BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN HỒNG NGA
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NGÀNH TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
HÀ NỘI, NĂM 2025
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
NGUYỄN HỒNG NGA
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Mã số: 9340201
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. NGUYỄN THỊ MINH HUỆ
2. TS. NGUYỄN QUANG THƯƠNG
HÀ NỘI, NĂM 2025
i
LỜI CAM KẾT
Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật. Tôi cam
kết bằng danh dự cá nhân rằng luận án này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu
cầu về sự trung thực trong học thuật.
Hà Nội, ngày tháng năm 2025
Nghiên cứu sinh
(ký và ghi rõ họ tên)
Nguyễn Hồng Nga
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM KẾT ...............................................................................................................i
MỤC LỤC ..................................................................................................................... ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT .......................................................................................vi
DANH MỤC BẢNG ................................................................................................... vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH .................................................................. viii
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu .................................................................... 1
2. Mục tiêu nghiên cứu .............................................................................................. 3
3. Câu hỏi nghiên cứu ................................................................................................ 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu......................................................................... 4
4.1. Đối tượng nghiên cứu ........................................................................................ 4
4.2. Phạm vi nghiên cứu: .......................................................................................... 4
5. Quy trình và Phương pháp nghiên cứu ............................................................... 5
5.1. Quy trình nghiên cứu ......................................................................................... 5
5.2. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................... 6
6. Các đóng góp mới của luận án .............................................................................. 7
7. Kết cấu của luận án ................................................................................................ 9
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ........................................................... 10
1.1. Tổng hợp các nghiên cứu quốc tế ................................................................... 10
1.2. Tổng hợp các nghiên cứu trong nước............................................................ 22
1.3. Khoảng trống nghiên cứu ................................................................................. 25
CHƯƠNG 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU
TƯ CHỨNG KHOÁN VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN ........................................................................................................................ 27
2.1. Hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán ......................................... 27
2.1.1. Khái quát về quỹ đầu tư chứng khoán .......................................................... 27
2.1.2. Hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán ........................................ 33
iii
2.2. Các lý thuyết liên quan đến hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán. 39
2.2.1. Lý thuyết danh mục đầu tư ........................................................................... 39
2.2.2. Lý thuyết định giá tài sản vốn ...................................................................... 40
2.2.3. Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá ............................................................ 42
2.2.4. Lý thuyết đại diện ......................................................................................... 43
2.2.5. Lý thuyết tài chính hành vi ........................................................................... 45
2.3. Lý luận chung về các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ đầu
tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán ...................................................... 46
2.3.1. Các nhân tố bên trong ................................................................................... 46
2.3.1.1. Các nhân tố thuộc đặc điểm quỹ................................................................ 46
2.3.1.2. Các nhân tố thuộc đặc điểm của nhà quản lý quỹ ..................................... 49
2.3.2. Các nhân tố bên ngoài .................................................................................. 50
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ..................................................... 52
3.1. Xây dựng giả thuyết nghiên cứu ...................................................................... 52
3.1.1. Quy mô quỹ và hiệu quả hoạt động của quỹ ................................................ 52
3.1.2. Tỷ lệ chi phí hoạt động của quỹ và hiệu quả hoạt động của quỹ ..................... 53
3.1.3. Tốc độ vòng quay danh mục và hiệu quả hoạt động của quỹ .......................... 54
3.1.4. Đặc điểm riêng của nhà quản lý quỹ và hiệu quả hoạt động của quỹ .......... 54
3.1.5. Biến kiểm soát .............................................................................................. 55
3.2 Mô hình nghiên cứu ........................................................................................... 56
3.2.1. Khung nghiên cứu ........................................................................................ 56
3.2.2. Mô hình nghiên cứu và biến nghiên cứu ...................................................... 57
3.3. Dữ liệu nghiên cứu ............................................................................................ 61
3.4. Phương pháp phân tích tổng hợp .................................................................... 62
3.5. Phương pháp phân tích định lượng................................................................. 62
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ................................. 68
4.1. Khái quát tình hình hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường
chứng khoán Việt Nam ............................................................................................... 68
4.1.1. Khái quát tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam ................................ 68
4.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của ngành quỹ tại Việt Nam .................. 72
iv
4.1.3. Khái quát hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng
khoán Việt Nam ...................................................................................................... 76
4.2. Thực trạng hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán trên thị
trường chứng khoán Việt Nam ............................................................................... 80
4.2.1. Thực trạng hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng
khoán Việt Nam ...................................................................................................... 80
4.2.2. Thực trạng các nhân tố tác động tới hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng
khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam ........................................................ 82
4.2.3. Phân tích mối tương quan giữa hiệu quả hoạt động của quỹ và các nhân tố thuộc
đặc điểm quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam ........... 89
4.3. Kết quả nghiên cứu định lượng và thảo luận ................................................. 94
4.3.1. Thống kê mô tả ............................................................................................. 94
4.3.2. Kết quả kiểm định lựa chọn mô hình nghiên cứu ........................................ 97
4.3.3. Kiểm định các khuyết tật của mô hình ......................................................... 99
4.3.3.1. Kiểm định đa cộng tuyến ....................................................................... 99
4.3.3.2. Kiểm định tự tương quan ....................................................................... 99
4.3.3.3. Kiểm định phương sai sai số thay đổi .................................................. 100
4.3.4. Kết quả phân tích hồi quy và thảo luận ...................................................... 100
CHƯƠNG 5: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM ................................................................................................. 112
5.1. Định hướng phát triển thị trường chứng khoán và quỹ đầu tư chứng khoán
tại Việt Nam trong thời gian tới ............................................................................ 112
5.1.1. Định hướng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới .... 112
5.1.2. Định hướng phát triển quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán
Việt Nam trong thời gian tới ................................................................................ 113
5.2. Một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng
khoán trên Thị trường chứng khoán Việt Nam .................................................. 113
5.2.1. Một số khuyến nghị đối với công ty quản lý quỹ ....................................... 113
5.2.2. Một số khuyến nghị đối với các nhà đầu tư ............................................... 120
5.2.3. Một số khuyến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước ....................... 121
v
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 126
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ
TÀI LUẬN ÁN ........................................................................................................... 128
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 129
PHỤ LỤC ................................................................................................................... 138
vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Ý nghĩa
CCQ
Chứng chỉ quỹ
CTCP
Công ty cổ phần
DMĐT
Danh mục đầu tư
ĐTCK
Quỹ đầu tư chứng khoán
GTTB
Giá trị trung bình
HQHĐ
Hiệu quả hoạt động
MH1
Mô hình 1
MH2
Mô hình 2
MH3
Mô hình 3
NAV
Giá trị tài sản ròng của quỹ
NĐT
Nhà đầu tư
NHTM
