intTypePromotion=1

Đo lường năng lực dư thừa và việc sử dụng các yếu tố đầu vào của tàu lưới kéo qui mô nhỏ ở hai khu vực Vĩnh Trường và Vĩnh Lương, thành phố Nha Trang

Chia sẻ: Thi Thi | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:7

0
36
lượt xem
1
download

Đo lường năng lực dư thừa và việc sử dụng các yếu tố đầu vào của tàu lưới kéo qui mô nhỏ ở hai khu vực Vĩnh Trường và Vĩnh Lương, thành phố Nha Trang

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nghiên cứu đo lường năng lực dư thừa và việc sử dụng các yếu tố đầu vào của từng tàu lưới kéo quy mô nhỏ tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa dựa trên phương pháp màng bao dữ liệu (DEA). Kết quả điều tra trên 65 tàu ở 2 khu vực Vĩnh Trường và Vĩnh Lương trong 2 năm 2005 và 2006 cho thấy, hầu hết các tàu đã sử dụng các yếu tố đầu vào một cách tối ưu, tuy nhiên năng lực dư thừa (tính theo doanh thu) trung bình của mỗi tàu là 60,46% (2005) và 51,60% (2006). Điều này cho thấy nguồn lực ven bờ ở Nha Trang đang bị khai thác quá mức. Mặt khác, kết quả nghiên cứu này cũng chứng minh rằng các khu bảo tồn biển đã phát huy tác dụng trong việc bảo tồn và duy trì các loài cá đang có nguy cơ bị đánh bắt cạn kiệt và góp phần tạo ra một nguồn lợi phong phú, mang lại giá trị cao trong việc đánh bắt thủy sản ở Nha Trang. Điều này cho thấy, các cấp quản lý cần phải có nhiều biện pháp hơn nữa để duy trì và quản lý có hiệu quả các khu bảo tồn cũng như việc đánh bắt các nguồn tài nguyên từ biển.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đo lường năng lực dư thừa và việc sử dụng các yếu tố đầu vào của tàu lưới kéo qui mô nhỏ ở hai khu vực Vĩnh Trường và Vĩnh Lương, thành phố Nha Trang

Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 2/2014<br /> <br /> THOÂNG BAÙO KHOA HOÏC<br /> <br /> ĐO LƯỜNG NĂNG LỰC DƯ THỪA VÀ VIỆC SỬ DỤNG CÁC YẾU TỐ<br /> ĐẦU VÀO CỦA TÀU LƯỚI KÉO QUI MÔ NHỎ Ở HAI KHU VỰC<br /> VĨNH TRƯỜNG VÀ VĨNH LƯƠNG, THÀNH PHỐ NHA TRANG<br /> MEASURING EXCESS CAPACITY AND VARIABLE INPUT UTILIZATION<br /> OF SMALL-SCALE TRAWLERS IN VINH TRUONG AND VINH LUONG,<br /> NHA TRANG CITY<br /> Tăng Thị Hiền1, Đặng Hoàng Xuân Huy2<br /> Ngày nhận bài: 04/5/2013; Ngày phản biện thông qua: 07/5/2014; Ngày duyệt đăng: 02/6/2014<br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Nghiên cứu đo lường năng lực dư thừa và việc sử dụng các yếu tố đầu vào của từng tàu lưới kéo quy mô nhỏ tại thành<br /> phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa dựa trên phương pháp màng bao dữ liệu (DEA). Kết quả điều tra trên 65 tàu ở 2 khu vực<br /> Vĩnh Trường và Vĩnh Lương trong 2 năm 2005 và 2006 cho thấy, hầu hết các tàu đã sử dụng các yếu tố đầu vào một cách<br /> tối ưu, tuy nhiên năng lực dư thừa (tính theo doanh thu) trung bình của mỗi tàu là 60,46% (2005) và 51,60% (2006). Điều<br /> này cho thấy nguồn lực ven bờ ở Nha Trang đang bị khai thác quá mức. Mặt khác, kết quả nghiên cứu này cũng chứng minh<br /> rằng các khu bảo tồn biển đã phát huy tác dụng trong việc bảo tồn và duy trì các loài cá đang có nguy cơ bị đánh bắt cạn<br /> kiệt và góp phần tạo ra một nguồn lợi phong phú, mang lại giá trị cao trong việc đánh bắt thủy sản ở Nha Trang. Điều này<br /> cho thấy, các cấp quản lý cần phải có nhiều biện pháp hơn nữa để duy trì và quản lý có hiệu quả các khu bảo tồn cũng như<br /> việc đánh bắt các nguồn tài nguyên từ biển.<br /> Từ khóa: năng lực, năng lực dư thừa, hiệu quả kĩ thuật, Nha Trang<br /> <br /> ABSTRACT<br /> The study measured the excess capacity and the use of inputs piers small trawl in Nha Trang City, Khanh Hoa<br /> Provinc based on a mathematical programming approach - data envelopment analysis (DEA). The result from 65 vessels<br /> in two areas Vinh Trương and Vinh Lương in 2005 and 2006 showed most of vessels used inputs fully, but excess capacity<br /> (calculated by revenue) on average of each vessel was 60,46% (2005) and 51,60% (2006). This showed that the coastal<br /> water resources were over exploited. On the other hand, this study demonstrated that the marine protected areas (MPAs)<br /> were effective in preserving and maintaining the fish species that are at risk of over fishing and contribute to creating<br /> abundant resource, that bring high-value in the fishing in some areas in Nha Trang. This showed that the managements<br /> should have more policies to maintain and manage effectively the MPAs as well as the fishing from the sea.<br /> Keywords: capacity, excess capacity, technical efficiency, Nha Trang<br /> <br /> I. ĐẶT VẤN ĐỀ<br /> Năng lực và năng lực sử dụng (CU) thường<br /> được coi là lý do chính cho việc khai thác quá mức<br /> thủy sản trên toàn thế giới [4]. Chúng ta biết rằng<br /> một nghề cá khai thác một cách tự do, năng lực<br /> hoặc công suất sẽ cao hơn sản lượng kinh tế tối đa<br /> (maximum economic yield - MEY) - mức sản lượng<br /> mang lại lợi ích tối đa cho chủ tàu và xã hội. Do đó,<br /> <br /> 1<br /> <br /> chỉ ra lợi ích của việc giảm công suất cho cộng đồng<br /> ngư dân trở nên rất quan trọng. Trong ngành công<br /> nghiệp sử dụng các tài nguyên dùng chung như<br /> không khí, nước, nguồn lợi cá…, “sự tranh giành sản<br /> xuất” dẫn đến sự đầu tư quá mức của các đơn vị, cá<br /> nhân. Sự đầu tư quá mức này là nguyên nhân đẫn<br /> đến sự dư thừa năng lực sản xuất - sẽ ảnh hưởng<br /> nghiêm trọng đối với sự phát triển bền vững của<br /> <br /> ThS. Tăng Thị Hiền, 2 ThS. Đặng Hoàng Xuân Huy: Khoa Kinh tế - Trường Đại học Nha Trang<br /> <br /> 14 • TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> các ngành. Trong nghề cá khai thác mở (open-access),<br /> Warming (1913) đã cảnh báo viễn cảnh nhiều nghề<br /> cá rơi vào tình trạng đầu tư quá mức sẽ dẫn đến dư<br /> thừa năng lực [14]. Nhiều nguồn lợi thủy sản hiện<br /> đang bị khai thác quá mức và trở nên ngày càng suy<br /> kiệt bởi số lượng tàu thuyền đánh bắt quá lớn [5].