intTypePromotion=1

Giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh: Phần 2 - PGS.TS. Trương Bá Thanh

Chia sẻ: Lavie Lavie | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:60

0
68
lượt xem
23
download

Giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh: Phần 2 - PGS.TS. Trương Bá Thanh

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Dưới đây là Giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh: Phần 2. Giáo trình bao gồm những nội dung về việc phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, phân tích rủi ro của doanh nghiệp, phân tích giá trị doanh nghiệp.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Giáo trình Phân tích hoạt động kinh doanh: Phần 2 - PGS.TS. Trương Bá Thanh

CHƯƠNG 3. PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP<br /> Phân tích hiệu quả của doanh nghiệp là việc đánh giá khả năng đạt được kết quả, khả<br /> năng sinh lãi của doanh nghiệp do mục đích cuối cùng của người chủ sở hữu, của nhà quản trị<br /> là bảo đảm sự giàu có, sự tăng trưởng tài sản của doanh nghiệp. Để thực hiện tốt nhiệm vụ<br /> này, doanh nghiệp phải sử dụng và phát triển tiềm năng kinh tế của mình. Không đảm bảo<br /> được khả năng sinh lãi, lợi nhuận tương lai sẽ không chắc chắn, giá trị của doanh nghiệp sẽ bị<br /> giảm, người chủ có nguy cơ bị mất vốn.<br /> Do vậy khả năng đạt được lợi nhuận đối với nhà quản trị là một chỉ số quản trị không<br /> thể thay thế, đồng thời nó cũng là một yếu tố quan trọng đối với các đối tác của doanh nghiệp.<br /> Vì vậy, cần thiết phải đánh giá và đo lường hiệu quả của doanh nghiệp. Ngoài ra, những đơn<br /> vị bên ngoài, đặc biệt là những đơn vị cho vay sẽ không chỉ nắm bắt khả năng trả nợ của<br /> doanh nghiệp thông qua cấu trúc tài chính mà còn phải qua hiệu quả tài chính đạt được.<br /> Phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được đặc trưng bởi việc xem xét hiệu<br /> quả sử dụng toàn bộ các phương tiện kinh doanh trong quá trình sản xuất, tiêu thụ cũng như<br /> các chính sách tài trợ. Quá trình phân tích này thường cung cấp cho người lãnh đạo, nhà quản<br /> trị các chỉ tiêu để làm rõ: hiệu quả của đơn vị đạt được là do tác động quá trình kinh doanh<br /> hay do tác động của chính sách tài chính.<br /> 1. Quan điểm phân tích hiệu quả họat động của doanh nghiệp<br /> Hiệu quả của doanh nghiệp được nghiên cứu trong phần này được xem xét một cách<br /> tổng thể bao gồm nhiều hoạt động. Họat động kinh doanh và họat động tài chính ở doanh<br /> nghiệp có mối quan hệ qua lại nên phân tích hiệu quả họat động của doanh nghiệp phải xem<br /> xét đầy đủ cả hai hoạt động này. Một doanh nghiệp có thể có hiệu quả kinh doanh cao nhưng<br /> đạt hiệu quả tài chính thấp vì các chính sách tài trợ không thích hợp.<br /> Họat động trong cơ chế thị trường, mỗi doanh nghiệp có những hướng chiến lược phát<br /> triển riêng trong từng giai đoạn. Lợi nhuận là mục tiêu cuối cùng nhưng mục tiêu đó luôn gắn<br /> liền với mục tiêu thị phần. Do vậy, cần phải xem doanh thu và lợi nhuận là hai yếu tố quan<br /> trọng trong đánh giá hiệu quả.