Công Ty C Phần Đầu Tư Công Nghệ Giáo Dc IDJ
Biên t
ập vi
ên : Tr
ần Hải Tú
| N
i dung môn Ng
ữ văn
0
GIÁ TR NHÂN ĐẠO MỚI MẺ TRONG TÁC PHẨM “ĐỜI
THỪA” CỦA NAM CAO
Đời thừa
truyện về một n văn nghèo bất đắc dĩ. Đề tài y không thật mới:
đương thời, đã có M
ực mài nước mắt
(Lan Khai), N
n
(Lãng Tử), nhiều trang tu bút của
Nguyễn Tuân, nhiều vần thơ của Tản Đà, Nguyễn Vỹ, Trần Huyền Trân…, hai câu thơ rất
quen thuộc của Xuân Diệu: “N
ỗi đời cực đang giơ vut
m áo không đùa với khách
thơ”
… Tất cả đều đã nói thấm thía về cảnh nghèo túng đáng thương của người cầm bút.
Đời thừa
cũng như một số sáng c của Nam Cao gần gũi với về đtài, ging
điu, tưởng:
Trăng sáng
,
Nước mắt
, S
ống m
òn đã ghi lại cn thật hình ảnh buồn
thảm của ngưi tri thức tiu sản nghèo. Tuy không đến nỗi quá đen tối, “ti như mực”
lắm khi “đen quánh lại” – chdùng ca Nguyễn Tuân -, như cuc sống của quần chúng lao
động thường xuyên đói rét t thảm, nhưng cuộc sng của những người “lao động áo
trắng, những “vô sản đeo cổ cồn” đó ng toàn mt màu xám nhức nhối: “không tối đen
xam m nhnhờ” (Xuân Diệu). Vì nghèo ng triền miên, “chết mòn” v tinh thần.
Trong bc tranh chung về cuộc sống ngưi tiểu tư sản nghèo, Nam Cao đã góp o nhng
nét bút rất mực chân thật và sắc so, làm cho hình ảnh vừa bi vừa hài của lớp người này tr
nên đầy ám ảnh.
Trong mảng sáng tác vđề tài tiểu sản của Nam Cao,
Đời thừa
một vị trí đặc
bit. Cũng như tiểu thuyết S
ống m
òn,
Đời thừa
là stổng hợp của ngòi bút Nam Cao trong
đề tài tiểu tư sản, là tác phẩm đã thhiện khá hoàn chỉnh tư tưởng nghệ thuật cơ bản của
nhà văn. Có điều, trong khuôn khổ truyện ngắn, sự tổng hợp ấy không xảy ra trên brộng
chủ yếu tập trung đi vào bề sâu.
Giá trị của
Đời thừa
không phải chỉ ở chỗ đã miêu tả chân thật cuộc sống nghèo khổ,
bế tắc của ngưi trí thức tiểu tư sản nghèo, đã viết vngười tiểu tư sản không phi với ngòi
bút vuốt ve, thi vị hoá, mà còn vạch ra cả những thói xấu của họ v.v…
Cách nói đó dường như xác đáng, song chỉ thấy một lớp ý nghĩa, lớp thứ nhất, lớp
bên trên của tác phẩm. Mà với Nam Cao, cách nhìn như vậy thật tai hại, “bất cập”, vô
tình thu hp và hthấp rất nhiều tầm tưởng của truyện. Khác với các tác phẩm của
Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Trng Phụng, truyện của Nam Cao thuộc loại nhiều
lớp nghĩa, tưởng truyện không phi luôn trùng khít với ni dung cuộc sống đựơc phản
ánh trong truyện. Trong khi dựng lại chân thật tình cảnh nhếch nhác của người t thức
nghèo, ngòi bút Nam Cao đã tập trung xoáy u vào tấn bi kịch tinh thn của h, qua đó,
đặt ra một loạt vấn đề có ý nghĩa khái quát xã hội và triết học sâu sắc.
Công Ty C Phần Đầu Tư Công Nghệ Giáo Dc IDJ
Biên t
ập vi
ên : Tr
ần Hải Tú
| N
i dung môn Ng
ữ văn
1
Chuyện Hộ “mê văn”, có “hi bão lớn” về văn chương khao khát tên tuổi chói
sáng, là mt hiện tượng phổ biến, ý nghĩa điển hình.
