intTypePromotion=1
ADSENSE

Hướng dẫn phân tích và đầu tư chứng khoán: Phần 2

Chia sẻ: Thuong Thuong | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:206

270
lượt xem
100
download
 
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Nối tiếp nội dung của phần 1 Tài liệu Phân tích và đầu tư chứng khoán, phần 2 trình bày các nội dung: Phân tích kỹ thuật, quyết định và chiến lược cơ bản trong đầu tư chứng khoán, xây dựng và quản lý danh mục đầu tư, mô hình định giá tài sản, lý thuyết thị trường hiệu quả, chứng khoán phát sinh,... Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: Hướng dẫn phân tích và đầu tư chứng khoán: Phần 2

  1. Chương 6 PHÂN TÍCH KỸ THUẬT Từ ngữ phân tích kỹ thuật trong lĩnh vực thị trường chứng khoán có một nghĩa hoàn toàn khác với ngôn ngữ thông dụng. Phân tích kỹ thuật là nghiên cứu các hành động (hành vi) của bản thân thị trường, khác với việc phân tích hàng hoá trên thị trường. Phân tích kỹ thuật là khoa học ghi chép biểu đồ dưới dạng đồ thị các giao dịch cổ phiếu hoặc nhóm cổ phiếu trong quá khứ và từ đó vẽ ra được bức tranh về xu thế trong tương lai. Đổ thị là công cụ của nhà phân tích kỹ thuật. Đồ thị có thể biểu thị bất kỳ sự việc gì xẩy ra trên thị trường hoặc các chỉ số tách ra từ các đại lượng đó. Đồ thị có thể theo đơn vị tháng, đơn vị tuần, ngày, giờ. Đồ thị có thể biểu thị đại lượng tỷ lệ giữa doanh thu trên giá chứng khoán, đại lượng giá trung bình của các cổ phiếu được mua bán nhiều nhất,... Nói cách khác là các chỉ số được tính ra từ các đại lượng thống kê về các giao dịch trên sở giao dịch chứng khoán. Trên đồ thị người ta tìm ra quy luật về các tín hiệu báo trước về sự thay đổi của xu thế giá. Phần tích cơ bản tập trung vào xu hướng kinh tế nói chung, tình hình kinh doanh hiện tại của một ngành công nghiệp hoặc chất lượng cổ phiếu của một công ty cụ thể. Ngược lại, phân tích kỹ thuật lại quan tâm đến việc dự báo ngắn hạn về xu hướng thị trường và giá cả chứng khoán hơn là tập trung nghiên cứu một công ty nào đó. Đối với một nhà phân tích kỹ thuật, quyết định mua hoặc bán chứng khoán dựa trên hoạt động của thị trường và sự thay đổi xu hướng thị trường. 195
  2. Các nhà phân tích thị trường chứng khoán sử dụng đồng thời cả hai phương pháp phân tích cơ bản và kỹ thuật để đưa ra quyết định đầu tư. Họ dùng phương pháp phân tích cơ bản để xác định loại giao dịch nào nên thực hiện và dùng phương pháp phân tích kỹ thuật để chọn thời điểm m ua bán thích hợp nhất. 6.1 CÁC CHỈ BÁO VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRUỒNG CHÚNG KHOÁN 6.1.1 Các chỉ số giá và bình quân động của giá chứng khoán Giá cả các loại chứng khoán có xu hướng biến động đồng loạt. Bất cứ một loại chứng khoán nào đều có khuynh hướng tăng giá khi thị trường lên và giảm giá khi thị trường giảm. Tất nhiên, cũng có những nhân tố khác làm cho giá cả chứng khoán biến động ngược chiều với xu hướng của thị trường. Các chỉ số và bình quân động có vai trò quan trọng trong phân tích kỹ thuật vì chúng thể hiện xu hướng biến động của giá cả chứng khoán. 6J.1.1 Chỉ sô' giá chứng khoán Chỉ số giá chứng khoán là chỉ số phản ánh sự biến đổi của giá chứng khoán tại một thời điểm so với thời điểm gốc nào đó. So sánh giá trị chỉ số giữa hai thời điểm khác nhau ta được sự biến động giá giữa hai thời điểm đó. Để có tầm nhìn tổng quan về sự biến động của giá chứng khoán trên thị trường, người ta sử dụng chỉ số giá cổ phiếu là loại thông tin quan trọng nhất của thị trường và thường được dùng trong phân tích và đầu tư chứng khoán. 196
