intTypePromotion=1

Đối chiếu cách thể hiện ý nghĩa công cụ Nga - Việt nhìn từ góc độ ngôn ngữ học ứng dụng

Chia sẻ: ViBoruto2711 ViBoruto2711 | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:8

0
53
lượt xem
3
download

Đối chiếu cách thể hiện ý nghĩa công cụ Nga - Việt nhìn từ góc độ ngôn ngữ học ứng dụng

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Bài viết trình bày một số vấn đề cơ bản như sau: Làm rõ khái niệm ngôn ngữ học ứng dụng, kiến giải ngôn ngữ học đối chiếu có thể coi là thuộc ngôn ngữ học ứng dụng, phân tích đối chiếu ý nghĩa công cụ và phương thức thể hiện ý nghĩa công cụ trong tiếng Nga và tiếng Việt.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Đối chiếu cách thể hiện ý nghĩa công cụ Nga - Việt nhìn từ góc độ ngôn ngữ học ứng dụng

LÝ LUẬN CHUYÊN NGÀNH v<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> ĐỐI CHIẾU CÁCH THỂ HIỆN Ý NGHĨA<br /> CÔNG CỤ NGA - VIỆT NHÌN TỪ GÓC ĐỘ<br /> NGÔN NGỮ HỌC ỨNG DỤNG<br /> ĐOÀN HỮU DŨNG*<br /> *<br /> Học viện Khoa học Quân sự,  doandung8782@gmail.com<br /> Ngày nhận bài: 13/6/2018; ngày sửa chữa: 12/7/2018; ngày duyệt đăng: 30/8/2018<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> TÓM TẮT<br /> Mặc dù Ngôn ngữ học ứng dụng đã từng được đề cập từ rất lâu nhưng phải đến thế kỷ XX mới thực<br /> sự là một địa hạt được chú ý nghiên cứu, phát triển và trở thành một phân ngành quan trọng trong<br /> nghiên cứu ngôn ngữ. Ngôn ngữ học ứng dụng ra đời sau nên đã thừa hưởng những thành tựu của<br /> việc áp dụng lý thuyết ngôn ngữ học vào đời sống ngôn ngữ, đã tạo ra những sản phẩm, những dịch<br /> vụ liên quan đến ngôn ngữ. Trong khuôn khổ của bài viết này chúng tôi trình bày một số vấn đề cơ<br /> bản như sau: 1) làm rõ khái niệm ngôn ngữ học ứng dụng; 2) kiến giải ngôn ngữ học đối chiếu có thể<br /> coi là thuộc ngôn ngữ học ứng dụng; 3) phân tích đối chiếu ý nghĩa công cụ và phương thức thể hiện<br /> ý nghĩa công cụ trong tiếng Nga và tiếng Việt.<br /> Từ khoá: ngôn ngữ học ứng dụng, ngôn ngữ học đối chiếu, công cụ, ý nghĩa ngữ pháp, lỗi<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> 1. ĐẶT VẤN ĐỀ ngoại lệ. Tuy nhiên, do đặc điểm loại hình ngôn<br /> ngữ khác nhau nên việc thể hiện ý nghĩa ngữ pháp<br /> Chức năng của khoa học là đi tìm bản chất, này trong hai ngôn ngữ Nga – Việt vừa có điểm<br /> thuộc tính và quy luật của các hiện tượng và tiến giống nhau vừa có điểm khác biệt. Việc nghiên<br /> hành các ứng dụng nhằm phục vụ cho lợi ích của cứu đối chiếu cách thể hiện ý nghĩa ngữ pháp chỉ<br /> con người. Như vậy, khoa học có hai phương diện công cụ giữa hai ngôn ngữ Nga – Việt có tính hữu<br /> là lý thuyết và ứng dụng. Lý thuyết là đối tượng dụng rất lớn trong nghiên cứu lí thuyết và ứng<br /> của khoa học cơ bản còn ứng dụng lại gắn với kỹ dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn dạy – học.<br /> thuật và công nghệ. Theo đó, phương pháp tiếp cận,<br /> cũng được chia thành hai nhánh là lý thuyết và ứng 2. NỘI DUNG<br /> dụng. Ngôn ngữ học là khoa học về ngôn ngữ nên 2.1. Ngôn ngữ học ứng dụng là gì?<br /> cũng có hai hướng tiếp cận nghiên cứu như vậy.<br /> Trong ngôn ngữ học, ý nghĩa ngữ pháp chỉ công cụ Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng<br /> là một ý nghĩa mang tính phổ quát, và tiếng Nga nhất và là công cụ của tư duy. Nghiên cứu ngôn<br /> với tiếng Việt không phải là những trường hợp ngữ là phải nghiên cứu cả ba phương diện: bản<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 15 - 9/2018 31<br /> v LÝ LUẬN CHUYÊN NGÀNH<br /> <br /> <br /> chất, hệ thống và hoạt động của nó trong tiến trình nhằm đáp ứng với sự thay đổi của công nghệ và<br /> lịch sử và đồng đại (Đinh Văn Đức, 2012, tr.526). trình độ phát triển của xã hội, đặc biệt là cuộc cách<br /> mạng 4.0 đang diễn ra rộng khắp trên toàn thế giới.