở cho chini sảch ngôn ngữ của Đảng cộhg sản Liôn Xò. Ti*ong các tác phầm và bài nói chuvện của minh, B Chủ ticli đặc biệt chú ý đến những vấn đè như ; phả nhận thức như thế nào vê quan hệ giữa ngôn ngữ V vận mệnh của đàn lộc; về vai trò của ngôn ngữ khôn chỉ Irong sự giao tiếp binh thường, mà còn 'trong đấ
  7. trạnh cách mạng, trong sự nghiệp xây đựng con người m ới, xẫ hội m ỏi; về chinh sách ngôn ngữ của Đảng trong hoàn cảnh tiếp xúc văn hóa và ngôn ngữ giữa cảc dâriv iộc thường diển ra trong những điều kiện không bình đẳng, v.v... Đứng trêa quan điêm của chủ nghĩa Mác — Lênin, Hò Chủ tich đẵ giải quyết một cách đúng đắn và sáng suổt những vấn đề ẩy. Đóng gởp của Người vào kho tàng lý luẬn của chủ nghĩa Mác — Lênin về ngôn ngữ là luận điềm khẳng định rằng: «Ngòn ngữ là thứ của cải vô. cùng lâu đời và vô cùng quí báu của dân tộc. Chúng ta phải giữ gìn nó, quí trọng nó, làm cho nó phát triễn ngày càng rộng khắp» (2c). Tư tưởng này của Ngirời đã đtrợc thễ hiện một cách nhất quán trong nhièu tác phằm, đặc biệt là trong cuốn Cách viết (2a), Sửa đồi lỗi làm việc (2b), và trong các bài nỏi chuyện với các rihà báo, nhà văn. Đó cũng là cơ sở của nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta trong lĩnh vực văn hóa và ngôn ngữ. Nhưng cái đặc sắc trong ỷ kiến của Hồ Chủ tịch về ngôn ngữ không chỉ ở những luận điễm sâu sắc, đủng đẳn về các vấn đề cỏ tính chất phương phảp luận như thế, mà còn ở những giải pháp đúng đắn và sảng suốt đối với những vấn đề cụ thế về ngôn ngữ do thực liễn Việt Nam đặt ra, chẳng hạn như chính sảch ngôn ngữ, giữ gin sự trong sảng của tiếng Việt, trau dồi (t cảch nói, cách viếl», cải tiến chữ quốc ngử, v.v... Trước hết, hãv nói về chính sách ngôn ngữ. Khi chủng ta nhận định rẳng ngôn ngữ là một hiện tượng xẵ hội đặc biệt, không có tinh giai cấp, thi đồng thời cũng chớ nên quên rằng chừn^ nào trong xã hội còn giai cẫp thì chừng đó các giai cấp còn không vô can đối vM ngôn ngữ. Do đó, trong điều kiện Ịịch sử ngày nav, khi xã hội còn đấu Iranh giai cắp, Ihì tất yếu là mỗi giai cấp đều có một thái độ, một chinh sách oủa
  8. mình đối vời ngỏn ngữ. Khái niệm chinh xách ngôn ngữ, mà chúng ta đang nói đến ở đây, được hiêu là sự tảc động cỏ ý thức cùa con người trên lập trướng của một giai cấp nhất định vào quá trình hành chức và phải triên của ngôn ngữ, nhằm sử dụng ngôn ngữ không chĩ như một phương tiện giao tiếp, mà còn như một vũ khí đấu tranh trong xẵ hội đế phục vụ cho lợi Ich của giai cẫp mình. Nhir vậy sẽ cỏ chính sách ngòn ngữ lỗi thời, phản độag, nếu nó phản ánh đường 16i và lợi ích của những giai cấp đã hết vai trò lịch sử và trỗf thành phần động, như chính sách đòng hóa của bọn phong kiến Trung Hoa, chinh sảch ngu dân và nò dịch của bọn