<br /> Với những quan điểm trên, chỉ tiêu phân tích chung về hiệu quả cơ bản được tính như<br /> sau:<br /> K = Đầu ra : Đầu vào<br /> trong đó: "Đầu ra" bao gồm các chỉ tiêu liên quan đến Gía trị sản xuất, Doanh thu, lợi<br /> nhuận... "Đầu vào" thường bao gồm các yếu tố như vốn sở hữu, tài sản, các loại tài sản ...<br /> Do các số liệu để tính toán hiệu quả có thể là số liệu của một thời kỳ hoặc số liệu tại<br /> một thời điểm nên phải có sự phù hợp về thời kỳ giữa số liệu đầu vào và đầu ra. Nguyên tắc<br /> 1<br /> <br /> này sẽ loại bỏ sự biến động mang tính thời điểm do đặc thù kinh doanh của từng doanh<br /> nghiệp. Trong trường hợp không có số liệu bình quân thì có thể sử dụng số liệu tại một thời<br /> điểm để phân tích. Trường hợp này gọi là nghiên cứu theo trạng thái tĩnh.<br /> 2. Phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp<br /> Hiệu quả kinh doanh nói chung là một phạm trù kinh tế tổng hợp, được tạo thành bởi<br /> tất cả các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh. Do vậy hiệu quả kinh doanh của một<br /> doanh nghiệp không chỉ được xem xét một cách tổng hợp mà còn được nghiên cứu trên cơ sở<br /> các yếu tố thành phần của nó, đó là hiệu quả cá biệt.<br /> 2.1. Phân tích hiệu quả cá biệt<br /> Để có thể xem xét đánh giá một cách chính xác hiệu quả kinh doanh cá biệt, người ta<br /> xây dựng các chỉ tiêu chi tiết cho từng yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh trên cơ sở so<br /> sánh từng loại phương tiện, từng nguồn lực với kết quả đạt được. Các chỉ tiêu biểu hiện hiệu<br /> quả cá biệt đối với từng loại phương tiện khác nhau thường được sử dụng với nhiều tên gọi,<br /> như: hiệu suất, năng suất, tỷ suất ...<br /> 2.1.1. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cá biệt<br /> Hiệu suất sử dụng tài sản doanh nghiệp<br /> Hiệu suất sử dụng tài sản được thể hiện bằng mối quan hệ giữa kết quả đạt được trên<br /> tài sản của doanh nghiệp. Kết quả của doanh nghiệp có thể được biểu hiện bằng nhiều chỉ<br /> tiêu. Nếu sử dụng “Giá trị sản xuất” để thể hiện kết quả, ta có chỉ tiêu sau:<br /> <br /> Giá trị sản xuất<br /> Hiệu suất sử dụng =<br /> tài sản<br /> <br /> Tổng tài sản bình quân<br /> <br /> Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản thể hiện một đồng tài sản đầu tư tại doanh nghiệp sẽ<br /> tạo ra bao nhiêu đồng giá trị sản xuất. Giá trị chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng<br /> tài sản của doanh nghiệp càng lớn, khả năng tạo ra và cung cấp của cải cho xã hội càng cao và<br /> kéo theo hiệu quả của doanh nghiệp cũng sẽ lớn.<br /> Nếu sử dụng chỉ tiêu “Giá trị tăng thêm” để phản ánh kết quả, ta có hiệu suất giá trị<br /> tăng thêm. Đó là chỉ tiêu thể hiện mối quan hệ giữa giá trị tăng thêm với tài sản của doanh<br /> nghiệp, và được tính:<br /> Giá trị tăng thêm<br /> Tỷ suất giá trị =<br /> tăng thêm<br /> <br /> Tổng tài sản bình quân<br /> <br /> 2<br /> <br /> Tỷ suất gía trị tăng thêm thể hiện một đồng tài sản đầu tư sẽ tạo ra bao nhiêu đồng giá<br /> trị tăng thêm. Chỉ tiêu này thể hiện giá trị mới sáng tạo ra từ tài sản đầu tư ở doanh nghiệp. Tỷ<br /> suất giá trị tăng thêm càng lớn thì doanh nghiệp càng có cơ hội tích tụ để phát triển sản xuất<br /> càng nhiều.