<br /> Trước vấn đề này, tại cuộc họp của FAO năm 1995<br /> đã nhận thức rằng sự dư thừa năng lực đánh bắt<br /> là trở ngại chính để thực hiện khai thác nguồn lợi<br /> thủy sản bền vững. Để loại bỏ sự dư thừa năng lực<br /> khai thác, chúng ta phải đo lường năng lực và việc<br /> sử dụng năng lực (CU) đánh bắt. Trước đây, để đo<br /> lường năng lực của mỗi nghề cá thường dựa trên<br /> số tàu đánh bắt cho phép trong nghề đó, điều này<br /> dẫn đến một vấn đề là các ngư dân đầu tư thêm<br /> trang thiết bị đánh bắt, phương tiện dò tìm cá hiện<br /> đại hay trang bị máy có công suất cao hơn để tăng<br /> năng lực đánh bắt.<br /> Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa là nơi<br /> có bờ biển dài và có nghề đánh bắt thủy sản phát<br /> triển mạnh mẽ. Các tàu lưới kéo ở khu vực này<br /> chiếm tỷ trọng lớn với 725 trong tổng số 2648 tàu<br /> (chiếm 27%) (năm 2005) [11]. Tuy nhiên hoạt động<br /> đánh bắt của các tàu này chưa được đánh giá một<br /> cách đầy đủ về hiệu quả đánh bắt cũng như việc<br /> sử các yếu tố đầu vào. Nghiên cứu này sử dụng<br /> phương pháp DEA, để tính năng lực đầu ra của mỗi<br /> tàu lưới kéo ở 2 khu vực phường Vĩnh Trường và<br /> Vĩnh Lương, thành phố Nha Trang. Thông qua việc<br /> đo lường năng lực và năng lực dư thừa ở 2 khu vực<br /> này, chúng ta có thể mong đợi rằng ngư dân trong<br /> nghề cá khai thác mở có thể đánh giá xem liệu năng<br /> lực đánh bắt của họ là hiệu quả hay không và có<br /> tối ưu hóa sự sử dụng các yếu tố đầu vào chưa?<br /> Hơn nữa, việc này giúp cho nhà quản lý có được<br /> thông tin có giá trị về mức độ tương xứng của năng<br /> lực đội tàu với sự có sẵn của các nguồn lực và tình<br /> trạng kinh tế của ngành công nghiệp đánh bắt cá [8].<br /> Nghiên cứu này cùng với nghiên cứu đo lường năng<br /> lực đối với nghề cá ngừ câu vàng ở tỉnh Phú Yên, Việt<br /> Nam được thực hiện bởi Phạm Thị Thanh Bình [2]<br /> và nghiên cứu quá tải cường lực nghề cá quy mô<br /> nhỏ ở Việt Nam của Tô Văn Phương [3] góp phần<br /> cung cấp những thông tin quý báu cho mục tiêu<br /> xây dựng hoàn thiện “Kế hoạch hành động quốc<br /> gia - Năng lực’’ (NPOA - Năng lực) của Chính phủ<br /> Việt Nam.<br /> <br /> 1<br /> <br /> Số 2/2014<br /> II. CƠ SỞ LÝ THUYẾT<br /> 1. Năng lực đánh bắt, hiệu quả kỹ thuật và năng<br /> lực dư thừa<br /> Theo FAO (1998): “năng lực đánh bắt là mức<br /> sản lượng lớn nhất có thể đánh bắt được trong một<br /> đơn vị thời gian của một tàu hay một đội tàu với trữ<br /> lượng vốn đầu tư, các quy định, công nghệ đánh bắt<br /> và tình trạng nguồn lợi cho trước”. Năng lực sử dụng<br /> (CU) là “tỷ số giữa sản lượng quan sát thực tế (Y1)<br /> với mức sản lượng lớn nhất có thể (YC). (CU = Y/YC)”.<br /> CU 1, cho biết mức sản<br /> lượng tiềm năng (phần trăm) có thể gia tăng nếu<br /> tàu vận hành 100% năng lực đánh bắt (không cần<br /> gia tăng thêm đầu vào). Mức sản lượng tiềm năng<br /> được tính bằng cách nhân mức sản lượng quan sát<br /> thực tế với θ1. Năng lực sử dụng (CU) tính bằng tỷ<br /> lệ gữa mức sản lượng thực tế với mức sản lượng<br /> tiềm năng, do đó là 1/ θ1<br /> Từ cách tiếp cận ở trên ta thấy CU có thể bị<br /> giảm xuống bởi vì tử số được sử dụng trong các tính<br /> toán này là đầu ra quan sát, cái mà có thể được tạo<br /> ra trong điều kiện không đạt được hiệu quả về mặt<br /> kĩ thuật. Để đạt được hiệu quả kĩ thuật của đầu ra,<br /> cả yếu tố đầu vào biến đổi và cố định phải được đặt<br /> trong điều kiện đạt hiệu quả về mặt kĩ thuật [16]. Do<br /> đó, thông qua việc so sánh sản lượng đầu ra khi sử<br /> dụng 100% năng lực với mức sản lượng đầu ra khi<br /> sử dụng hiệu quả các yếu tố đầu vào sẽ cho phép ta<br /> tách rời ảnh hưởng của sự phi hiệu quả khi tính CU.<br /> Tỷ số hiệu quả kĩ thuật (θ2) chỉ ra bao nhiêu sản<br /> lượng có thể gia tăng thông qua việc sử dụng tất<br /> của đầu vào (cố định và biến đổi) một cách hiệu quả<br /> được xác định bằng cách giải quyết phương trình<br /> toán học khác như sau: Maxθ, z θ2 với các ràng buộc:<br /> θ2ujm<br /> <br /> ,<br /> <br /> m = 1, 2, … , M,<br /> <br /> (6)<br /> <br /> n = 1, 2,…, N,<br /> <br /> (7)<br /> <br /> j =1, 2,…, J,<br /> <br /> Ở mô hình (II), phương trình (7) thiết lập cho<br /> cả 2 nhân tố đầu vào cố định và biến đổi (có nghĩa<br /> là mô hình (II) thêm vào yếu tố đầu vào biến đổi<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> so với mô hình (I)). Điều này nhấn mạnh rằng, với<br /> điều kiện thêm vào ở mô hình (II) nên θ2 ≤ θ1. θ2 chỉ<br /> ra mức sản lượng đầu ra có thể đạt đến nếu tất cả<br /> các đầu vào đều được sử dụng hiệu quả. Mức sản<br /> lượng đầu ra đạt hiệu quả kĩ thuật chính bằng θ2<br /> nhân với mức sản lượng quan sát. Mức hiệu quả kỹ<br /> thuật của từng tàu đạt được sẽ là TE = u/ θ2u = 1/ θ2<br /> 2.3. Việc sử dụng yếu tố đầu vào biến đổi<br /> Biến đầu vào tối ưu, λjn, là tỷ lệ tối ưu các<br /> biến đầu vào được sử dụng trong quan sát. Giá<br /> trị λjn được lấy từ kết quả của mô hình DEA. Việc<br /> sử dụng biến đầu vào tối ưu là mức đầu vào cung<br /> cấp cho hiệu quả kỹ thuật đầy đủ tại mức năng<br /> lực [17]. Nếu λjn vượt quá giá trị 1.0, chứng tỏ có<br /> sự thiếu hụt của các biến đầu vào thứ i và các tàu<br /> nên mở rộng sử dụng các yếu tố đầu vào. Nếu λjn<br /> là ít hơn giá trị 1.0, chứng tỏ có một dư thừa của<br /> các biến đầu vào thứ i hiện có và tàu nên giảm sử<br /> dụng các yếu tố đầu vào. Nếu λjn bằng 1.0, việc<br /> sử dụng thực tế của biến đầu vào thứ i là sử dụng<br /> tối ưu [12].<br /> 2.4. Mô hình đo lường dư thừa năng lực khai thác<br /> đề xuất<br /> Trong nghiên cứu này chỉ sử dụng yếu tố công<br /> suất tàu, chiều dài tàu, ngày trên biển, số lao động,<br /> năm kinh nghiệm đi biển, chi phí xăng dầu, doanh<br /> thu để đánh giá cường lực đánh bắt vì đây là các<br /> yếu tố đầu vào quan trọng cho đánh giá cường lực<br /> mà người đánh bắt dễ dàng có thể can thiệp vào [6].