[…]
Với
Đời thừa
(sau đó là S
ống m
òn), Nam Cao đã đề cập gần như trực diện tới vấn đề
nhân, nói n yêu cầu được khẳng định và pt triển của nhân vấn đề mà lâu nay,
người ta tưởng đâu chỉ đt ra trong văn học lãng mạn đương thời.
Quả là chđề cá nhân không có trong sáng c của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan,
nhưng li là chu đề tâm huyết của Nam Cao. Và niềm khao khát được làm đầy trái tim, khao
khát được sống mạnh mẽ, sâu sắc, chói sáng, vượt lên trên cái bằng phẳng tầm thường, sự
ghê s điệu sống mòn mỏi, đơn điệu, vô vị…, là nhng điều da diết c giPh
ấn thông
ng, Kinh c
ầu nguyện của nhng kẻ đi
làm, tác giThi
ếu quê hương
, Tu
ỳ bút
(I, II), Chi
ếc
đồng mắt cua
…, nhưng cũng chính là nhng điều nung nấu tác giả
Đời thừa
, S
ng
n. Chđề ấy chính là mt biểu hiện mới mẻ của chủ nghĩa nhân đạo trong văn hc Việt
Nam thế kỷ XX y. Có điều là, nếu như phần nhiều cái “tôi” trong văn học lãng mạn trong
khi giãy giụa “nổi loạn” “chống lại xã hội thù địch với nó, càng ngày càng khép kín, ch
n t thực hiện và t“phát triển” trong sự đi lp với xã hội; thì Nam Cao, yêu cu
khẳng định và phát trin cá nhân luôn gắn liền với trách nhiệm xã hội, hướng theo tưởng
nhân tạo tiến bộ. Hoài bão nhân Hsay mê đạt tới để tự khẳng định trước cuộc đời
một sự nghiệp văn chương, nhưng thn chương chân chính, mang tinh thần nhân
đạo cao đẹp, “nó ca ngợi tình thương, lòng bác ái, sự công bình”…
ltrong văn học đương thời, không ai ngoài Nam Cao đã đặt ra vấn đnhân
một cách đúng đắn và tiến bộ như vậy.
Nhưng cái xã hi ấy nếu kích thích sự thức tỉnh ý thức cá nhân thì đồng thời, đã đẩy
cá nhân vàonh trng bị đè bẹp. Đó là tất cả tấn bi kch đang diễn ra ngấm ngầm trong đời
sng tinh thần thế h1930 khi đó. “Hoài bão lớnmà Hquyết đạt tới bằng một ý chí phi
thường đã không ththực hiện được. Hộ gặp T giữa lúc người con gái bất hạnh đó đang
“đau đớn không bờ bến”: bị một gã Sở Khanh bi với đứa bé mới đẻ… Hộ đã “cuối xuống
nỗi đau khổ ca Từ (…) mở rộng đôi cánh tay đón lấy Từ”. Trước số phận đau khổ của con
gnười, anh không còn có thể coi “nghệ thuật là tt cả” mà đã hành động như một con người
chân chính. Nhưng điều đó đã gây nên nguy cơ phỏng sự nghiệp của anh. Từ khi “ghép
cuộc đời của Từ vào cuộc đời của hắn, hắn cả một gia đình phải chăm lo”. Hộ không thể
“khinh những lo lắng tủn mủn về vật chất” như trước đây, mà trái lại, phải ra sức kiếm tiền.
“nhng bận rộn tẹp nhẹp, nghĩa nhưng không thkhông nghĩ tới, ngốn một phần
lớn thì giờ của hắn”. Nhưng không phải ch thì giờ.
phải kiếm tiền trong điều kiện, khả năng của Hộ, cách kiếm tin duy nhất là
sáng tác H không thể viết thận trọng, nghiêm túc theo yêu cầu của nghệ thuật chân
chính. Anh “phi cho in nhiều cuốn văn viết vội vàng (…) phải viết những bài báo để người
ta đc ri quên ngay sau c đc”. Đây điều vô ng đau đớn với một người như Hộ.
