KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TO QUỐC GIA TRONG CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Lin Vĩ Tuấn*1- Vũ Trịnh Thế Quân**2
Tóm tắt: Mục tiêu của bài tham luận nhằm nghiên cứu về khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia trong bối
cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 đang nóng hổi thời gian hiện nay. Bài viết mong muốn vận dụng cách
mạng công nghiệp 4.0 cho chủ đề khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia. Bài tham luận sẽ viết về khởi
nghiệp, đổi mới, sáng tạo, vân vân… trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0. Phần này lược
qua các khái niệm sau đó trình bày các nội dung chi tiết rồi đến sự vận dụng cuộc cách mạng công nghiệp
4.0. Và phần cuối cùng là nội dung các giải pháp.
Từ khóa: khởi nghiệp, sáng tạo, Cách mạng Công nghiệp 4.0.
Abstract: The objective of this paper is to study the innovations of national innovation startup in the case
of the industrial revolution 4.0 is hot at the present. The article aims to apply the industrial revolution 4.0 for
the theme of innovative national innovation startup. The presentation will be about startup, innovation,
creation, etc… in the case of the 4.0 industrial revolution. This section outlines the concepts to details that
followed the implementation of the industrial revolution 4.0. And the final part is the content of the solution.
Keywords: startup, creation, Industrial Revolution 4.0.
1. GIỚI THIỆU
Trong thời gian vừa rồi, định nghĩa “Cách mạng Công nghiệp 4.0” được nhắc đến rất nhiều trên truyền
thông quốc tế trong ngoài nước, đặc biệt định nghĩa này cũng đã trở thành chủ đề thảo luận của các
diễn đàn lớn. Ngày 20-01-2016, Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) lần thứ 46 với chủ đề “Cuộc Cách mạng
công nghiệp lần thứ 4” đã chính thức được khai mạc tại thành phố Davos-Klosters của Thụy Sĩ, thu hút sự
tham dự của 40 nguyên thủ quốc gia và hàng ngàn quan khách từ hơn 100 nước, trong đó thể kể đến Phó
Tổng thống USA Joe Biden, Thủ tướng Anh David Cameron, Bill Gates, CEO của Microsoft Satya Nadella,
Chủ tịch của Alibaba Jack Ma,… Đã không ít quan điểm cho rằng nếu bắt kịp được làn sóng này thì đây
là một hội lớn cho chúng ta đuổi theo kịp trình độ phát triển của các quốc gia khác. Nhưng cũng rất
nhiều ý kiến phản bác quan điểm ở trên và cho rằng Cách mạng Công nghiệp 4.0 đã và đang gây ra những
thách thức tiền khoán hậu hiện đang tồn tại rất nhiều mầm mống khủng hoảng cho nền kinh tế nói
riêng sự bất ổn cho xã hội nói chung. Vậy cuộc cách mạng này nên được hiểu ra sao? Và chúng ta cần có
những giải pháp, chuẩn bị những gì để tiếp nhận làn sóng của cuộc cách mạng công nghiệp này?
Theo người sáng lập đồng thời cũng chủ tịch điều hành Diễn đàn Kinh tế Thế Giới - Klaus
Schwab (2016) “Trong tiến trình lịch sử của loài người, cách mạng công nghiệp đầu tiên là giới hóa nền
sản xuất, xảy ra từ khoảng năm 1760-1840 do sự xuất hiện của động cơ hơi nước và đường ray xe lửa.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần 2 diễn ra vào cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX nhờ sự xuất hiện của
* Trường Đại học Kinh tế Luật ĐHQG TPHCM, Số 669, QL1A, khu phố 3, Thủ Đức, Thành phô Hồ Chí Minh, 71309, Việt Nam.
