Kế hoạch đổ bộ lên Nhật của Mỹ trong WW II
Ngày 7 tháng 5 năm 1945, nước Đức phát xít đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện. Quân
đội Anh Mỹ bắt đầu tập trung lực lượng gii quyết chiến trường châu Á -Thái Bình
Dương. Đối với họ, đây là nơi khó khăn nhất, vì quân Nhật chiến đấu liều chết một cách
cuồng tín, thua cũng không đầu hàng. B Tham mưu Liên quân M dự kiến việc gii
quyết chiến trường này smất ít nhất 18 tháng, trong đó đã xét tới việc Liên Xô tham
chiến đánh Nhật theo thoả thuận ở Yalta tháng 2 năm 1945.
Lúc ấy Nhật còn khoảng 7 triệu quân (chưa kể nguỵ quân của các nước bị Nhật chiếm),
mt nửa đóng ở Trung Quốc (TQ), các nước Đông Nam Á các đảo Nhật đã chiếm
được, một nửa ở trong nước, gồm 2,25 triệu lục quân và 1,25 triệu hải quân. Quân Mỹ áp
dụng chiến thuật nhảy cóc, bỏ qua các đảo Nhật chiếm trên Thái Bình Dương mà tiến sát
chính quốc Nhật. Tháng 4.1945 Mỹ chiếm được đảo Okinawa, mt đầu cầu quan trọng
cách Nhật 540 km. Hàng ngn máy bay M ngày ngày cất cánh từ Trung Quốc và các
tàu sân bay ném bom rải thảm khắp các đô thị Nhật, dùng bom cháy là chính để tạo cảnh
tàn phá, gây sức ép tâm vớin Nhật. Hàng nghìn tàu chiến vây xung quanh nã pháo
o các công sự phòng ngự 4 đảo chính quốc là Honshu, Hokkaido, Kyushu và Shikoku.
Nht đã mất quyền kiểm soát trên không và trên biển, phải co vào phòng ngự.
Bộ Tham mưu Liên quân Mỹ trình lên Tng thng Truman kế hoạch tấn công chính quốc
Nht Bản, gọi là Operation Downfall, do các tướng MacArthur, Nimitz, King, Leahy,
Hap Arnold và Marshall dự thảo. Kế hoạch chia 2 bước, gồm chiến dịch Olympic và
chiến dịch Coronet (Vòng Hoa), đều mmàn bằng mt đợt ném bom rải thảm dài ngày
dùng máy bay lục quân cất cánh từ TQ và Triều Tiên.
Ngày 7 tháng 5 năm 1945, nước Đức phát xít đầu hàng Đồng Minh vô điều kin. Quân
đội Anh Mỹ bắt đầu tập trung lực lượng gii quyết chiến trường châu Á -Thái Bình
Dương. Đối với họ, đây là nơi khó khăn nhất, vì quân Nhật chiến đấu liều chết một cách
cuồng tín, thua cũng không đầu hàng. B Tham mưu Liên quân M dự kiến việc gii
quyết chiến trường này smất ít nhất 18 tháng, trong đó đã xét tới việc Liên Xô tham
chiến đánh Nhật theo thoả thuận ở Yalta tháng 2 năm 1945.
Lúc ấy Nhật còn khoảng 7 triệu quân (chưa kể nguỵ quân của các nước bị Nhật chiếm),
mt nửa đóng ở Trung Quốc (TQ), các nước Đông Nam Á các đảo Nhật đã chiếm
được, một nửa ở trong nước, gồm 2,25 triệu lục quân và 1,25 triệu hải quân. Quân Mỹ áp
dụng chiến thuật nhy cóc, bỏ qua các đảo Nhật chiếm trên Thái Bình Dương mà tiến sát
chính quốc Nhật. Tháng 4.1945 Mỹ chiếm được đảo Okinawa, một đầu cầu quan trọng
cách Nhật 540 km. Hàng ngn máy bay M ngày ngày cất cánh từ Trung Quốc và các
tàu sân bay ném bom rải thảm khắp các đô thị Nhật, dùng bom cháy là chính để tạo cảnh
tàn phá, gây sức ép tâm vớin Nhật. Hàng nghìn tàu chiến vây xung quanh nã pháo
o các công sự phòng ngự 4 đảo chính quốc là Honshu, Hokkaido, Kyushu và Shikoku.