thực dân Pháp trước đây trong lĩnh vực văn hỏa và ngôn ngữ khi chúng xâm lược nước ta. Và tất yếu cũng có những chính sảch ngôn ngữ đúng đắn và tiến bộ, khi nó phản ảnh đường lối và lợi ích của những giai cẫp tiến bộ và đang gánh vác sứ mệnh lịch sử củá dân tộc, như chính sách ngôn ngữ của Đảng ta, cũng như của các Đảng cộng sản chân chinh khảc. Quả thực giai cấp công nhân Việt Nam, mà đại biêu của nó là Đảng cộog sản Việt Nam , trong quả trinh lãnh đạo cách mạng suốt 50 năm qua đã từng bước xây dựng chinh sách ngôn ngữ đúng đắn của minh trên cơ sờ những quan điểm, có tính chất nguyên tắc do Chủ tịch đề ra. Những quan điễm ấy có thê tóm tắt như sau : 1. Coi € tiếng nói là thứ của cải vô cùng lâu đời và vô cùng qui báu của , dân tộc. Chủng ta phải giữ gìn nỏ, qui trọng nó, làm cho uó phô biến ngày càng rộng khắp » (2c) ; 2. Dựa vào bản thân nỏ đế phát triễn nỏ là chinh, vay mượn là phu (2d) ; 3. Thực bi,ện nguyôn tẳc bìnô đẳng giữa các dân tộc về mọi m ặt/lrong đó cỏ ngôn ngữ (2c), v.v... 10
  9. Đẩy là những nguyồa tắc khẳng định quan điếm tư tường, quan điêm chính trị và quan điễm khoa học của chinh sách. Nội dung chinh sách ngòn ngữ của Đảng ta đã thẻ' hiện trong hàng loạt chủ trương quan trọng. Nhiều chủ trương đã trờ thành nội dung của những cuộc vận động cảch mạng, nhir chủ trương truyền bá chữ quốc ngữ, diệt giặc dốt, dạy và học bẳng tiếng mẹ đẻ trong nhà trường, xày dựng chữ Yiết và mở rộng chức năng xả hội cho mộL s5 tiếng của dân tộc It người, v.v... Một số cuộc vận động vừa nêu đã thực sự trở thành những phong trào quần chúng rộng lớn. Sau khi nước nhàđẵ thống nliất, có nhiều vấn đề mớl, phức tạp đang đặt ra đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ và nghiên cứu nghiẻra túc đế xàv dựnj một chính sách ngôn ngữ hoàn chỉnh, đáp ứn« được những yêu cầu mới toàn diện của giai đoạn vừa xâ}' (hrng, Yừa bảo vệ Tô quốc xã hội chủ nghĩa. Trong quả trình thực hiện nhiệm vụ này, những lò i dạv của Hồ Chủ tịch vẫn tiếp tục soi sáng cho phương hướng hoạt động của chúng ta. Vấn đề thứ hai mà Hò Chủ tịch đặc biệt quan tàm đến, và hiện nay được coi là một Irong những chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đirợc xác dinh là nhiệm vụ trung tàm của ngành ngôn ngữ học ở nước ta, là vấn đe giữ qìn sự trong sáng của tícng Việt. Chủ trirong này đáp ứng những đòi hỏi do thực tế licli sử của nước la. của tiếng ta, đề ra. Trong quá trinh phát Iriễii của bất kỳ dân tộc nào, cững như của bất kỳ n^ịòii ngữ nào, sir tiếp xúc với cảcdàn tộc khác, với các thử tiếng khác là một tất yếu. Nhưng trong lịch sử Việt Nam, sự tiếp XÍIC của tiếng Việt vời tiếng Hán và tiếng Pháp đã diễn ra trong trạng thái không bình đẳng, do chỉnh sách đòng hỏa và nô dịch của bọn xâm lược. Tuy rẳng hình thái của sự liếp xúc ấy tùy thuộc vào những giai đoạn lịch sử khác nhau mà có niáã sắc không giống nhau, nhưng Irong 11