Ngân hàng thương mại
SGDCK
Sở giao dịch chứng khoán
TMCP
Thương mại cổ phần
TTCK
Thị trường chứng khoán
UBCKNN Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
VNĐ
Việt Nam đồng
vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1. Các biến độc lập và biến kiểm soát trong mô hình nghiên cứu .................... 60
Bảng 4.1. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán giai
đoạn 2016 - 2023 ........................................................................................................... 81
Bảng 4.2. Kết quả thống kê mô tả các biến thể hiện đặc điểm của quỹ đầu tư ............. 94
Bảng 4.3. Một số đặc điểm nhà quản lý quỹ ở Việt Nam ............................................. 96
Bảng 4.4. Kết quả kiểm định Hausman ......................................................................... 98
Bảng 4.5. Bảng kết quả kiểm định đa cộng tuyến ......................................................... 99
Bảng 4.6. Bảng kết quả kiểm định tự tương quan ......................................................... 99
Bảng 4.7. Bảng kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi .................................... 100
Bảng 4.8. Kết quả hồi qui mô hình .............................................................................. 101
Bảng 4.9. Tổng hợp kết quả nghiên cứu các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động
của quỹ đầu tư chứng khoán ........................................................................................ 109
viii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH
Sơ đồ 3.2. Khung nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán ..... 56
Sơ đồ 3.3. Qui trình lựa chọn phương pháp ước lượng phù hợp ................................... 63
Biểu đồ 4.1. Diễn biến VNIndex qua các năm giai đoạn 2016 - 2023 .......................... 69
Biểu đồ 4.2. Số lượng tài khoản NĐT trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2016-2023 ..... 71
Biểu đồ 4.3. Số lượng và NAV các quỹ giai đoạn 2016 - 2023 .................................... 76
Biểu đồ 4.4. Số lượng trung bình nhà đầu tư tham gia vào mỗi quỹ đầu tư giai đoạn
2016 - 2023 .................................................................................................................... 77
Biểu đồ 4.5. Cơ cấu danh mục đầu tư của các quỹ giai đoạn 2016 - 2023 ................... 78
Biểu đồ 4.6. Tăng trưởng NAV/CCQ của một số quỹ đầu tư so với VNIndex giai đoạn
2018 - 2023 .................................................................................................................... 79
Biểu đồ 4.7. Quy mô quỹ trung bình giai đoạn 2016 - 2023 ......................................... 83
Biểu đồ 4.8. Tỷ lệ chi phí hoạt động trung bình của quỹ giai đoạn 2016-2023 ............ 84
Biểu đồ 4.9. Tốc độ vòng quay danh mục trung bình của các quỹ giai đoạn 2016-2023 ..... 85
Biểu đồ 4.10. Tỷ lệ nhà quản lý nam và tỷ lệ nhà quản lý có chứng chỉ CFA giai đoạn
2016-2023 ...................................................................................................................... 87
Biểu đồ 4.11. Tỷ lệ nhà quản lý quỹ đào tạo nước ngoài điều hành quỹ giai đoạn 2016-2023 ........ 88
Biểu đồ 4.12. Mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động của quỹ và quy mô quỹ đầu tư chứng
khoán giai đoạn 2016 - 2023 ......................................................................................... 89
Biểu đồ 4.13. Mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động của quỹ và tỷ lệ chi phí hoạt động
của quỹ đầu tư chứng khoán giai đoạn 2016 - 2023 ...................................................... 91
Biểu đồ 4.14. Mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động của quỹ và tốc độ vòng quay danh
mục của quỹ đầu tư chứng khoán giai đoạn 2016 - 2023 .............................................. 92
Hình 4.1. Các dấu mốc quan trọng của Thị trường chứng khoán Việt Nam ................. 68
Hình 4.2. Sự thành lập một số công ty quản lý quỹ lớn tại Việt Nam .......................... 73
1
MỞ ĐẦU
1
2
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
3
Quỹ đầu tư phát triển rất mạnh mẽ trên thế giới và đóng vai trò quan trọng trong
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
thị trường tài chính. Số lượng quỹ trên thế giới liên tục tăng qua các năm, tính đến năm
2023 trên thế giới có tới gần 140.000 quỹ. Riêng ngành quản lý quỹ ở Mỹ ghi nhận
22,11 nghìn tỷ USD tài sản quản lý, là bộ phận quan trọng đối với các nhà đầu tư Mỹ
với gần 50% các gia đình Mỹ tham gia đầu tư chứng chỉ quỹ. Mỹ cũng là nơi có nhiều
công ty quản lý quỹ hàng đầu thế giới như Blackrock, Vanguard Asset Management, và
State Street Global Advisors (theo statista.com – công bố năm 2024). Tại Việt Nam,
việc hình thành và phát triển quỹ đầu tư chứng khoán góp phần quan trọng phát triển
bền vững thị trường chứng khoán khi phát huy tốt vai trò tạo lập thị trường và phân tích
đầu tư của các định chế tài chính chuyên nghiệp, tránh những biến động không đáng có
trên thị trường do yếu tố tâm lý của các nhà đầu tư cá nhân, góp phần tăng tính thanh
khoản cho thị trường chứng khoán cũng như thúc đẩy luồng tiền đầu tư từ nước ngoài,
đồng thời giúp phân bổ vốn một cách có hiệu quả, mang lại lợi ích cho cả các nhà đầu
tư và cộng đồng doanh nghiệp. Với tư cách là người nắm giữ cổ phần, quỹ luôn theo dõi
giám sát hoạt động của các công ty, tạo áp lực buộc các doanh nghiệp nâng cao chất
lượng quản trị công ty, tạo ra “hàng hóa” có chất lượng cho thị trường chứng khoán.
Quyền lợi của nhà đầu tư quỹ được đảm bảo nhờ: (i) tính chuyên nghiệp cao của quỹ do
được điều hành bởi các nhà quản lý quỹ có kinh nghiệm chuyên môn, am hiểu thị trường;
(ii) từ nguồn vốn lớn của mình quỹ có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư giúp phân tán
rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận; (iii) cơ chế công bố thông tin của quỹ minh bạch rõ ràng,
mỗi quỹ được giám sát bởi một ngân hàng giám sát độc lập với công ty quản lý quỹ, có
chức năng kiểm tra giám sát thường xuyên để bảo đảm hoạt động của công ty quản lý
quỹ phù hợp với quy định của pháp luật và điều lệ quỹ. Lý thuyết về tài chính và thực
tiễn tại các nước có thị trường tài chính phát triển cho thấy các quỹ đầu tư có vai trò cực
kỳ to lớn đối với sự phát triển của thị trường tài chính quốc gia.
28
29
30
31
32
33
34
Phát triển quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam là một
trong những bước đi vô cùng cần thiết để có thể đạt được những mục tiêu trong định
hướng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới. Phát triển quỹ
đầu tư chứng khoán góp phần thực hiện nhiệm vụ then chốt trong chiến lược phát triển
TTCK đến năm 2030, đó là phát triển các nhà đầu tư có tổ chức, nhà đầu tư chứng khoán
chuyên nghiệp và thu hút sự tham gia của các nhà đầu tư có tổ chức của nước ngoài.
Ngành quản lý quỹ tại Việt nam bắt đầu hình thành từ năm 2003 với sự ra đời của công
35
2
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
ty Liên doanh quản lý quỹ đầu tư Việt Nam, đánh dấu sự ra đời của một loại hình tổ
chức kinh doanh chứng khoán mới trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Khẳng
định của Phó Chủ tịch UBCKNN tại Hội thảo “Phát triển ngành quản lý quỹ Việt
Nam” rằng: “Ngành quản lý quỹ ở Việt nam còn khá non trẻ, mới chỉ bắt đầu hình
thành và phát triển trong gần 20 năm trở lại đây, nhưng hiện đang có sự tăng trưởng
mạnh mẽ”. Sau 20 năm hình thành và phát triển, ngành quản lý quỹ đã có sự tăng
trưởng mạnh cả về số lượng quỹ đầu tư chứng khoán, quy mô tài sản quản lý, cũng
như loại hình quỹ đầu tư. Theo số liệu thống kê của UBCKNN, tính đến cuối năm
2023 trên thị trường có 106 quỹ với tổng giá trị tài sản ròng đạt hơn 68 nghìn tỷ
VNĐ, tăng hơn 3 lần so với cùng kỳ năm 2017 và gấp gần 2 lần so với năm 2020;
tổng giá trị tài sản quản lý của các công ty quản lý quỹ có sự tăng trưởng mạnh mẽ,
đạt 670.500 tỷ VNĐ, với`tổng số nhà đầu tư tham gia quỹ mở là 247.242. Loại hình
quỹ đầu tư dạng mở đang chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng số lượng quỹ đầu tư trên
thị trường chứng khoán Việt Nam với tỷ lệ gần 60%, còn lại là quỹ đóng, quỹ thành
viên, quỹ ETF và quỹ bất động sản. Những ưu điểm vượt trội của loại hình quỹ mở
như quỹ được quản lý đầu tư chuyên nghiệp bởi đội ngũ quản lý quỹ có trình độ cao
16
17
18
19
và kỹ năng quản lý giỏi; tài sản của quỹ được đa dạng hóa đầu tư vào các loại chứng
khoán khác nhau do lợi thế về quy mô vốn giúp cân bằng giữa lợi nhuận và rủi ro;
phù hợp với khả năng tài chính của nhiều nhà đầu tư; tính thanh khoản cao vì chứng
chỉ quỹ được mua lại bởi các quỹ đầu tư, tính minh bạch cao theo cơ chế công bố thông
20
tin định kỳ và đột xuất.
21
22
23
24
25
26
Các quỹ đầu tư hoạt động hiệu quả trên thị trường sẽ là nhân tố quan trọng giúp
thị trường chứng khoán phát triển, tạo sự phát triển ổn định và bền vững cho thị trường
chứng khoán Việt Nam, giúp thu hút dòng vốn dài hạn cho TTCK. Tổng giám đốc
VinaCapital khẳng định “ngành quản lý quỹ Việt Nam có tiềm năng khá lớn và đóng
góp vào việc phát triển thị trường chứng khoán cũng như thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
của đất nước”. Việc nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hoạt động của quỹ đầu tư
27
28
29
30
31
32
33
34
chắc chắn sẽ đóng góp được thêm các bằng chứng nghiên cứu về hiệu quả hoạt động
của quỹ đầu tư chứng khoán. Bên cạnh đó, hoạt động của quỹ đầu tư được nghiên cứu
tại Việt Nam còn rất ít, nên một nghiên cứu được thực hiện trên mẫu gồm các quỹ đầu
tư dạng mở tại thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ đóng góp về mặt lý luận cũng như
thực tiễn, là cơ sở để các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lý quỹ có những
biện pháp để gia tăng hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường
Việt Nam, góp phần phát triển thị trường tài chính quốc gia. Việc nghiên cứu hiệu
quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt
35
3
1
2
3
4
5
Nam trở nên cấp thiết để có thể đánh giá tình hình hoạt động trong thời gian vừa qua
của các quỹ đầu tư, và quan trọng hơn nữa là có những bước đi thích hợp để phát
triển quỹ đầu tư của Việt Nam trong thời gian tới, phù hợp với sự phát triển chung
của thị trường chứng khoán và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Vì vậy đề tài “Các
nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên thị
trường chứng khoán Việt Nam” thật sự cần thiết nghiên cứu tại Việt Nam
6
2. Mục tiêu nghiên cứu
7
8
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao
hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam
9
trên cơ sở các nhân tố được kiểm định và nhận dạng trong luận án.