  3. Chỉ số giá cổ phiếu là thông tin thể hiện giá cổ phiếu bình quân hiện tại so vói giá cổ phiếu bình quân thời kỳ gốc đã chọn. Tất cả các thị trường chứng khoán đều xây dựng hệ thống chỉ số giá cổ phiếu cho riêng mình. Chỉ số giá cổ phiếu có thể được tính cho từng cổ phiếu, tất cả cổ phiếu thuộc thị trường của một quốc gia, từng ngành, nhóm ngành. Ngoài ra, một số chỉ tiêu sau cũng được thống kê, tổng hợp đối với chỉ số giá cổ phiếu và thông báo rộng rãi như : Chỉ số giá cổ phiếu trong ngày, ngày đó so với ngày trước hay so với đầu năm, chỉ số cao nhất hoặc thấp nhất tròng năm, ... 6.1.1.1.1 Chỉ s ố giá bình quân giản đơn Đây là chỉ số bình quân số học giản đơn, không có sự tham gia của quyền số. Công thức tính như sau : ± Pit I = ±±------ ± P io i=I Trong đó: I : Chỉ số giá cổ phiếu bình quân P it: Giá cổ phiếu i thời kỳ t Pio : Giá cổ phiếu i thời kỳ gốc Chỉ số giá bình quân giản đơn có đặc điểm là cổ phiếu có giá trị càng cao thì càng có ảnh hưởnglớn đến sô' bình quân. Sự tăng giá 1% của cổ phiếu có trị giá cao thì ảnhhưởng nhiều 197
  4. hơn so với sự thay đổi giá 1% của cổ phiếu có trị giá thấp. Mức bình quân không phản ánh giá bình quân vì hộ số chia thay đổi liên tục. Chỉ số này chỉ phản ánh đúng khi độ lệch chuẩn nhỏ. Các chỉ số Dow Jones; Nikkei 225; Chỉ số tổng hợp MIB (Italy) áp dụng loại chỉ số này. 6.1.1.1.2 C hỉ s ố giá bình quân gia quyền giá trị Đặc điểm của loại chỉ số giá này là các công ty lớn có tác động lớn. Nếu cùng khối lượng niêm yết, công ty có cổ phiếu thị giá cao hơn sẽ có tác động nhiều hơn. Những cổ phiếu giao dịch ít vẫn có ảnh hưởng, không phản ánh được thực sự thị trường. Chỉ số bình quân gia quyền giá trị là chỉ số giá cổ phiếu bình quân gia quyền với quyền số là số lượng cổ phiếu niêm yết. Loại chỉ số này bao gồm chỉ số giá Laspeyres và chi số giá Paascher. + C hỉ s ố giá Paascher Đây là loại chỉ số giá cổ phiếu thông dụng nhất, nhiều nước áp dụng nhất như các chỉ số KOSPI (Hàn Quốc); s& P500 (Mỹ); FT-SE100 (Anh); TOPIX (Nhật); TSE (Đài Loan); HANGSENG (Hồng Công); ... Q uyền số của chỉ số giá này là số lượng cổ phiếu niêm yết thời kỳ tính toán và được tính theo công thức : Ỵ uqit.Pit y qit.Pio 198
  5. Trong đó: Ip : chỉ số giá cổ phiếu bình quân Paascher Pit: giá cổ phiếu i thời kỳ báo cáo (t) Pio: giá cổ phiếu i thời kỳ gốc (o) qit: Khối lượng cổ phiếu i niêm yết thời kỳ báo cáơ (t) Chỉ số này lấy quyền số là số lượng cổ phiếu niêm yết thời kỳ báo cáo nên nó là tư liệu và sẽ phản ánh được vai trò của các cổ phiếu niêm yết tại thời kỳ tính toán. Tuy nhiên,' chỉ số này có nhược điểm quan trọng nhất là phải thường xuyên cập nhật số liệu về cổ phiếu niêm yết thời kỳ báo cáo. + Chỉ số giá Laspeyres Đây là chỉ số giá cổ phiếu áp dụng phương phápbìnhquân gia quyền với quyền số là số lượnỊ> cổ phiếu niêm yếtthời kỳ gốc. Công thức tính như sau: ị^qio.pit h = — ------------ Ỵ^qio.pio i=l Trong đó: IL: Chỉ số giá cổ phiếu bình quân Laspeyres pit: giá cổ phiếu i thời kỳ báo cáo pio: giá cổ phiếu i thời kỳ gốc qio: Khối lượng cổ phiếu i niêm yết thời kỳ gốc 199