  10. bẩt kỹ trường hợp nào, thì hậu quả của tình trạng ấy vẫn l à : một mặt, tiếng Việt trong nhiều thế kỷ đă bị chèn ép, kìm hãm và hạn chế về chức năf\g xã hội ; mặt khác^lrong đời sống ngôn ngữ đầy d ẫynhữ nghiện tượng lai căng. Có những thời, người ta rất sinh « dùng chữ .Hản», hay nói và viết « theo cách Phảp » (2b). Vì thế, giữ gìn tiếng Việt, bảo vệ sự trong sáng của nỏ không chỉ là biêu hiện của lòng yêu nước, của ý chí tư lực tiy cường, mà còn là một việc gắn liền với sự nghiệp bảo vệ nền độc lập, tir chủ của đất nước. Đó là vấn đề học thuật, và cũng là vấn đề chinh trị. «Khoa học và cách mạng », « cách mạng và khoa học » ở đây là một, mà cũng là hai. Biện chửng của cuộc sống là như thê'! Nội dung và 3'êu cầu của việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong quan niệm của Hồ Chủ tich có nhiều rnặt, xét từ phía quan hệ của con nguời, của xà hội đ5i vởi ngôn ngữ. Song, trước hết, đỏ là yấn đẽ giữ gìn bản sắc của tiếng Việt, « dựa vào bản thân nó đẽ phát triên nỏ» (2d), làm cho nỏ ngày một giàu đẹp, ngày một phô biến rộng, khắp (2c). Cái tinh hoa, cái bản sẳc của tiếng Việt thê hiện ở trong tiếng nói và cảch nói của quần chúng. Hồ Chủ tịch nhận xét :
  11. vấn đề này là dira vào bản thân tiếng Việt «đễ phát Iriên nỏ là chính, vay m ượn là phụ » (2d). Người cho rằng : «Cần nghiốn cứu cách đặt từ của m ình,ii'nghiên cứu, nghĩ thỗm cảch đặt từ mởi của minh »(2d) ; đồng thời, đối với «những từ không dịch được thì phải mưọ‘n tiếng của các nước. Nhưng chỉ nên m ượn khi thật cần thiết, và đẵ laiượn thì phỗi m ượn cho đủngK (2d). Trong vấn đỗ này, vừa phải chống < quan niệm hẹp hòi » (2d), vừa phải chống cái thói vì lự ti, ỷ lại và lười biếng mà « lạm dụng tiếng nưởc ugoài, lạm dụn^ chữ Nho » (2d). Hiễrt nhiên, những điẽu mà Hồ Chủ tịch đề cập đến, từ việc ngliiên cửu tiếng Việt đê dựa vào nó mà phát triền nó, đến việc vay mượn từ ngữ trong quá trình tiếp xúc ngôn ngữ... là những vấn đề cốt lõi trong nhiệm vụ giữ gìn sự trong sảng của tiếng Việt, xét cả về mặt lỷ luận cũng như về mặt thực tiễn. Vấn ằề thứ ba Hồ Chủ tịch dành sir quan tâm đặc biệt là «cách nói, cách viết», việc sử dựng tiếng uói, mà nôi bật là vẵn đề trau d'ỏi văn phong. Hò Chủ tịch đòi hỏi ỏr chúng ta một văn phong mang tỉnh đảng và tinh nhân dân sâu sắc. Theo quan điếm của Người, nói và viết không phải là kỹ thuật về chữ nghĩa mà là vấn đề cỏ liên quan tới cống việc của Đảng, đến tư cách của cán bộ, đảng viên. Thật vậy, trong cuốn Sửa dhi lõi làm việc (2b)> Người đã coi việc chống thói ba hoa và trau dồi cách nói, cách viết là một trong những nội dung tu dirỡng và rèn luyện về phầm chất, tư cách của cán bộ, đảng viên. Xuất phát từ quan điêrn đó, Người đã nêu ra năm yêu cầu sau đậy : « 1. Phải học cách nói của quần chúng, chớ nói như giảng sàçh. Mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết phải tỏ rõ cái tư tơỏrng và lòng ưởc ao của qưần chúng. 2. Phải^uôn luôn dùng những lời lẽ, nhírag thí dụ giản đơn, thiết thực và dễ hiêu. 13