10
Trên cơ sở đó, luận án xác định mục tiêu nghiên cứu cụ thể như sau:
11
12
13
14
Thứ nhất, lựa chọn những nhân tố bên trong quỹ để xây dựng mô hình đánh
giá tác động của các nhân tố đến hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán
(Đây là các nhân tố mà công ty quản lý quỹ cần kiểm soát và có thể điều chỉnh để
đạt các mục tiêu trong hoạt động quỹ nên luận án tập trung nghiên cứu các nhân tố
15
16
17
này để đề xuất một số khuyến nghị đối với công ty quản lý quỹ). Xác định các lý
thuyết nền tảng liên quan đến quyết định đầu tư và quản lý danh mục đầu tư chứng
khoán.
18
19
20
21
Thứ hai, trình bày thước đo hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên
TTCK Việt Nam, phân tích thực trạng hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên thị
trường chứng khoán Việt Nam và mức độ tác động của các nhân tố đến hiệu quả hoạt
động của các quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam
22
Thứ ba, trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận án đề xuất một số khuyến nghị nhằm
23
nâng cao hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
24
3. Câu hỏi nghiên cứu
25
Luận án trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
26
(1) Hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên TTCK Việt Nam được
27
thể hiện và đo lường như thế nào?
28
(2) Những nhân tố nào có tác động đến hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư
29
chứng khoán trên TTCK Việt Nam?
30
31
32
(3) Thực trạng hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán và các nhân
tố tác động như thế nào tới hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán
trên TTCK Việt Nam?
33
4
(4) Những giải pháp nào được đưa ra nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của quỹ
1
đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam?
2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3
4.1. Đối tượng nghiên cứu
4
5
6
7
8
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán
và các nhân tố bên trong quỹ - bao gồm các biến thể hiện đặc điểm của quỹ là quy mô quỹ,
tỷ lệ chi phí hoạt động của quỹ, tốc độ quay vòng danh mục đầu tư; và các biến thể hiện đặc
điểm nhà quản lý quỹ là giới tính, trình độ học vấn của nhà quản lý quỹ - có tác động đến
hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên TTCK Việt Nam.
9
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
10
Về nội dung nghiên cứu
11
12
13
Luận án nghiên cứu lý luận chung về hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư
chứng khoán thông qua các nghiên cứu quốc tế và trong nước, giáo trình quản lý
danh mục đầu tư...cũng như quy định của Luật chứng khoán 2019 và các văn bản
14
dưới luật khác liên quan đến hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán.
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
Luận án đã xây dựng mô hình nghiên cứu tác động của các nhân tố đến hiệu quả
hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên TTCK Việt Nam dựa trên các nghiên cứu
thực nghiệm được công bố ở các tạp chí khoa học uy tín, tập trung vào các nhân tố bên
trong của quỹ, đó là: quy mô quỹ (SIZE), tỷ lệ chi phí hoạt động (EXPENSE), tốc độ
vòng quay danh mục (TURNOVER), giới tính và trình độ học vấn của nhà quản lý quỹ
(GENDER, OVER, CFA). Hai biến kiểm soát là thời gian hoạt động của quỹ (AGE) và
phí giao dịch chứng chỉ quỹ (LOAD) nhằm loại bỏ khả năng tác động chi phối của các biến
này tới hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán. Với nhân tố vĩ mô, luận án
sử dụng biến lạm phát (INF) được thu thập theo tháng đưa vào mô hình với vai trò là
biến kiểm soát thể hiện đặc trưng của nền kinh tế Việt Nam, các chỉ tiêu vĩ mô khác
25
không có dữ liệu tháng nên không sử dụng trong mô hình.
26
Trên cơ sở đó, luận án đã đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả
27
hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên TTCK Việt Nam trong thời gian tới.
28
Về không gian nghiên cứu:
29
Luận án nghiên cứu dữ liệu của các quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở trên TTCK
30
Việt Nam (23 quỹ ĐTCK mở phục vụ phân tích thống kê, tổng hợp thực trạng và 16 quỹ
31
ĐTCK mở phục vụ phân tích định lượng), đây là loại hình quỹ phổ biến nhất trên TTCK
32
5
hiện nay và xu hướng phát triển tiếp theo trong tương lai vẫn tiếp tục tăng về cả số lượng
1
và chất lượng của các quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở trên thị trường.
2
Về thời gian nghiên cứu:
3
4
5
6
7
8
9
10
11
Luận án tập trung nghiên cứu dữ liệu về các quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở
trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2016 - 2023, đây là giai đoạn chứng
kiến sự phát triển nhanh chóng của quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường với số lượng
quỹ tăng hơn 3 lần, tổng tài sản quản lý cũng đạt mức đỉnh so với trước đây, hơn nữa còn
bao gồm cả thời kỳ diễn ra dịch bệnh Covid-19 gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới nền kinh
tế - xã hội nói chung và TTCK nói riêng, là bối cảnh để quỹ đầu tư phát huy lợi thế của một
tổ chức tài chính quan trọng trên thị trường. Dữ liệu về quỹ cũng như các dữ liệu thị trường
chứng khoán được tác giả thu thập đầy đủ đến năm 2023, vì vậy luận án trình bày kết quả
phân tích dữ liệu cập nhật đến hết năm 2023.
12
5. Quy trình và Phương pháp nghiên cứu
13
5.1. Quy trình nghiên cứu
14
15
Thông qua việc phân tích tác động của các nhân tố bao gồm nhân tố thuộc đặc
điểm của quỹ và các nhân tố thuộc đặc điểm của nhà quản lý quỹ tới hiệu quả hoạt động,
16
17
18
luận án đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư
chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Theo đó, quy trình nghiên cứu của
luận án được thực hiện như sau:
19
20
21
22 Nghiên cứu lý luận chung về
HQHĐ của quỹ ĐTCK và các
nhân tố tác động tới HQHĐ của
quỹ ĐTCK Xây dựng giả thuyết nghiên cứu
và mô hình nghiên cứu về tác
động của các nhân tố tới HQHĐ
của quỹ ĐTCK 23
24
25
26 Thu nhập dữ liệu và xử lý dữ liệu
nghiên cứu Phân tích thực trạng HQHĐ của
các quỹ ĐTCK và phân tích các
nhân tố tác động tới HQHĐ của
các quỹ ĐTCK tại Việt Nam
27
28
29
30 Kết luận và khuyến nghị 31 Kiểm định tác động của các nhân
tố tới HQHĐ của các quỹ ĐTCK
trên TTCK Việt Nam
Sơ đồ Quy trình nghiên cứu
32
(Nguồn: Tác giả tự xây dựng)
33
6
Xác định hướng nghiên cứu là hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứng
1
khoán và các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán, luận
2
án tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về đề tài này, trên cơ sở đó
3
nghiên cứu lý luận chung về HQHĐ của quỹ ĐTCK và các nhân tố tác động tới HQHĐ
4
của quỹ ĐTCK. Tiếp đến, tác giả xây dựng giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên
5
cứu gồm biến phụ thuộc được đo lường thông qua 3 chỉ tiêu là: tốc độ tăng trưởng giá
6
trị tài sản ròng (G_NAV), hệ số Sharpratio, hệ số JensenAlpha và các biến độc lập đại
7
diện cho các yếu tố có thể tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ. Bước quan trọng
8
tiếp theo là thu thập dữ liệu và xử lý dữ liệu nghiên cứu: tác giả thu thập dữ liệu nghiên
9
cứu của các quỹ mở trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn từ 2016 - 2023; dữ
10
liệu thu thập là nguồn thứ cấp (báo cáo hoạt động tháng của các công ty quản lý quỹ,
11
thống kê biến động thị trường qua trang stockbiz.vn, lãi suất trái phiếu Chính phủ qua
12
trang mof.gov.vn, với một số chỉ tiêu không có sẵn sẽ được tính toán theo công thức đã
13
được xác định. Sau đó, kết hợp phân tích thực trạng HQHĐ của các quỹ ĐTCK, phân
14
tích các nhân tố tác động tới HQHĐ của các quỹ ĐTCK tại Việt Nam và kiểm định tác
15
động của các nhân tố tới HQHĐ của các quỹ ĐTCK trên TTCK Việt Nam, luận án đưa
16
ra kết luận về tác động của các nhân tố bên trong quỹ đến hiệu quả hoạt động của quỹ
17
đầu tư chứng khoán, từ đó đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động
18
của quỹ đầu tư chứng khoán, góp phần phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam ngày
19
càng bền vững và hiệu quả.
20
5.2. Phương pháp nghiên cứu
21
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu nói trên, các phương pháp nghiên cứu khoa
22
học được sử dụng trong luận án bao gồm:
23
24
25
26
27
28
29
Phương pháp phân tích và tổng hợp: Để xây dựng mô hình nghiên cứu, tác giả
thực hiện phương pháp tổng hợp và phân tích thông tin từ các nghiên cứu đã được thực
hiện trong nước và quốc tế về hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán và
các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ. Kết quả phân tích và đánh giá kết
luận từ các nghiên cứu trước sẽ hỗ trợ tác giả xác định khoảng trống nghiên cứu và hình
thành khung nghiên cứu lý thuyết về tác động của các nhân tố tới hiệu quả hoạt động
của các quỹ đầu tư chứng khoán trên TTCK Việt Nam.
30
31
32
33
Phương pháp phân tích định lượng: Luận án sử dụng mô hình kinh tế lượng để
lượng hóa tác động của các nhân tố tới hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán
trên TTCK Việt Nam thông qua phần mềm STATA. Nội dung phương pháp phân tích
định lượng tác giả sẽ trình bày chi tiết hơn trong nội dung luận án.