<br /> Đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học là<br /> bản chất và chức năng của ngôn ngữ, hệ thống và Mục tiêu của ngôn ngữ học ứng dụng là phải<br /> cấu trúc của ngôn ngữ, cơ chế của ngôn ngữ và đạt đến một sự hiểu biết tối ưu, cung cấp một hệ<br /> các hoạt động của ngôn ngữ trong sự tương tác thống tri thức và kỹ năng cơ sở để xử lý các công<br /> của xã hội (Đinh Văn Đức, 2012, tr.526). Nếu như việc hiện có liên quan đến ngôn ngữ. Không có<br /> việc nghiên cứu bản chất, chức năng, hệ thống, cấu một địa hạt đơn lẻ nào của ngôn ngữ học ứng dụng<br /> trúc, cơ chế của ngôn ngữ chỉ dừng lại ở việc miêu có thể bao hàm cho mọi tri thức ứng dụng ngôn<br /> tả ngôn ngữ trên phương diện lí thuyết thì việc ngữ. (Đinh Văn Đức, 2012, tr.532). Hơn thế nữa,<br /> nghiên cứu các hoạt động của ngôn ngữ trong sự trong ngôn ngữ học ứng dụng, mỗi lĩnh vực đều có<br /> tương tác của xã hội được coi là những nghiên cứu sự tham chiếu các lĩnh vực khác trong nghiên cứu<br /> triển khai để tiếp cận các ứng dụng của ngôn ngữ ngôn ngữ. Trong ngôn ngữ học ứng dụng, tính liên<br /> trong đời sống hàng ngày và trong sự phát triển ngành khá đa dạng bao gồm từ khoa học xã hội,<br /> của khoa học như các sáng chế về font chữ trên nhân văn, nghệ thuật, xã hội học, đến toán học ứng<br /> máy tính, các lĩnh vực điều khiển học, lý thuyết dụng, vật lí, điều khiển học, điện tử tin học, công<br /> hệ thống và thông tin ứng dụng, dạy và học ngoại nghệ thông tin, …<br /> ngữ, làm từ điển điện tử,… Việc đưa những thành<br /> tựu của lí thuyết ngôn ngữ học vào đời sống để tạo 2.2. Ngôn ngữ học đối chiếu cũng có thể coi<br /> ra các sản phẩm và dịch vụ liên quan đến sử dụng là thuộc ngôn ngữ học ứng dụng<br /> ngôn ngữ đã hình thành một nhánh chuyên môn<br /> gọi là ngôn ngữ học ứng dụng. Ngôn ngữ học đối chiếu là một phân ngành<br /> ngôn ngữ học nghiên cứu so sánh hai hoặc nhiều<br /> Ngôn ngữ học ứng dụng nên được hiểu là một hơn hai ngôn ngữ bất kì để xác định những điểm<br /> hệ thống học thuật về ngôn ngữ, có đối tượng và giống nhau và khác nhau giữa các ngôn ngữ đó<br /> phương pháp riêng, nhằm tới kết quả của việc áp (Bùi Mạnh Hùng, 2008, tr.9). Như vậy, nhiệm vụ<br /> dụng những kiến thức và phương pháp ngôn ngữ của ngôn ngữ học đối chiếu là phát hiện những nét<br /> học vốn có vào các vấn đề của đời sống ngôn ngữ giống nhau về cấu trúc, chức năng, hoạt động của<br /> thực tế, thực tại (thông qua các sản phẩm và các các phương tiện ngôn ngữ được nghiên cứu, đồng<br /> dịch vụ) (Đinh Văn Đức, 2012, tr.529). Ngôn ngữ thời nó cũng còn chú ý cả cái khác nhau, xác định<br /> học ứng dụng là một hoạt động khoa học thực tiễn và nhận diện chúng, không tính đến vấn đề các<br /> đặc biệt có mục đích hoàn thiện các tiếp xúc ngôn ngôn ngữ được so sánh có quan hệ cội nguồn hay<br /> ngữ trong xã hội. Ngày nay, thuật ngữ ngôn ngữ thuộc cùng một loại hình hay không. Điều này tạo<br /> học ứng dụng tiếp tục được sử dụng để chỉ toàn thành cái đặc trưng của ngôn ngữ học đối chiếu<br /> bộ chuỗi các hoạt động ngôn ngữ dùng các tri thức so với các phân ngành ngôn ngữ học khác. Mục<br /> của ngôn ngữ học để tạo ra các dạng sản phẩm đích của việc thực hiện các nhiệm vụ và nội dung<br /> ngôn từ có lợi cho mọi lĩnh vực có sự tham gia nghiên cứu ấy là nhằm phục vụ cho yêu cầu dạy<br /> của ngôn ngữ. Việc nghiên cứu ngôn ngữ học ứng – học ngoại ngữ, phiên dịch, soạn sách dạy tiếng,<br /> dụng thường tập trung vào một số mảng nội dung từ điển, lý thuyết ngôn ngữ nên tính thực tiễn, tính<br /> lớn là: 1) kí hiệu học ngôn ngữ; 2) giáo dục ngôn ứng dụng của ngôn ngữ học đối chiếu là rất cao.