  12. 3. Khi viết, khi nói, phải luòn luôn làm thè nào cho ai cQng hiêu được. Làm sao cho quần chúng đều hièu,, đều tin, đẽu quyết tâm theo lời k ô u gọi của minh. Bao giờ cũng phải .tự h ỏi: «T a viết cho ai ^em ? Nói cho ai nghe ? ». 4. Chưa điều tra, chưa nghién cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chở viết. 5. Trưởc khi nỏi phải nghĩ cho chín, phải sắp đặt cần thận. Phải nhớ câu tực ngữ : « Chó ba quanh mời nằm, người ba năm mới n ỏi». Sau khi yiết rồi, phải xem đi xem lại ba, bốn lần. Nếu là một tài liệu quan trọng, phải xem đi xem lại chín, mười lầT. Làm được như thê' — đảng viên và cán bộ ta quyết phải làm như thế — thì thói ba hoa sẽ bớt dần cho đến khi hoàn toàn hết sạch, mà công việc của Đỗng, tư cách của cán bộ và đảng vlồn sẽ do đó mà tăng thêm » (2b). Cái bỉ quyết đảm bảo cho chúng ta có một phong cách nói và viết tốt, một văn phong thỏa mãn được các yẻu cầu mà Hồ Chủ tịch nêu ra, là ở sự khô công học tập và rèn luyện... Người nói : « Muốn tiến bộ, muổn viết hay, thl phải cố gắng hộc hỏi, ra công rèn luyện »(2c). Thiết nghĩ, đỏ cũng là một trong nhữ nj vấn đề hiện nay đang đặt ra cho chúng ta trong việc xây dựng con người móã xã hội chủ nghĩa. Vấn đề thứ tư mà Hò Chủ tịch hẳng quan tâm là vấn đ ẽ cải liến chữ quốc ngữ. Năm i960, khi biết cỏ caộc hội nghị bàn vê cải tiến chữ (Ịuốc ngữ, Hồ Chủ tịch đã gặp ban lãnh đạo hội nghị và phảt biễu một sổ ỷ kiến về mục đích, phương hưởng vù phương châm cả' tiẩn chữ quốc ngữ. Người cho rẳng chữ quốc ngữ cần phải cẳi tiến vì «có những chỗ bảo thủ, lạc hju, không hợp lý » (2đ). ' Trên thực tế, từ mẫy mirơi năm n iy , Hồ Chủ tịch đã 14 L-
  13. viết chữ quổc ngữ có sửa đỗi một ít, vl Người « th^y như thế tiện hơn, người ta dễ học, dễ đọc hơn, mà lại viết gọn, it tốn giấy» (2d). Theo qunn niệm của Hò Chủ tịch thì việc cải tiến chữ quốc ngữ cần được thực hiện theo^ba phương hướng sau đ â y ; a) s Trong vẵn quổc ngữ, cỏ những cải thừa nên bỏ đi (thi d ụ : h trong pgh) » (2d). b) «Đ ồng thời có những cái thiếu, nên thêm vào », vì «trong quá trinh tiếp xúc vởi các nưởc, cỏ nhièu từ ta phải mirọ'n của tiếng các nước đua vào tiếng ta, cho nên phải nghiên cứu dùng thêm một s6 vần đê viết cho tiện » (2d). c )V à «có những chỗ bất hợp lý cho nên phải sửa » (2d). Những phương châm chỉ đạo việc cải uến chữ quổc ngữ do Hồ Chủ tịch đề ra l à : a) « Phải nghiên cứu cằn thận, làm chắc chắn » (2 đ ); b) « Phải làm dần dần, đừaơ xảo trộn q u á ; làm thế nào vẫn dùng sách vỏ' cũ được, sách vở mởi thì sẽ in d ằn dần D (2đ); c) «Nliưn^ c3ng đírng sợ cải mới quá », bởi vì «cải gì mởi thì lúc đầu cũng lạ (...)