Công Ty C Phần Đầu Tư Công Nghệ Giáo Dc IDJ
Biên t
ập vi
ên : Tr
ần Hải Tú
| N
i dung môn Ng
ữ văn
2
Không phải anh không được viết, mà phải viết thn chương một người có lí tưởng
nghthuật cao đẹp, lương tâm nghề nghip, có khát vọng vươn tới đnh cao nghệ thụât
như anh, không thnào chp nhận được. Thế là, Hđã phản bội lại chính mình. N văn
chân chính nơi anh cảm thấy hết sức đau đớn, nhục nhã chứng kiến gã “bất lương”, “đê
tiện” cũng chính là anh đang làm thứ hàng giả: “Chao ôi! Hắn đã viết những gì? Toàn những
cái vô vị, nhạt nhẽo, gợi những tình cảm rất nh, rất nông, diễn một vài ý rất thông thưng
quy loãng trong một thứ văn bằng phng và quá ư dễ dãi. Hắn chẳng đem một chút mới l
đến cho văn chương”.
người hiu rất rõ viết văn là mt hoạt đng sáng tạo không ngừng, phải “khơi
những nguồn chưa ai khơi sáng tạo những cái chưa ”, Hộ cay đắng nhận ra rng
mình “là mt kẻ vô ích, một người thừa”, bi vì, “hắn chẳng đem một chút mới lạ gì đên cho
n chương”. Người nghệ sáng tạo trước đây trong Hộ đã chết. Hộ đau buồn hạn vì
cảm thấy đời mình đã bđi, không gì cứu vãn được: “Thôi thế là hết! Ta đã hỏng! Ta đã
hỏng đứt rồi!”. Tấn bi kch tinh thần đau đớn của Hộ là ở đó.
Đây không phải chỉ là bi kịch của một nhà văn không thành đạt, cũng không phải là
bi kịch “vỡ mộng” của những chàng trai nghèo tỉnh lẻ cay cú muốn nhập vào xã hội thượng
lưu Pari nhưng bị ném trả tàn nhẫn trong tác phẩm của Banzắc. Đây là bi kịch của con
người ý thức sâu sắc vsự sống, muốn vươn lên một cuộc sống chân chính, trong đó
nhân được phát triển bng sự nghiệp tinh thần có ích cho xã hội, nhưng đã bnhấn chìm
trong lối sống mà anh ta rất khinh ghét vì không xứng đáng với con người. “Còn gì
đau đớn
cho m
ột kẻ vẫn khát khao l
àm m
t cái g
ì
để nâng cao giá trị đời sống của m
ình, k
ết cục
ch
ẳng làm được i g
ì, ch
những lo cơm áo đủ mệt?
”. Trong S
ống m
òn, cuốn tiểu
thuyết dày dặn đã triển khai một ch hệ thống chủ đề này, tiếng kêu đó lại cất lên một
cách thống thiết:
Đau đớn thay những kiếp sống khao khát muốn lên cao nhưng lại báo
cơm gh
ì sát
đất!
” Cũng như nhà văn Hộ, anh giáo Thứ đau đớn vì cuc đời khốn nạn cứ bắt
anh phải sống cái li sống quá ư loài vật, chẳng biết một việc gì ngoài cái việc đthức ăn
vào dy”! Đó nỗi đau tinh thần to lớn, không nguôi và không thxoa dịu được
đối với người trí thức khát khao sáng tạo, khát khao khẳng định trước cuộc đời khao khát
mu
ốn l
ên cao”…
Xoáy u vào bi kịch tinh thần này, Nam Cao đã lên án sâu sắc cái hiện thực tàn
nhẫn đã vùi dập mọi ước mơ, hoài bão của con người, tước đi ý nga sự sống chân chính
thật sxứng đáng với con người.
*
* *
Nhưng tấn bi kịch tinh thần ca nhà n Hộ không chỉ thế. Từ cái bi kịch đau đớn
dai dẳng vì phi sống cuộc “đời thừa”, Hộ cũng đã lâm vào một bi kịch thứ hai cũng rất đau
đớn, thậm chí, đau đớn hơn nữa. Đó là bi k
ịch của con người coi t
ình th
ương là nguyên tắc,
là đạo lí cao nhất, nhưng lại vi phạm v
ào chính nguyên t
ắc, đạo lí thiêng liêng đó của m
ình.
Công Ty C Phần Đầu Tư Công Nghệ Giáo Dc IDJ
Biên t
ập vi
ên : Tr
ần Hải Tú
| N
i dung môn Ng
ữ văn
3
Trước mắt Hộ, một con đường giải thoát: thoát li vợ con. thế anh mới th
rảnh rang theo đui sự nghip văn chương là lẽ sống của đời anh. Tức là để đạt được “hoài
bão lớn”, thực hin được lí tưởng mà anh hằng say mê, anh phải tự gỡ bỏ sợi dây ràng buộc
của tình thương. Đã cmột triết cao siêu, đầy hấp dn bênh vực, khuyến khích anh
làm điều đó. Một triết gia nổi tiếng phương Tây đã ném ra câu nói hùng hồn: “Phải biết ác,
biết tàn nhẫn đsống cho mạnh mẽ”. Câu nói giọng điệu của chủ nghĩa siêu nhân của
Nitsơ, tư tưởng gia tiền bối của chnghĩa phát xít đó, không phi không có sức hấp dẫn đối
với những kẻ đang khát khao “sống cho mạnh mẽ”, khao khát khng định cá nhân như Hộ.
