
48
CHƯƠNG 3: NGUỒN LỰC CỨU TRỢ XÃ HỘI
Mã chương: 610330532-004
ThS Huỳnh Hà Tố Uyên
GIỚI THIỆU
Chương 3 trang bị cho người học những kiến thức cơ bản liên quan đến
việc huy động, hình thành, quản lý và sử dụng các nguồn lực phục vụ cho hoạt
động cứu trợ xã hội. Mục đích của việc thành lập các quỹ cứu trợ xã hội không
chỉ nhằm bảo đảm nguồn tài chính ổn định để ứng phó kịp thời với các tình huống
khẩn cấp như thiên tai, dịch bệnh mà còn góp phần hỗ trợ lâu dài cho các đối
tượng yếu thế trong xã hội như người nghèo, người khuyết tật, trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt. Bên cạnh đó, chương học còn phân tích rõ cơ chế tạo lập quỹ cứu
trợ, bao gồm các hình thức huy động vốn, chính sách khuyến khích xã hội hóa
cứu trợ xã hội, cũng như vai trò điều phối của Nhà nước trong việc điều hành các
nguồn lực này một cách hiệu quả và minh bạch. Từ đó nâng cao năng lực quản lý
và thực hành nghề nghiệp trong thực tiễn.
MỤC TIÊU
Sau khi học xong chương này, người học có khả năng:
- Trình bày được các kiến thức cơ bản về các nguồn lực cứu trợ xã hội, mục
đích của việc lập quỹ cứu trợ; phân tích được cơ chế tạo nguồn quỹ và cách quản
lý và sử dụng nguồn lực cứu trợ.
- Thực hiện được các kỹ năng nghiên cứu xã hội, lập kế hoạch, đánh giá,
quản lý và sử dụng nguồn lực cứu trợ xã hội; phát huy được vai trò của cộng đồng,
tổ chức xã hội và cá nhân trong việc huy động nguồn lực hoạt động cứu trợ xã
hội.
- Nghiêm túc học tập, có trách nhiệm trong việc kêu gọi, huy động các
nguồn lực trong nước và nước ngoài để hỗ trợ cho công tác cứu trợ thường xuyên,
cứu trợ đột xuất.
NỘI DUNG
1. Mục đích của việc lập quỹ cứu trợ xã hội
1.1. Hỗ trợ cho đời sống dân sinh
Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, thuận tiện cho phát triển nông

49
nghiệp, song điều kiện khí hậu thời tiết cũng rất khắc nghiệt, có lúc hạn hán kéo
dài, có lúc thì thiên tai lũ lụt xảy ra liên tục. Bên cạnh đó, địa hình nước ta chiếm
3/4 là đồi núi, bị chia cắt bởi sông suối, đồi núi, đèo dốc...nên rất khó khăn cho
cuộc sống dân sinh và phát triển kinh tế, đẩy một bộ phận dân cư rơi vào cảnh
thiếu đói. Chính vì vậy, việc lập quỹ cứu trợ xã hội nhằm mục tiêu quan trọng đầu
tiên là tạo nguồn lực tài chính ổn định và kịp thời để giúp đỡ những người đang
lâm vào hoàn cảnh khó khăn, cụ thể:
Đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho người dân trong tình huống khẩn cấp như
thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, mất mát người thân, tai nạn nghiêm trọng… Quỹ
sẽ giúp bảo đảm nhu cầu về lương thực, nước uống, chỗ ở, chăm sóc y tế ban đầu.
Giúp các hộ gia đình yếu thế vượt qua khủng hoảng tạm thời, tránh bị đẩy
sâu hơn vào tình trạng nghèo đói hoặc lệ thuộc lâu dài.
Góp phần ổn định xã hội, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước, nhất
là tại các địa phương thường xuyên chịu ảnh hưởng bởi thiên tai hoặc có tỷ lệ
người nghèo cao.
Và để nguồn quỹ cứu trợ xã hội ngày càng nhiều, Đảng và nhà nước chủ
trương đa dạng hoá nguồn lực nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của những
con người không may rơi vào hoàn cảnh rủi ro, bất hạnh hoặc khó khăn, nghèo
đói..., bảo đảm ngày càng tốt hơn cuộc sống an sinh cho mọi người. Với chủ
trương đó, nguồn lực cho cứu trợ xã hội hiện nay không chỉ là nguồn từ ngân sách
nhà nước mà còn từ các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức từ thiện, các tổ chức
Chính phủ, Phi chính phủ trong và ngoài nước; đặc biệt là nguồn từ cộng đồng
dân cư theo phương châm xã hội hoá hoạt động cứu trợ xã hội. Nguồn lực đó giúp
cho bộ phận dân cư rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Đó là tất cả những yếu tố liên
quan đến cuộc sống dân sinh.