** Trường Đại học Kinh tế Luật – ĐHQG TPHCM, Số 669, QL1A, khu phố 3, Thủ Đức, Thành phô Hồ Chí Minh, 71309, Việt Nam.
671
INTERNATIONAL CONFERENCE STARTUP AND INNOVATION NATION
điện năng mà tiến hành công nghiệp hóa sản xuất hàng loạt khối lượng lớn. Cuộc cách mạng lần 3 bắt đầu
từ khoảng thập niên 60 của thế kỷ XX, khi đó sự phát triển của chất bán dẫn, các siêu máy tính (thập niên
1960), máy tính nhân (thập niên 1970 1980) mạng Internet (thập niên 1990) đã thúc đẩy việc tự
động hóa sản xuất bằng điện tử và công nghệ thông tin. Hiện nay cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 trên
sở thừa kế những thành tựu của cuộc cách mạng lần thứ ba, điểm khác biệt ở chỗ cuộc cách mạng lần này
nội hàm rộng lớn hơn, gồm kỹ thuật Dideoxy trong ADN đến công nghệ nano, hoặc năng lượng tái
tạo đến điện toán lượng tử và sự đột phá của nhiều loại công nghệ, sự tích hợp giữa các công nghệ lại với
nhau, nó đã xóa nhòa các ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và giới hữu sinh. Dẫn đến sự khác biệt về chất
của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 so với ba lần trước, hiện đang trên đà phát triển với tốc độ tăng của
hàm số chứ không còn là tăng trưởng tuyến tính bình thường. Động lực đằng sau của cuộc cách mạng
này chính xu thế phát triển vượt trội đột phá của ba lĩnh vực: vật lý, kỹ thuật số công nghệ sinh học.”
2. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ KHỞI NGHIỆP
a. Các khái niệm
i. Khởi nghiệp
Vài năm gần đây “khởi nghiệp” là chủ đề chính trong cộng đồng kinh doanh nước ta. Năm 2016 được
chọn “Năm Quốc gia Khởi nghiệp” của Việt Nam. Nhà nhà, người người đều nói về khởi nghiệp, về
startup, về tinh thần doanh nhân. Đó là điều đáng mừng. Thế nhưng có lẽ việc hiểu chính xác bản chất của
các khái niệm “khởi nghiệp”, “startup”, “entrepreneur” vẫn còn cần thêm nhiều tranh biện để làm sáng tỏ.
“Khởi nghiệp” hiểu nôm na là bắt đầu (khởi) một nghề nghiệp, sự nghiệp (nghiệp).
Nếu tra cứu thì chúng ta có thể thấy từ này đã được dùng nhiều chục năm nay, trước cả khi khái niệm
“startup” hình thành ở Thung lũng Silicon bên Mỹ.
Bên cạnh đó cách đây cả 2500 năm, Khổng Tử đã nói “tam thập nhi lập” để khuyên chúng ta bắt đầu
khởi nghiệp, lập nghiệp ở tuổi 30.
Trong khi đó với “startup”, cả trong tiếng Anh cũng chưa có một định nghĩa được chấp nhận chính thức
như chuẩn mực chung, nhưng các ý kiến còn khác nhau vẫn chia sẻ một điểm chung đó là: “Startup một
danh từ chỉ một nhóm người, một tổ chức con người cùng nhau làm một điều không chắc chắn thành công”.
Theo Neil Blumenthal, Đồng Giám đốc điều hành của Warby Parky được trích dẫn trên tạp chí
Forbes thì: “A startup is a company working to solve a problem where the solution is not obvious and
success is not guaranteed.” (tạm dịch: Startup là một công ty hoạt động nhằm giải quyết một vấn đề giải
pháp (đối với vấn đề đó) chưa rõ ràng và sự thành công không được bảo đảm).
Còn Eric Ries, tác giả cuốn sách “The Lean Startup: How Constant Innovation Creates Radically
Successful Businesses” một quyển sách được coi “cẩm nang gối đầu giường” của mọi doanh nghiệp
startup, thì: A startup is “a human institution designed to create new products and services under conditions
of extreme uncertainty” (tạm dịch: startup “là một định chế/tổ chức con người được thiết kế nhằm mục đích
tạo ra các sản phẩm và dịch vụ mới trong các điều kiện cực kỳ không chắc chắn”) .
Các từ khóa khái niệm trên bao gồm “human institution”, “new”, “extreme uncertainty”. Như thế,
“startup” trước hết là một tổ chức con người những người này tập hợp lại với nhau để sáng tạo ra những sản
phẩm mới, dịch vụ mới mà chưa biết chắc liệu có tạo ra được các sản phẩm mới, dịch vụ mới đó hay không.
Thêm nữa, về mặt câu chữ, bản thân “khởi nghiệp” là một động từ (“khởi” ngoại động từ + “nghiệp”
là tân từ bổ nghĩa cho ngoại động từ), trong khi đó “startup” (lưu ý: “startup” chứ không phải là “start up”)
là một danh từ. So sánh động từ với danh từ cũng như so sánh ki-lô-gam với ki-lô-mét vậy.
672 HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC TẾ KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO QUỐC GIA
Tóm lại, trong khi “khởi nghiệp” định nghĩa chỉ việc bắt đầu tạo dựng công việc, sự nghiệp riêng thì
“startup” là một trong những loại hình, cách thức mà chúng ta có thể chọn lựa để “khởi nghiệp”.
Nói cách khác, ta có thể nói, thí dụ, “một số bạn trẻ thay vì nộp đơn xin làm cho các tập đoàn sau khi
tốt nghiệp đã quyết định khởi nghiệp bằng cách thành lập startup trong lĩnh vực thương mại”.
Nếu muốn so sánh, thì lẽ định nghĩa nên đem vào so sánh cũng khái niệm người ta vẫn hay
nhầm lẫn với “startup” nhất chính là “kinh doanh nhỏ” (tiếng Anh là “small business”).
Mặc dầu như đã trích dẫn ở một vài cách định nghĩa ở trên, “startup” không có câu từ nào bắt buộc phải
là doanh nghiệp về công nghệ, nhưng trong thời đại hiện nay, để giải quyết các vấn đề mới, chưa biện pháp,
thì có lẽ ứng dụng công nghệ là hướng đi đa số các startup phải chọn lựa. Do vậy, cứ nói đến “startup” chúng
ta lại liên tưởng ngay đến công nghệ. Đây cũng do trong thực tiễn, chúng ta vẫn hay dùng “small
business startup” để phân biệt với “startup” vốn được hiểu rộng rãi là những doanh nghiệp, dự án công nghệ.
Cuối cùng, xin nói một chút về “entrepreneur”. người dịch “startup” “khởi nghiệp”
“entrepreneur” “lập nghiệp”. “Startup” “khởi nghiệp” thì như đã nói trên, còn “entrepreneur” thì
nên hiểu ra sao?
Theo từ điển Oxford, “entrepreneur” “a person who makes money by starting or running businesses,
especially when this involves taking financial risks” (tạm dịch: một người kiếm tiền bằng cách bắt đầu công việc
kinh doanh hoặc vận hành công việc kinh doanh, đặc biệt là khi việc này gồm sự chấp nhận rủi ro về tài chính).
Như thế rõ ràng “entrepreneur” là một danh từ chỉ một dạng người thích rủi ro, chọn việc kinh doanh để
kiếm lời. theo Eric Ries, “entrepreneurship is management” quản trị trong các “startup” cần phải thực
hiện bằng tinh thần, kỹ năng của “entrepreneur”, nghĩa là “startup”, vốn là một tổ chức con người chứ không
phải một sản phẩm, đòi hỏi một kiểu quản trị mới để đáp ứng được “những điều kiện cực kỳ không chắc
chắn” như nói trên. Eric Ries thậm chí còn cho rằng, “entrepreneur” cần được xem một chức danh công
việc (job title) trong các doanh nghiệp hiện đại những hãng dựa vào “innovation” để phát triển trong
tương lai. Nói cách khác, những người tham dự “startup” chính những “entrepreneur” (nhưng ngược lại,
“entrepreneur” không nhất thiết phải làm “startup” họ có thể làm “small business” như đã trình bày trên.)
Như thế nói “entrepreneur” “lập nghiệp” không chính xác. Chưa kể là, tương tự như “khởi
nghiệp”, “lập nghiệp” cũng một động từ chỉ việc thành lập, tạo dựng một công việc, nghề nghiệp, sự
nghiệp (nghiệp). Chúng ta có thể “lập nghiệp” bằng cách cùng cộng sự thành lập một “startup”. Ta cũng có
thể mở một tiệm cà phê nhỏ (small business) và tự hào cho mình là một “entrepreneur” thiệt sự.
Hình 2.1: Chu kỳ tăng trưởng tài chính của công ty khởi nghiệp.
673
INTERNATIONAL CONFERENCE STARTUP AND INNOVATION NATION
Cái mới của sản phẩm hay dịch vụ doanh nghiệp startup mang đến cũng yếu tố quan trọng của
định nghĩa. cũng một yếu tố phức tạp. Ta ưu tiên khái niệm rộng nhất của sản phẩm, gồm bất cứ
nguồn giá trị nào của tập hợp những người tự nguyện trở thành khách hàng. Điều này cũng đúng với hàng
được đóng gói của một cửa hàng tạp hóa, một website thương mại điện tử, một dịch vụ hội phi lợi nhuận
hoặc một loạt những chương trình của chính phủ. Trong mọi trường hợp, tổ chức được dành để phát hiện ra
nguồn giá trị mới cho khách, và quan tâm đến tác động thực tiễn của công việc đến khách hàng (trái lại, sự
độc quyền hay quan liêu thường không quan tâm đến điều đó và chỉ tìm cách duy trì bản thân).
Điều đó cũng quan trọng khi ta nói về sự sáng tạo, nhưng điều này cũng cần được hiểu một cách rộng
hơn. Ngay cả những sáng chế hiện đại nhất cũng luôn luôn được xây dựng dựa trên các công nghệ cũ. Nhiều
doanh nghiệp startup không sáng chế khía cạnh sản phẩm, dùng những sáng chế khác: điều chỉnh
những công nghệ hiện tại cho một mục đích mới, đặt ra một hình kinh doanh mới để mở ra các giá trị
trước đây chưa được tìm ra, hoặc thậm chí mang sản phẩm hay dịch vụ đến một địa điểm mới hoặc nhóm
khách mà trước đây chưa được phục vụ. Trong tất cả các trường hợp này, sự sáng tạo đổi mới là chìa khóa
đưa đến thành công cho doanh nghiệp.
Bởi vì sáng tạo vốn là sự mạo hiểm, có thể lợi nhuận quá lớn về kinh tế cho các doanh nghiệp startup
thể tận dụng rủi ro theo một cách mới – nhưng đây không phải là một phần tất yếu của doanh nghiệp startup.
Phần quan trọng cuối cùng của định nghĩa này: bối cảnh của sự sáng tạo. Hầu hết các hãng lớn nhỏ đều
bị loại trừ trong bối cảnh này. Các doanh nghiệp startup được lập ra để đối phó với các tình huống bất ngờ
nhất. Để mở một công ty mới bản sao chính xác của doanh nghiệp hiện tại, tập trung vào hình kinh
doanh, giá cả, khách hàng được nhắm tới, sản phẩm trong nhiều trường hợp một cách đầu kinh tế
khá hấp dẫn. Nhưng đó không phải doanh nghiệp startup, bởi thành công của chỉ phụ thuộc nhiều
vào cách thực thi tốt đến nỗi thành công này thể được hình hóa với độ chính xác khá cao. Đó
do tại sao nhiều công ty nhỏ có thể được tài trợ vốn vay ngân hàng; mức độ rủi ro không chắc chắn đủ
rõ rệt để một nhân viên cho vay minh mẫn có thể đánh giá triển vọng của nó.
Do vậy, các doanh nghiệp startup có một vị trí đặc biệt, khi rủi ro là không có. Trái với các trường hợp
rủi ro khác, như mua cổ phiếu rủi ro cao. Mặc dầu mức chi trả cụ thể của cổ phiếu rủi ro không được
biết đến, đầu vào các cổ phiếu như thế có thể được mô hình một cách chính xác. Vì thế một nhà vấn
tài chính giỏi thể cung cấp cho chúng ta khoản lợi tức dài hạn một cách chính xác hợp các cổ
phiếu rủi ro mang lại. Khi “phí rủi ro” tính toán được, ta không còn là startup.
Các doanh nghiệp startup được thiết kế cho các tình huống không thể hình hóa, không rệt,
độ rủi ro không nhất thiết phải lớn mà chỉ là chưa tính toán được. Xin nhấn mạnh điểm này bởi vì nó là cần
thiết để thúc đẩy số lượng lớn lý thuyết về “lean startup” (Việc sử dụng các nền tảng được kích hoạt bởi
nguồn mở các phần mềm miễn phí, tập trung vào khách hàng ý kiến phản hồi của họ). Về căn bản,
“lean startup” một phương pháp đối mặt với những điều không chắc chắn chưa được nhận ra với sự
linh hoạt, cân bằng và hiệu quả. Nó là một kinh nghiệm khác hẳn với công việc khó thực thi trong một loại
hình kinh doanh truyền thống.
