
102
BÀI 5. CÁC LÝ THUYẾT CÔNG TÁC XÃ HỘI ỨNG DỤNG TRONG LĨNH
VỰC HỖ TRỢ NGƯỜI CAO TUỔI
1. Những yêu cầu cơ bản trong quá trình thực hành Công tác xã hội với người
cao tuổi
Công tác xã hội (CTXH) là một ngành khoa học có tính ứng dụng thực tiễn
cao bởi đặc thù của CTXH là làm việc trực tiếp, giải quyết các vấn đề nảy sinh
xung quanh con người và các mối quan hệ xã hội của họ. Cũng như các ngành khoa
học khác, để quá trình nghiên cứu cũng như thực hành được tốt thì CTXH cần phải
có được xây dựng trên các nền tảng lý thuyết chặt chẽ và hợp lý. Bởi không có hoạt
động thực hành nào hiệu quả mà lại không dựa trên một lý thuyết thích hợp, hay
nói cách khác, việc thực hành sẽ đem lại hiệu quả tốt hơn khi được xây dựng trên
một lý thuyết đúng. CTXH có 3 phân nhánh hoạt động chính đó là: CTXH với cá
nhân, CTXH với nhóm và Phát triển cộng đồng. Mỗi lĩnh vực hoạt động sẽ dựa
theo các mô hình cũng như cách thức thực hành riêng. Tuy nhiên, các mô hình thực
hành đó đều được xây dựng dựa trên các lý thuyết cụ thể, các lý thuyết đó có thể là
của CTXH, cũng có thể là tiếp nhận và phát triển từ các ngành khoa học xã hội
khác như Xã hội học, tâm lý học, Kinh tế học...Mỗi các lĩnh vực đặc thù nói chung
và người cao tuổi nói riêng có thể áp dụng 1 hay nhiều lý thuyết khác nhau để xây
dựng lên một chương trình thực hành. Điều này tùy thuộc vào mức độ phân tích và
nhận định vấn đề của mỗi nhân viên CTXH.
Có thể thấy, những mô hình và cách thức giải quyết vấn đề trong CTXH luôn
có một điểm chung là được xây dựng trên nền tảng của các lý thuyết cơ bản về con
người và những nguyên tắc chặt chẽ trong thực hành của CTXH. Việc nắm vững
những khung khái niệm và lý thuyết cơ bản rất quan trọng và những ứng dụng thích
hợp của từ việc này giúp cải thiện hoạt động thực hành Công tác xã hội.
Một khung tiến trình hành CTXH nói chung và tiến hành can thiệp với người
cao tuổi cần đáp ứng những yêu cầu như sau:

103
- Có quan hệ chặt chẽ với những mục đích, giá trị, và các nguyên tắc đạo
đức nghề nghiệp.
- Có khả năng truyền đạt tới những người khác (các khái niệm, nguyên tắc,
giả thuyết cần được định nghĩa và mô tả một cách rõ ràng).
- Tạo nên được sự nhận thức cho thân chủ (hầu hết thân chủ và những người
liên quan có thể hiểu được những liên hệ của các khung sườn này với vấn đề mà họ
gặp phải).
- Cung cấp những hướng dẫn và trực tiếp trong những giai đoạn khác nhau
của tiến trình can thiệp.
- Dựa trên sự thành lập nhận thức theo kinh nghiệm (có cơ sở thực tế cùng
với việc quan sát có hệ thống và cẩn trọng).
Vì sự linh hoạt trong sắp đặt các hoạt động thực hành, phân loại thân chủ, và
các tình huống của nhân viên CTXH nên một khung sườn sẽ có khả năng mang lại
những kết quả được mong đợi cho thân chủ nếu tuân thủ các nguyên tắc sau đây:
- Tập trung vào các kết quả, nhân tố trong thực tế có thể thay đổi, qua đó
thân chủ hoặc nhân viên CTXH có sự ảnh hưởng và có thể điều chỉnh được nó.
- Chú ý cùng lúc đến các nhân tố thuộc môi trường và cá nhân liên quan
đến vấn đề của thân chủ.
- Xây dựng mối quan hệ cộng tác với thân chủ dựa trên sự tin tưởng vào sự
tôn trọng, thấu cảm, quan tâm, lòng trắc ẩn của nhân viên CTXH.
- Khuyến khích thân chủ ra quyết định trong mục tiêu của can thiệp và
phương pháp sử dụng để tìm kiếm những mục tiêu này.
- Thừa nhận và củng cố các điểm mạnh cho thân chủ, ngăn ngừa việc chỉ
tập trung vào việc giải quyết vấn đề một cách phiến diện và tách rời.
- Đóng vai trò then chốt trong việc tìm kiếm, đánh giá, cung cấp cho thân
chủ những dịch vụ phù hợp với văn hóa, thời gian cũng như tài chính của họ
- Khuyến khích thân chủ sử dụng những hỗ trợ liên quan và tham gia
những nhóm tự lực có sẵn ở cộng đồng của họ.

104
- Tạo thuận lợi cho quá trình thu nhận của thân chủ về kiến thức và kỹ
năng để giảm bớt sự phụ thuộc và nhân viên CTXH, các dịch vụ trợ giúp và tiến tới
việc có thể độc lập quản lý và giải quyết vấn đề của mình.
Việc lựa chọn lý thuyết nào của CTXH để ứng dụng xây khung sườn can
thiệp phụ thuộc vào bản chất của vấn đề và sự chú ý của nhân viên CTXH, những
đặc trưng của thân chủ, giai đoạn của tiến trình trợ giúp, và sự sắp đặt hoặc tổ chức
bối cảnh của thực hành. Ví dụ, một mô hình hiệu quả trong hỗ trợ làm việc với
những thân chủ tình nguyện có thể có ít giá trị (hiệu quả) hơn so với làm việc với
nhữnh thân chủ miễn cưỡng hoặc các thân chủ theo yêu cầu của tòa án. Một khung
sườn thực hành có tác dụng với các thân chủ trẻ tuổi có thể không hữu dụng với các
thân chủ cao tuổi, và một khung sườn hữu dụng với những thân chủ nhóm không
tôn giáo có thể không có tác dụng với những thân chủ ở các nhóm khác.
Khi lựa chọn một khung sườn thực hành, phải bám theo câu hỏi: với các
nhóm thân chủ, với các loại vấn đề, trong sự sắp xếp thực hành nào, và dưới bối
cảnh nào thì một khung sườn khái niệm sẽ cung cấp các hướng dẫn hiệu quả và
thích hợp. Thêm vào đó, nhân viên CTXH luôn luôn phải tự hỏi: Khung sườn này
có đồng thun để tôi ch tâm vào tnh đơn nhất của thân chủ hoặc nhóm thân chủ
đặc thù hay không? Nhân viên CTXH phải thận trọng với những khung sườn có thể
hoặc quá thu hẹp hoặc quá trừu tượng từ đó không thể mô tả những thực tế cuộc
sống được trải nghiệm bởi thân chủ.
Trong quá trình làm việc, tùy từng đối tượng mà NCT mà nhân viên CTXH
phải sử dụng một số các khung sườn thực hành cùng lúc hoặc đan xen. Nó có thể
thay đổi từ khung sườn này tới khung sườn khác, qua các giai đoạn của tiến trình
trợ giúp Ví dụ, những quan điểm về hệ thống phổ biến, và những quan điểm về sinh
thái hỗ trợ tốt nhất trong giai đoạn bắt đầu (ví dụ, định nghĩa và đánh giá vấn đề),
nhưng không phải các quan điểm này khi nó tới những giai đoạn muộn hơn như:
lên kế hoạch, tiến hành hoặc đánh giá một can thiệp.

