SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 12
RÈN KNĂNG LÀMN NGH
LUẬN XÃ HỘI
I-LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Những năm gần đây, Bộ Giáo Dục và Đào Tạo ngày càng ctrọng nhiều
hơn đến việc nâng cao chất lượng giáo dục ở c cp học nhằm cung cấp tri thức
toàn diện cho người học, đặc biệt là việc nâng cao chất ợng dạy và hc n
Ngữ Văn trong trường phổ thông. Trên cơ sở đó, rèn luyn năng lực cảm thụ văn
học, bồi dưỡng tình cm, m hồn và nhân cách, chuẩn bcho c em nh trang
tri thức vào đời.
Trong xu thế đi mới việc dạy và học NgVăn i chung, cthể đổi
mới chương trình và sách giáo khoa sau một thời gian tiến hành thí điểm, từ năm
học 2006 - 2007, Bộ Giáo dc và Đào tạo đã đưa vào sử dụng bộ Sách giáo khoa
mới theo chương trình phân ban đại trà, áp dng cho các trường Trung học phổ
thông (THPT) trên toàn quc. Các bsách giáo khoa mới (Chuẩn ng cao)
đều nhiều thay đổi: bỏ đi một số văn bản không còn thích hợp; một số văn
bản mới được đưa thêm vào sách giáo khoa mới theo từng lớp học, cấp học đ
phù hợp với yêu cu và tình hình phát triển chung của xã hội hiện tại. Đng thời,
kiểu bài m văn nghị luận xã hi còn được đưa vào chương trình Ng Văn cả
bậc Trung học sở và Trung hc phổ thông. Kiu bài ngh luận xã hi nói
chung k đối với lứa tuổi các em học sinh. Khi làm bài nghluận văn học,
các em học sinh thun lợi đã được trang bkiến thức rất kĩ qua các giờ đọc
- hiểu văn bản văn học, chỉ sdụng kỹ năng làm văn nghị luận văn hc để tái
hiện lại kiến thức ấy thông qua cảm quan của cá nhân. Còn khi làm bài nghluận
xã hi, các em gặp không ít khó khăn cả về nội dung lẫn phương pháp làm bài.
Cũng t năm hc 2008 - 2009, trong các đthi (c thi hc kì thi tt
nghip THPT) môn Ngữ Văn, bên cạnh yêu cầui hin kiến thức n học về tác
giả, c phẩm (nghluận n học), đề bài n đưa ra yêu cầu bt buộc thí sinh
viết mt n bn nghluận (giới hạn trong khoảng 400 từ) bàn vmt vấn đ
mang tính thời sự của đi sống xã hội, như: an toàn giao thông, ô nhiễm môi
trường, mt vấn đ về tu tưởng, đạo ... . Thang điểm nh cho phần này khá
cao, chiếm 3/10 điểm của toàn bài thi. Qua thực tế giảng dạy và chấm thi tốt
nghip THPT các năm gần đây, có thể nhận thấy mt thực tế: s hc sinh làm tốt
đạt điểm tối đa (3,0 điểm) cho kiểu bài này không nhiều, hoặc nếu có "làm
được" thì chất lượng i làm không cao, dẫn đến điểm của toàn bài cũng không
cao, nh hưởng đến kết quả chung. Tại sao li có tình trạng đó? giáo viên
trực tiếp giảng dạy Ngữ Văn lớp 12, chúng ta cn phải làm trước thực tế này
đgiúp c em hc sinh có được những kỹ năng làm bài tt nhất khi đứng trước
nhiều vấn đrất thiết thực của đời sống xã hi, qua đó bày tỏ được thái độ, suy
nghĩ, nhận xét ... của bản thân trước vấn đấy? Đó những câu hi đã đang
được đặt ra cần sớm được giải quyết trong thực tế dạy - học hiện nay.
giáo viên giảng dạy Ngn, chúng i luôn mong mun giúp c em
học sinh tiếp cận được vấn đề, hiểu và giải quyết được vấn đề đt ra từ c đề
làmn nghị luận xã hi. Từ đó, bồi dưỡng cho các em sự yêu thích đối với môn
học và cũng đgóp phần giúp các em thêm hiu người, hiểu đời; làm phong
pthêm đời sống m hồn, tình cảm; góp phần hình thành knăng sống cho
các em tnhững vấn đề xã hội được tiếp cận. Đồng thời, những vấn đề được đặt
ra t c đ bài làm văn nghị luận xã hi cũng p phần thiết thực vào việc giáo
dục và hoàn thin nhân cách cho hc sinh, tr thành hành trang tri thức, p
phần chuẩn bchoc em tự tin bước vào đời thông qua những vấn đnghị luận
xã hi rất thiết thực.
Đó do tôi chọn đề tài y: Hướng dẫn học sinh lớp 12 rèn knăng
làm văn Nghị luận xã hi.
II-THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
CỦA ĐỀ TÀI:
Trong quá trình giảng dy, bản thân i nhận thấy những thuận lợi, khó
khăn như sau:
1-Thuận lợi:
-Sách giáo khoa t cấp Trung học sở lên Trung hc phổ thông s
chuyển tiếp, liền mạch, thống nhất trong hệ thống kiến thức môn học.
-Được schỉ đạo thống nhất của Bộ Giáo dục - Đào tạo, Sở Giáo dục -
Đào tạo của tỉnh đã t chức thường xuyên các lớp bồi dưỡng, tập huấn kiến thức
nghip vụ cho giáo viên hàng m đã giúp c giáo viên NgVăn nắm vững
tinh thn đi mới của chương trình - SGK và thực hiện dạy tốt.