Các khác biệt này vẫn là vấn đề, bởi vì “cách thực hành tốt nhất” được học từ những hoàn cảnh khác
không thể vận dụng tốt vào startup. Thiệt ra sự thất bại đáng kể nhất xảy ra khi chúng ta không nhận ra mình
đang trong tình trạng startup hoặc không nhận ra nó có ý nghĩa gì.
ii. Cách mạng công nghiệp 4.0:
Cách mạng công nghiệp đương đại bắt đầu từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, có nguyên nhân từ sự cố
gắng thích ứng của chủ nghĩa tư bản với tình hình khủng hoảng kinh tế và sự tan rã của hệ thống các thuộc
674 HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC TẾ KHỞI NGHIỆP ĐỔI MỚI SÁNG TẠO QUỐC GIA
địa, từ cuộc chiến tranh lạnh giữa hai hệ thống chính trị. Nó phát triển với tốc độ ngày càng nhanh, đem đến
cho con người những sức mạnh phi thường, mở rộng nhận thức và khả năng tư duy của loài người, làm biến
đổi sâu sắc đời sống nhân loại, đưa nền văn minh loài người quá độ sang kỷ nguyên trí tuệ với cốt lõi nền
kinh tế tri thức, đặt khoa học và công nghệ vào vị trí của lực lượng sản xuất trực tiếp. Những lĩnh vực phát
triển chủ yếu của cuộc cách mạng công nghiệp năng lượng, động lực, điện tử, tin học, công nghệ sinh
học, công nghệ các vật liệu mới, công nghệ tự động hoá, vân vân….
Hình 2.2: Các cuộc cách mạng công nghiệp trong lịch sử nhân loại.
Một số cột mốc đáng chú ý như sau: năm 1957 vệ tinh nhân tạo chinh phục không gian, 1969 con
người đặt chân lên Mặt Trăng, 1967 phát minh laser, 1964 truyền hình qua vệ tinh nhân tạo, 1973 tổng hợp
gene, 1965 chế tạo mạch tổ hợp cho máy tính điện tử, 1971 chế tạo bộ vi xử lí, 1994 ra đời máy tính điện
tử sinh học dựa trên cấu tạo bộ óc con người, 1996 nhân bản vô tính động vật có vú đầu tiên, vân vân….
Cuộc cách mạng công nghiệp này được thừa hưởng một cách trực tiếp thành quả của cuộc cách mạng
khoa học thế kỷ XX. Vì thế, thuật ngữ cách mạng khoa học và công nghệ dần trở nên phổ biến.
Cuộc CMCN 4.0 đang xóa nhòa khoảng cách giữa thế giới thực tại với thế giới ảo thông qua các công
nghệ hiện đại, sự đổi mới, sáng tạo không ngừng. Nếu trước đây phải mất gần một thế kỷ để chuyển từ cuộc
cách mạng công nghiệp sang cuộc cách mạng công nghiệp mới, thì CMCN 4.0 xuất hiện chỉ sau cuộc
CMCN lần thứ ba chưa đầy nửa thế kỷ. Mức độ ảnh hưởng, lan tỏa của cuộc cách mạng này diễn ra trên
quy mô toàn cầu, với tốc độ nhanh hơn những đã xảy ra từ trước đến nay được dự báo sẽ làm thay đổi
toàn bộ hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị trên toàn thế giới.
b. Tình hình khởi nghiệp tại Việt Nam:
i. Về số lượng
Hai năm qua, TP.HCM đã chi khoảng 90 triệu mỹ kim cho các hoạt động khởi nghiệp sáng tạo. Tuy
nhiên, điểm yếu về kết nối khoa học và công ty đang là rào cản lớn cho các startup.
Sáng ngày 26/06, Diễn đàn Kết nối startup Việt trong ngoài nước do Bộ Ngoại giao UBND
TP.HCM phối hợp tổ chức thu hút khoảng 400 đại biểu trong ngoài nước tham gia. Thứ trưởng Bộ Ngoại
giao Vũ Hồng Nam nhấn mạnh diễn đàn là sự kiện chưa từng của Việt Nam trong trào lưu khởi nghiệp
đang mở rộng và phát triển ở nước ta.