Nht đã mất quyền kiểm soát trên không và trên biển, phải co vào phòng ngự.
Bộ Tham mưu Liên quân Mỹ trình lên Tng thng Truman kế hoạch tấn công chính quốc
Nht Bản, gọi là Operation Downfall, do các tướng MacArthur, Nimitz, King, Leahy,
Hap Arnold và Marshall dự thảo. Kế hoạch chia 2 bước, gồm chiến dịch Olympic và
chiến dịch Coronet (Vòng Hoa), đều mmàn bằng mt đợt ném bom rải thảm dài ngày
dùng máy bay lục quân cất cánh từ TQ và Triều Tiên.
Chiến dịch Olympic dự kiến bắt đầu ngày 1 tháng 11, sử dụng 11 sư đoàn lục quân và 3
sư đoàn lính thuỷ đánh bộ, dùng tàu ch quân dưới sự ym hộ của hải quân và không
quân đổ bộ lên chiếm vùng cực nam đảo Kyushu (đảo nh thứ 3, chiếm 11% diện tích
nước Nhật), xây dựng nhiều n bay ở đây để ném bom quy mô lớn phía Bắc Kyushu và
đảo Honshu (đảo ln nhất Nhật), gây sức ép buộc Nhật đầu hàng.
Nếu Nhật vẫn không hàng t chuyển sang chiến dịch Coronet, tấn công đảo Honshu để
kết thúc chiến tranh. Chiến dịch dự kiến bắt đầu vào ngày 1 tháng 3 năm 1946, ngày hoàn
thành phụ thuộc vào tình hình din biến thực tế. Coronet Operation sẽ sử dụng 12 sư
đoàn bộ binh và 3 sư đoàn nh thuỷ đánh bộ.
Vấn đề quan trọng nhất, đau đầu nhất là dự kiến số thương vong của phía M. Dự kiến
chiến dịch Olympic thương vong 456 nghìn người, trong đó chết 109 nghìn; chiến dch
Coronet thương vong 1,2 triệu nời, chết 267 nghìn. Đây chỉ là dự kiến ti thiểu, vì
chưa lường hết khả năng lợi hại của cách đánh tự sát của địch, chưa đánh giá được khả
năng chiến đấu của ngót 100 triệu thường dân Nht, khi mi người n đều là mt du
kích quân. M chưa kinh nghiệm về mặt này, vì trên chiến trường châu Âu, Đức đánh
theo kiu khác. Quân Đức không cuồng tín liều chết kiểu Võ Sĩ Đạo như người Nhật.
Trận Stalingrad, Thống chế Paulus dẫn 91 nghìn lính Đức ra đầu hàng Hng quân Liên
Xô. Người Nhật thì khác. Khi thua trận, các sĩ quan chỉ huy Nhật đều không đầu hàng
t sát. Tàu đắm thì hạm trưởng cột mình vào tàu cùng cm. Nước Đức có hơn 5000
người bị hành quyết vì âm mưu ám sát Hitler, trong đó có Thống chế Rommel tư lnh
quân đội Đức tại Bắc Phi và nhiều tướng khác. Hitler từng i, hn không tin vào ai hết
trừ con chó Blondi yêu quý nhân tình Eva Braun của hắn. Trước khi tự sát, hắn còn
quyết định khai trừ hai chiến hữu thân cận nhất là Goering và Himmler ra khi đảng
Quốc Xã. Tình nh nước Nhật thì khác. Chưa từng có người Nhật nào t ý chống lại
Thiên Hoàng Nhật Bản được toàn dân Nhật coi là thần thánh chứ không phải người
thường. Lính Nhật khi xung phong đều hô “Thiên Hoàng vạn tuế !” Trận Okinawa, 3 sư
đoàn Nhật trên đảo chống li cuộc tấnng của Mỹ gấp 3 ln về quân số và hàng chục
lần về trang bị, cầm cự được hơn 100 ngày mới thua; thường dân trên đảo đều tham gia
chiến đấu. Nhật chết gần 200 nghìn (cquân và dân), s còn li hầu hết đều t sát, Mỹ
chỉ bắt được 8000 lính, đều thương binh. 4000 dân vào rừng đánh du kích. Thương
vong phía M n 70 nghìn, riêng chết hơn 12 nghìn người. 2000 máy bay Nhật đánh
theo kiu tự sát, đánh chìm 13 tàu khu trục Mỹ, đánh bị thương gần 400 tàu, 800 máy bay
M rơi. Trận đảo Saipan, hơn 3000 nh Nhật đánh đến người cuốing, thương binh nổ
lựu đạn tự sát chết; ngoài ra còn động viên thường dân trên đảo nhảy từ vách núi cao
xuống biển tự tử; mt số đàn bà trẻ em không dám nhảy đều bị đảy xuống.