105
2. Một số lý thuyết cơ bản khi làm việc với người cao tuổi
2.1. Lý thuyết hệ thống
Mục đích. Đây là một trong những lý thuyết quan trọng được sử dụng trong
công CTXH, đặc biệt khi đi tìm hiểu đánh giá về hệ thống xung quanh NCT. Bởi
nó cho nhân viên CTXH biết rằng NCT đang thiếu nhưng gì và những hệ thống mà
họ có thể tham gia và tiếp cận bởi trọng tâm của hệ thống là hướng đến những cái
tổng thể và mang tính hòa nhập
Ứng dụng. Ứng dụng của lý thuyết này trong quá trình thực hành CTXH có
quan hệ và cần thiết nhất trong suốt quá trình bắt đầu của tiến trình trợ giúp, khi các
vấn đề của thân bắt đầu được định rõ và lượng giá. Lý thuyết này cũng hướng nhân
viên CTXH có thể nhận biết những điểm khả thi và các mức độ can thiệp với vấn
đề của thân chủ sau đó là lựa chọn một hay nhiều cách tiếp cận phù hợp và hiệu
quả nhất
Đây là một trong những lý thuyết quan trọng được sử dụng trong công tác xã
hội, đặc biệt khi đi tìm hiểu đánh giá về hệ thống xung quanh thân chủ. Bởi nó cho
nhân viên CTXH biết rằng thân chủ đang thiếu nhưng gì và những hệ thống mà họ
có thể tham gia và tiếp cận bởi trọng tâm của hệ thống là hướng đến những cái tổng
thể và mang tính hòa nhập.
Đại diện cho những người theo thuyết hệ thống là Hasson, Macoslee,
Siporin,…Trong đó 2 tác phẩm nổi tiếng về ứng dụng những quan điểm hệ thống
trong thực hành công tác xã hội là Goldstein, Pincus, Minahan.
Những hệ thống mà nhân viên CTXH làm việc là những hệ thống đa dạng:
hệ thống gia đình, cộng đồng, hệ thống xã hội…Hay còn được phân thành các loại
hệ thống như sau:
+ Hệ thống tự nhiên: gia đình, bạn bè, người đưa thư…
+ Hệ thống chính thức: nhóm cộng đồng, tổ chức công đoàn…
+ Hệ thống xã hội: bệnh viện, trường học, các thiết chế xã hội, hay hệ thống
chính sách..v..v..

106
Vấn đề xã hội xảy ra khi thân chủ là NCT không tiếp cận được với những hệ
thống đó hoặc có vấn đề với việc tiếp cận các hệ thống trên. Bởi vậy thuyết hệ
thông cung cấp cho NV CTXH có cái nhìn toàn diện về vấn đề TC đang gặp phải
và có kế hoạch giúp đỡ họ một cách hiệu quả. Thuyết này quan trọng trong việc xác
định những yếu tố trong hệ thống sinh thái mà thân chủ đang sống, nhân viên
CTXH sẽ nhìn nhận xem thân chủ liên hệ chặt chẽ với yếu tố nào, chưa chặt chẽ
với yếu tố nào. Ví dụ trong việc tìm hiểu hệ thống chính sách hỗ trợ xã hội cho than
chủ là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn thì lý thuyết này được ứng dụng vào
việc rà soát, đánh giá các chính sách hỗ trợ xã hội cho trẻ em trong hệ thống an sinh
xã hội hiện nay nhằm lý giải và đánh giá đúng mức độ hiệu quả cũng như những
tồn tại. Điều đó giúp cho việc nhìn nhận xem trẻ em nói chung và trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt nói riêng đã tiếp cận và sử dụng một cách hợp lý nhất những hỗ trợ
ưu đãi của nhà nước hay chưa. Từ đó, song song với quá trình can thiệp với từng
vấn đề cụ thể, nhân viên CTXH có thể kết hợp, huy động đuợc các nguồn lực có
sẵn, những hệ thống chính sách cần thiết còn ẩn hoặc thân chủ chưa có điều kiện
tiếp nhận để giúp cho quá trình can thiệp được được hiệu quả.
2.2. Lý thuyết nhu cầu
Mục đích. Abraham Maslow (1908-1970), nhà tâm lý học người Mỹ, được
thế giới biết đến như là nhà tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn
(humanistic psychology) bởi hệ thống lý thuyết về Thang bậc nhu cầu (Hierarchy
of Needs) của con người. Ngay từ sau khi ra đời, lý thuyết này có tầm ảnh hưởng
khá rộng rãi và được ứng dụng ở rất nhiều lĩnh vực khoa học.
Ứng dụng. Vào thời điểm đầu tiên của lý thuyết, Maslow đã sắp xếp các nhu
cầu của con người theo 5 cấp bậc:
- Nhu cầu cơ bản (basic needs): ăn uống, hít thở không khí…
- Nhu cầu về an toàn (safety needs): tình yêu thương, nhà ở, việc làm…
- Nhu cầu về xã hội (social needs): nhu cầu được hoà nhập