  6. Chỉ số này lấy quyền số là số cổ phiếu niêm yết thời kỳ gốc nên số liệu này đã có, không phải cập nhật. Tuy nhiên nhược điểm của nó là không phản ánh được cơ cấu biến đổi của thị trường. Các chỉ số FAZ, DAX của Đức áp dụng loại chỉ số này. 6.1.1.1.3 C h ỉ sô'bình quân nhân Chỉ số bình quân nhân là chỉ số giá bình quân nhân giữa chỉ số giá Paascher và chỉ sô giá Laspeyres và được xác định theo công thức : IF= I px l L Trong đó: IF: chỉ số giá Fisher Ip: Chỉ số giá Paascher IL: chỉ số giá bình quân Laspeyres Chỉ số này có ưu điểm phần nào khắc phục được nhược điểm của chỉ số Paascher và Laspeyres m ắc phải. Các chỉ số Value line (M ỹ); FT-30 (Anh) áp dụng loại chỉ số này. M ột số chỉ số giá được xác lập nhằm phản ánh toàn bộ thị trường, đây là các chỉ số giá có cơ sở rộng. M ột số chi số giá khác có cơ sở hẹp, chỉ là thước đo cho m ột mảng thị trường hoặc cho m ột ngành nhất định. Chỉ số bình quân Dow Jones là đại lượng lâu đời và thông dụng nhất dùng để đo lường sự biến động giá cả cổ phiếu và được tính toán dựa trên một số loại cổ phiếu tiêu biểu trong các ngành lĩnh vực sau : 200
  7. + Bình quân ngành công nghiệp (30 loại cổ phiếu) + Bình quân ngành vận tải (20 loại cổ phiếu) + Bình quân ngành dịch vụ công ích (15 loại cổ phiếu) + Bình quân tổng hợp (65 loại cổ phiếu thuộc 3 nhóm trên). Cho đến nay chỉ số bình quân ngành công nghiệp (DJIA) vẫn là một chỉ báo được sử dụng rộng rãi nhất. Khi nói về xu hướng chung của thị trường, các nhà phân tích và đầu tư thường dùng chỉ số bình quân ngành công nghiệp. Chỉ số bình quân Dow Jones có trọng số là giá cả chứng khoán. Chỉ số s& p 500 lấy cơ sở là giá cả của 400 loại cổ phiếu ngành công nghiệp; 20 cổ phiếu ngành vận tải; 40 cổ phiếu ngành tài chính và 40 cổ phiếu ngành dịch vụ công ích. Các lĩnh vực đều được dự báo riêng biệt. Chỉ số s & p 500 có hai lợi thế so với chỉ số bình quân Dow Jones là hộ thống trọng số và phạm vi đại diện rộng hơn. Mỗi loại cổ phiếu được tính trọng số theo tổng giá trị của cổ phiếu đang lưu hành, làm cho chỉ số s & p 500 có tính chọn lọc hơn chỉ số Dow Jones. Phạm vi đại diện của nó cũng rộng hơn: 500 loại cổ phiếu được chọn đại diện cho 75% - 80% tổng giá trị của các loại cổ phiếu giao dịch tại NYSE. Chỉ số tổng hợp NYSE dựa trên giá cả của tất cả các loại cổ phiếu thường được niêm yết trên sở giao dịch. Giống như chỉ số s & P500. Chỉ số tổng hợp NYSE lấy trọng số là tổng giá trị của toàn bộ cổ phiếu đang lưu hành của mỗi loại cổ phiếu. Tương tự chỉ số bình quân Dow Jones và chỉ số s & P500 các loại cổ phiếu thuộc ngành công nghiệp là bộ phận 201
  8. quan trọng nhất của chỉ số tổng hợp NYSE. Chỉ số này được tính toán và công bố mỗi ngày. Chỉ số mức giá trị tổng hợp bao gồm 1700 loại cổ phiếu giao dịch trên NYSE, A M EX và OTC. N goài ra, đường giá trị còn cung cấp dịch vụ tư vấn về đầu tư như thời điểm và độ an toàn của hàng trăm loại cổ phiếu khác nhau. N ó dự kiến loại cổ phiếu có giá cả tương đối tốt nhất hoặc mức tệ nhất trong vòng 12 tháng tiếp theo. Chỉ số W ilshire 5000 là đại lượng đánh giá thị trường tổng quát nhất. Nó có trọng số là tổng giá trị của 5000 loại cổ phiếu giao dịch trên NYSE, A M EX và OTC. Chỉ số W ilshire 5000 được công bố hàng ngày trên tờ nhật báo phố W all. 6.1.1.1.4 Bình quân động của giá chứng khoán Bình quân động của giá chứng khoán là mức giá bình quân của chứng khoán trong m ột khoảng thời gian xác đinh. Bình quân động được phân loại thành bình quân động giản đơn, bình quân động bình quân gia quyền, bình quân động tuyến tính. Các mức bình quân động được tính toán liên tục. M ột trong những mức bình quân thông dụng nhất là bình quân động 200 ngày, ghi nhận giá cả hàng ngày của m ột loại cổ phiếu trong vòng 200 ngày liên tục. Đường bình quân động là công cụ phổ biến phản ánh xu th ế chung của từng cổ phiếu hoặc thị trường nói chung, Các nhà phân tích kỹ thuật dùng đường bình quân động như m ột chỉ báo xu hướng dài hạn và xem xét các mức giá hiện tại trong m ối tương quan với xu hướng này để nhân ra các dấu hiệu thay đổi. 202
  9. Có hai sự so sánh được coi là quan ữọng liên quan đến các đường bình quân động. So sánh thứ nhất là giữa các mức giá cụ thể và các đường bình quân động ngắn hạn (MA 50 ngày). Nếu xu hướng giá chung của một loại cổ phiếu hoặc thị trường đang đi xuống, đường MA thường sẽ nằm phía trên mức giá hiện tại. Nếu giá cổ phiếu đảo chiều và vượt qua đường MA từ bên dưói kèm theo khối lượng giao dịch lớn thì hầu hết các nhà phân tích kỹ thuật sẽ coi đây là một thay đổi rất tích cực và cho rằng đây là dấu hiệu Sự đảo chiều của xu hướng gia tăng, đường MA cũng sẽ có xu hướng gia tăng nhưng vẫn nằm dưới mức giá hiện tại. Nếu giá hiện tại vượt qua đường MA từ bên trên kèm theo khối lượng giao dịch lớn, đây sẽ được coi là một dạng thức tiêu cực báo hiệu sự đảo chiều của xu hướng tăng giá dài hạn. So sánh thứ hai là giữa đường bình quân động 50 ngày và đường bình quân động 200 ngày (MA 200 ngày). Thông thường khi hai đường MA này cắt nhau sẽ báo hiệu một sự thay đổi của xu hướng giá chung. Nếu đường MA 50 ngày cắt đường MA 200 ngày từ bên dưới với khối lượng giao dịch lớn, đây sẽ là dấu hiệu giá lên (dấu hiệu mua) bởi vì nó báo hiệu sự đảo chiều của xu hướng từ tiêu cực sang tích cực. Ngược lại, khi đường MA 50 ngày cắt đường MA 200 ngày từ bên trên, nó báo hiệu sự thay đổi sang xu hướng tiêu cực và sẽ là dấu hiệu bán. Nhìn chung, đối vói xu hướng giá lên thì đường MA 50 ngày sẽ nằm trên đường MA 200 ngày. Cũng cần lưu ý rằng, nếu khoảng cách giữa hai đường MA này trở nên quá lớn thì nhà phân tích kỹ thuật có thể coi đó là dấu hiệu cổ phiếu hiện được mua vào quá nhiều. Một xu hướng giá xuống là khi 203
  10. đường MA 50 ngày luôn nằm dưới đường MA 200 ngày. Nếu khoảng cách giữa hai đường này quá lớn thì đó có thê được coi là dấu hiệu cổ phiếu được bán ra quá nhiều. 6.1.2 Khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch Cùng với việc xem xét về biến động của giá cả chứng khoán, các nhà phân tích kỹ thuật cũng quan tâm đến khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch. Khối lượng giao dịch là số lượng cổ phiếu được mua, bán trên thị trường và được xác định theo công thức sau : e - i=lị s Trong đó: Q: Tổng khối lượng giao dịch của tất cả các loại cổ phiếu, thị trường Si: Số lượng cổ phiếu i được m ua, bán trên thị trường i: Loại cổ phiếu Giá trị giao dịch là giá trị của số cổ phiếu đã được giao dịch. Tính được bằng cách nhân khối lượng giao dịch với giá giao dịch. Khối lượng giao dịch được xác định chung cho toàn thị trường và người ta cũng xác định riêng cho từng loại cổ phiếu niêm yết. Thông thường khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch được sở giao dịch chứng khoán và hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán thông báo hàng ngày. Các con sỏ' về khối 204
  11. lượng cho thấy tổng số giao dịch đối với mỗi loại chứng khoán và toàn thị trường. Các nhà phân tích thường xem xét một cách cẩn thận những con số này vì lịch sử cho thấy sự thay đổi của khối lượng giao dịch có nhiều khả năng dẫn đến các xu hướng về giá cả. Các nhà phân tích kv thuật cho rằng bình thường khi khối lượng giao dịch tâng lên thì giá cổ phiếu cũng tãng lên. Sự việc này không báo hiệu một sự đảo ngược các xu hướng thị trường. Tuy nhiên, khi có một sự tăng giá nhỏ kèm thêm sự giảm khối lượng giao dịch thì thường dẫn tới sự đảo ngược xu hướng vầ do đó sẽ dẫn tới sụt giá. Nếu khối lượng giao dịch tăng hoặc giảm đột ngột so với mức trung bình, các nhà phân tích sẽ cân nhắc xem thị trường đang thịnh hay suy. Nói chung, trong thị trường giá lên quy mô giao dịch thường lớn và ngược lại trong thị trường giá giảm quy mô giao dịch thường nhỏ. Lượng giao dịch rất thấp cho thấy sự thiếu vắng người mua trên thị trường, người bán thường nhiều hơn người mua. Do vậy, lượng giao dịch khi giá lên thường lớn hơn lượng giao dịch khi giá xuống. 6.1.3 Vòng quay vốn và cổ phiếu Vòng quay vốn và vòng quav cổ phiếu phản ánh nhịp độ hoạt động của thị trường và được xác định theo công thức tổng quát sau : Tổng giá trị của số cổ phiếu được giao dịch Vòng quay vốn = --------— — — ----------^7 — — ----- Tông giá trị thị trường của cô phiếu Tổng giá trị thị trường là tổng số vốn cổ phần tính theo giá trị thị trường của các công ty có cổ phiếu được mua bán trên thị trường và được xác định như sau : 205
  12. V = ỵ s i. P i i=l Trong đó: V: tổng giá trị thị trường S: số lượng cổ phiếu đang lưu hành P: giá thị trường của một cổ phiếu i: loại cổ phiếu Vòng quay cổ Tổng số cổ phiếu niêm yết được giao dịch phiếu niêm yết ” xổng số cổ phiếu niêm yết Vòng quay vốn và vòng quay cổ phiếu được xác định bình quân chung cho các loại cổ phiếu và người ta cũng có thể xác định cho từng loại cổ phiếu niêm yết. 6.2 C Á C L Ý T H U Y Ế T c ơ B Ả N T R O N G P H Â N TÍCH K Ỷ THUẬT M ột trong những công cụ dành cho các nhà phân tích kỹ thuật là các lý thuyết rất đa dạng có liên quan tới các hoạt động thị trường. Những lý thuyết này đưa ra những mô hình thị trường nhất định trong lịch sử khi xuất hiện những dạng đúng như vậy thì có thể là dấu hiệu dẫn tới tăng giá hoặc sụt giá trong môi trường đầu tư. Khi có dấu hiệu tăng giá xuất hiện, các nhà phân tích sẽ đưa ra các khuyến nghị mua vào. Trong trường hợp có các dấu hiệu giảm giá, các nhà phân tích sẽ khuyên khách hàng bán phần chứng khoán họ đang sở hữu hoặc bán khống các chứng khoán. 206
  13. 6.2.1 Lý thuyết Dow Lý thuyết Dow thường dùng để xác định thời điểm kết thúc một xu hướng của thị trường. Theo lý thuyết này, có 3 xu hướng biến động giá cổ phiếu : Xu hướng dài hạn của giá các cổ phiếu được coi là xu hướng biến động cấp một. Xu hướng này biểu thị sự đi lên, đi xuống kéo dài trong một hoặc vài năm và kết quả là có sự tăng hoặc giảm giá 20%. Trên đường diễn biến xu hướng biến động cấp một xuất hiện các giai đoạn bị ngắt quãng bởi xu hướng biến động cấp hai đi ngược với xu hướng biến động cấp một nó là các phản ứng hoặc các điều chỉnh khi xu hướng biến động cấp một tăng hoặc giảm quá mức trong một giai đoạn nào đó. Xu hướng biến động cấp hai lại bao gồm các xu hướng biến động cấp ba, thường là các biến động ngày này qua ngày khác, là xu hướng biến động không có vai trò quan trọng đối với thị trường. - Xu hướng biến động cấp một. Đó là xu hướng chung về sự đi lên hoặc đi xuống kéo dài trong một hoặc thậm chí vài ba năm. Mỗi đợt tăng giá mới lại đạt mức cao hơn đợt giá tăng lần trước và cứ mỗi đợt phản ứng giá (xu hướng giảm giá) vẫn ở mức cao hơn đợt phản ứng giá lần trước, nhưng xu hướng biến động cấp một vẫn là xu hướng tăng giá. Xu hướng cấp một này được gọi là thị trường con bò tót. Ngược lại, mỗi đợt mới giá giảm lại đạt mức thấp hơn đợt giá giảm lần trước và mỗi đợt tăng giá tiếp theo không đủ sức đưa mức giá trở về mức tăng giá đợt trước thì xu hướng biến động cấp một là xu hướng giảm giá. Xu hướng cấp một này được gọi là thị trường con gấu. 207
  14. - Xu hướng biến động cấp hai. Đó là các phản ứng làm ngắt quãng quá trình tăng hoặc giảm của xu hướng biên động cấp một. Thường thì xu hướng biến động này kéo dài từ ba tuần đến vài tháng. Chúng thường đảo chiều giá trị khoảng 1/3 đên 2/3 đối với các đợt tăng (giảm) lần trước trong quá trinh diễn biến của xu hướng biến động cấp một. Như vậy, chúng ta có thể nhận biết xu hướng biến động cấp hai, đó là bất cứ sự diễn biến giá cả đi ngược lại với xu hướng biến động cấp một và kéo dài trong khoảng 3 tuần và đưa đến giảm giá trên 1/3 của đợt giảm giá lần trước trong xu hướng biến động cấp một được coi là xu hướng biến động cấp hai. - Xu hướng biến động cấp ba. Đó là các biến động nhỏ khoảng vài giờ, đến vài ngày. Thường thì trong các đợt trung gian, trong xu hướng biến động cấp hai hoặc giữa hai xu hướng biến động cấp hai có khoảng 3 đợt biến động nhỏ. Xu hướng biến động cấp ba chỉ là một trong ba xu hướng biến động và chúng dễ bị thao túng. + Thị trường con bò tót: Xu hướng biến động cấp một tâng giá được chia thành ba giai đoạn. Giai đoạn một là giai đoạn tích tụ, trong thời gian này người đầu tư có tầm nhìn sẽ cảm nhận được rằng thị trường tuy đang bị đè nén và bi quan nhưng sẽ đảo chiều và họ sẵn sàng m ua tất cả các cổ phiếu được chào bán bởi các nhà đầu tư đang có tâm lý bi quan. Họ sẽ tăng giá đạt m ua từ từ m ột khi khối lượng cổ phiếu chào bán giảm. Các báo cáo tài chính vẫn phản ánh tình hình tồi tệ của thị trường trong giai đoạn này. Hoạt động thị trường ở mức trung bình nhưng bắt đầu có các đợt tăng giá nhỏ. 208
  15. Giai đoạn hai là giai đoạn tăng giá mạnh và hoạt động thị trường cũng tăng lên do có các thông tin tốt lành về tình hình kinh doanh và do có xu hướng tăng thu nhập trên một cổ phiếu của công ty, gây nên sự chú ý của công chúng. Chính trong giai đoạn này các nhà phân tích kỹ thuật thu được lợi nhuận cao nhất. Giai đoạn ba là giai đoạn khi thị trường cháy bỏng và công chúng lao vào sàn giao dịch. Tất cả các tin tức tài chính đều tốt đẹp, giá tăng đột biến và các tin tức giá cả chứng khoán được đưa lên trang đầu của báo chí. Đến giai đoạn này người ta cho rằng thị trường đã tăng trong hai năm và đã đến lúc phải đặt câu hỏi: có nên bán cổ phiếu đi không? Ớ giai đoạn sôi động này khối lượng cổ phiếu giao dịch vẫn tăng, giá các cổ phiếu ít giá trị trước đây tăng đột ngột, nhưng giá các cổ phiếu có độ tín nhiệm cao lại không tăng nữa. + Thị trường con gấu: Xu hướng cấp một giảm giá này được chia thành ba giai đoạn. Giai đoạn một gọi là giai đoạn phân phối (nó bắt đầu từ giai đoạn ba của thị trường con bò tót trước đó). Ở giai đoạn này người đầu tư có tầm nhìn cảm nhận được rằng lợi nhuận đã đạt mức đặc biệt cao và bắt đầu bán cổ phiếu mình nắm giữ, khối lượng giao dịch vẫn cao nhưng có xu hướng giảm trong đợt tăng giá, công chúng vẫn sôi động nhưng đã bắt đầu có dấu hiệu chập chờn vì hy vọng về lợi nhuận bắt đầu tắt dần. Giai đoạn hai là giai đoạn hoảng loạn. Số người mua giảm đi đáng kể, còn những người bán thì mất bình tĩnh. Xu hướng giảm giá gia tăng đột ngột, trong khi khối lượng giao dịch tăng không bình thường. 209
  16. Sau khi hoảng loạn là một giai đoạn tương đối lâu của xu hướng cấp hai hồi phục hoặc củng cô và sau đó là đến giai đoạn ba. Giai đoạn ba đặc trưng bởi việc bán bắt buộc của những người nắm giữ cổ phiếu trong giai đoạn hoảng loạn hoặc đã m ua trong giai đoạn hoảng loạn vì giá cổ phiếu lúc đó có vẻ là rẻ so với m ấy tháng trước đó. Các tin tức về tình hình kinh doanh bắt đầu xấu đi. Ở giai đoạn ba này việc giảm giá cổ phiếu không đột ngột như ở giai đoạn hoảng loạn, nhưng vì còn có những người phải bán bắt buộc vì họ cần tiền cho các nhu cầu khác. Các cổ phiếu có độ tín nhiệm cao giảm giá từ tốn hơn và trong giai đoạn cuối này thị trường con gấu tập trung sự chú ý vào các cổ phiếu này. Thị trường con gấu kết thúc khi mọi khả năng về các tin