<br /> ngữ; 3) các dịch vụ thông tin ngôn ngữ; 4) quản trị<br /> và tiếp thị các sản phẩm ngôn ngữ (Đinh Văn Đức, Trong việc dạy – học ngoại ngữ, người học<br /> 2012, tr.530). Các địa hạt mới của ngôn ngữ học bao giờ cũng có xu thế áp đặt các thói quen của<br /> ứng dụng hiện nay cũng đang tiếp tục tăng nhanh tiếng mẹ đẻ cho tiếng nước ngoài (Bùi Hiền, 1997,<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 32 Số 15 - 9/2018<br /> LÝ LUẬN CHUYÊN NGÀNH v<br /> <br /> <br /> <br /> tr.47). Hệ quả là sẽ tạo ra lỗi dùng ngoại ngữ do việc biên soạn từ điển. Từ điển là sản phẩm ngôn<br /> chuyển di. Dạy – học ngoại ngữ đương nhiên bao ngữ của ngôn ngữ học; là công cụ để tra cứu, tìm<br /> giờ cũng tạo ra sự tiếp xúc trực tiếp giữa ngoại ngữ kiếm để giúp đỡ chúng ta lấy những thông tin khác<br /> với tiếng mẹ đẻ của người học. Trong sự tiếp xúc nhau về ngữ nghĩa, khoa học, … (Đinh Văn Đức,<br /> ấy luôn luôn bọc lộ sự tương đồng và khác biệt của Nguyễn Văn Chính, Đinh Kiều Châu, 2016, tr.51).<br /> hai ngôn ngữ; và chúng thường xuyên tác động lẫn Đối với từ điển song ngữ, do phải giải thích nghĩa<br /> nhau trong suốt cả quá trình hình thành các kỹ năng và cách dùng của một số lượng rất lớn các đơn vị<br /> giao tiếp bằng tiếng nước ngoài. Người học có thể từ vựng nên những thông tin về các điểm tương<br /> tự giác hoặc không tự giác nhận thấy những chỗ đồng và dị biệt của những đơn vị được coi là tương<br /> giống nhau hoặc khác nhau trong hai ngôn ngữ, đương trong hai ngôn ngữ thường chưa được chi<br /> nhưng bao giờ họ cũng tự cảm thấy được sự dễ tiết và đầy đủ nhưng đó cũng là những đóng góp<br /> dàng hoặc khó khăn trong việc học tập từng hiện hữu dụng rất lớn của ngôn ngữ học đối chiếu.<br /> tượng, từng thao tác của tiếng nước ngoài. Nghiên<br /> cứu đối chiếu có thể giúp xác định chính xác Như vậy, các phạm vi ứng dụng của ngôn ngữ<br /> những thuận lợi và khó khăn mà những học viên học đối chiếu rất rộng lớn và đa dạng, trong đó<br /> có cùng tiếng mẹ đẻ gặp phải khi học một ngoại ứng dụng vào lĩnh vực dạy-học ngôn ngữ, biên<br /> ngữ nào đó bằng cách phát hiện những điểm tương soạn từ điển hay dịch thuật … chỉ là một số hướng<br /> đồng và khác biệt giữa hai ngôn ngữ. Sự phân tích cơ bản và chiếm vị trí khá khiêm tốn trong tương<br /> đối chiếu giúp người ta giải thích nhanh hơn và quan với các hướng ứng dụng nói chung của lĩnh<br /> đơn giản hơn những lỗi do ảnh hưởng của tiếng vực nghiên cứu này. Dưới đây, để làm sáng tỏ hơn<br /> mẹ đẻ, nhờ đó tìm ra những cách thức khắc phục vấn đề hữu quan, chúng tôi sẽ phân tích một vài<br /> lỗi có hiệu quả. Đây được coi là vấn đề trung tâm khía cạnh có tính chất ứng dụng của ngôn ngữ học<br /> của ngôn ngữ học đối chiếu theo hướng ứng dụng. đối chiếu trong khi đối chiếu ý nghĩa công cụ và<br /> phương thức thể hiện nghĩa công cụ trong tiếng<br /> Một mảng ứng dụng lớn nữa của ngôn ngữ Nga và tiếng Việt.<br /> học đối chiếu có liên quan đến hoạt động phiên<br /> dịch, vì công việc phiên dịch cũng cùng một lúc 2.3. Ý nghĩa công cụ và phương thức thể<br /> phải quan hệ với ít nhất hai ngôn ngữ. Lý luận dịch hiện trong tiếng Nga và tiếng Việt dưới góc độ<br /> ngôn ngữ xem xét việc dịch như là một sự chuyển ngôn ngữ học ứng dụng<br /> mã, là một sự cải biến giữa các ngôn ngữ, là một<br /> hoạt động sáng tạo ngôn ngữ từ văn bản gốc ra Việc nghiên cứu đối chiếu các ngôn ngữ có thể<br /> bản dịch (Lê Quang Thiêm, 2008, tr.57). Quá trình thực hiện ở tất cả các bình diện: ngữ âm, từ vựng,<br /> dịch được xem là quá trình cải biến giữa hai ngôn ngữ pháp (hình thái học và cú pháp); ở tất cả các<br /> ngữ, trong đó nội dung của bản gốc và bản dịch đơn vị thuộc các cấp độ khác nhau của cấu trúc<br /> hoàn toàn giống nhau mặc dù phương tiện biểu đạt ngôn ngữ: âm vị, hình vị, từ và các đơn vị của lời<br /> của hai ngôn ngữ có khác nhau. Quá trình so sánh nói: ngữ đoạn và câu. Nghĩa là bình diện nào, cấp<br /> đối chiếu bản dịch với bản gốc là cơ sở để đánh giá độ nào của hệ thống ngôn ngữ và của lời nói có<br /> kết quả dịch. Quá trình này giúp chỉ ra cách thức thể miêu tả thì cũng có thể nghiên cứu đối chiếu.