
65
CHƯƠNG 5
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ
Tính khả thi về tài chính đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với sự thành bại
của mỗi dự án của doanh nghiệp. Nhưng doanh nghiệp phải làm như thế nào để phân
tích tài chính và tính hiệu quả của các dự án tài chính?
Trong mỗi dự án đều sẽ tồn tại những rủi ro không mong muốn có thể xảy ra.
Nhưng thông qua các số liệu phân tích tài chính dự án đầu tư của doanh nghiệp,
chúng ta có thể căn cứ vào đó để đánh giá tính hiệu quả tài chính dự án, nhà đầu tư
có thể thấy được tính khả thi trong tương lai của hạng mục này, nguồn tài liệu quan
trọng để thu hút vốn đầu tư của doanh nghiệp.
Mục tiêu:
Sau khi học xong chương này, sinh viên sẽ hiểu được:
- Vai trò của phân tích tài chính dự án;
- Lập báo cáo tài chính dự kiến cho từng năm, từng giai đoạn của dự án;
- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tài chính của dự án;
- Dòng tiền của dự án.
5.1. VAI TRÒ CỦA PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DỰ ÁN
Phân tích tài chính của dự án là một nội
dung quan trọng trong quá trình soạn
thảo dự án. Phân tích tài chính nhằm
đánh giá tính khả thi của dự án thông
qua các mặt sau:
- Xem xét nhu cầu và sự đảm bảo nguồn lực tài chính cho việc thực hiện hiệu
quả của dự án đầu tư, cũng như xác định quy mô đầu tư, cơ cấu các loại vốn và các
nguồn tài trợ cho dự án.
- Xem xét tình hình kết quả và hiệu quả hoạt động của dự án. Tức là xem xét
những chi phí sẽ phải thực hiện kể từ khi soạn thảo cho đến khi kết thúc dự án, xem
xét những lợi ích mà dự án sẽ mang lại khi thực hiện.

66
Kết quả của quá trình phân tích tài chính là căn cứ để chủ đầu tư quyết định
có nên đầu tư hay không? Ngoài ra, phân tích tài chính còn là cơ sở để tiến hành
phân tích hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án.
5.2. LẬP BÁO CÁO TÀI CHÍNH DỰ KIẾN CHO TỪNG NĂM, TỪNG
GIAI ĐOẠN CỦA DỰ ÁN
5.2.1. Xác định nguồn tài trợ cho dự án
Các nguồn tài trợ cho dự án có thể
từ nguồn ngân sách cấp phát, ngân hàng
cho vay, vốn góp cổ phần, vốn liên
doanh, vốn tự có hoặc vốn từ các nguồn
khác.
Các nguồn vốn tài trợ cho dự án
cần phải xem xét cả mặt số lượng và thời
điểm nhận tài trợ, để đảm bảo tiến độ thực
hiện đầu tư của dự án, vừa để tránh ứ
đọng vốn. Các nguồn này phải được đảm
bảo chắc chắn trên cơ sở pháp lý và cơ sở
thực tế.
Nếu nguồn tài trợ là ngân sách nhà nước hoặc ngân hàng cho vay, thì phải có
sự cam kết của cơ quan này bằng văn bản sau khi các cơ quan này đã ký vào hồ sơ
thẩm định.
Nếu vốn góp là cổ phần hoặc liên doanh thì phải có sự cam kết về tiến độ và
số lượng góp vốn của các cổ đông hoặc các bên liên doanh nghi trong điều lệ của
doanh nghiệp.
Nếu là vốn tự có thì phải có giải trình, chứng minh.
Sau khi xem xét các nguồn tài trợ cho dự án, tiếp đến là phải so sánh nhu cầu
về vốn với khả năng đảm bảo vốn cho dự án về số lượng và tiến độ. Nếu khả năng
lớn hơn hoặc bằng dự án thì chấp nhận. Nếu khả năng nhỏ hơn nhu cầu thì phải giảm
quy mô dự án, xem xét lại khía cạnh kỹ thuật để đảm bảo tính đồng bộ trong quy mô
sản xuất.
Trên cơ sở nhu cầu về vốn, tiến độ thực hiện các công việc đầu tư và cơ cấu
các nguồn vốn, cần phải lập tiến độ huy động vốn hàng năm đối với từng nguồn cụ
thể. Tiến độ huy động vốn phải tính các trường hợp có biến động của giá cả và lạm
phát.

67
5.2.2. Dự tính doanh thu từ hoạt động của dự án
Dự tính doanh thu của dự án giúp chủ đầu tư ước tính được kết quả hoạt động
của dự án, là cơ sở quan trọng để phân tích các chỉ tiêu tài chính của dự án cũng như
xác định quy mô dòng tiền.
Doanh thu hoạt động của dự án bao gồm doanh thu do bán sản phẩm chính,
sản phẩm phụ, phế liệu, phế phẩm và từ dịch vụ cung cấp cho bên ngoài. Doanh thu
của dự án được tính cho từng năm hoạt động, và căn cứ trên kế hoạch sản xuất và
tiêu thụ hàng năm của dự án để xác định.
Doanh thu = Sản lượng bán x giá bán một đơn vị sản phẩm
Bảng doanh thu được xác định theo mẫu sau:
Bảng 5.1. Bảng doanh thu dự kiến hàng năm của dự án
Đơn vị tính:…
Chỉ tiêu
Năm hoạt động
1
2
3
….
1. Doanh thu từ sản phẩm chính
2. Doanh thu từ sản phẩm phụ
3. Doanh thu từ phế liệu, phế phẩm
4. Dịch vụ cung cấp bên ngoài
Tổng doanh thu chưa thuế VAT
5.2.3. Dự tính chi phí sản xuất của dự án
Dự tính chi phí sản xuất được tính cho từng năm trong suốt cả vòng đời của
dự án. Việc dự tính chi phí sản xuất dựa trên kế hoạch sản xuất hàng năm, kế hoạch
khấu hao, kế hoạch trả nợ của dự án, và được thực hiện theo bảng sau:
Bảng 5.2. Bảng Chi phí sản xuất
Các yếu tố
Năm hoạt động
1
2
3
….
1. Nguyên vật liệu
2. Bán thành phẩm và dịch vụ mua ngoài
3. Nhiên liệu
4. Năng lượng
5. Nước
6. Tiền lương
7. Bảo hiểm xã hội
8. Chi phí bảo dưỡng máy móc, thiết bị, nhà xưởng
9. Khấu hao
- Khấu trừ chi phí chuẩn bị

68
- Khấu hao máy móc thiết bị, phương tiện vận tải
- Khấu hao nhà xưởng và cấu trúc hạ tầng…
10. Chi phí phân xưởng
11. Chi phí quản lý doanh nghiệp
12. Chi phí ngoài sản xuất
- Chi phí bảo hiểm tài sản
- Chi phí tiêu thụ sản phẩm
13. Lãi vay tín dụng
14. Chi phí khác
Tổng cộng các chi phí:
Khấu hao là một yếu tố của chi phí sản xuất. Vì vậy, nếu mức khấu hao tăng
sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp và mức thuế thu nhập phải nộp của
doanh nghiệp. Nếu mức khấu hao tăng, lợi nhuận doanh nghiệp sẽ giảm và do đó
thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ giảm và ngược lại. Do vậy, việc xác định chính xác
mức khấu hao có ý nghĩa quan trọng trong phân tích tài chính dự án đầu tư.
Mức khấu hao lại phụ thuộc vào phương thức tính khấu hao. Về cơ bản, hiện
nay có các phương thức khấu hao sau:
a. Khấu hao theo đường thẳng – SLD (Straight Line Depreciation)
Đây là phương pháp khấu hao đơn giản nhất và có tính chất truyền thống.
Theo phương pháp này, mức khấu hao được trích ra hàng năm bằng nhau trong suốt
thời kỳ khấu hao.
Mức khấu hao hằng năm được tính bằng công thức sau:
SLD =
Giá trị ban đầu của tài sản – Giá trị còn lại của tài sản
Tuổi thọ của tài sản
Ví dụ: Một máy kéo mua với giá 15000 USD. Sau 8 năm sử dụng, bán lại với
giá 3000 USD. Hãy dùng phương pháp SLD để tính khấu hao hàng năm của máy
kéo.
Bài giải:
Chi phí khấu hao một năm của máy kéo là:
SLD = (15000 – 3000) / 8 = 1500 USD
b. Khấu hao theo chỉ số tổng số thứ t các năm
SOYD – Sum of Years’ DIGITS Depreciation

69
Bắt đầu quá trình bằng cách kê các năm của tuổi thọ thiết bị rồi cộng lại chúng
để có một tổng.
Ở năm thứ nhất, lấy thừa số n/Sum nhân với tổng khấu hao.
Ở năm thứ hai, ta khấu hao bằng cách lấy (n – 1)/Sum nhân tổng khấu hao.
Khấu hao theo kiểu này còn được gọi là khấu hao tăng tốc.
Trong ví dụ trên:
Vì n = 8, nên: Sum = 1 + 2 + 3 + .. + 8 = 36
Ta có khấu hao theo chỉ số tổng các số thứ tự năm của máy kéo là:
Năm
Phân số chỉ số tổng các số
thứ tự năm
KH phân số x
12.000$
1
8/36
2666,67
2
7/36
2333,33
3
6/36
2000,00
4
5/36
1666,67
5
4/36
1333,33
6
3/36
1000,00
7
2/36
666,67
8
1/36
333,33
Sum = 36
36/36
12.000,00
c. Khấu hao theo kết số giảm nhanh - DBD (Declining Balance Depreciation)
Phương pháp này khác với hai phương pháp trên ở chuỗi giá trị của tài sản bị
giảm hàng năm theo một số % nhất định.
Thí dụ trên: Nếu lấy kết số giảm 20%, có nghĩa là chi phí khấu hao được tính
bằng 20% giá trị tài sản ở mỗi năm.
Năm
Giá trị tài sản
đầu năm
KH 20% theo kết số
giảm nhanh
Giá trị tài sản
cuối năm
1
15000
3000
12000
2
12000
2400
9600
3
9600
1920
7680
4
7680
1536
6144
5
6144
1229
4915
6
4915
983
3932
7
3932
786
3146
8
3146
146
3000