Các đảo nói trên đều bị hải quân và không quân M bao vây cách ly, quân Nhật hoàn
toàn không có chi viện từ bên ngoài. Nếu Mỹ đánh lên chính quốc Nhật thì sẽ khác, lính
Nht ẩn trong công sự ngầm hoặc hang động ven biển, lại có sự chi viện mnh của máy
bay và pháo từ phía sau, lúc ấy quân Mỹ khác nào nhng tấm bia sống. Chưa kể thường
dân Nhật đều tham gia chiến đấu và tiếp tế. Hậu phương Nhật với ngót 100 triệu dân là
mt sức mạnh đáng sợ. Bộ Chỉ huy quân đội M biết rõ hrất khó dự kiến mức độ ác
liệt của tác chiến với Nhật. Rõ ràng, thương vong của hai bên sẽ lên đến mc khủng
khiếp chưa từng thấy và cuộc chiến sẽ kéo dài.
Lúc ấy Nhật đã chuẩn bị một lực lượng chiến đấu tự sát đáng kể. Ngoài 5500 máy bay
cảm tử Kamikaze, còn có nhiều vũ khí khác. Lính M sợ nhất là tàu ngầm bỏ túi kiểu
Koryud do 5 người điều khiển, có thể chạy dưới nước 40 phút ở vận tc 16 hải lý hoặc 50
givận tốc 2,5 hải lý, mang theo 2 ngư lôi hoặc chở đầy thuốc nổ lao vào tàu địch. Mỗi
tháng Nhật sản xuất được 180 chiếc Koryud, hiện có 540 chiếc. Nhật còn định chế tạo tàu
ngầm Kairyu 2 người điều khin, lắp 2 ngư lôi hoặc chở đày bc phá. Ngoài ra còn có
650 “ngư lôi sống”, mi ngư lôi phóng từ tàu ngầm ra có mt người lái ngư lôi đâm vào
tàu địch. Sngư lôi sống” sẽ tăng lên 4000. Các vũ khí tự sát này chủ yếu để tấnng
tàu chở quân Mỹ đổ b.
Ngoài ra, phía M không thkhông xét đến mt tình hình đặc biệt là Nhật có thể trả thù
việc tấn công lên đất Nhật bằng cách tàn sát tù binh và thường dân các nước Đồng Minh,
hoặc dùng hlàm bia đỡ đạn. Phát t Nhật nổi tiếng về ngược đãi binh và thường dân
đối phương. Vụ tàn sát 300 nghìn người TQ ở Nam Kinh sau khi quân Nhật chiếm thành
phố này mt t dụ. Khi chiếm bán đảo Bataan (Philippines, 4.1942), Nhật bắt được 75
nghìn nh M, chúng giết chết 7000 người. Trong một công trình làm đường sắt, đã
gần 13 nghìn trong số 61 nghìn tù binh Đồng Minh bị chết, chưa kể 270 nghìn thường
dân. Thống kê sau chiến tranh cho thấy: 253 nghìn tù binh Anh, M bị Đức bắt có 9
nghìn người chết (4%); 132 nghìn tù binh Anh, M, Úc bị Nhật bắt có 36 nghìn người
chết (27%). Phía Nhật còn bắn tin là nếu quân M đổ b lên đất Nhật thì lập tức chúng s
hành quyết toàn bộ số tù binh Đồng Minh mà chúng đã bắt họ đào sẵn hố tự chôn mình.