<br /> để đạt được cách dịch, xác lập những tương ứng Trong tất cả các bình diện trên, so với đối chiếu<br /> mang tính quy luật giữa các yếu tố của hai ngôn ngữ âm và từ vựng thì việc nghiên cứu đối chiếu ở<br /> ngữ. Đây là những yếu tố rất thiết thực đối với hoạt bình diện ngữ pháp phong phú và đa dạng hơn, nó<br /> động thực tiễn dịch thuật. có thể là các đơn vị, các lớp ngữ pháp, các cấu trúc<br /> ngữ pháp, các quan hệ và phạm trù ngữ pháp cũng<br /> Ngôn ngữ học ứng dụng luôn chú ý đến các như những phương tiện biểu hiện các quan hệ và<br /> loại sản phẩm công cụ hỗ trợ, và một trong đó là phạm trù này. Để làm rõ hơn những điểm trên đây,<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 15 - 9/2018 33<br /> v LÝ LUẬN CHUYÊN NGÀNH<br /> <br /> <br /> chúng ta có thể phân tích một đối chiếu cụ thể để Các danh động từ:<br /> làm minh chứng: đó là đối chiếu ý nghĩa ngữ pháp<br /> chỉ công cụ và phương thức thể hiện trong tiếng Рубка топором (chẻ, chặt bằng rìu)<br /> Nga và tiếng Việt.<br /> Размахивание руками (khoa chân múa tay)<br /> Ý nghĩa công cụ trong ngữ pháp gần như một<br /> phổ niệm ngôn ngữ gặp trong hầu khắp mọi thứ (Các ví dụ dẫn theo I.M. Punkina, 1983, tr.98)<br /> tiếng. Nhưng cách biểu hiện ý nghĩa công cụ trong<br /> Ngoài phương thức phụ tố, trong tiếng Nga, ý<br /> mỗi ngôn ngữ có thể khác nhau, do đặc điểm loại<br /> nghĩa ngữ pháp chỉ “công cụ” còn được thể hiện<br /> hình và cấu trúc ngữ pháp cụ thể của chúng quy<br /> thông qua các giới từ ở hầu hết các cách, tức là, thể<br /> định. Theo chúng tôi, ý nghĩa ngữ pháp công cụ là<br /> hiện bằng cách kết hợp cả hai phương thức hư từ<br /> một loại ý nghĩa ngữ pháp của phạm trù ngữ pháp<br /> công cụ, biểu thị cách thức, phương thức, phương và phương thức phụ tố:<br /> tiện để thực hiện một hành động nào đó nhằm một<br /> - giới từ из và с + cách 2: кормить ребенка<br /> mục đích nào đó và được thể hiện chủ yếu bằng<br /> с ложечки (кашей), пить из стакана воду, …<br /> phương thức hư từ, phụ tố và trật tự từ.<br /> - giới từ по + cách 3: разговаривать по<br /> Tiếng Nga thuộc loại hình ngôn ngữ hoà kết<br /> телефону, …<br /> nên ý nghĩa ngữ pháp chỉ công cụ chủ yếu được<br /> thể hiện bằng phương thức phụ tố và phương thức - giới từ в, на, через, о + cách 4: закутаться<br /> sử dụng hư từ. Phương thức phụ tố là phương thức в одеяло, ловить рыбу на удочку, говорить<br /> hoặc là liên kết vào căn tố một hoặc một vài phụ<br /> через микрофон, разбить яйцо о стол, …<br /> tố, hoặc là biến đổi hậu tố từ hình thức này sang<br /> hình thức khác để biểu hiện một ý nghĩa ngữ pháp - giới từ с và под + cách 5: идти под зонтом,<br /> nhất định. Trong tiếng Nga, phương thức phụ tố идти с палкой, …<br /> thể hiện ý nghĩa ngữ pháp chỉ “công cụ” và các<br /> quan hệ ngữ pháp hữu quan nằm ở việc biến đổi - giới từ в và на + cách 6: читать книгу в<br /> hình thức của danh từ để nó có hình thức của danh очках, ехать на параходе, …<br /> từ ở cách công cụ (thường quen gọi tắt là cách<br /> 5) mà không cần sử dụng giới từ. Ví dụ: danh từ Các hậu tố của danh từ sẽ được biến đổi theo<br /> giống đực và giống trung, số ít sẽ mang các hậu tố: quy luật biến đổi chung của các danh từ ở các cách<br /> -ом, -ем; danh từ giống cái, số ít sẽ mang các hậu tương ứng mà giới từ đó quy định. Mặc dù có rất<br /> tố: -ой, -ей; danh từ số nhiều sẽ mang các hậu tố: nhiều giới từ thể hiện ý nghĩa ngữ pháp chỉ công<br /> -ами, -ями. cụ nhưng giới từ с + cách 5 và giới từ в/на + cách<br /> 6 là được sử dụng với tần suất cao hơn cả.<br /> Ví dụ:<br /> Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập,<br /> Ученик пишет на доске мелом, вытирает các ý nghĩa ngữ pháp không biểu hiện ở bên trong<br /> доску тряпкой. (Cậu học sinh viết trên bảng bằng từ mà bên ngoài từ, nên việc thể hiện ý nghĩa ngữ<br /> phấn, lau bảng bằng giẻ.)<br /> pháp chỉ công cụ chủ yếu được thể hiện bằng<br /> Отец рубит топором дрова. (Bố chẻ củi phương thức hư từ và phương thức trật tự từ. Một<br /> bằng rìu.) số hư từ chủ yếu có chức năng biểu hiện quan hệ<br /> ngữ pháp và/hoặc ý nghĩa ngữ pháp chỉ công cụ,<br /> Женщина разрезала ножницами кусок phương tiện trong tiếng Việt là: bằng, qua, nhờ,<br /> ткани. (Người phụ nữ cắt mảnh vải bằng kéo.) với, dựa vào, dựa, thông qua,…<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 34 Số 15 - 9/2018<br /> LÝ LUẬN CHUYÊN NGÀNH v<br /> <br /> <br /> <br /> - bằng: ăn bằng đũa, đi bằng nạng, đào bằng Xét một số ví dụ sau:<br /> cuốc, làm bằng tay, đá bóng bằng chân, đỡ bóng<br /> bằng ngực, ghi bàn bằng đầu,… (1) Cầu thủ số 10 đỡ bóng bằng ngực.<br /> <br /> - qua: biết tin qua báo đài, trao đổi thông tin (2) Con tôi cắt giấy bằng kéo.<br /> qua email, gửi ảnh qua zalo, gửi lời chúc qua thầy<br /> (3) Hắn giết người bằng dao.<br /> đến gia đình,…<br /> (4) Cô ấy viết báo cáo bằng máy tính bảng.<br /> - nhờ: đi học nhờ xe buýt, cầu vững nhờ dây<br /> cáp, lên núi nhờ cáp treo, nhờ giời mà mùa màng (5) Nó che miệng bằng tay.<br /> bội thu,…<br /> (6) Ông ta tố cáo cấp trên bằng thư nặc danh.<br /> - thông qua: làm việc thông qua internet, hội<br /> đàm thông qua phiên dịch, thể hiện lập trường Ý nghĩa ngữ pháp chỉ công cụ trong các câu<br /> thông qua người phát ngôn,… trên được thể hiện bằng phương thức sử dụng hư từ<br /> bằng kết hợp với các danh từ biểu đạt ý nghĩa công<br /> - dựa/dựa vào: sống dựa vào lương hưu, thăng cụ để thực hiện các hành động của vị từ. Các hư từ<br /> tiến dựa vào quan hệ, sống dựa con cháu… đó luôn đứng sau vị từ. Tuy nhiên, nếu đảo danh<br /> từ mang ý nghĩa chỉ công cụ lên trước vị từ và kết<br /> - tựa/nương tựa: tuổi già nương tựa con cháu, hợp với một thực từ (chủ yếu là hai vị từ dùng và<br /> đứng tựa cửa,… lấy) chúng ta sẽ tạo ra được một cấu trúc câu mới<br /> vẫn mang ý nghĩa chỉ công cụ mà lại không cần sử<br /> Các hư từ trên biểu hiện ý nghĩa quan hệ về<br /> dụng đến hư từ bằng. Đó là:<br /> mặt công cụ giữa vị từ hành động và các bổ ngữ.<br /> Công cụ ở đây có thể là một sự vật, một vật thể (1’) Cầu thủ số 10 lấy ngực đỡ bóng.<br /> cụ thể (đũa, nạng, cuốc, báo đài, xe buýt, cáp<br /> treo,…), đó cũng có thể là những sự vật mang tính (2’) Con tôi dùng kéo cắt giấy.<br /> trừu tượng (zalo, internet, email, lương hưu, quan<br /> hệ, giời,…), đó cũng có thể là chính con người (3’) Hắn dùng dao giết người.<br /> hoặc một bộ phận cơ thể con người (phiên dịch,<br /> thầy, chân, tay, ngực, đầu,…) (4’) Cô ấy sử dụng máy tính bảng viết báo cáo.<br /> <br /> Một trong những đặc điểm bản chất của tín (5’) Nó dùng/lấy tay che miệng.<br /> hiệu ngôn ngữ là tính hình tuyến, nghĩa là các tín (6’) Ông ta dùng thư nặc danh tố cáo cấp trên.<br /> hiệu ngôn ngữ không thể đồng thời xuất hiện, mà<br /> phải lần lượt kế tiếp nhau trong chuỗi lời nói (Đỗ Các câu (1), (2), (3), (4), (5), (6) và (1’), (2’),<br /> Hữu Châu, Bùi Minh Toán, 2011, tr.87). Điều này (3’), (4’), (5’), (6’) có thể áp dụng để kiểm chứng<br /> có nghĩa là, trật tự sắp xếp các tín hiệu cũng có vai lẫn nhau trong việc xác định ý nghĩa ngữ pháp chỉ<br /> trò là một phương tiện biểu hiện, và để biểu hiện công cụ trong câu. Chúng đều có giá trị về nghĩa<br /> ý nghĩa ngữ pháp chỉ công cụ, trật tự sắp xếp các và ngữ pháp, do đó có thể khẳng định, việc thay<br /> từ cũng được sử dụng với tư cách là một phương đổi trật tự từ (bằng cách đảo vị từ trung tâm ra<br /> thức. Phương thức trật tự từ biểu đạt ý nghĩa ngữ sau danh từ chỉ công cụ và không cần sử dụng hư<br /> pháp chỉ công cụ được sử dụng chủ yếu trong ngôn từ chỉ công cụ) là một phương thức ngữ pháp thể<br /> ngữ đơn lập như tiếng Việt mà rất hiếm khi được hiện ý nghĩa ngữ pháp chỉ công cụ trong tiếng Việt.<br /> sử dụng trong ngôn ngữ có biến đổi hình thái như Có thể, việc đảo này chỉ áp dụng được cho nhóm<br /> tiếng Nga. những vị từ động có tiền giả định nét nghĩa đỏi<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 15 - 9/2018 35<br /> v LÝ LUẬN CHUYÊN NGÀNH<br /> <br /> <br /> hỏi công cụ mà hai vị từ dùng và lấy là điển hình. ngữ pháp chỉ công cụ là một phương thức chung<br /> Phương thức đảo như này hoàn toàn không xảy ra mà cả tiếng Nga lẫn tiếng Việt đều sử dụng với tần<br /> trong tiếng Nga. suất cao, còn việc dùng hư từ nào là chính để phục<br /> vụ cho biểu đạt ý nghĩa này lại là điểm khác biệt<br /> Như vậy, ý nghĩa ngữ pháp chỉ công cụ trong nhỏ giữa hai ngôn ngữ.<br /> tiếng Nga và tiếng Việt có điểm tương đồng và<br /> cũng có điểm dị biệt. Tiếng Nga và tiếng Việt là Tóm lại, ý nghĩa ngữ pháp chỉ công cụ là sự<br /> hai ngôn ngữ điển hình cho hai loại hình khác nhau phản ánh những kết quả của nhận thức và tư duy<br /> là loại hình ngôn ngữ hoà kết và loại hình ngôn vào ngôn ngữ, ở đây là hai ngôn ngữ khác loại<br /> ngữ đơn lập. Điều này lí giải một cách hiển nhiên hình là tiếng Nga và tiếng Việt. Trong cả hai ngôn<br /> về các điểm khác biệt trong các phương thức ngữ ngữ Nga và Việt, ý nghĩa ngữ pháp chỉ công cụ đều<br /> pháp nói chung và trong các phương thức thể hiện được diễn đạt bằng những hình thức chung có tính<br /> ý nghĩa ngữ pháp chỉ công cụ nói riêng. Phương đồng loạt. Phương thức thể hiện ý nghĩa ngữ pháp<br /> thức phụ tố chủ yếu được sử dụng trong các ngôn chỉ công cụ trong tiếng Nga chủ yếu là phương<br /> ngữ có biến đổi hình thái, mà tiếng Nga là điển thức phụ tố, do đây là loại hình ngôn ngữ có biến<br /> hình, do vậy, ý nghĩa ngữ pháp chỉ công cụ trong đổi hình thái, còn phương thức thể hiện ý nghĩa ngữ<br /> tiếng Nga cũng chủ yếu được thể hiện bằng phương pháp chỉ công cụ chỉ có trong tiếng Việt mà không<br /> thức phụ tố. Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ xuất hiện trong tiếng Nga là phương thức trật tự từ.<br /> đơn lập, từ không biến đổi hình thái. Mối quan hệ Tuy nhiên, trong cả tiếng Nga lẫn tiếng Việt vẫn có<br /> giữa các từ ở trong câu, chức năng cú pháp của các chung một phương thức thể hiện ý nghĩa ngữ pháp<br /> từ trong câu không được biểu hiện bằng hình thái chỉ công cụ, là phương thức hư từ. Tiếng Nga chủ<br /> của từ. Chính vì thế, trong tiếng Việt sẽ không tồn yếu là dùng các giới từ ở các cách, tiếng Việt dùng<br /> tại phương thức phụ tố với tư cách là một phương các hư từ mang ý nghĩa chỉ công cụ của hành động.<br /> thức ngữ pháp thể hiện ý nghĩa chỉ công cụ. Ứng dụng của việc nghiên cứu đối chiếu ý nghĩa<br /> ngữ pháp “công cụ” và các phương thức thể hiện<br /> Trong tiếng Nga “trật tự từ trước hết có vai trò chúng trong tiếng Nga và tiếng Việt là để phát hiện<br /> về tu từ, chứ không phải về ngữ pháp” (Đỗ Hữu những sự giống nhau và khác nhau, các điểm khác<br /> Châu, Bùi Minh Toán, 2011, tr.87), trái lại, trong biệt và tương đồng, làm cơ sở nghiên cứu các lỗi<br /> tiếng Việt, nếu ta thay đổi trật tự sắp xếp của các thường gặp trong việc dạy-học tiếng Nga và tiếng<br /> từ trong một câu thì trước hết là ý nghĩa ngữ pháp Việt như một ngoại ngữ.<br /> của các từ đó thay đổi; sau đó mới có thể là những<br /> chức năng phong cách học, tu từ học nào đó. Như Theo Nguyễn Thiện Nam (2001), trong quá<br /> vậy, ý nghĩa ngữ pháp chỉ công cụ thể hiện bằng trình học một ngoại ngữ thường phát sinh một số<br /> phương thức trật tự từ sẽ chủ yếu xảy ra trong tiếng dạng lỗi như: lỗi các yếu tố thuộc ngữ đoạn danh<br /> Việt mà không tồn tại trong tiếng Nga với tư cách từ, lỗi các yếu tố thuộc ngữ đoạn vị từ, lỗi thuộc<br /> là một phương thức ngữ pháp. một số hiện tượng ngữ pháp, lỗi giao thoa, lỗi dùng<br /> từ loại, lỗi trật tự từ, lỗi dùng giới từ, lỗi dùng từ<br /> Phương thức hư từ được sử dụng rộng rãi ở cả do giao thoa,… Trong số đó, lỗi thường xuyên mắc<br /> ngôn ngữ biến hình lẫn ngôn ngữ đơn lập, tức là phải của người Việt học tiếng Nga là lỗi về sử dụng<br /> hiện diện cả trong tiếng Nga lẫn tiếng Việt, cho dù giới từ chỉ công cụ. Đây là lỗi rất cơ bản, thường<br /> đây là hai ngôn ngữ hoàn toàn khác nhau về loại xuyên xảy ra đối với người mới học do hiện tượng<br /> hình, về ngữ hệ, … Đây được coi là điểm tương trực dịch (literal translation), có nghĩa là: người<br /> đồng về phương thức thể hiện ý nghĩa ngữ pháp học dịch từng từ theo ngữ pháp tiếng mẹ đẻ (dựa<br /> chỉ công cụ trong cả hai ngôn ngữ, tuy nhiên, mỗi vào hiện tượng chuyển di). Khi học và dịch một<br /> ngôn ngữ lại có cách sử dụng hư từ riêng trong câu, một cụm từ có giới từ từ tiếng Nga sang tiếng<br /> việc biểu đạt. Việc dùng hư từ để biểu đạt ý nghĩa Việt, người học thường dịch quá sát nghĩa, hiểu<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 36 Số 15 - 9/2018<br /> LÝ LUẬN CHUYÊN NGÀNH v<br /> <br /> <br /> <br /> quá sát nghĩa nên dẫn tới những cách hiểu và sử chấp nhận phần nào đó các câu lệch chuẩn của<br /> dụng chưa chuẩn do giới từ chỉ công cụ trong tiếng người học ngoại ngữ. Vì vậy, người dạy không nên<br /> Nga có mặt ở tất cả các cách. Ngược lại, khi học và quá sa đà vào việc tạo chuẩn cho người học trong<br /> chuyển dịch từ tiếng Việt sang tiếng Nga, việc dùng quá trình học thực hành tiếng, như thế sẽ làm mất<br /> hay không dùng giới từ cũng là điều mà người Nga đi tính tự nhiên trong giao tiếp bằng ngoại ngữ,<br /> học tiếng Việt thường xuyên mắc phải và tạo ra ảnh hưởng đến năng lực sử dụng ngoại ngữ trong<br /> những lệch chuẩn không đáng có. Trên thực tế đã quá trình thực hành. Việc tự khắc phục lỗi sử dụng<br /> có rất nhiều trường hợp vì hiểu và dịch sát nghĩa lệch chuẩn (ở đây là giới từ chỉ công cụ) nên để<br /> quá nên tạo ra những phương án dịch ngây thơ cho người học tự tìm hiểu qua từ điển và các sách<br /> kiểu như: стрелять из ружья (пулями) => bắn tra cứu ngữ pháp trong thời gian tự học ở nhà hay<br /> từ súng, кормить ребенка с ложечки (кашей) => trên thư viện, để cho người học tự nhận biết, sửa<br /> cho bé ăn cháo từ thìa, играть пьесу по нотам và hoàn thiện trong quá trình dịch (đặc biệt là biên<br /> => đánh đàn theo ngón tay, разговаривать<br /> dịch vì gần như người biên dịch sẽ phải đọc lại bản<br /> по телефону => nói chuyện theo điện thoại,<br /> thảo lần cuối để chỉnh sửa, trau chuốt câu từ).<br /> ловить рыбу на удочку => câu cá đến cần câu,<br /> закутаться в одеяло => quấn người vào chăn, 3. KẾT LUẬN<br /> говорить через микрофон => nói chuyện thông<br /> qua tai nghe, вытирать руки о полотенце => lau Trong khuôn khổ của bài viết này, dưới góc<br /> tay về khăn, идти под зонтом => đi dưới ô, идти độ nghiên cứu đối chiếu một hiện tượng ngữ pháp<br /> с палкой => đi với nạng, ехать в автобусе => đi trong tiếng Nga và tiếng Việt, chúng tôi cố gắng<br /> trong xe buýt, спускаться на парашюте => nhảy nhận diện một số nét cơ bản của việc ứng dụng<br /> trên dù, читать книгу в очках => đọc sách trong kết quả nghiên cứu trong dạy và học ý nghĩa ngữ<br /> kính, плавать в ластах => bơi trong áo phao… pháp chỉ công cụ trong tiếng Việt và tiếng Nga,<br /> (Муравенко Е.В., 1988, tr.77). Nguyên nhân của phát triển tri thức ngữ pháp, rèn luyện kỹ năng<br /> các hiện tượng lệch chuẩn trên là: thông thường ngôn ngữ, ngăn ngừa và sửa lỗi trong quá trình<br /> trong tiếng Nga, các giới từ из và с ở cách 2 (sinh học, trong dịch thuật cũng như biên soạn từ điển.<br /> cách) có ý nghĩa chỉ nguồn xuất phát hành đồng;<br /> Việc có thể ứng dụng những vấn đề về đối chiếu<br /> giới từ по ở cách 3 (tặng cách) có ý nghĩa chỉ sự<br /> ngôn ngữ, cụ thể là đối chiếu ý nghĩa ngữ pháp<br /> vỗ, đập, đánh vào một vật nào đó; giới từ на và в<br /> chỉ công cụ trong hai ngôn ngữ như chúng tôi đã<br /> ở cách 4 (tân cách) thường có ý nghĩa chỉ hướng<br /> trình bày trên đây, là rõ ràng. Còn ứng dụng như<br /> hành động; giới từ через ở cách 4 mang ý nghĩa<br /> thế nào, ứng dụng cho địa hạt nghiên cứu nào là<br /> thông qua ai, nhờ vào cái gì đó; giới từ о ở cách 6<br /> (giới cách) chỉ đối tượng của suy nghĩ; giới từ под việc lựa chọn theo nhu cầu, nhiệm vụ và mục đích<br /> ở cách 5 (công cụ cách) chỉ địa điểm; giới từ с ở cụ thể của các nhà nghiên cứu, nhà sư phạm, của<br /> cách 5 chỉ sự cùng hành động; các giới từ в và на những người tham gia xây dựng từ điển và của<br /> ở cách 6 thường mang ý nghĩa chỉ địa điểm;… Khi chính những người học hai ngôn ngữ Nga và Việt.<br /> học người học đã không căn cứ vào các văn cảnh, Tài liệu tham khảo:<br /> tình huống giao tiếp cụ thể để có phương án dịch<br /> phù hợp, trái lại, chỉ căn cứ vào các ý nghĩa thông Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (2011), Đại cương ngôn<br /> dụng của từng giới từ ở từng cách để dịch nên dẫn ngữ học (tập 1), NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.<br /> đến các hiện tượng lệch chuẩn như trên. Đoàn Hữu Dũng (2018), “Sự thể hiện ý nghĩa ngữ pháp<br /> chỉ công cụ trong tiếng Nga và tiếng Việt”, Tạp chí<br /> Vậy khắc phục hiện tượng này như nào? Hiện<br /> Khoa học Ngoại ngữ Quân sự, số 13, tr.23-28.<br /> nay, theo quan điểm của chúng tôi, việc xuất hiện<br /> lỗi như trên là một hiện tượng hoàn toàn tự nhiên Đinh Văn Đức (2012), Ngôn ngữ học đại cương - Những<br /> trong quá trình học ngoại ngữ và người dạy cần nội dung quan yếu, NXB Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.<br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> Số 15 - 9/2018 37<br /> v LÝ LUẬN CHUYÊN NGÀNH<br /> <br /> <br /> Đinh Văn Đức, Nguyễn Văn Chính, Đinh Kiều Châu liên quan”, Luận án Tiến sĩ, trường Đại học Khoa<br /> (2016), Ngôn ngữ học ứng dụng (giáo trình), NXB học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.<br /> Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.<br /> Lê Quang Thiêm (2008), Nghiên cứu đối chiếu các<br /> Nguyễn Thiện Giáp, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Minh ngôn ngữ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.<br /> Thuyết (2014), Dẫn luận ngôn ngữ học, NXB Giáo<br /> I. M. Punkina (1983), Tóm lược ngữ pháp tiếng Nga,<br /> dục Việt Nam, Hà Nội.<br /> (Bùi Hiền dịch), NXB Tiếng Nga, Mát-xcơ-va.<br /> Bùi Hiền (1997), Phương pháp hiện đại dạy học ngoại<br /> ngữ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. Муравенко Е.В. (1988). Выражение<br /> инструментального значения падежными<br /> Bùi Mạnh Hùng (2008), Ngôn ngữ học đối chiếu, NXB и предложно-падежными формами//<br /> Giáo dục, Hà Nội. Идеографические аспекты русской грамматики/<br /> Nguyễn Thiện Nam (2001), “Khảo sát lỗi ngữ pháp Под. ред. В.А. Белошапковой и И.Г.<br /> tiếng Việt của người nước ngoài và những vấn đề Милославского. - М.: Изд-в МГУ, С. 75-94.<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> A COMPARATIVE STUDY ON EXPRESSIONS OF INSTRUMENTAL MEANING<br /> IN RUSSIAN AND VIETNAMESE FROM THE PERSPECTIVE<br /> OF APPLIED LINGUISTICS<br /> DOAN HUU DUNG<br /> Abstract: Applied linguistics had already been discussed for many years. However, not until the 20th<br /> century was it studied, developed and expanded to become an important topic of research. Thanks to<br /> its late emergence, applied linguistics inherits various achievements in applying linguistic theory into<br /> reality, creating spoken and written produts and other related services. Within its limited framework,<br /> this article aims to: 1) clarify the definition of applied linguistics; 2) discuss whether contrastive<br /> linguistics could be regarded as an aspect of applied linguistics; 3) analyze instrumental meaning and<br /> its expression in Russian and Vietnamese<br /> Keywords: Applied lingguistics, contrastive linguistics, instruments, grammatical meaning, errors<br /> Received: 02/3/2018; Revised: 11/4/2018; Accepted for publication: 20/4/2018<br /> <br /> <br /> <br /> <br /> KHOA HỌC NGOẠI NGỮ QUÂN SỰ<br /> 38 Số 15 - 9/2018<br />
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2