1.2. Hỗ trợ cho tiến trình phát triển
Trong nhiều năm qua, Nhà nước đã chú trọng tập trung đầu tư cho khu vực
nông thôn, miền núi; tuy nhiên ngân sách nhà nước có hạn, chưa đáp ứng đòi hỏi
thực tế. Do vậy, Nhà nước chủ trương huy động mọi nguồn lực có thể để tập trung
và ưu tiên phát triển cho vùng nông thôn, nhất là vùng miền núi, vùng sâu, vùng
xa, vùng biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số... nhằm từng bước tạo
ra và xác lập sự công bằng xã hội. Đây là một trong những mục tiêu quan trọng
mà Đảng và nhà nước xác định, được nhân dân hưởng ứng.

50
Ngoài các chính sách ưu tiên đầu tư phát triển, Đảng và nhà nước ta còn
đưa ra nhiều chính sách khác nhau nhằm tạo cơ hội cho người nghèo, người gặp
khó khăn được tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản để sớm đưa họ thoát khỏi
cảnh yếu kém; bên cạnh đó phương châm xã hội hoá nguồn lực, khuyến khích các
thành phần kinh tế đầu tư vào các khu vực nông thôn và miền núi, để sớm thay
đổi hiện trạng các khu vực này đang được thực hiện.
Đầu tư, mở rộng cơ hội giao lưu, người dân được nâng cao trình độ, có công
ăn việc làm, thu nhập ổn định... giúp mọi thành viên trong xã hội tăng cường khả
năng phòng ngừa rủi ro tốt nhất.
Nguồn lực lớn từ ngân sách nhà nước, từ các thành phần kinh tế, từ sự đóng
góp chia sẻ khó khăn của các tổ chức, các cộng đồng dân cư, các cá nhân...sẽ tạo
nên một sức mạnh vật chất để tập trung đầu tư phát triển cho các khu vực còn yếu
kém sẽ sớm làm thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội của các khu vực này, giúp giảm
khoảng cách giữa các khu vực, vùng miền, tiến tới sự công bằng xã hội.
1.3. Kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, củng cố và tăng cường
trách nhiệm xã hội của mỗi công dân
Dân tộc ta có truyền thống giàu lòng nhân ái, có nét đẹp trong sự tương
thân tương ái, yêu thương đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau. Ngày nay, sự chia sẻ đó
không chỉ dừng lại ở phạm vi hẹp trong quan hệ gia đình, họ hàng, thôn xóm, làng
xã mà lan toả ra một phạm vi rộng lớn hơn nhiều, phạm vi quốc gia và thế giới,
mang ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc, trở thành nét văn hoá truyền thống của
một dân tộc, trở thành trách nhiệm xã hội của từng cá nhân trong xã hội. Phát huy
đạo lý “Thương người như thể thương thân”, “Lá lành đùm lá rách”, từ đó tạo
thành các phong trào cứu trợ rộng khắp từ địa phương đến toàn quốc. Gìn giữ và
lan tỏa giá trị văn hóa đoàn kết, nhân đạo trong xã hội hiện đại, nơi mà lòng nhân
ái cần đi cùng với trách nhiệm và phương pháp quản lý hiệu quả.
Trong trào lưu hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay, thế hệ trẻ có quá nhiều
cơ hội để giao lưu với nhiều nền văn hoá, trong đó có cả những nét văn hoá thực
dụng, ích kỷ, nhỏ nhen... trong lối sống, có thể làm mai một truyền thống văn hoá
tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Chính vì vậy, việc tuyên truyền, giáo dục truyền
thống cưu mang đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau khi xảy ra thiên tai, địch hoạ trong
cộng đồng người Việt; và không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động cứu trợ xã
hội là trách nhiệm của Đảng, nhà nước, của các tổ chức và của mọi thành viên

51
trong cộng đồng xã hội. Mỗi cá nhân phải thật sự coi việc tham gia vào hoạt động
cứu trợ xã hội như là bổn phận của chính mình.
2. Quan điểm hình thành nguồn lực cứu trợ xã hội
Thực tế trong những năm qua ở nước ta, hoạt động cứu trợ xã hội còn có
những hạn chế nhất định do cơ chế cho phép các địa phương tuỳ điều kiện, hoàn
cảnh cụ thể để giải quyết cứu trợ cho phù hợp. Vì thế, có nhiều hoạt động trong
lĩnh vực cứu trợ xã hội, nhà nước không kiểm soát được cũng như không phát huy
hết tiềm năng cộng đồng trong hoạt động này.
Để tăng cường khả năng quản lý, điều hành thống nhất cũng như tăng cường
các nguồn lực và tính chủ động trong hoạt động cứu trợ xã hội, phải thống quỹ
cứu trợ xã hội từ Trung ương đến các địa phương, Nhà nước kiểm soát và chỉ đạo;
tăng cường hiệu quả huy động nguồn lực theo phương châm xã hội hoá; đồng thời
mở rộng quan hệ và hợp tác quốc tế trong mọi vấn đề liên quan đến cứu trợ xã
hội; bên cạnh đó cần phải có một cơ chế hợp lý hơn trong huy động, quản lý và tổ
chức sử dụng các nguồn lực cứu trợ xã hội.
Nguồn lực cho hoạt động cứu trợ xã hội không thuần tuý là yếu tố tiền bạc
và vật chất cho đời sống dân sinh mà còn là các phương tiện, điều kiện kỹ thuật
giúp cho việc dự báo để phòng tránh rủi ro; các phương tiện, điều kiện kỹ thuật
cho cứu nạn, cứu hộ và cả một hệ thống tổ chức, lực lượng con người và tổ chức
bộ máy năng động, hiệu quả trong khi thực thi hoạt động cứu trợ xã hội (2).
2.1. Nhà nước thống nhất quản lý nguồn lực
Trong giai đoạn hiện nay, sự đóng góp từ ngân sách Nhà nước đang là
nguồn lực chủ yếu của hoạt động cứu trợ xã hội. Hàng năm Nhà nước Trung ương
dành hàng trăm tỉ đồng để chi cho các hoạt động của trên 100 cơ sở xã hội tập
trung nuôi dưỡng, chăm sóc các đối tượng cứu trợ xã hội, chữa bệnh, hướng
nghiệp cho các đối tượng là người tàn tật, giải quyết hậu quả các tệ nạn xã hội.
Nhà nước cũng dành một quỹ dự phòng để cứu trợ đột xuất cho các vùng chịu ảnh
hường thiên tai, lũ lụt hoặc các gia đình gặp rủi ro, bất hạnh bất ngờ. Bên cạnh
đó, hằng năm ngân sách nhà nước dành một khoản khá lớn trong quỹ dự phòng
để chi cho cứu trợ đột xuất cho các vùng chịu ảnh hưởng của thiên tai, lũ lụt...
Nhà nước đã thiết lập hệ thống tổ chức thực hiện hoạt động cảnh báo rủi ro
do các cơ quan chức năng phụ trách (Viện Vật lý địa cầu, Trung tâm dự báo khí
tượng thuỷ văn quốc gia); tổ chức hệ thống, phương tiện, lực lượng cứu nạn cứu

52
hộ; các ngành chức năng, các tổ chức chính trị - xã hội... tham gia tích cực các
hoạt động cứu trợ vật chất và tinh thần cho đối tượng. Các cấp quản lý nhà nước
có trách nhiệm khuyến khích và hướng dẫn sự tham gia vào hoạt động cứu trợ xã
hội của các tổ chức, cá nhân theo phương châm “hậu cần tại chỗ” và “xã hội hoá
các nguồn lực”.
2.2. Xã hội hoá các nguồn lực
Nguồn quỹ chi cho các hoạt động cứu trợ xã hội được lấy từ nguồn ngân
sách nhà nước là chủ yếu, song trên thực tế, nguồn này vẫn còn mỏng, chưa đáp
ứng được nhu cầu cứu trợ xã hội. Vì vậy, về mặt lâu dài, chúng ta phải thực hiện
phương châm “xã hội hoá các nguồn lực” cứu trợ xã hội. Phương châm này không
chỉ khai thác được nguồn tiềm năng rất lớn trong nhân dân mà còn củng cố và
phát huy truyền thống tương thân tương ái trong đồng bào. Nguồn tiềm năng trong
nhân dân cũng không chỉ là yếu tố tiền bạc, vật chất mà còn là một lực lượng lớn
con người tham gia trực tiếp vào việc cứu nạn, cứu hộ và cứu trợ theo phương
châm “hậu cần tại chỗ” rất có hiệu quả.
Trong những năm qua, hoạt động cứu trợ xã hội chưa có biện pháp hữu hiệu
để động viên, huy động được nhiều nguồn lực trong dân, nhưng những kết quả
đạt được từ các cuộc tuyên truyền, vận động vì người nghèo, vì nạn nhân chất độc
da cam, vì các vùng bị thiên tai lũ lụt... và sự tham gia trực tiếp vào hoạt động cứu
trợ xã hội của các tầng lớp nhân dân đã chứng tỏ “xã hội hoá các nguồn lực” mang
tính hiệu quả rất cao.
2.3. Tận dụng nguồn lực từ quốc tế
Trong hoàn cảnh của nước ta hiện nay, nhiều bạn bè trên thế giới, nhiều tổ
chức quốc tế, tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ, tổ chức và cá nhân các nước
đang muốn giúp đỡ, ủng hộ chúng ta trong lĩnh vực cứu trợ xã hội. Việc hợp tác,
giúp đỡ quốc tế không chỉ là tiền bạc, vật chất phục vụ trực tiếp cho đời sống dân
sinh, mà điều quan trọng nữa là giúp đỡ về phương tiện, điều kiện kỹ thuật cũng
như các kinh nghiệm thực tiễn trong tổ chức hoạt động cứu trợ xã hội. Chúng ta
sẵn sàng tiếp nhận mọi sự ủng hộ, giúp đỡ dù là nhỏ bé của quốc tế với mục đích
từ thiện, nhân đạo và không có mục đích chính trị.
3. Cơ chế tạo nguồn quỹ cứu trợ xã hội
3.1. Cấp xã