• nhưng sau rồi cring quen» (2d). Phương án cải tiến chữ quổc ngữ mà Viện Ngốn Iigữ học trinh bày trong thời gian vừa qua đẫđưạx xây dirng trốn cơ sả những tư tưởng chỉ đạo trôn đây của Hò Chủ tịch. Những lời dạy của Hò Chủ lịch vễ ngòn ngữ rất phong phú và nhất quán, thê hiện sâu sắc quan điềm và những nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa Mác — Lênin. Nẳm vững những luận điếm đó, chắc chắn chủng ta sỗ có phương hướng đúng đắn khổng chỉ trong 15
  14. việc nghiên cứu và học lập phong cách ngòn'ngữ' của Ngưứi, má còn câ trong việc giâi quyết những nlhiệm vu trước niắt của ngôn ngữ hộc ở nưởc la và xây d ự n g một nền rigòn ngừ học mác xlt Việt Nam. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1 — F. Eiigeh : Tác d ụ n q của lao động tro n g s ự chuịềni biên từ vư ợ n thánh nguờ i. H., 1937- 2 - HỒ C hi Mi nh; a) Cách viết. X. « B à n về văn hòa, văn nghệ H ., t96'4. b) Sửa đòi lối lảm việc, H. 1959. c) N â n g cao h ơ n nữq chất lư ợ n g của báo chi, Nhâm d â n , ngày 9-9-1962. d) Một SỐ ỳ kíén của H ồ Chủ tịch ưề c h ữ quốc n g ữ uà tiẽn g Vìệí, T ạ p chi N g ô n nqữ, 1970, sỗ 3. e) Hồ Chi Minh tu y ẽ n tậ p . H, 1968. 3 - V. I. L ê n i n : a) Quyên đán tộc tự quyềt, H ., 1957. b) B vìỉ k ỷ tr i ỉ t học, H., 1963. c) Chả n g h ĩa duy vậl và chủ n g h ĩa k in h n g hiệ m pìê p h ả n , H., 1960. 4 - K. Mác, F. E n g e n : • , a) Hệ tư tư ở ng Đirc, F, 1953- b) B à n vầ ngôn ngữ, H., 1962. 5 — J. X ta lin : Chả nghĩa Mác và n h ữ n g văn đ'ê n g â n n g ữ học. X. K. Mác. F. Engen, v .l. L ê n in : B a /iy ? n g ô n nflrữ, íL , .1962. 16 ÍS ■ '
  15. V IẾ T G l, V IẾ T CHO AI, V IẾ T THẾ N A O ? HOANG TUỆ 1. i'ong những cuộc họp mặt thân mật với cảc nhà báo, nhà văn, Chủ tịch Hồ Ghi Minh thường nhắc nhử rẳng viết báo, viết văn thì phải chú ý trước tiên là viết gì và viét cho ai. Tất nhiên, viẽt thề nào cũng là một câu hỏi đirợc đặt ra. Sự thực, ba câu hỏi đó rất giản dị, nhưng là ba Yấn đề cơ bản có ỷ nghĩa nguyên lý. Cách viễt hay cách nói của một người có thễ coi là cách giải quyết tông hợp đối TỚi ba vấn đề ẫv trong một hoàn cảnh nhất định, âế tạo ra m ộ tlờ i.lờ i ván-viết hay lời văn nói. Cách viết hay cách nói ấy cũng lức là phong cách. Nhửng phong cách còn bao hàm ỷ nghĩa về một giá trị đặc trưng. Vậy cái giả trị đặc trưng, giá trị tiêu biễu ẫy từ đâu mà sinh ra"? Các nhà ngồn ngữ học Um cách trả lời cáu hỏi này bẵng sự phàn tích cấu trúc của lời và phân tích những mối quan hệ giữa lời với nhữnơ vếu t6 khác ở ngoài lời. 2. Lời d ĩ nhiên là cố mặt hình thức của nó. Đó là một hinh thái agôn ngữ. Nó khác Yới những hinhthức (1) « Lời » dùng đ â y c ố tin h c h ă t t h u ậ t ngữ. Nó chỉ rnột k h á i n iệ m k h â c v ớ i « c â a », m á c ũ n g kh ác với k h ái niệra « ngôn ngưr ». : 2 HT ;P ^ ¡ị