<br /> Đối với đầu ra, trái ngược với những nghiên cứu<br /> khác thường áp dụng đánh bắt như sản lượng,<br /> nghiên cứu này sử dụng doanh thu như đầu ra.<br /> III. DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU<br /> 1. Dữ liệu nghiên cứu<br /> Đối tượng nghiên cứu là 65 tàu quy mô nhỏ hoạt<br /> động nghề lưới kéo ở hai khu vực Vĩnh Trường và<br /> Vĩnh Lương của thành phố Nha Trang trong hai năm<br /> 2005 và 2006. Dân cư sống trong hai khu vực này<br /> sống chủ yếu dựa vào nghề đánh bắt thủy sản. Các<br /> tàu ở khu vực phường Vĩnh Trường hoạt động ở<br /> các vùng lân cận của 9 đảo thuộc Khu bảo tồn vịnh<br /> Nha Trang. Còn các tàu ở khu vực phường Vĩnh<br /> Lương lại hoạt động trong khu vực đầm Nha Phu ở<br /> phía Bắc thành phố Nha Trang [11]. Với nguồn dữ<br /> liệu được thu thập từ 2 khu vực này, tác giả không<br /> chỉ đánh giá được năng lực đánh bắt, và việc sử<br /> dụng các yếu tố đầu vào của các tàu mà còn chỉ ra<br /> <br /> Số 2/2014<br /> được lợi ích từ việc thành lập các khu bảo tồn biển<br /> trên Vịnh Nha Trang.<br /> Trong thực tế, để đo lường cường lực khai thác<br /> ngoài các yếu tố đầu vào cố định, đầu vào biến đổi,<br /> doanh thu còn phụ thuộc rất nhiều yếu tố khác như:<br /> đặc điểm kết cấu vỏ tàu, trình độ lao động, công<br /> nghệ đánh bắt, trình độ tổ chức sản xuất trên biển,<br /> hợp tác giữa các tàu,…Tuy nhiên, trong nghiên cứu<br /> này chỉ sử dụng yếu tố công suất tàu, chiều dài<br /> tàu, ngày trên biển, số lao động, năm kinh nghiệm<br /> đi biển, chi phí xăng dầu, doanh thu để đánh giá<br /> cường lực đánh bắt vì đây là các yếu tố đầu vào<br /> quan trọng cho đánh giá cường lực mà người đánh<br /> bắt dễ dàng có thể can thiệp vào [6]. Đối với đầu ra,<br /> trái ngược với những nghiên cứu khác thường áp<br /> dụng đánh bắt như sản lượng, nghiên cứu này sử<br /> dụng doanh thu như đầu ra. Lý do là các ngư lưới<br /> kéo được đặc trưng bởi sự thu hoạch với sự phức<br /> tạp của loài, khoảng 20 đến 30 loài có thể được<br /> tìm thấy trong việc đánh bắt. Việc chọn đầu ra và<br /> đầu vào này dựa trên ý kiến của người nuôi và các<br /> chuyên gia.<br /> 2. Phương pháp nghiên cứu<br /> Trong bài viết này đối với mô hình DEA, tác<br /> giả đo lường năng lực, CU và năng lực dư thừa<br /> dựa trên TE. Phần mềm DEA Excel solver được<br /> sử dụng để ước lượng kết quả. Số mẫu nghiên<br /> cứu phù hợp trong nghiên cứu DEA được xác định<br /> theo công thức max(n + m, n*m), với n là số biến<br /> đầu vào và m là số biến đầu ra. Trong nghiên cứu<br /> này số biến đầu vào sử dụng là 6, số biến đầu ra<br /> là 1, do đó số mẫu sử dụng 65 trong nghiên cứu là<br /> phù hợp (15).