tức xấu đã được đón nhận hết và thị trường kết thúc khi các tin tức xấu chấm dứt. Cần lưu ý rằng thị trường con bò tót lần sau không giống hoàn toàn thị trường con bò tót lần trước và cũng vậy đối với các thị trường con gấu vì chúng có thể không qua tất cả các giai đoạn nêu trên. Thị trường con gấu ngắn ngủi có thể không có giai đoạn hoảng loạn. Giai đoạn thứ ba của thị trường con bò tót, giai đoạn đầu cơ sôi động có thể kéo dài hơn m ột năm hoặc chỉ sảy ra trong m ột hai tháng. Giai đoạn hoảng loạn cũng có thể chỉ xẩy ra trong m ột hai tuần. Như vậy, theo lý thuyết Dow, xu hướng biến động chính của thị trường tăng giá là hàng loạt các đỉnh điểm và điểm đáy cao hơn. Trong thị trường giá giảm, xu hướng biến động chính là những điểm đỉnh và điểm đáy thấp hơn. Những biến đông hàng ngày được coi là không đáng kể. 210
  17. Lý thuyết Dow cũng cảnh báo phải thận trọng khi nhận định về đảo chiều của thị trường, không nên chạy trước thời gian. Điều này không có nghĩa là nhà giao dịch phải chờ đợi thêm ưong khi đã có tín hiệu đảo chiều mà chỉ cảnh báo rằng nhà giao dịch sẽ có lợi khi chờ đến lúc thực sự chắc chắn về tín hiệu đảo chiều và họ phải trả giá đắt khi hành động (mua hoặc bán) quá sớm. Thị trường con bò tót không thể tăng vô thời hạn cũng như thị trường con gấu bao giờ cũng sẽ đạt đáy. Các động lực để mua, triển vọng để bán cổ phiếu mới mua để thu lợi nhuận sẽ giảm đi khi thị trường con bò tót để tồn tại trong vài tháng so với tình hình khi xu hướng cấp một lần đầu tiên mới nhận biết. Những tiền đề này, lý thuyết Dow cho rằng: Cần phải luôn luôn chuẩn bị sẵn sàng thay đổi chiều đặt lệnh. Việc đảo chiều của xu hướng có thể xảy ra bất kỳ lúc nào ngay sau khi. xu hướng trên để được xác nhận. Vì vậy, các nhà phân tích kỹ thuật phải theo sát thị trường trong mọi lúc khi họ vẫn còn trong cuộc chơi. 6.2.2 Lý thuyết lượng chưa được bù đắp Bán khống được hiểu là việc bán các chứng khoán mà người bán không sở hữu chúng. Để có thể giao hàng, người bán khống phải vay số chứng khoán này và tất nhiên họ có nghĩa vụ phải hoàn trả lại các chứng khoán đã vay. Người bán khống đã dự đoán trước được sự giảm giá trên thị trường. Họ sẽ thu được lợi nhuận bằng cách trả các chứng khoán đã bán khống tại giá thấp hơn trong tương lai. Lượng chưa được bù đắp đề cập tới tổng khối lượng cổ phiếu hiện đã được bán khống trên thị trường mà vẫn chưa bù lại. 211
  18. Đối với nhiều người, sự tăng lên của lượng chưa được bù đắp từ tháng này sang tháng khác sẽ là dấu hiệu của giảm giá. Tuy nhiên, những người theo lý thuyết lượng chưa được bù đắp thường cho rằng việc tăng lên của lượng chưa được bù đắp sẽ kéo theo sự tãng giá. Theo lý thuyết này, những người bán khống sau đó sẽ buộc phải mua lại những chứng khoán mà mình đã bán khống và khi những người bán khống m ua lại các' chứng khoán thì giá thị trường sẽ tăng lên. Những người bán khống khác, lo sợ giá cổ phiếu sẽ tăng trong tương lai liền vội vàng mua cổ phiếu để bù đắp cho phần đã đi vay, tạo nên sức ép bổ sung đối với loại cổ phiếu này (thường được gọi là sự chèn ép ngắn). Bởi vậy, một lượng chưa được bù đắp cao thường được các nhà phân tích kỹ thuật xác nhận là một dấu hiệu của sự tăng giá và m ột lượng chưa được bù đắp thấp báo hiệu thị trường giảm giá. 6.2.3 Lý th u y ế t lô lẻ Lý thuyết về lô lẻ tập trung phản ánh các hoạt động giao dịch giữa những nhà đầu tư nhỏ. Những nhà đầu tư này thường được gọi là “Những người giao dịch lô lẻ” vì họ thường mua bán những lô lẻ (ít hơn 100 cổ phiếu) Theo lý thuyết này các nhà đầu tư nhỏ thường lựa chọn thời điểm m ua và bán không đúng lúc. Họ sẽ m ua lúc giá thị trường cao nhất và bán khi giá thị trường thấp nhất. Do vậy, các nhà phân tích kỹ thuật sẽ chỉ dẫn cho các khách hàng của họ mua vào khi các lệnh bán lô lẻ tăng so với các lệnh m ua lô lẻ và bán ra khi các lệnh m ua lô lẻ tăng lên so với các lệnh bán lô lẻ 212