<br /> Chế độ báo cáo kế toán Việt nam hiện nay có nhiều thay đổi để cung cấp thông tin cần<br /> thiết nhằm thống kê số liệu trong toàn nền kinh tế, nên các chỉ tiêu về giá trị sản xuất, giá trị<br /> tăng thêm có thể tính theo giá hiện hành. Cụ thể, dựa vào BCĐKT và báo cáo kết quả sản xuất<br /> kinh doanh của doanh nghiệp, chỉ tiêu “giá trị sản xuất” được tính như sau:<br /> <br /> Giá trị<br /> <br /> = Doanh<br /> <br /> ( Chênh lệch<br /> <br /> ( Chênh lệch<br /> <br /> ( Chênh lệch<br /> <br /> + Giá trị<br /> <br /> SX<br /> <br /> thu<br /> <br /> tồn kho thành<br /> <br /> tồn kho sp dở<br /> <br /> tồn hàng gửi<br /> <br /> NVL nhận<br /> <br /> phẩm<br /> <br /> dang<br /> <br /> bán<br /> <br /> gia công<br /> <br /> Giá trị tăng thêm = Giá trị sản xuất - Chi phí trung gian<br /> Chi phí trung gian là toàn bộ chi phí vật chất (nguyên liệu, vật liệu...) và chi phí dịch<br /> vụ phục vụ cho SX trong kỳ (không loại trừ phế liệu thu hồi).<br /> Ngoài giá trị sản xuất và giá trị tăng thêm, doanh thu và thu nhập của những họat động<br /> khác cũng là chỉ tiêu phản ánh kết quả của doanh nghiệp. Hiệu suất sử dụng tài sản trong<br /> trường hợp này được thể hiện:<br /> <br /> Doanh thu thuần + D.thu hoạt động tài chính<br /> <br /> Hiệu suất<br /> sử dụng<br /> tài sản<br /> <br /> =<br /> <br /> + Thu nhập khác<br /> Tổng tài sản bình quân<br /> <br /> Trong trường hợp trên, nếu sử dụng chỉ tiêu tài sản trong BCĐKT thì các yếu tố thể<br /> hiện kết quả ở tử số bao gồm doanh thu thuần và thu nhập các họat động khác. Yêu cầu này<br /> nhằm đảm bảo tính phù hợp vì thực tế tài sản tại doanh nghiệp không chỉ sử dụng cho họat<br /> động kinh doanh mà còn cho các họat động khác.<br /> Nếu chỉ xem xét hiệu suất sử dụng tài sản trong lĩnh vực kinh doanh thuần túy thì chỉ<br /> tính doanh thu thuần trong lĩnh vực kinh doanh để thể hiện kết quả kinh doanh của doanh<br /> <br /> 3<br /> <br /> nghiệp. Hiệu suất sử dụng tài sản trong trường hợp này còn gọi là số vòng quay của tài sản.<br /> Nó được xem xét trên mối quan hệ giữa tài sản với doanh thu thuần và được tính như sau:<br /> Doanh thu thuần<br /> Số vòng quay =<br /> của tài sản<br /> <br /> Tổng tài sản bình quân<br /> <br /> Chỉ tiêu trên phụ thuộc vào từng lĩnh vực kinh doanh, nhưng cũng phụ thuộc vào trình<br /> độ, khả năng quản lý, tổ chức sản xuất của từng doanh nghiệp. Chỉ tiêu trên thể hiện một đồng<br /> tài sản tạo ra được bao nhiêu doanh thu và như vậy nó thể hiện khả năng, hiệu quả quản lý của<br /> doanh nghiệp.<br /> “Tổng tài sản” tính trong công thức trên bao gồm cả TSCĐ - một loại tài sản mà thời<br /> gian luân chuyển hoàn toàn khác với thời gian luân chuyển của TSNH. Chỉ tiêu số vòng quay<br /> tài sản không đánh giá tốc độ luân chuyển của các TSCĐ, nó thể hiện một vòng quay không<br /> đầy đủ do các loại tài sản khác nhau.<br /> "Doanh thu thuần" trong công thức trên trích từ Báo cáo lãi lỗ và chỉ tính phần doanh<br /> thu thuần trong hoạt động kinh doanh. Chỉ tiêu "Tổng tài sản" được sử dụng phù hợp với kết<br /> quả của doanh thu, có nghĩa là nó không bao gồm tài sản dùng cho các họat động khác.<br /> Đối với các doanh nghiệp có nhiều đơn vị thành viên thì chỉ tiêu hiệu suất cần chi tiết<br /> theo từng đơn vị:<br /> Doanh thu thuần tại đơn vị i<br /> Hiệu suất sử dụng<br /> tài sản tại đơn vị i<br /> <br /> =<br /> Tổng tài sản bình quân tại đơn vị i<br /> <br /> Bằng phép so sánh giữa các đơn vị trong cùng một doanh nghiệp, chúng ta có thể đánh<br /> giá cụ thể hơn hiệu suất sử dụng tài sản tại doanh nghiệp để có biện pháp nâng cao hiệu quả<br /> hoạt động kinh doanh. Cũng tương tự như vậy, nếu thay doanh thu bằng giá trị sản xuất, giá<br /> trị gia tăng ... thì ta có những chỉ tiêu phản ảnh khác nhau.<br /> <br /> Hiệu suất sử dụng tài sản cố định của doanh nghiệp<br /> Đối với các DNSX, giá trị sản xuất hình thành chủ yếu từ năng lực TSCĐ nên để thể<br /> hiện hiệu quả cá biệt về việc sử dụng TSCĐ, có thể tính hiệu suất sử dụng TSCĐ theo các chỉ<br /> tiêu sau:<br /> Giá trị sản xuất<br /> <br /> 4<br /> <br /> Hiệu suất sử dụng =<br /> TSCĐ<br /> <br /> Nguyên giá bình quân TSCĐ<br /> <br /> Doanh thu thuần SXKD<br /> Hiệu suất sử dụng =<br /> TSCĐ<br /> <br /> Giá trị tăng<br /> <br /> Nguyên giá bình quân TSCĐ<br /> <br /> Giá trị tăng thêm<br /> <br /> thêm trên một =<br /> đồng TSCĐ<br /> <br /> Nguyên giá bình quân TSCĐ<br /> <br /> Các chỉ tiêu này phản ánh một đồng nguyên giá tài sản cố định đem lại bao nhiêu đồng<br /> giá trị sản xuất, hoặc đồng doanh thu, hoặc đồng giá trị tăng thêm. Trị giá các chỉ tiêu càng<br /> lớn chứng tỏ hiệu suất sử dụng tài sản cố định càng cao.<br /> Hiệu suất sử dụng lao động của doanh nghiệp<br /> Năng suất lao động là chỉ tiêu biểu hiện khả năng sản xuất, sức sản xuất của lao động<br /> trong doanh nghiệp. Chỉ tiêu này có thể được biểu hiện bởi nhiều đại lượng khác nhau như<br /> NSLĐ năm, NSLĐ ngày, NSLĐ giờ của công nhân trực tiếp sản xuất, của công nhân phục vụ<br /> và quản lý sản xuất. Chỉ tiêu về năng suất lao động được tính:<br /> <br /> NSLĐ năm =<br /> <br /> NSLĐ ngày =<br /> <br /> NSLĐ giờ =<br /> <br /> Giá trị sản xuất<br /> Số CNSX bình quân năm<br /> <br /> Giá trị sản xuất<br /> Tổng số ngày làm việc của CNSX<br /> <br /> Giá trị sản xuất<br /> Tổng số giờ làm việc của CNSX<br /> <br /> Các chỉ tiêu trên càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp càng có hiệu suất sử dụng lao động<br /> cao. Khi tính chỉ tiêu trên, CNSX là số lượng công nhân trực tiếp sản xuất tại doanh nghiệp.<br /> Nếu ta dùng chỉ tiêu số lượng công nhân viên (CNV), thì có được năng suất lao động của<br /> công nhân viên. Tuy nhiên khi phân tích phải xem xét tỷ trọng của CNSX trên CNV để thấy<br /> rõ hiệu quả của công tác quản lý tại doanh nghiệp. Nếu tỷ trọng của CNSX trên CNV càng<br /> lớn chứng tỏ việc tổ chức lao động, khả năng quản lý lao động gían tiếp càng tốt.<br /> <br /> 5<br /> <br />

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản