
Đề cương cuối học phần: Lịch sử thế giới cổ trung đại
Câu 1 : Hãy làm sáng tỏ nguồn gốc loài người và động lực của quá trình
chuyển biến tự vượn thành người
❖ Nguồn gốc loài người
- Theo quan điểm duy tâm:
+) Truyền thuyết Trung Quốc: Câu chuyện Bàn Cổ khai thiên lập địa và Nữ
Oa sáng tạo con người
o Sau khi Bàn Cổ khai thiên lập địa, Nữ Oa đã dùng bùn đất dưới sông nặn ra người
đất. Nữ Oa thổi hơi tiên vào người đất để tiếp cho chúng sức sống, những người
được truyền dương khí trở thành đàn ông còn người được tiếp âm khí đã trở thành
đàn bà. Nữ Oa dùng sợi rơm cỏ thả xuống đáy hồ ngoáy bùn rồi vung lên, bùn
tung tóe khắp nơi và biến thành những người nhỏ phân bố rộng khắp trên mặt đất.
Sau đó bà ghép cặp đàn ông đàn bà với nhau, dạy họ sinh con đẻ cái, gánh vác
trách nhiệm nuôi dưỡng đời sau.
+) Truyền thuyết Ấn Độ
+) Truyền thuyết Việt nam: Lạc Long Quân và Âu Cơ
o Lạc Long Quân và Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng. Nhưng hàng chục năm trôi qua,
Lạc Long Quân vẫn nhớ về thủy phủ nên quyết định dắt 50 người con xuống biển.
Âu Cơ quyết định đưa 50 người con về núi. Họ chia nhau trị vì các nơi, kẻ lên núi,
người xuống biển, nếu gặp sự hiểm nguy thì báo cho nhau để cứu giúp.
+) Đạo Thiên Chúa: Giê Hô Va sáng tạo ra con người
o Thánh Kinh chép rằng Thiên Chúa Giê Hô Va tạo ra đại địa và vạn vật trong 6
ngày, ngày thứ 6 Chúa đã tạo ra người đàn ông tên là Adam. Sau đó vì thấy Adam
cô đơn trong vườn Địa Đàng nên Chúa đã rút một xương sườn của anh và tạo ra
người phụ nữ là Eva. Sau đó vì phạm tội ăn Trái Cấm mà Chúa đã để Adam và
Eva rời khỏi vườn Địa Đàng và xuống đất cày cấy sinh sống.
+) Huyền sử Hy Lạp: Thần Prô-mê-tê sáng tạo ra con người
o Thần Dớt đã giao cho anh em Prô-mê-tê và Ê-pi-mê-tê cai quản trái đất và sáng
tạo ra con người. Hai anh em đã lấy đất sét trộn với nước nặn thành hình muôn
loài. Sau mười hai ngày đêm, Prô-mê-tê đã tạo ra đàn ông theo hình dáng các vị
thần và lấy trộm lửa của thần Dớt để trao cho những sinh linh yêu quý. Sau đó
thần Dớt đã lệnh cho các vị thần tạo ra người phụ nữ đầu tiên là Pan-do-ra. Mỗi vị

Thần góp một chút để tạo ra các đặc tính của Pan-do-ra: khéo léo, xinh đẹp, dệt
vải, may vá, …
- Theo quan điểm duy vật:
+) Dựa trên các thành tựu của các ngành khoa học liên ngành (khảo cổ học,
cổ sinh vật học, dân tộc học, nhân chủng học, …), các nhà khoa học đã đưa
ra kết luận khẳng định về nguồn gốc loài người: con người được tiến hóa từ
một loài vượn nhân hình nay đã không còn tồn tại nữa.
Sơ đồ quá trình chuyển biến từ vượn thành người
Khoảng 6
triệu năm
trước
Vượn cổ/Vượn nhân hình (Honomid)
Thể tích não: 450-750 cm3
Đứng, đi bằng 2 chân; có thể dùng chi trước cầm/nắm
Vượn Đriôpithécus
Ramapithécus
Australopithécus (vượn phương Nam)
3 đến 4 triệu
năm trước
Người khéo léo/Người tối cổ (Homo habilis)
Thể tích hộp sọ: 600 – 850 cm3
Đứng thẳng, tay có thể cầm nắm
Người Đứng Thẳng (Homo Érectus)
Biết phát ra tiếng nói và biết chế tạo công cụ lao động
Pithécanthropus
Thể tích hộp sọ: 750 – 975 cm3
Sinanthropus
(người vượn Bắc Kinh)
Thể tích hộp sọ: 850 – 1220 cm3
Sọ dẹt, trán dốc thoải, u trán nổi rõ
Người Neandectan
Thể tích sọ não: 1200 – 1600 cm3
Khả năng lao động, ngôn ngữ phát triển hơn
Khoảng 4
vạn năm
trước
Người hiện đại/Người tinh khôn (Homo Sapiens)
Trán cao, xương hàm nhỏ, không còn nhô ra trước
Hai bàn tay nhỏ, khéo léo, ngón tay linh hoạt
Não đặc biệt phát triển
Cơ thể phát triển như ngày nay