<br /> IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN<br /> 1. Một số giá trị thống kê của các biến dùng<br /> trong phân tích<br /> Dữ liệu được sử dụng trong phân tích này bao<br /> gồm 6 yếu tố đầu vào (đầu vào cố định và đầu vào<br /> biến đổi) và một đầu ra. Đối với đầu ra, trái ngược<br /> với những nghiên cứu khác thường áp dụng đánh<br /> bắt như sản lượng, nghiên cứu này sử dụng doanh<br /> thu như đầu ra. Lý do là các ngư lưới kéo được đặc<br /> trưng bởi sự thu hoạch với sự phức tạp của loài,<br /> khoảng 20 đến 30 loài có thể được tìm thấy trong<br /> việc đánh bắt. Các yếu tố đầu vào được mô tả qua<br /> bảng 1.<br /> <br /> TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG • 17<br /> <br /> Tạp chí Khoa học - Công nghệ Thủy sản<br /> <br /> Số 2/2014<br /> <br /> Bảng 1. Tổng hợp thống kê mô tả của dữ liệu được dùng trong phân tích<br /> Cả hai năm<br /> Các nhân tố<br /> <br /> Doanh thu (1000 VND)<br /> <br /> Trung bình<br /> <br /> 2005<br /> <br /> Độ lệch<br /> chuẩn<br /> <br /> Trung bình<br /> <br /> 2006<br /> Độ lệch<br /> chuẩn<br /> <br /> Trung bình<br /> <br /> Độ lệch<br /> chuẩn<br /> <br /> 205,834<br /> <br /> 82,966<br /> <br /> 198,547<br /> <br /> 91,746<br /> <br /> 213,120<br /> <br /> 73,139<br /> <br /> Công suất tàu (HP)<br /> <br /> 35.29<br /> <br /> 12.48<br /> <br /> 35.29<br /> <br /> 12.53<br /> <br /> 35.29<br /> <br /> 12.53<br /> <br /> Chiều dài tàu (m)<br /> <br /> 11.64<br /> <br /> 1.84<br /> <br /> 11.64<br /> <br /> 1.84<br /> <br /> 11.64<br /> <br /> 1.84<br /> <br /> 210.85<br /> <br /> 41.05<br /> <br /> 200.18<br /> <br /> 41.61<br /> <br /> 221.52<br /> <br /> 37.86<br /> <br /> 3.08<br /> <br /> 0.74<br /> <br /> 3.17<br /> <br /> 0.80<br /> <br /> 2.98<br /> <br /> 0.67<br /> <br /> 10.38<br /> <br /> 5.75<br /> <br /> 9.89<br /> <br /> 5.74<br /> <br /> 10.88<br /> <br /> 5.76<br /> <br /> 102,261<br /> <br /> 44,621<br /> <br /> 84,510<br /> <br /> 39,623<br /> <br /> 120,013<br /> <br /> 42,463<br /> <br /> Ngày trên biển (ngày)<br /> Số lao động (người)<br /> Năm kinh nghiệm đi biển (năm)<br /> Chi phí xăng dầu (1000 VND)<br /> <br /> Nguồn: Tính toán bởi tác giả. Tỷ lệ chuyển đổi VND/USD (5/2006) là 16.200 VND/USD)<br /> Chú ý: Doanh thu năm 2006 bằng giá trị của năm t2005 nhân với chỉ số giá tiêu dùng - CPI<br /> <br /> 2. Năng lực dư thừa<br /> Doanh thu trung bình được tính trong cả hai năm<br /> là 205.834 ngàn đồng. Trong năm 2005 và 2006, con<br /> Năng lực dư thừa được tính cho mỗi tàu dựa<br /> số này tương ứng là 198.547 và 213.120 ngàn đồng.<br /> trên năng lực và hiệu quả kỹ thuật đầu ra. Năng<br /> Số liệu này cho thấy mức doanh thu ở đây hơi nhỏ<br /> lực đầu ra và hiệu quả kỹ thuật (TE) đã được tính<br /> (so sánh với nghề lưới rê là 851.333 ngàn đồng [1]<br /> toán bằng cách sử dụng hệ số ước tính thu được<br /> hoặc một người đánh cá bằng lưới kéo có một sức<br /> từ kết quả DEA. Các mức năng lực và hiệu quả<br /> mạnh động cơ tương tự (20 -
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2