Tình báo M cũng nhận được các nguồn tin chứng tỏ Nhật đang chuẩn bị “Bản thổ quyết
chiến”, sẵn sàng “hy sinh cả 100 triệu dân”. Đại tướng Suzuki nhậm chức Thủ tướng đầu
tháng 4.1945 tuyên b ngay với mi người: “Nếu tôi hy sinh, xin chư vị băng qua xác tôi
mà tiến lên !” Sau khi Đức đầu hàng, tháng 6, Chính phủ Nhật họp vẫn quyết định chiến
đấu đến nời cuối cùng trong trận “bn thổ quyết chiến” và tin rằng Mỹ sẽ thua vì
thương vong vô cùng nặng nề, Nhật có thể phản công thắng lợi.
Ngày 26 tháng 7, Tuyên ngôn Potsdam được công bố trên toàn thế giới, đòi Chính ph
Nht phải lập tức đầu hàng không điều kiện và cnh cáo: bất cứ sự lựa chn nào khác đều
chỉ có thể dẫn đến sự huỷ diệt nhanh chóng và toàn diện của nước Nhật. Thế nhưng ngày
28, Thtướng Nhật Suzuki Kantaro vn nói: Cnh phủ Nhật sẽ chiến đấu đến cùng. B
trưởng Lục quân Anami ra Thông cáo gửi tướng sĩ toàn quânkêu gi: “Thề quyết bảo
v đất thiêng này, chiến đấu đến cùng, dù choi sông cây c tan tành, hãy tin là từ chỗ
chết sẽ tìm được đường sống.
Thái độ ngoan cố của Chính phủ Nhật đã dẫn đến hậu quả là Tng thống Mỹ Truman
quyết định dùng bom nguyên tử để doạ Nhật phải đầu hàng. Kế hoạch chiến dịch
Olympic và Coronet b xếp không bao giờ dùng đến.
Ngay cả sau khi M ném bom nguyên tử xuống Hiroshima, nơi đóng bản doanh Bộ
lệnh miền Nam và tập kết lực lượng phòng thủ Nhật, các tướng lĩnh chỉ huy quân đội
Nht vẫn chưa tin là Mỹ bom nguyên tử. Khi xác nhận đúng là bom nguyên tử, hli
i M chỉ có mỗi mt quả bom này mà thôi, không có gì đáng sợ. Chỉ sau khi bom lại
rơi xuống thành phố công nghiệp đóng tàu Nagasaki, nơi sản xuất ra những tầu sân bay,
tầu tuần dương, tầu khu trục và tầu ngầm nổi tiếng của Nhật Bản, Nhật Hoàng mới dứt
khoát chp nhận Tuyên ngôn Potsdam, đồng ý đầu hàng. Biết tin này, mt số sĩ quan trẻ
trong quân đội Nhật đã làm đảo chính, định tiêu diệt phái chủ hàng và buc nhà vua chấp
nhận quyết chiến đến cùng. Rất may là cuộc đảo chính bất thành và Chiếu thư Ngừng
chiến vẫn được công b trên đài phát thanh. Nếu không có Thánh chỉ này của nhà vua,
chắc nước Nhật sẽ chiến đấu đến người cuối cùng. Khi Chiếu thư của Thiên Hoàng vừa
ban ra, nhiều tướng nh và sĩ quan đã tự sát, trong đó có Bộ trưởng Lục quân Anami, Đại
tướng cựu Tổng Tham mưu trưởng Sugiyama, Đại tướng Tư lnh miền Đông Tanaka
v.v...