  16. không phải ngôn ngữ, như bức tranh, pho tượng,.., hay đơn giản hơn, tiếng còi hiệu. Xét về cấu trúc của mặt hình,thức đỏ, thì lời bao gồm hình thức'«câu chữ», như ta thường nóỉ*theo l6i đơn giản, tức là hình thức những tín hiệu ngôn ngữ ; hinh thức của rc;ột nội dung được diễn đạt bằng những tín hiệu này, tức là hinli thức « ý tình » ; và hình thức của mối quan hệ giữa mặt nội dung được diễn đạt và mặl hình thức đễ diỗn đạt. Xác định đổi tượng nghiôn cứu, đă cỏ khi người ta cho rằng ngôn ngữ học hăy dừag lại ở mặt cấu trúc ấy mà đừng đi xa hơn. Đó là một vấn đè về phương pháp luận, không bàn ở âầy. N h ư n ĩ sự thực là \ẫ n có thễ đi xa hơn, đê xét tời mối quan hệ giữa lời, với những yếu lố tuy ở ngoài lời, nhưng có tác động tới nó. Có như vậv, mới tiếp cận được sâu sắc hơn yởi vấn đề cảch viết, vấn đê phong cách. 3. Có những nhà ngôn ngữ học đã phân tích những mối quan hệ nói trên, như R. Giacôpxơn*^), như p. Ghirô**) và những người khác. Tôi sẽ trình bày lại, có phàn theo cách riêng và ỷ riêng, như sau : a) Quan hệ giữa lời với thực tế. Đễ trinh bày gọn và bớt thuật ngữ, sẽ nói đó là quan hệ LT : L = lời nói ; T.=:thực tế. Chỉ người điên mới nói những lời không có quan hệ với thực tế, hay với một thực tế mà ta không nhận thức được. Có những nghệ sĩ ít nhiêu cũng « điên». Nhưng đỏ là chuyện đặc biệt. Chuyện bình thường của những người bình thường, kế cả nghệ sĩ, là khi nỏi ra hay viết I'a một lời, thi lời đó làm hiện ra một tbtjrc tế (1) Roman Jak ob son : /ĩ,vsfíi de linÿilistique (ỊỄntrale, Ed, de M inuit, P a r is , 1963. (2) P ie r r e G u ira u d : Essai de stylistique, P aris, 1969 ; bản tiễ n g Ngá, tro n g í H o B o e B jiiuirB uciuK e », tậ p IX, Hporpecc, MocKBaT 1979. 18
  17. ihất định. LT là mối quan hệ cơ bân. Khi nỏi viết gi ức là nghĩ tới mối quan hệ này, và đồng thời tới chức lăng phản ánh của lời. b) Quan'hê giữa lời với người viết, hay người nói (A)- íhi nào lời cũng phụ thuộc vào A, với những đặc điêm 'iêng của A về tư tưởng, về thái độ đối với T, và cả về 'ĩ đò đổi với người đọc, người nghe (B). Tức là, lời có hẽ bộc lộ cảc phần riêng của A. Đó là chức năng biễu ;ảm của lời. c) Tẩl nhiên, cũng hình thành mối quan hệ BL, và hông qila đó, là mối quan hệ BT. Đó là chức năng •hông báo của lời. Nhờ vậy người đọc hay ngứời nghe ihận thức được cái thực tê' mà lời phản ánh. Nhưng nhận thVrc được thế nào ? Có