  19. 6.2.4 Lý thuyết về tăng - giảm Các nhà phân tích thường xem xét đến tình trạng của thị trường thông qua số loại chứng khoán tăng hoặc giảm giá được giao dịch trong mỗi ngày hay trong một thời gian nhất định khác. Lý thuyết về tăng - giảm cho rằng số loại chứng khoán tăng giá và số loại chứng khoán giảm giá là dự báo chính xác nhất về sức mạnh tương quan của thị trường. Nếu số chứng khoán giảm giá nhiều hơn số chứng khoán lên giá. thị trường được coi là đi xuống. Khi thị trường đi lên, số chứng khoán tăng giá nhiều hơn số chứng khoán giảm giá. Biểu diễn các số liệu lên đồ thị, các nhà phân tích kỹ thuật sẽ có được đường chứng khoán tăng - giảm, thể hiện xu hướng chung của thị trường qua các thời kỳ. 6.2.5 Lý thuyết chỉ sô tin cậy Chỉ số tin cậy là tỷ lệ so sánh về lợi suất giữa các trái phiếu thứ hạng cao và các trái phiếu thứ hạng thấp. Nếu chỉ số tin cậy tăng, các nhà đầu tư sẵn sàng chấp thuận rủi ro và đầu tư vào những trái phiếu có thứ hạng mức tín nhiệm thấp hơn nhưng có lợi suất cao hơn. Giá cả trái phiếu thứ hạng thấp sẽ tăng lên khi có nhiều người đầu tư. Kết quả là lợi suất của trái phiếu này sẽ giảm. Điều này làm thu hẹp sự chênh lệch lợi suất giữa trái phiếu có thứ hạng cao và trái phiếu có thứ hạng thấp. 6.2.6 Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại (MPT) Các nhà quản lý đầu tư theo lý thuvết này thường quan tâm đên mối quan hộ giữa các loại đầu tư trong cùng một danh mục hơn là tập trung vào việc định giá một loại chứng khoán cụ thể 213
  20. nào. Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại cùng với những phân tích thống kê đã tạo ra nghi ngờ về khả năng dự báo xu hướng biến động giá cả của các nhà phân tích cơ bản và kỹ thuật. Những người theo lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại cho rằng thị trường chứng khoán là một thị trường hiệu quả, có nghĩa là giá cả chứng khoán phản ứng tức thì với hầu hết những thông tin về đầu tư nên không nhà phân tích nào được coi là sáng suốt trên khía cạnh tổng thể của thị trường. Trọng tâm chính của nhà quản lý danh m ục đầu tư là lựa chọn m ột tập hợp các khoản m ục đầu tư có thể đưa lại cho nhà đầu tư thu nhập mong đợi cao nhất theo từng mức rủi ro nhất định. 6.2.7 L ý th u y ế t bước đi n g ẫu n hiên M ột số nhà phân tích tin rằng xu hướng biến động giá cả chứng khoán trong quá khứ không thể sử dụng để dự đoán những xu hướng biến động trong tương lai. Lý thuyết bước đi ngẫu nhiên cho rằng khuynh hướng biến động của giá chứng khoán là không thể dự báo trước được, cũng giống như những bước đi của một người say rượu. Lô gích này dựa trên lý thuyết thị trường hiệu quả cho rằng thị trường cổ phiếu là thị trường hiệu quả hoàn hảo, giá cả cổ phiếu phản ánh đầy đủ và công bằng mọi nhân tố được biết đến làm cho việc dự đoán thị trường bằng các phân tích xu hướng giá cả trong quá khứ hoặc bảng cân đối tài sản là không thể thực hiện được. Do đó, phương pháp lựa chọn ngẫu nhiên cũng là một phương pháp tốt để lựa chọn cổ phiếu nên đầu tư. Tuy nhiên vì các nhà phân tích kỹ thuật thường dự báo giá cả chứng khoán tương lai trên cơ sở phân tích quá khứ nên giá trị của lý thuyết bước đi ngẫu nhiên còn là sự tranh cãi. 714
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2