34
7
6. Các đóng góp mới của luận án
1
Luận án dự kiến sẽ có những đóng góp vào hệ thống các nghiên cứu về quỹ đầu
2
tư tại Việt Nam, đó là:
3
Đóng góp về mặt lý luận:
4
5
6
7
8
9
10
Thứ nhất, luận án đã dựa vào lý thuyết định giá tài sản vốn (CAPM), lý thuyết
kinh doanh chênh lệch giá (APT) và các nghiên cứu thực nghiệm được công bố trên các
tạp chí uy tín như Sharpe (1966), Jensen (1968)…để đo lường hiệu quả hoạt động của
quỹ đầu tư chứng khoán ở thị trường chứng khoán Việt Nam trên cả khía cạnh lợi nhuận
và rủi ro. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của
quỹ khi quỹ muốn theo đuổi mục tiêu lợi nhuận cao nhất với mức rủi ro chấp nhận được
hoặc lợi nhuận kỳ vọng đạt được với rủi ro thấp nhất có thể.
11
12
13
14
Thứ hai, luận án đóng góp lý luận về vai trò của nhà quản lý quỹ đối với hiệu quả
hoạt động của quỹ trên cơ sở tiến hành nghiên cứu thực nghiệm các đặc điểm của nhà
quản lý quỹ - được thể hiện thông qua giới tính, chứng chỉ CFA và đào tạo nước ngoài
của nhà quản lý quỹ - tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên
15
16
17
thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay. Sử dụng lý thuyết đại diện và lý thuyết tài
chính hành vi để giải thích và khẳng định tác động của nhà quản lý quỹ đối với hiệu quả
hoạt động của quỹ.
18
Thứ ba, luận án đã sử dụng một bộ dữ liệu theo tháng của 23 quỹ đầu tư chứng
19
20
21
22
23
khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn gần đây, từ tháng 01 năm
2016 đến tháng 12 năm 2023, bộ dữ liệu bao gồm các dữ liệu thể hiện đặc điểm của quỹ
và thể hiện đặc điểm của nhà quản lý quỹ được kết hợp với nhau trong mô hình kinh tế
lượng nhằm phát hiện mức độ tác động của các nhân tố này đến hiệu quả hoạt động của
quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
24
Đóng góp về mặt thực tiễn:
25
Thứ nhất, luận án tổng quan về sự phát triển ngành quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt
26
27
Nam trong thời gian vừa qua, và triển vọng phát triển ngành quỹ trong thời gian tới, đề
cập đến một kênh đầu tư hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trên thị trường;
28
29
Thứ hai, trên cơ sở phân tích tổng hợp và phân tích định lượng, nghiên cứu kết
luận rằng ở thị trường chứng khoán Việt Nam quy mô quỹ có tác động tích cực đến hiệu
30
31
32
33
quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán do lợi thế kinh tế theo quy mô mà chưa bị
ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố thanh khoản của danh mục đầu tư của quỹ do quỹ đầu tư
chứng khoán ở Việt Nam vẫn có quy mô nhỏ và đang trong giai đoạn tăng trưởng; cùng
tác động tích cực còn có nhân tố phản ánh tần suất giao dịch chứng khoán của quỹ là tốc
34
8
1
2
3
4
5
độ vòng quay danh mục đầu tư, hay ở thị trường chứng khoán Việt Nam các quỹ đầu tư
vẫn có thể tận dụng những thời điểm thị trường định giá sai giá chứng khoán để thực
hiện giao dịch nhằm thu lợi nhuận. Ngược lại thì tỷ lệ chi phí hoạt động có tác động tiêu
cực đến hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán. Bên cạnh đó, luận án khẳng
định vai trò của nhà quản lý quỹ với các đặc điểm riêng có tác động rõ rệt đến hiệu quả
hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
6
7
8
9
10
11
12
13
14
Thứ ba, từ kết quả nghiên cứu của luận án, tác giả đề xuất với các công ty quản lý
quỹ cần tích cực gia tăng quy mô quỹ, tăng tốc độ vòng quay danh mục, kiểm soát tỷ lệ
chi phí hoạt động của quỹ, đồng thời chú ý bồi dưỡng và phát triển đội ngũ quản lý quỹ
góp phần gia tăng hiệu quả hoạt động của quỹ, phát huy vai trò tích cực của quỹ đầu tư
chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Các nhà đầu tư và các cơ quan
quản lý Nhà nước cũng có thể sử dụng những kết quả nghiên cứu được phát hiện trong
luận án để có những giải pháp phù hợp nhằm gia tăng lợi ích và quản lý hoạt động của
quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam góp phần tăng trưởng và phát triển
kinh tế - xã hội.
15
16
17
18
19
20
21
Với những đóng góp trên đây của luận án, có thể khẳng định đây là một nghiên
cứu thực hiện nghiêm túc về hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư trên thị trường chứng
khoán Việt Nam, ít nghiên cứu thực nghiệm nào ở Việt Nam xem xét yếu tố thuộc nhà
quản lý quỹ có tác động như thế nào đến hiệu quả hoạt động của quỹ, nghiên cứu về tác
động của các yếu tố thuộc quỹ tới hiệu quả hoạt động của quỹ còn rất ít. Nghiên cứu
cũng phân tích các yếu tố thuộc quỹ có tác động như thế nào tới hiệu quả của quỹ trên
thị trường chứng khoán Việt Nam.
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
Hạn chế của nghiên cứu chủ yếu liên quan đến dữ liệu thu thập được, do ngành
quỹ còn mới tại Việt Nam, số lượng các quỹ đầu tư dạng mở trên thị trường mặc dù là
loại hình chiếm đa số trong các quỹ đầu tư nhưng vẫn còn khá khiêm tốn về lượng, phạm
vi thời gian nghiên cứu của luận án cũng chỉ dừng lại ở 8 năm và dữ liệu các quỹ cũng
hạn chế với việc một số các quỹ chỉ công bố thông tin cho riêng nhà đầu tư vào quỹ nên
mới chỉ có 23 quỹ được thu thập dữ liệu. Thêm nữa là dữ liệu về quỹ chưa được phát
triển dưới dạng nguồn tra cứu mang tính thống kê toàn diện như ở thị trường chứng
khoán Mỹ (với dữ liệu CRSP) nên thời gian thu thập dữ liệu bị kéo dài, chủ yếu thông
qua việc tập hợp các báo cáo hoạt động tháng của các quỹ đầu tư. Điểm hạn chế tiếp
theo nữa của nghiên cứu là việc áp dụng một số thang đo về hiệu quả hoạt động của quỹ
trên thị trường chứng khoán Việt Nam khó có thể thực hiện do thiếu thông tin cần thiết.
Điểm thứ ba là do thời gian có dữ liệu của các quỹ để thu thập là ít nên tác giả thu thập
số liệu theo tháng để đảm bảo số quan sát của nghiên cứu, do đó với các biến số thể hiện
35
9
1
2
các nhân tố bên ngoài (như tăng trưởng GDP) không có dữ liệu theo tháng nên không
được đưa vào mô hình, chỉ có lạm phát là biến được tác giả sử dụng làm biến kiểm soát
đại diện cho các nhân tố bên ngoài có tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ.
3
4
5
6
7
8
9
Hướng nghiên cứu tiếp theo liên quan đến vấn đề này có thể xem xét mở rộng
phạm vi nghiên cứu cả về không gian và thời gian nghiên cứu với dữ liệu mang tính tổng
hợp và khái quát cao. Phát triển các nghiên cứu xây dựng và vận dụng mô hình đa nhân
tố đo lường hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên TTCK Việt Nam, tạo
điều kiện xem xét trên các chỉ tiêu khác nhau phản ánh thực trạng hiệu quả hoạt động của
các quỹ đầu tư chứng khoán hiện nay, làm cơ sở vững chắc để có các giải pháp cho phát
triển hoạt động quỹ đầu tư nói riêng cũng như ngành quỹ và TTCK Việt Nam nói chung.
10
7. Kết cấu của luận án
11
Ngoài phần mở đầu và tài liệu tham khảo, luận án được chia thành 5 chương như sau:
12
13
14
15
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương 2: Lý luận chung về hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán và
các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường
chứng khoán
16
17
18
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của quỹ đầu
19
tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam
20
10
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1
2
3
1.1. Tổng hợp các nghiên cứu quốc tế
4
5
6
7
8
9
10
11
12
Quỹ đầu tư ra đời đầu tiên tại Hà Lan vào năm 1774, khi đó một thương gia và
nhà môi giới Van Ketwich đã mời các nhà đầu tư đăng ký để thành lập một quỹ tín thác
lấy tên là một câu châm ngôn của Hà Lan, với ý nghĩa là “Đoàn kết tạo nên sức mạnh”
(Rouwenhorst, 2004). Ở Mỹ, quỹ tương hỗ đầu tiên được thành lập vào năm 1890 có
tên gọi Boston Personal Property Trust (theo Collins Advisors). Ngày nay, ngành quỹ
rất phát triển trên thế giới với gần 140.000 quỹ đầu tư dạng mở trên toàn cầu trong năm
2023, đặc biệt là Mỹ với gần 50% tài sản được quản lý bởi quỹ đầu tư. Nhiều nghiên
cứu về quỹ đầu tư được công bố trên các bài báo, tạp chí với một số hướng nghiên cứu
chính có thể kể ra, đó là nghiên cứu cách đo lường hiệu quả hoạt động của quỹ; nghiên
13
14
15
16
17
18
19
cứu các nhân tố tác động đến hiệu quả của quỹ, trong đó nhiều nhà nghiên cứu xem xét
đến tác động từ các nhân tố thuộc quỹ, các nhân tố liên quan đến nhà quản lý quỹ, các
nhân tố thuộc về yếu tố vĩ mô, tình hình phát triển của thị trường…; nghiên cứu về tính
duy trì hiệu quả hoạt động của quỹ trong một số năm ở tương lai; hay nghiên cứu về các
nhân tố tác động đến quyết định đầu tư chứng chỉ quỹ của các nhà đầu tư trên thị trường
chứng khoán... Các quỹ được nghiên cứu nhiều trên thế giới đa phần là các quỹ cổ phiếu
dạng mở, bên cạnh đó còn có quỹ trái phiếu và quỹ cân bằng.
20
1.1.1 Các nghiên cứu về thước đo hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
Thước đo hiệu quả hoạt động của quỹ được xem xét và công bố trong các nghiên
cứu như hệ số Sharpe (1966), mô hình 3-nhân tố (three-factor model) của Fama &
French (1992) hay mô hình 4-nhân tố (four-factor model) của Carhart (1997). Như vậy
có thể tổng kết rằng các thước đo hiệu quả hoạt động của quỹ bao gồm mô hình đơn
nhân tố và mô hình đa nhân tố. Mô hình đơn nhân tố được giới thiệu ban đầu bởi Sharpe
(1966) và Jensen (1968) với lý thuyết định giá tài sản vốn (CAPM) là lý thuyết nền tảng.
Hãng xếp hạng Morningstar cũng đưa ra xếp hạng về quỹ dựa trên hệ số Sharpe và
JensenAlpha. Một số nghiên cứu chứng minh mô hình đơn nhân tố có ý nghĩa giải thích
về quyết định của nhà đầu tư tốt hơn so với các mô hình đa nhân tố, và lý thuyết CAPM
là lý thuyết tốt nhất để giải thích về hiệu quả của quỹ (Berk & Van Binsbergen, 2015;
Barber & cộng sự, 2016). Với mô hình đa nhân tố, mô hình 3-nhân tố Fama-French
(1992) được phát triển với 3 yếu tố đưa vào mô hình đo lường hiệu quả quỹ là yếu tố thị
trường, yếu tố quy mô công ty và yếu tố phản ánh sự tăng trưởng của công ty. Sau đó là
nghiên cứu của Carhart (1997) với mô hình 4-nhân tố, trên cơ sở mô hình 3-nhân tố
35
11
1
2
3
Fama-French thì Carhart đã phát triển thêm nhân tố thứ tư là nhân tố thể hiện yếu tố
động lượng của hiệu quả quỹ mà trong nghiên cứu của Jagadeesh & Titman (1993) có
đề cập đến. Hai nghiên cứu của Fama & French (1992) và Carhart (1997) được lấy làm
cơ sở phát triển nhiều nghiên cứu khác sau này.
4
5
6
7
8
9
10
11
Jensen (1968) nghiên cứu 115 quỹ tương hỗ trong giai đoạn 1945-1964 và sử
dụng mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) đo lường hiệu suất điều chỉnh rủi ro (được
gọi là JensenAlpha) để đánh giá khả năng dự báo của các nhà quản lý quỹ và mức độ
đóng góp của họ vào lợi nhuận của quỹ. Kết quả của nghiên cứu chỉ ra phần lớn các quỹ
tương hỗ không thể dự báo giá chứng khoán đủ tốt để đạt được lợi nhuận vượt trội so
với thị trường, ngay cả khi loại trừ chi phí quản lý. Từ đó Jensen kết luận rằng các quỹ
tương hỗ cần đánh giá lại chi phí và lợi ích của hoạt động nghiên cứu và giao dịch để
cung cấp lợi nhuận tốt nhất cho nhà đầu tư.
12
Carhart (1997) đã vận dụng cách đo lường dựa theo mô hình định giá tài sản vốn
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
(CAPM) được trình bày trong nghiên cứu của Sharpe (1994) và Lintner (1995) hình
thành mô hình 4-nhân tố được phát triển từ mô hình 3-nhân tố Fama-French trong nghiên
cứu Fama & French (1992) bằng cách đưa thêm nhân tố động lượng (momentum) trong
mô hình. Khi đó mô hình được trình bày bao gồm 4 nhân tố thể hiện hiệu quả hoạt động
của quỹ đầu tư chứng khoán là: RMRF thể hiện lợi nhuận vượt trội so với thị trường có
trọng số giá trị, SMB thể hiện quy mô công ty (lợi nhuận của danh mục cổ phiếu có vốn
hóa nhỏ trừ đi lợi nhuận của danh mục cổ phiếu vốn hóa lớn), HML thể hiện sự tăng
trưởng của công ty (lợi nhuận của danh mục cổ phiếu có tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị
thị trường cao (P/B cao) trừ đi lợi nhuận của danh mục cổ phiếu có P/B thấp), PR1YR
thể hiện nhân tố động lượng (momentum): khuynh hướng các công ty với lợi nhuận
dương trong quá khứ đem lại lợi nhuận dương trong tương lai.
24
1.1.2 Các nghiên cứu về các nhân tố tác động tới hiệu quả hoạt động của quỹ
25
đầu tư chứng khoán
26
27
28
29
Carhart (1997) với dữ liệu tháng của các quỹ cổ phiếu ở Mỹ từ tháng 01/1962 -
12/1993 chỉ ra rằng tỷ lệ chi phí hoạt động (Expense) có tác động ngược chiều khá mạnh
đến hiệu quả hoạt động của quỹ; tốc độ vòng quay danh mục (Turnover) phản ánh chiến
lược giao dịch chủ động của quỹ có tương quan ngược chiều với hiệu quả hoạt động của
30
quỹ, với hệ số tương quan là -0,95 đối với dữ liệu nghiên cứu các quỹ mở cổ phiếu ở Mỹ.
31
32
33
Nghiên cứu Otten & Bams (2002) được thực hiện với dữ liệu theo tháng của 506
quỹ đầu tư cổ phiếu dạng mở trong khoảng thời gian từ tháng 01/1991 - 12/1998 ở 5
quốc gia châu Âu (bao gồm Pháp, Đức, Italia, Hà Lan và Anh), chiếm đến hơn 85% tổng
34
12
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
tài sản quản lý của quỹ châu Âu. Sử dụng mô hình định giá tài sản 4-nhân tố của Carhart
cho kết quả 4 trên 5 quốc gia có lợi nhuận vượt trội đáng kể (ngoại trừ quỹ đầu tư ở
Đức), đặc biệt các quỹ ở Anh có sự ổn định cao trong lợi nhuận trung bình của quỹ. Các
quỹ có quy mô nhỏ thể hiện tính hiệu quả so với chỉ số tham chiếu hơn các quỹ khác.
Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng chứng minh các nhân tố thuộc đặc điểm của quỹ là
tỷ lệ chi phí hoạt động và thời gian hoạt động của quỹ có tác động ngược chiều tới hiệu
quả hoạt động của quỹ. Khi so sánh với các bằng chứng được đưa ra ở thị trường Mỹ,
phần lớn các quỹ châu Âu có khả năng tìm kiếm và triển khai các thông tin mới để bù
đắp chi phí của họ và do đó tăng thêm giá trị cho nhà đầu tư. Yếu tố ảnh hưởng đến kết
luận này đến từ quy mô thị trường vốn của châu Âu vẫn nhỏ hơn so với Mỹ, do vậy các
quỹ đầu tư ở các thị trường lớn (như Mỹ) hoạt động tốt hơn thị trường sẽ ít và khó hơn,
hay nói cách khác các quỹ đầu tư ở thị trường châu Âu có thể ở vị thế tốt hơn để theo
dõi hoặc thậm chí đánh bại thị trường, đặc biệt các quỹ quy mô nhỏ ở châu Âu lại có thể
thu được lợi nhuận từ thị trường ngách của họ. Theo hướng này tác giả cũng đặt ra câu
hỏi thú vị rằng điều gì sẽ xảy ra với hoạt động của quỹ châu Âu khi quy mô thị trường
và tầm quan trọng của thị trường vốn ở châu Âu tăng lên trong tương lai.
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
Prather & cộng sự (2004) với mục tiêu nghiên cứu các nhân tố thuộc đặc điểm
quỹ có tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ đã tiến hành thu thập dữ liệu hơn 5000
quỹ cổ phiếu Mỹ (là các quỹ đầu tư có tỷ trọng đầu tư vào cổ phiếu từ 50% trở lên) trong
giai đoạn 1996 - 2000 từ nguồn Morningstar Principia Pro (MS) đưa ra kết luận tỷ lệ chi
phí hoạt động và phí giao dịch chứng chỉ quỹ (load fee) tác động ngược chiều đến hiệu
quả hoạt động của quỹ, luận điểm này tương tự với nghiên cứu của một số tác giả như
Dellva & Olson (1998); Elton & cộng sự (1993); Golec (1996). Hệ số âm cho thấy
hiệu quả hoạt động không đạt yêu cầu và phản ánh thực tế là các nhà đầu tư đã đền bù
quá mức cho các nhà quản lý quỹ vì kết quả kém của họ. Nghiên cứu cũng cho thấy số
lượng các quỹ được quản lý có tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt động của quỹ, hệ
số âm cho thấy sự tập trung là quan trọng và hiệu quả quản lý sẽ giảm khi người quản
27
28
29
lý cố gắng điều hành nhiều quỹ khác nhau, nói cách khác người quản lý càng dành
nhiều thời gian cho một quỹ riêng lẻ (tức là quản lý ít quỹ hơn) thì quỹ đó càng có nhiều
khả năng hoạt động tốt.