-Bên cạnh đó, mt thực tế không thể phủ nhận là sách giáo khoa, sách giáo
viên được in n kịp thời, đa dạng; các phương tiện thông tin truyền thông: báo,
mạng internet rng khắp cũng đã giúp ích rất nhiều cho cgiáo viên và hc
sinh trong qtrình dạy - học Ngữ Văn.
-Hc sinh ch động, thích thú tìm hiểu, khám p những kiến thức mới
trong chương trình n tiết học Văn trở nên sôi ni, hào hứng hơn; đồng thời
giúp các em khắc u được kiến thức cơ bản của bài hc. Không chvậy, nhiều
em rất ý thức tìm hiu, suy nghĩ, bàn luận ... về những vấn đề xã hội đưc đặt
ra từ các đề văn nghị luận xã hi.
-Hin nay, vi sự phát trin ca đi sng xã hi, ngh lun xã hi ngày
càng có vai trò thiết thc trong cuc sng. Cái hay ca văn ngh lun xã
hi, trưc hết là hc sinh không cn thuc làu làu nhng tri thc đc hiu
mà vn có th làm bài đưc. Các em có th t do trình bày nhng suy
nghĩ, quan đim ca mình mt cách khách quan nht. Mt khác, các em
cũng có th th hin s hiu biết phong phú ca mình cho bài viết sinh
đng hơn. Có th nói, dng đ văn ngh lun xã hi hin nay thc cht là
mt dng đ "m", vì thế rt phù hp cho mi đi tưng học sinh, đc
bit là các bn hc ban khoa hc t nhiên vn "s" và lưi học thuộc văn.
2-Khó khăn:
Ntrên đã nói: sách giáo khoa tcấp Trung học sở lên Trung hc
ph thông sự chuyển tiếp, liền mạch, thống nhất trong hthống kiến thức
môn học. Thực tế dạy - hc cũng cho thấy: ở bậc Trung học cơ sở, học sinh cũng
đã được làm quen với kiểu bài nghluận xã hi. N vậy, những vấn đđặt ra
trong kiểu bài nghluận xã hội vị trí và tầm quan trọng nhất định trong việc
mang lại tri thức và góp phần hoàn thin nhân cách cho hc sinh. Nhưng thực tế
lại cho thấy kết quả bài làm của học sinh "có vấn đề" vmt chất lượng. khá
nhiều nguyên nhân, nhưng tập trung chủ yếu ở mấy điểm sau:
- Do tui đời của các em chưa nhiều, khnăng nhận thức chưa cao, cơ hội
va chạm với muôn mặt của đời sống còn ít nên dẫn đến vốn sống, kinh nghiệm
sống, sự hiu biết xã hội không tránh khỏi nhng hạn chế nhất định.
- Ý thức tiếp cận những vấn đ xã hội của các em chỉ mang tính quan sát
mà không mang tính nhận thức, cho nên khi biết mà không i được vấn đề
một cách ràng. i khác đi,khi các em đã từng bắt gặp những vấn đề được
đặt ra trong đ bài tthực tế đời sống, nhưng do bản thân các em không "đ
tâm" nên khi bất ngờ được hỏi, các em khó trình y vn đ cho cặn kẽ, sâu sắc,
thấu đáo như yêu cầu.
- Mt thực tế khác là c em nắm thuyết làm văn nghluận xã hi rất
hời hợt và còn có phần xem nhẹ. Ở lớp 9, hc sinh chỉ tiếp cậnch thức làm bài
nghị luận xã hội rất đơn gin. Đến lớp 10, chyếu ôn lại kiến thức khái quát của
văn bản tự sự, thuyết minh và nghị luận n học không đề cập đến nghluận
xã hi. Lên lớp 11, chương trình tập trung vào nghluận xã hi nhưng chỉ
mang tính tích hợp bằng cách giới thiệu mt số văn bản dạng nghluận xã hội
trong phn đọc - hiểu n bản, chọn ngữ liệu cho phần m văn dạng văn bản
nghluận xã hội thực hiện hai bài viết liên quan. Đến lớp 12, c em mới i
hiện lại cách làm bài qua hai bài thuyết: Nghluận về mt tưởng đạo
Ngh luận về một hiện tượng đời sống. Chính xác n, chương trình Ng Văn
Trung học phổ thông mới chủ yếu tập trung rèn luyn knăng nghị luận văn học
cho hc sinh. Cụ thể, chương trình Ngữ Văn Trung học phổ thông có 21 bài m
văn thì nghluận xã hi chđược viết 3 bài (2 bài lớp 11, 1 bài lớp 12), n
lại đu bài nghị luận văn học. Trong q trình giảng dạy, đa số giáo viên cũng
đặt việc rèn luyện kiểu bài nghị luận văn học cho học sinh ở vị trí số 1, vì nó liên
quan đến các tác giả và tác phẩm văn học trong chương trình. Vì thế, các em hc
sinh càng hồ phương pháp làm bài và hạn chế những hiểu biết, kinh nghiệm,
vốn sng ... vnghị luận xã hội. Đó thực sự một vấn đề cần được quan tâm.
Thực tế, yêu cầu của đbài nghluận xã hội đặt ra trong các đthi (thi
học kỳ và thi tt nghiệp) không phải là quá sức các em cả về dung lượng lẫn lĩnh
vực vấn đề bàn luận. Ví dụ, đề thi tốt nghiệp Trung học phthông năm 2009: