ĐỐI CHIẾU CẤP ĐỘ NGỮ PHÁP
1. Hệ thống ngữ pháp dưới góc độ ngôn ngữ học đối chiếu
- Hệ thống ngữ pháp là hệ thống bao trùm lên tất cả các cấp độ ngôn ngữ nên việc
đối chiếu các hệ thống ngữ pháp có thể thực hiện trên nhiu cấp độ khác nhau.
Thực tế có nhiều nhà nghiên cứu đã từ bỏ khái nim ngữ pháp mà sử dụng khái
nim ngữ kết, lĩnh vực nghiên cứu về tất cả các mi quan hệ của mọi đơn vị ngôn
ngữ, từ ngữ âmm vị đến văn bản.
- Theo khái nim truyn thống thì ngữ pháp bao gm hai bộ phn chính là: Hình
thái học và Cú pháp học. Tuy nhiên, khái nim Hình thái học không phù hp lắm
với những ngôn ngữ không biến hình nên thường được thay thế bằng tên gi Cấu
tạo từ hay Từ pháp học, những khái niệm liên quan nhiều hơn đến cấp độ từ vựng.
- Do vy, khi đối chiếu các hệ thống ngữ pháp, cần xác định rõ các đối tượng đối
chiếu c thể, xem đó là nhng yếu tố của cấp độ nào, tránh ln lộn các cấp độ ngôn
ngữ. Cấp độ ngữ pháp không phải bao giờ cũng cao n cấp độ từ vựng mà ch
yếu là cp độ liên quan đến việc kết hợp c đơn vị ngôn ngữ.
2. Các cấp độ trong đối chiếu ngữ pháp
2.1. Cấp độ hình thái học
- Hình v ngữ pháp
Hình vngữ pháp được coi là đơn vị nhnhất ca ngữ pháp. Đây là các phương
tin để thể hiện các ý nghĩa ngữ pháp cũng như các mi quan hệ cú pháp. Hình v
ngữ pháp trong các ngôn ngữ không biến hình có thhoạt động vi tư cách
những từ độc lập và có thể có nhiều chức năng n khi đối chiếu các hình vngữ
pháp, cn u được chức năng ngữ pháp của chúng. Ví dụ: những trong tiếng Việt
chỉ có chức năng ngữ pháp khi dùng để biu thị số nhiều ( dụ: những hoạt động),
nhưng sẽ là hình v từ vựng khi dùng để nhấn mạnh ( dụ: ăn hết những một con
gà). Đặc bit, trong các ngôn ngữ không biến hình, ranh gii giữa từ và hình v
nhiều khi không rõ ràng nên người ta thường dùng khái nim từ hư (hoặc hư từ)
khi nói đến hình vị ngữ pháp.
Đối chiếuc hình vngữ pháp có thể phát hiện được những khác biệt v thuộc
tính của các hình vngữ pháp như: quan hệ giữa hình v ngữ pháp và âm tiết (có
hình vnhỏ hơn âm tiết hay không), quan hệ giữa hình vngữ pháp và từ, khả năng
biến đổi hình thái, khnăng biu thịc ý nghĩa ngữ pháp như từ loại, giống, số,
ngôi, thi…, mức độ hòa kết chức năng biểu thị ý nghĩa ngữ pháp trong hình v, vị
trí của hình vị ngữ pháp trong từ hoặc ngoài từ…
- Các ý nghĩa ngữ pháp và phạm trù ngữ pháp
+ Có ba loại ý nghĩa ngữ pháp: ý nghĩa hình thái, ý nghĩa chức năng và ý nghĩa t
loi. Ý nghĩa hình thái cho ta biết kiểu cấu tạo và hệ biến đổi hình ti của từ. Ý
nghĩa chức năng cho ta biết chức năng ngữ pháp ca từ trong cụm từ và câu. Ý
nghĩa từ loại cho ta biết khả năng đảm nhận các chức năng ngữ pháp của từ. Trong
các ngôn ngthể có sự khác nhau tương đối lớn về cách thể hiện các loại ý
nghĩa ngữ pháp này. Chng hn, tiếng Vit không có sự biến đổi hình thái của các
hình vhoặc từ để thể hiện các ý nghĩa như cách, số, thời, ngôi, thức, do đó các ý
nghĩa này phải được thể hiện bằngc từ/hình v được ngữ pháp hóa, dụ: của
vốn là danh từ nhưng được ngữ pháp hóa thành giới từ để thể hin ý nghĩa cách (sở
hữu cách).
+ Các ý nghĩa ngữ pháp có thể được khái quát hóa thànhc phm trù ng pháp.
Số lượng và chất lượng các phm trù ngữ pháp trong các ngôn ngữ có thể không
giống nhau. Ví dụ: Tiếng Việt không có phạm trù ging, trong tiếng Pháp có phạm
trù ging nhưng không có giống trung như tiếng Nga. Nhiều ngôn ngữ có phạm trù
số nhưng không có số đôi. Ngay cả những ý nghĩa ngữ pháp có tính phổ quát như ý
nghĩa từ loại các ngôn ngữ cũng rất khác nhau. Chng hn, so sánh từ loại ca
tiếng Việt và tiếng Anh, ta có thể phát hiện ra những sự khác biệt về số lượng từ
loi (trong tiếng Anh có trạng từ nhưng tiếng Việt không có), về thuộc tính của từ
loi ( dụ: trong tiếng Nga, từ loại biến đổi theo giống, số, cách, còn tiếng Việt
danh tbiến đổi hình thức để thể hiện thái độ, tình cm). Cách thể hiện từ loại
cũng không giống nhau. Các ngôn ngữ biến hình thhiện ý nghĩa từ loại thông qua
hình vngữ pháp nhưng các ngôn ngữ không biến hình chỉ có thể xác định từ loại
của từ thông qua khả năng kết hợp của từ với các từ khác. Giữa các ngôn ngữ còn
có sự khác bit về kh năng chuyển đổi từ loại của các từ. dụ: Danh từ tiếng
Việt có thể chuyn thành tính từ hay động từ có thể biến thành danh từ (ví dụ: mưa,
thay đổi), trong khimột ngôn ngữ khác từ có thể không có khả năng này.
- Các phương thức ngữ pháp
+ Sự khác biệt về cách thể hin ý nghĩa ngữ pháp (tức là phương thức ngữ pháp) là
sở quan trọng nhất để phân biệt loại hình ngôn ngữ. Loại hình ngôn ngữ được
coi là tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ khó khăn trong việc học một ngoại
ngữ: người học ngoại ngữ cùng loi hình với tiếng mẹ đẻ sẽ dễ hơn so với ngoại
ngữ khác loại hình.
+ Đối chiếu các phương thức ngữ pháp là đối chiếu xem hai ngôn ngữ khác nhau
như thế nào về các phương thức: phụ gia, biến hình trong từ căn, trọng âm, ngữ
điệu, thay từ căn, trật tự từ, hư từ, láy, chắp dính.