đúng với ỷ đồ của A không? Qua những câu hỏi này, ta thấy hiện ra mổi quan hệ rất tế nhị AB. Khi nói viết cho ai tức là nghĩ tới mối Ịuan hệ nàv, và tới chức năng đòng cảm của lời. d) Cuối cùng, còn có mổi quan hệ giữa lời với ngôn ngữ. Có ngôn ngữ, mới c6 lời. Trong sự luận giải, thường có giả định rẳng Ịihận thức của A và B về ngòn ngữ (N) là như nhau. Nhưng trong thực lế xã hội, lại có thế khác nhau và khác nhiều. Vậy rất cần phải xét đến những mối quan hệ AN và BN. Khòng những phải xét những mối quan hệ đó ở mặt cấu trúc, mà còn ờ mặt tâm lỷ và mặt xã hội của ngôn ngữ. Đó chính là cái phức tạp của vẩn đề ưiél thẽ nào, mà cách giải quyết lá cái khâu cu5i cùng đẽ thề hiện phong cách. 4, Rõ ràĩig là qua sự phân tích những mối quan hệ kề trên, đê nhàn ra cảc chức năng của lời, ta có thê thấy cả quả trinh hình thành và sự hành chức(^> của nó trong thijc tiễn giao tiẽp. Nhờ vậy, khái niệm phong cách trở thành rất phong phủ. .• .¿ì- ( l) T ứ c là s ự th ự c h iệ n ch ứ c n ă n g . Tôi d ù n g t h u ậ t n g ữ này theo Đỗ Hữu Châu, v à hiẽu nó t ư ơ n g ứ n g v ớ i ft>yHKU,ii0HHp0BaHiie. 15
  18. Phong cảch không phải chỉ cỏ quan hệ với m.ặt hìnl thức, mà còn với mặt nội dung của lời. N hưng muối nhận ra phong cách của tác giả thì nhất thiết phải qu hình thức. Tuy v ậ y , phong cách ' k h ô n g p h ả i chỉ l à k ỹ thuật SI dụnj ngôn ngữ, mà còn là tư tưởng, là tâm hòn của tá giả. Nó khòng phải chỉ là những thỏi quen và h iêu biế riêng của tác giả về ngôn ngữ, mà còn là quan điếm văi hóa — xã hội về ngôn ngữ. Nó cũng không phải chỉ là tài năng, nó còn là bải lĩn h ; hơn nữa, nỏ là hệ tư tường, là đạo lý. Tất cả những vấn đề này đều phụ thuộc vào> sự tri lời cho t)a câu hỏi đó : Viết gi, V iịt cho ai, Viết th i náo những câu hỏi mà tự chúng đã thẽ hiện tầm tư tưởnị của tác giả. Viết gi? Viết ra sự thật, viết ra lẽ phải, viết ra châr lý. Xuyên tạc chân lỹ .đ ô i thay, lẽ phải, bóp m éo sựthậl là bản chất của bọn đế quốc, tư bản và phản độjng. Viẽt cho ai ? Viết cho quần chủng nhân dân iilhư chc người bạn tâm tinh, người đòng chi thân thiết, vời tấl cả thái độ tôn trọng và lòng mến yêu chân tbànlh. Viét thế nào? Viết sao cho đạt tới kễt quả là s ự tiếp cận của quần chủng nhân dán với chân lý, vầ đồng thời là sự cảm thông với tảc giả. Viết sao cho chớ thành một sự cách ly giữa quàn chúng nhân dân với tác giả, song cũng không thành một sự cách ly giữra chân lý với quần chúng nhân dân. Viết sao cho ngôn n gữ của dân tộc càng ngày càng trở thành một công cự Ilư duy và giao tiếp xã hội xứng đáng với những Iruven thổng tinh thằn tủ a dân tộc vàđ áp ứ n g những yẻu càu Lưduy, những.cố gắng trí tuệ của một xã hội phát triễn. 20
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2