❖ Động lực của quá trình chuyển biến từ vượn thành người
- Quy luật chọn lọc tự nhiên: Đacuyn đã giải thích quá trình chuyển biến từ vườn
thành người bằng quy luật chọn lọc tự nhiên nhưng ông mới chỉ xem xét vấn đề
trên góc độ của các quy luật sinh vật học chứ chưa chú ý đến vai trò của các quy
luật xã hội.
- Lao động: Ph.Enghen đã có một luận văn nổi tiếng: “Tác dụng của lao động
trong quá trình chuyển biến từ vượn thành người”. Trong đó, ông đã khẳng định:
“Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ sinh hoạt loài người”.
Lao động đã sáng tạo ra chính bản thân con người: Trong lao động sáng tạo,
cơ thể và tư suy của con người ngày càng hoàn thiện và phát triển.
+) Hai chi trước trở thành hai tay
+) Trung khu ngôn ngữ hình thành ở não thùy trái
+) Phát sinh nhu cầu trao đổi, liên kết với nhau; làm nảy sinh quan hệ
giữa người với người
Ph.Enghen khẳng định: “Lao động đã sáng tạo ra xã hội loài người”.
- Tiếng nói: Là sự kích thích chủ yếu làm ảnh hưởng đến bộ óc của vượn, làm cho
bộ óc của nó dần biến chuyển thành bộ óc con người.
- Quy luật sinh vật học: Dựa vào những phát hiện về cổ nhân học ở vùng Đông
Phi, một số học giả đưa ra giả thuyết cho rằng động lực của quá trình chuyển biến
từ vượn thành người là do quy luật sinh vật học trong đó có quy luật di truyền và
đột biến.
Câu 2: Anh chị hãy trình bày những nét cơ bản trong đời sống của bầy người
nguyên thủy. Tại sao nói “việc tìm ra lửa đã tách hẳn con người ra khỏi thế giới
động vật”? (Theo Ph.Ăngghen – Chống Đuyrinh, NXB Sự thật, Hà Nội, 1971,
tr.197).
❖ Những nét cơ bản trong cuộc sống bầy người nguyên thủy
- Thời gian: sơ kì đá cũ - hậu kì đá cũ
- Tổ chức xã hội: Quan hệ hợp quần xã hội
+) Bầy người nguyên thủy được coi là tổ chức xã hội đầu tiên của loài người

+) Tập hợp thành từng bầy, sống quây quần theo quan hệ ruột thịt, khoảng
vài ba chục người.
+) Có người đứng đầu, có sự phân công công việc giữa nam và nữ, mọi
người đều có nghĩa vụ săn bắt, tìm kiếm thức ăn, bảo vệ lẫn nhau và trông
nom con cái
- Đời sống:
+) Sống lang thang trong rừng rậm nhiệt đới, ngủ trong hang động, mái đá,
dựng lều bằng các cành cây, xương thú
+) Cùng lao động, tìm kiếm thức ăn và đấu tranh chống thú dữ
- Kinh tế: Săn bắt, hái lượm
- Công cụ lao động: Công cụ đá cũ sơ kì
+) Kĩ thuật ghè, đẽo: dao, rìu đá
+) Lấy những viên cuội hay 2 hòn đá ghè vào nhau tạo nên cạnh sắc và vừa
tay cầm, gọi là rìu tay “vạn năng”: chặt cây, làm vũ khí săn bắt, đào bới, …
+) Dùng mảnh tước tách từ hạch đá thành dao nạo gỗ
- Phát minh: dùng và lấy lửa – bước tiến lớn lao
+) Biết giữ lửa tự nhiên
+) Tự làm ra lửa bằng cách cọ xát mạnh 2 cành cây khô hay hai hòn đá lửa.
❖ Tại sao nói “việc tìm ra lửa đã tách hẳn con người ra khỏi thế giới động
vật”?
- Dùng lửa để sưởi ấm, bởi lúc này con người chưa biết cách giữ ấm cơ thể mà
nhiệt độ thời kì nguyên thủy rất lạnh
- Mở rộng thời gian hoạt động của con người: có thể hoạt động lúc trời tối lẫn sáng
sớm lạnh lẽo.
- Thay đổi chế độ ăn uống và hành vi sống: đưa con người từ “ăn sống nuốt tươi”
sang thời kì “ăn chín uống sôi”, biết nấu chín thức ăn.

- Làm vũ khí bảo vệ con người khỏi các loài động vật hoang dã
=> “Con người lần đầu tiên chi phối được lực lượng tự nhiên và do đó đã tách ra
khỏi giới động động vật” (Ph.Enghen)
Câu 3: Phân tích những nét cơ bản về đời sống của con người thời công xã thị
tộc mẫu hệ.
❖ Những nét cơ bản về đời sống của con người thời công xã thị tộc mẫu hệ
- Thời gian: Hậu kì đồ đá cũ – hậu kì đồ đá mới
+) Chế độ mẫu quyền là giai đoạn phát triển lịch sử mà nhiều dân tộc trên
thế giới đã kinh qua và nó tồn tại trong một thời gian rất dài
+) Phát triển thịnh vượng vào thời đại đồ đá giữa, giai đoạn sơ và trung kì
thời đại đồ đá mới
+) Dần bị thay thế ở giai đoạn hậu kì đồ đá mới.
- Tổ chức xã hội:
+) Chế độ thị tộc mẫu hệ hay thị tộc mẫu quyền là chế độ người phụ nữ nắm
vai trò quan trọng và quyết định.
+) Phụ nữ quản lí và phân chia thức ăn hàng ngày cho các thành viên trong
thị tộc
+) Phụ nữ có quyền phân công lao động trong gia đình, quyền điều hành
những công việc chung của thị tộc
+) Phụ nữ được bình đẳng, được tôn trọng và có thể được bầu làm tộc
trưởng, tù trưởng.
- Kinh tế:
+) Chuyển dần từ nền kinh tế thu lượm sang nền kinh tế sản xuất.
+) Săn bắn, chăn nuôi, trồng trọt
+) Sự phân công lao động: săn thú là công việc nặng nhọc của đàn ông; phụ
nữ đi hái lượm rau quả, trông nom con cái, chuẩn bị bữa ăn, …
+) Lao động chung, hưởng thụ chung, không phân chia giàu nghèo sang hèn,
sống bình đẳng