Nhưng mặc dù ni đau đớn vì đời thừa” to ln đến đâu, ni mong mỏi được giải
thoát mãnh liệt đến đâu. Hvẫn không thể lựa chọn cách giải quyết ấy. Bởi vì, thoát li v
con để rảnh thân – dùvì gì chăng nữa – vẫn cứ là tàn nhẫn, vứt b lòng thương. “Hắn có
thhi sinh tình u, thtình u vk đi; nhưng hắn không thể bỏ lòng thương; l hắn
nhu nhược, hèn nhát, tầm thường, nhưng hắn vẫn còn được người”. Như vậy là, với Hộ,
tình thương tiêu chuẩn xác định cách làm người; không tình thương, con người chỉ
“một thứ quái vật bị sai khiến bởi lòng tái”. Khi cuộc đời tàn nhẫn buộc anh phải lựa
chọn mt trong hai thứ: ngh
thuật
tình th
ương
, anh đã hi sinh nghthuật để giữ lấy
tình thương, hi sinh lẽ sống thứ nhất cho lẽ sống thứ hai, đây là sự hi sinh quá lớn đối
với anh. Như vậy là, mt ln nữa, người nghệ sĩ say tưởng nghthuật, thể hi sinh
tất cả cho nghệ thuật ấy, đã hi sinh nghthuật cho tình thương, cái anh n thấy cao
hơn cả nghệ thuật. Việc dứt khoát đặt tình thương, trách nhiệm đi với con người lên trên
nghệ thuật như vậy, cũng như lời phát biu của Hộ về thế nào là một tác phẩm văn chương
“thật giá trị” cho thấy cái gốc nhân đạo sâu vững của nhà văn lớn Nam Cao.
S lựa chọn của Hộ đây khó khăn, phức tạp cao hơn sự lựa chọn của Điền
trong
Trăng sáng
. Điền là sự lựa chn giữa hai con đường ngh thuật: lãng mạn thoát li
hiện thực nhân đạo; lựa chọn giữa hai lối sống: hưởng lạc, phù phiếm, chy theo sự
quyến của những người đàn nhàn nhã ng mình trên những cái ghế xích đu, nhún
nhẩy”, phản bội lại vợ con và tất cả những người nghèo kh lam lũ lầm than, hay trở về chỗ
đứng giữa họ, chung thuỷ với họ. Từ bỏ nghệ thuật lãng mạn thoát li để đến với nghệ thuật
hiện thực, với Điền, cưỡng lại sự quyến tội lỗi, là sthức tỉnh của lương tâm, sự giác
ng của tâm hồn. Sự lựa chọn ấy đem đến cho Điền niềm yên tâm và sức mạnh mới.
Ở Hộ có khác. Anh từ bỏ nghệ thuật không phải như từ bỏ một đam mê ti lỗi, cũng
không phi n từ bỏ một sở thích, sở nguyện. Nghệ thuật với anh ý nghĩa lớn lao,
thiêng liêng hơn nhiều. Đó là lsống đời anh, tưởng anh hằng theo đuổi, là cái chứng
tsmặt của anh trên cõi đời này. Chính vậy mà, tuy Hkhông băn khoăn nhiu khi
phi lựa chọn tình thương, trách nhiệm thay cho nghệ thuật, khi từ chối lời kêu gọi thoát li
vcon để được “sống cho mạnh mẽ” và thực hiện “hoài bão lớn” của đời mình, nhưng sau
slựa chọn y anh không thyên tâm thanh thản vẫn đau khổ dai dẳng, lúc ngấm
ngm âm ỉ, lúc nhói lên ddi. Và anh cbị giày vò bởi mặc cảm cay đng là đang sống
một cách vô ích, vô nghĩa, là “mt người thừa”. Con người “khao khát bay lên cao” và không
Công Ty C Phần Đầu Tư Công Nghệ Giáo Dc IDJ
Biên t
ập vi
ên : Tr
ần Hải Tú
| N
i dung môn Ng
ữ văn
4
thiếu i năng ý chí để thực hiện khao khát của mình ấy làm sao không đau khổ u uất
trong nh cảnh đó? Hộ đã chi vọng sau vài năm bp đ kiếm tiền, cho người vợ có
được cái vốn con để làm ăn, anh lại thể trở lại với con đường sự nghiệp của mình. Nhưng
cuộc sống cơm áo ngày càng chẳng dễ dàng khiến cho hi vọng của Hộ trở thành hão huyền
nh cảnh của Hộ trở nên hoàn toàn bế tắc. Gánh nặng cơm áo chẳng hề nhẹ đi mà c
ngày càng nặng thêm mãi: “Đứa con y chưa kịp lớn lên, đứa con khác đã vi ra, mà đứa
con nào cũng nhiều đẹn, nhiều sài, quấy rức, khóc mếu suốt ngày đêm và quanh năm uống
thuốc. (…) Hộ điên người lên vì phi xoay tiền”. Và những “bận rôn tẹp nhẹp nghĩa lí” đó
chẳng những làm tiêu tan hi vọng về sự nghiệp của Hộ mà còn thường xuyên phá hoại sự
n tĩnh, thư thái ca tâm hồn là điều rất quan trọng đi với người trí thức sáng tạo: “ Hắn
n điên lên vì con khóc, nkhông c nào yên tĩnh để cho hắn viết hay đọc sách. Hắn
thấy mình khổ quá, bực bội quá. Hắn trở nên cau có và gt gỏng. Hắn gắt gỏng với con, với
vợ, với bất cai, với chính mình. nhiều khi, không còn chịu nổi cái không khí bực tức
trong nhà, hắn đang ngồi bỗng đứng phắt lên, mắt chan chứa nước, mặt hầm hm, vùng
vng đi ra phố, vừa đi vừa nuốt nghẹn”. Đi ra phố để tht khỏi “không khí bực tức ở trong
nhà” hay tìm người bạn nào đnói chuyện văn chương cho vơi nỗi lòng, nhưng chẳng đi
đâu trn được bản thân mình, Hchcàng nung nấu thêm tâm su sầu: Hắn lặng lẽ nghĩ
đến cái tác phẩm dự định từ mấy năm nay đmà chán ngán. Hắn thừ mặt ra như một kẻ
phi đi đày, một buổi chiều âm thầm kia, ngồi trong một làn khói nặng u buồn mà nhquê
hương (…) Lòng hắn rũ buồn”…
Như một thông lệ, người nghệ bất đắc chí ấy tìm đến sự gii sầu giải uất trong
men rượu. Nhưng cả rượu cũng chẳng làm vơi đi chnhư càng làm cho anh thấm thía
thêm nỗi khổ sở đắng cay của mình. Và anh trút o vcon mà anh thấy là nguồn gốc
trực tiếp của tình cảnh bế tắc của đi anh. Con người giàu tình thương, đã từng hi sinh
những gì qgiá, thiêng liêng của mình cho nh thương trách nhiệm đối với vợ con đó,
đã hơn một lần đối xử phũ phàng thô bạo với vợ con mình, như một gã vô lại. Anh đã gây
khcho người vợ rất đáng thương, “rất ngoan, rất phục tùng, rất tận tâm” đối với anh và
cũng khổ sở khôngm gì anh. Tức là anh đã vi phạm vào nguyên tắc, đạo lí làm nời cao
nhất của chính mình.
Thành ra muốn “nâng cao gtrị sự sốngbằng cao vọng vsự nghiệp thì cphải
sng như một kẻ “ ích”, mt người thừa”; chỉ còn cò thể c giữ lấy tình thương nlà l
sng cuối cùng thì lại ctàn nhẫn, luôn gây khổ cho những người cần được yêu thương,
đáng được yêu thương.
Cái bi kịch th nhất không thực hiện được hoài bão lớn tuy rất đau đớn nhưng
n do đ an ủi: hi sinh snghiệp vì tình thương,c òn bi kịch thứ hai này lsống tình
thương bị vi phạm thì không an i, biện h được. Và nếu H phải từ b con đưng
snghiệp là do áp lực của hoàn cảnh, thì svi phạm vào nguyên tắc tình thương lại trực
tiếp do bản thân anh. Vì thế mà nó chua t cùng,. Tnh rượu, nhớ lại hành vi của mình,
Hhối hận tới đau đớn. Khi rón rén bước lại gần người vợ đang nằm bế con ngủ mệt trên