30
31
32
Babalos & cộng sự (2009) nghiên cứu dựa trên dữ liệu các quỹ cổ phiếu Hy Lạp
trong giai đoạn 2000 - 2006 để đánh giá yếu tố tác động tới hiệu quả hoạt động của quỹ
theo thước đo tăng trưởng giá trị tài sản ròng (NAV) và cho kết quả tác động tiêu cực
33
34
của tỷ lệ chi phí tới hiệu quả hoạt động của các quỹ cổ phiếu Hy Lạp. Hàm ý rút ra từ
kết quả này là khi tỷ lệ chi phí không được biết đến rộng rãi, nhà đầu tư sẽ không có
35
13
1
2
3
4
5
6
7
cơ hội có được những thông tin vô cùng quý giá cho quyết định đầu tư của mình, do
đó việc phổ biến thông tin này là cần thiết. Tương tự nghiên cứu với các quỹ đầu tư
chứng khoán Mỹ thì các tác giả Sharpe (1966), Ippolito (1989), Elton & cộng sự
(1993), Gruber (1996), Malkiel (1995), Golec (1996), Dellva & Olson (1998) cũng
chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ chi phí với hiệu quả của quỹ. Tương tự kết
quả này cũng được tìm thấy trong các nghiên cứu khác của Indro & cộng sự (1999);
Jan & Hung (2003), Prather & cộng sự (2004); Gil-Bazo & Ruiz-VerdÚ (2009),
Ferreira & cộng sự (2013).
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
Tang & cộng sự (2012) thu thập dữ liệu 138 quỹ tương hỗ Trung Quốc từ 2004 -
2009 với phạm vi là các quỹ cổ phiếu gồm quỹ mở và quỹ đóng, dữ liệu trong nghiên
cứu là số liệu bán niên trong bộ dữ liệu từ hệ thống phân tích dữ liệu Tianxiang. Sử dụng
hồi quy tuyến tính Fama-MacBeth (1973) với 3 mô hình định giá tài sản để đo lường
hiệu quả hoạt động của quỹ: hệ số Sharpe, hệ số Alpha theo CAPM và hệ số Alpha theo
mô hình 3-nhân tố Fama-French. Nghiên cứu đưa ra kết luận rằng tồn tại mối quan hệ
theo hình chữ U ngược giữa quy mô quỹ và hiệu quả hoạt động của quỹ, tức là ở một
quy mô nhất định thì hiệu quả hoạt động của quỹ tăng theo mức tăng của quy mô quỹ,
nhưng sau đó nếu quy mô quỹ tăng quá lớn thì hiệu quả của quỹ lại có xu hướng giảm,
được giải thích thông qua vấn đề lợi thế kinh tế theo quy mô và tính thanh khoản của
danh mục chứng khoán mà quỹ đang nắm giữ. Quy mô quỹ (Size) cho biết giá trị tài sản
mà quỹ quản lý, đồng nghĩa với khả năng quỹ có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư của
quỹ ở các loại tài sản khác nhau. Quy mô quỹ là một nhân tố tác động tích cực tới hiệu
quả hoạt động của quỹ ở khía cạnh giảm thiểu rủi ro do đa dạng hóa danh mục đầu tư,
bảo đảm mang lại lợi nhuận ổn định cho các nhà đầu tư, một số khoản chi phí cố định
nhỏ so với quy mô của quỹ giúp tỷ lệ chi phí của quỹ thấp và tăng lợi nhuận cũng như
hiệu quả của quỹ. Một số nghiên cứu khác cũng xem xét mối quan hệ giữa quy mô quỹ
với hiệu quả hoạt động của quỹ như Farid & Wahba (2022) trong nghiên cứu của mình
với dữ liệu của 348 quỹ được thu thập từ Hiệp hội quản lý đầu tư Hy Lạp (EIMA) giai
27
28
29
30
31
32
đoạn 2012 - 2017 đã chứng minh rằng quy mô quỹ có tác động tiêu cực đến hiệu quả
của quỹ ở Hy Lạp, hay quỹ có quy mô càng lớn thì kém năng động và hoạt động hiệu
quả thấp hơn so với các quỹ khác. Xuemin (2008), Chen & cộng sự (2004) đều kết luận
rằng quy mô quỹ có tác động ngược chiều tới hiệu quả hoạt động của quỹ, giải thích tính
thanh khoản là nguyên nhân quan trọng khiến quy mô quỹ càng lớn càng có tác động
xấu đến hiệu quả hoạt động của quỹ.
33
Ferreira & cộng sự (2013) tiến hành nghiên cứu hiệu quả hoạt động của quỹ đầu
34
tư cổ phiếu quản lý chủ động trên phạm vi quốc tế bao gồm 27 quốc gia với dữ liệu thu
35
14
thập trong giai đoạn 1997 - 2007, sử dụng mô hình 4-nhân tố của Carhart (1997) để đo
1
lường hiệu quả hoạt động của quỹ với thước đo là hiệu suất điều chỉnh rủi ro và phân
2
tích các đặc điểm quỹ như quy mô, chi phí và dòng tiền. Điểm khác biệt và quan trọng
3
được chỉ ra giữa các quỹ ở Hoa Kỳ và các quốc gia khác là quy mô quỹ tác động tiêu
4
cực đến các quỹ đầu tư Hoa Kỳ trong khi ở các quốc gia khác thì không, được giải thích
5
bởi hiệu ứng quy mô liên quan tới hạn chế thanh khoản khi đầu tư vào các cổ phiếu nhỏ
6
ở Mỹ. Như vậy đối với nhân tố quy mô quỹ thì nghiên cứu cho thấy các quỹ ở những
7
quốc gia còn lại (không phải Mỹ) hoạt động hiệu quả hơn khi quy mô quỹ càng tăng,
8
chỉ riêng các quỹ đầu tư Mỹ có hiệu quả hoạt động giảm dần theo quy mô. Nghiên cứu
9
cũng chỉ ra rằng các quốc gia có thị trường chứng khoán phát triển với thanh khoản cao
10
và thể chế pháp lý hoàn chỉnh thì các quỹ đầu tư hoạt động tốt hơn. Kết luận có mối
11
quan hệ tích cực giữa hiệu quả của quỹ đầu tư và mức độ phát triển tài chính của một
12
quốc gia, đặc biệt là thanh khoản của thị trường chứng khoán. Hơn nữa, các quỹ ở những
13
quốc gia có thể chế pháp lý mạnh, bảo vệ nhà đầu tư tốt và thực thi pháp luật nghiêm
14
ngặt hơn có xu hướng hoạt động tốt hơn. Như vậy môi trường giao dịch chứng khoán
15
và môi trường pháp lý đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích hiệu quả hoạt động
16
của quỹ đầu tư ở nhiều quốc gia.
17
Fang & Wang (2015) với dữ liệu thu thập từ Wind database bao gồm 287 quỹ
18
đầu tư của Trung Quốc trong giai đoạn tháng 01/2008 - 06/2011 nhấn mạnh vai trò của
19
việc nhà quản lý quỹ có bằng MBA hoặc CFA là một yếu tố vô cùng quan trọng trong
20
chất lượng nguồn nhân lực quản lý quỹ ở Trung Quốc, giúp họ đạt được kỹ năng lựa
21
chọn cổ phiếu tốt, góp phần tăng lợi nhuận của quỹ đầu tư và do đó nâng cao hiệu quả
22
hoạt động của quỹ. Nhà quản lý có bằng MBA tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ
23
còn tìm thấy trong nghiên cứu của Golec (1996), hay nhà quản lý quỹ có bằng CFA tác
24
động đến hiệu quả hoạt động của quỹ cũng được thể hiện trong nghiên cứu của Shukla
25
& Singh (1994), Friis & Smit (2004). Fang & Wang (2015) còn chỉ ra rằng biến đại diện
26
nhà quản lý học tập tại nước ngoài có tương quan âm đến hệ số Sharpe, được giải thích
27
bằng việc thị trường chứng khoán đặc thù của quốc gia hoạt động có những điểm khác
28
biệt nên những kiến thức nhà quản lý quỹ tiếp thu ở nước ngoài đôi khi không phù hợp
29
với thị trường trong nước. Nghiên cứu của Fang & Wang (2015) chỉ ra rằng giới tính
30
của nhà quản lý quỹ có tương quan âm với hiệu quả hoạt động của quỹ, hay các nhà
31
quản lý quỹ nữ thường có xu hướng e ngại rủi ro hơn, do đó lợi nhuận của quỹ mà họ
32
quản lý cũng bị ảnh hưởng. Giới tính cũng là yếu tố tạo nên khẩu vị rủi ro khác nhau
33
giữa nhà quản lý nam và nhà quản lý nữ (Powell & Ansic, 1997), vì vậy sẽ ảnh hưởng
34
đến các quyết định đầu tư của nhà quản lý quỹ và từ đó tác động tới hiệu quả hoạt động
35
15
của quỹ. Giới tính của nhà quản lý quỹ cũng ảnh hưởng tới quyết định đầu tư vào quỹ
1
của các nhà đầu tư, theo đó nhà đầu tư ưa thích đầu tư vào quỹ được quản lý bởi nam
2
giới hơn nữ giới (Atkinson & cộng sự, 2003). Tuy nhiên theo nghiên cứu của Hu & cộng
3
sự (2012) thực hiện đối với 60 quỹ đầu tư chứng khoán ở Đài Loan từ năm 2006 đến năm
4
2010 sử dụng cách tiếp cận DEA lại chứng minh rằng các nhà quản lý quỹ nữ điều hành
5
tốt hơn nam giới ở cả hai khía cạnh quản lý chi phí và kiểm soát rủi ro. Điều này là
6
do phong cách đầu tư thận trọng của nữ giới, ít cực đoan hơn và ổn định hơn dẫn đến
7
hiệu suất bền bỉ hơn, với kết luận của nghiên cứu này thì việc ưu tiên tuyển dụng
8
nhiều nhà quản lý nữ hơn, đưa ra các chính sách thu hút nhà quản lý xuất sắc có khả
9
năng lựa chọn cổ phiếu và thay thế các nhà quản lý hoạt động kém sẽ là gợi ý giải
10
pháp để cải thiện hiệu quả hoạt động của các quỹ. Nghiên cứu của Fang & Wang
11
(2015) cũng chỉ ra các quỹ hoạt động lâu lại có hiệu quả không cao, vì các nhà quản
12
lý quỹ này đưa ra quyết định dựa theo những kinh nghiệm đầu tư có thể không còn
13
phù hợp trong tình hình hiện tại. Bên cạnh đó các quỹ mới ra đời từ các tổ chức tài
14
chính lớn (chẳng hạn như một mảng hoạt động của ngân hàng) có được nguồn vốn
15
dồi dào, hệ thống liên kết hỗ trợ tài chính thuận lợi và động lực phát triển mạnh mẽ
16
của tổ chức ra đời sau giúp cho các quỹ này hoạt động hiệu quả hơn so với các quỹ đã
17
có mặt trên thị trường.
18
Rao & cộng sự (2017) thu thập dữ liệu của 817 quỹ tương hỗ Trung Quốc giai
19
đoạn 2004 - 2014 từ cơ sở dữ liệu tài chính RESET, đây cũng là nghiên cứu điển hình
20
về quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường mới nổi. Mô hình 4-nhân tố Carhart được
21
sử dụng để phân tích hiệu quả của quỹ và kết quả cho thấy các quỹ cổ phiếu chiến
22
thắng thị trường. Phát hiện này phù hợp với quan điểm thị trường mới nổi kém hiệu
23
quả hơn các thị trường phát triển và điều này tạo cơ hội cho các nhà quản lý quỹ cổ
24
phiếu thu được lợi nhuận bất thường. Nghiên cứu kiểm tra khả năng nắm bắt thời cơ
25
của nhà quàn lý quỹ bằng mô hình Treynor & Mazuy (1966) và Henriksson & Merton
26
(1981) và thấy rằng các nhà quản lý quỹ Trung Quốc có khả năng xác định thời điểm
27
thị trường tích cực. Nghiên cứu cũng phân nhóm các quỹ Trung Quốc để xem xét
28
tính bền vững trong hiệu quả của các quỹ và không tìm thấy bằng chứng về điều này,
29
tức là các quỹ hoạt động tốt năm trước thì không chắc chắn tiếp tục hoạt động tốt ở
30
năm tiếp theo và ngược lại. Hiệu quả hoạt động của quỹ Trung Quốc chịu tác động
31
bởi một số đặc điểm của quỹ như quy mô quỹ, tỷ lệ chi phí hoạt động và thời gian
32
hoạt động của quỹ, các nhân tố này đều có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động
33
của quỹ, kết quả này trái ngược với một số nghiên cứu trước như Carhart (1997), Chen
34
& cộng sự (2004).
35
16
Kaur (2018) thu thập dữ liệu các quỹ cổ phiếu Ấn Độ giai đoạn 2004 - 2013, sử
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
dụng thước đo hiệu quả hoạt động bao gồm lợi nhuận tổng thể và lợi nhuận điều chỉnh
rủi ro với hệ số Sharpe và mô hình 4-nhân tố Carhart. Mô hình nghiên cứu bao gồm
nhiều biến thể hiện đặc điểm của quỹ như tỷ lệ chi phí hoạt động, quy mô quỹ…, sử
dụng phương pháp ước lượng sys-GMM cho dữ liệu bảng tìm thấy bằng chứng thể hiện
tác động tiêu cực của quy mô quỹ đến hiệu quả hoạt động của quỹ, giải thích do hạn chế
về tính thanh khoản. Kết quả nghiên cứu cho thấy tác động tích cực của tỷ lệ tiền mặt
đến hiệu quả hoạt động của quỹ, do đó trạng thái thanh khoản tốt sẽ mang lại hiệu quả
hoạt động tốt hơn cho quỹ đầu tư. Tác động tích cực của tỷ lệ tiền mặt cùng với tác động
tiêu cực của quy mô quỹ cho thấy rằng các quỹ lớn thường phải đối mặt với những hạn
chế về thanh khoản, do các quỹ lớn có chiến lược đầu tư vào cổ phiếu quy mô lớn nên
họ không dễ dàng giao dịch một lượng lớn cổ phiếu trên thị trường mặc dù thì trường
đang có những dấu hiệu tích cực về lợi nhuận đạt được. Nghiên cứu cũng chứng minh
rằng giữa tốc độ vòng quay danh mục (Turnover) và hiệu quả hoạt động của quỹ có mối
quan hệ thuận chiều, điều này cho thấy quỹ đầu tư chứng khoán giao dịch tích cực để
tăng lợi nhuận của quỹ. Trái ngược với kết quả trong nghiên cứu của Carhart (1997),
16
17
18
19
Jan & Hung (2003) cho kết luận mối quan hệ ngược chiều giữa tốc độ vòng quay danh
mục với hiệu quả hoạt động của quỹ. Ippolito (1989), Droms & Walker (1996) thì không
tìm thấy mối quan hệ giữa hai biến này. Tương tự nghiên cứu của Kiymaz (2015) thực
hiện trên mẫu gồm 1.037 quỹ Trung Quốc giai đoạn tháng 01/2000 - tháng 7/2013 cũng
20
21
không tìm thấy mối quan hệ giữa tốc độ vòng quay danh mục đầu tư với hiệu quả hoạt
động của các quỹ này.
22
23
24
25
Kenchington & cộng sự (2019) nghiên cứu vai trò của nhà quản lý quỹ trong các
quyết định đầu tư vào cổ phiếu của công ty có lợi nhuận gộp lớn để tận dụng cơ hội và
thu được lợi nhuận bất thường trên thị trường hay không. Với dữ liệu của các quỹ ở Mỹ
từ năm 1984 đến 2014 thu thập từ cơ sở dữ liệu CRSP và Thomson-Reuter, cùng với
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
việc xây dựng chỉ số đo lường mức độ đầu tư vào cổ phiếu có lợi nhuận gộp cao (GPIM),
kết quả cho thấy các quỹ có GPIM cao thì có hiệu quả cao hơn so với các quỹ có GPIM
thấp, cụ thể các quỹ trong nhóm GPIM cao nhất có lợi nhuận cao hơn 0,22% mỗi tháng
so với nhóm GPIM thấp nhất. Các quỹ có chỉ số GPIM cao là nhờ kỹ năng quản lý của
các nhà quản lý quỹ thể hiện khả năng lựa chọn cổ phiếu tốt hơn và thu hút được nhiều
dòng tiền đầu tư hơn. Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà đầu tư và
nhà quản lý quỹ, giúp họ hiểu hơn về cách tận dụng các hiện tượng bất thường trên thị
trường để cải thiện hiệu quả đầu tư của quỹ, nhấn mạnh vai trò quan trọng của nhà quản
lý quỹ có thể khai thác yếu tố lợi nhuận gộp bất thường để đạt hiệu quả trong bối cảnh
thị trường tài chính hiện đại.
36
17
1
2
3
4
5
6
7
8
Edward Graham & To (2020) thu thập dữ liệu từ nguồn Morningstar của 224 quỹ
bao gồm 60 quỹ cổ phiếu châu Âu và 164 quỹ cổ phiếu của Mỹ nhằm xem xét các nhân
tố tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư, so sánh giữa thị trường Mỹ và châu
Âu bằng phương pháp phân tích so sánh định tính (fsQCA). Các tác giả tìm thấy bằng
chứng cho rằng các quỹ có xếp hạng cao và đánh giá của nhà phân tích tích cực thường
có hiệu quả tốt hơn (đo lường bằng hệ số JensenAlpha). Quy mô quỹ cũng có tác động
tích cực tới hiệu quả hoạt động của quỹ, và quỹ có chi phí thấp thì thường hoạt động tốt
hơn. Đặc điểm của nhà quản lý quỹ cũng có tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ,
với các quỹ châu Âu có xu hướng ưu tiên quản lý lâu năm hơn.
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
Busse & cộng sự (2021) với dữ liệu 583 quỹ đầu tư ở thị trường Mỹ trong giai
đoạn tháng 01/1999 - 09/2011, sử dụng thước đo hiệu quả hoạt động của quỹ theo mô
hình 4-nhân tố Carhart (Carhart, 1997) nghiên cứu chi phí giao dịch với hiệu quả hoạt
động của quỹ tìm thấy bằng chứng rằng lợi nhuận giảm theo quy mô, phát sinh do cơ
hội đầu tư hạn chế vì quỹ lớn ít giao dịch và chủ động nắm giữ lượng lớn chứng khoán
tránh phát sinh chi phí giao dịch. Nghiên cứu ghi nhận các quỹ nắm giữ cổ phiếu lớn
hơn, có tính thanh khoản cao hơn và giao dịch ít thường xuyên hơn để chủ động tránh
phát sinh chi phí giao dịch khi quỹ tăng quy mô. Mặc dù các quỹ lớn kiểm soát một
lượng đáng kể tài sản của ngành, nhưng các quỹ nhỏ vẫn tồn tại và trong nhiều trường
hợp vẫn phát triển thịnh vượng. Quỹ nhỏ có lợi thế khác biệt về khả năng tiếp cận nhiều
loại cổ phiếu (như cổ phiếu có vốn hóa thị trường nhỏ và tính thanh khoản thấp) mà các
quỹ lớn ít có khả năng khai thác do quy mô của quỹ.
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
Farid & Wahba (2022) trong nghiên cứu “The effect of fund size on mutual funds
performance in Egypt” tập trung phân tích ảnh hưởng của quy mô quỹ đến hiệu quả hoạt
động của các quỹ Ai Cập. Nghiên cứu thu thập dữ liệu thứ cấp của 348 quỹ Ai Cập trong
giai đoạn 2012 - 2017, sử dụng phương pháp dữ liệu bảng và kiểm định mô hình hồi
quy để xác định mối quan hệ giữa các biến độc lập là quy mô quỹ, thời gian hoạt động
của quỹ, loại quỹ, chi phí của quỹ và biến phụ thuộc là hiệu quả hoạt động của quỹ được
đo lường bằng hệ số Sharpe, kết luận rằng quy mô quỹ có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu
quả quỹ, cho thấy các quỹ lớn gặp bất lợi về quy mô, khó khăn trong quản lý khối lượng
tài sản lớn và vấn đề thanh khoản chứng khoán, thời gian hoạt động của quỹ cũng có
ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả quỹ hay quỹ trẻ có khả năng hoạt động tốt hơn do ít
bất lợi về quy mô và quản lý linh hoạt hơn. Bên cạnh đó nghiên cứu chỉ ra rằng chi phí
quỹ lại có tác động tích cực tới hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư trên TTCK Ai
33
34
Cập, tức là với các quỹ có chi phí cao (liên quan đến đội ngũ quản lý chuyên nghiệp) có
thể cải thiện hiệu quả hoạt động của quỹ.
35
18
Ishak & cộng sự (2022), Fang & Parida (2022)... đã tiến hành nghiên cứu hiệu
1
quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trong bối cảnh nền kinh tế nói chung và thị
2
trường chứng khoán nói riêng chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19. Đa phần
3
các nghiên cứu đều chỉ ra tính hiệu quả của quỹ đầu tư, đặc biệt trong giai đoạn khủng
4
hoảng do dịch Covid-19 thì các quỹ vẫn đạt hiệu quả cao hơn so với thị trường. Như
5
trong nghiên cứu của Ishak & cộng sự (2022) chứng minh các quỹ trên thị trường chứng
6
khoán Malaysia đều hoạt động hiệu quả ngay cả trong thời kỳ Covid. Nghiên cứu này
7
thảo luận về tác động của đại dịch Covid-19 đối với hiệu quả của các quỹ đầu tư tại
8
Malaysia, với việc áp dụng phương pháp đo lường Sharpe, Treynor và Jensen để so sánh
9
hiệu quả năm 2019 và 2020 của các quỹ tín thác đơn vị thu nhập cố định và quỹ cổ
10
phiếu, và kết luận rằng các quỹ này đều thể hiện hiệu quả tốt, đạt lợi nhuận vượt trội so
11
với mức đã thiết lập trong đại dịch Covid-19, tức là nhà đầu tư có cơ hội hưởng lợi từ
12
các quỹ đầu tư Malaysia nhờ các quỹ này quản lý rủi ro hiệu quả đối với các khoản đầu
13
tư dài hạn. Tương tự nghiên cứu của Alqadhib & cộng sự (2022) với dữ liệu 79 quỹ trên
14
thị trường Ả Rập Xê Út nhằm xem xét tác động của Covid-19 đến hiệu quả hoạt động
15
của quỹ. Tác giả áp dụng mô hình 5-nhân tố Fama & French để đo lường hiệu quả hoạt
16
động của quỹ, sử dụng phân tích dữ liệu bảng để đo lường tác động của CWI (sự thay
17
đổi số ca nhiễm mới hàng tuần) và CWF (sự thay đổi số ca tử vong hàng tuần) đối với
18
hiệu quả hoạt động của quỹ. Kết quả cho thấy CWI có tác động tiêu cực và đáng kể đến
19
lợi nhuận chưa điều chỉnh và lợi nhuận đã điều chỉnh rủi ro của quỹ, nhưng CWF thì có
20
tác động tích cực và đáng kể đến lợi nhuận của quỹ vì số ca tử vong ít hơn dự báo trước
21
đó. Chỉ một số ít các quỹ đầu tư cung cấp cho nhà đầu tư lựa chọn đầu tư phòng thủ vốn
22
trong thời kỳ đại dịch và tập trung đầu tư vào các lĩnh vực thiết yếu bao gồm thực phẩm
23
và hàng tiêu dùng thiết yếu, tiện ích, thiết bị và dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Nghiên cứu
24
đã đưa ra kết luận quan trọng rằng các quỹ Ả Rập Xê Út có lợi nhuận vượt trội so với
25
thị trường với hệ số alpha dương đáng kể là 0,15% cho thấy hiệu quả hoạt động của các
26
quỹ ở quốc gia này trong thời kỳ đại dịch. Muhammad Sali (2021) nghiên cứu về các
27
quỹ ở Ấn Độ trong thời kỳ đại dịch Covid-19 với mẫu nghiên cứu gồm 1.271 quỹ được
28
quản lý chủ động theo dữ liệu ngày trong giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2020 và
29
kết quả cho thấy các quỹ Ấn Độ có lợi nhuận không tốt hơn thị trường, từ đó tác giả kết
30
luận rằng các quỹ đầu tư ở những thị trường mới nổi như Ấn Độ không có khả năng
31
đánh bại thị trường để tạo ra lợi nhuận vượt trội trong thời kỳ suy thoái do đại dịch
32
Covid-19.
33
F. Fang & Parida (2022) nghiên cứu việc đầu tư bền vững ESG trên ba nền tảng
34
môi trường, xã hội và quản trị kinh doanh trong chiến lược đầu tư của các quỹ nhằm
35
19
nâng cao hiệu suất và góp phần mang lại kết quả xã hội tốt hơn, đã chứng minh rằng các
1
quỹ ESG cao hoạt động tốt hơn so với các quỹ có ESG thấp từ 1,32% đến 6,96% hàng
2
năm. Lợi nhuận vượt trội này tăng đáng kể trong thời kỳ thị trường đi xuống do đại dịch
3
Covid 19 gây ra, tương tự như vậy các quỹ ESG cao thu hút nhiều khoản tiền đầu tư
4
đáng kể so với các quỹ có tính bền vững thấp từ 5,28% đến 5,76% mỗi năm. Những
5
chênh lệch dòng tiền này tăng đáng kể trong và sau thời kỳ Covid-19. Điều này cho thấy
6
các nhà đầu tư coi đầu tư bền vững theo ESG là một nhu cầu thiết yếu và thái độ đầu tư
7
của họ đối với đầu tư bền vững đã thay đổi, ưu tiên đầu tư gắn với trách nhiệm môi
8
trường và xã hội. Các quỹ này có hiệu quả tăng hơn hẳn trong thời kỳ thị trường bị ảnh
9
hưởng bởi đại dịch Covid-19 so với các quỹ còn lại, chênh lệch dòng tiền thu hút đầu tư
10
vào những quỹ đầu tư bền vững ESG cũng tăng cao hơn hẳn trong và sau thời kỳ đại
11
dịch. Yarovaya & cộng sự (2021) nghiên cứu hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng
12
khoán trong thời kỳ đại dịch Covid-19 dưới tác động của vốn con người (HCE) với dữ
13
liệu thu thập của 799 quỹ mở cổ phiếu ở 5 quốc gia châu Âu, Covid-19 bên cạnh những
14
tác động xấu đến kinh tế - xã hội nói chung thì cũng là một cơ hội tốt để đánh giá hiệu
15
quả hoạt động của các quỹ như thế nào trong thời kỳ căng thẳng này. Kết quả cho thấy
16
các quỹ được xếp hạng HCE cao thì hoạt động hiệu quả hơn các quỹ còn lại, mặc dù
17
trong giai đoạn đỉnh điểm của Covid-19 thì lợi nhuận của các quỹ đều âm nhưng điều
18
quan trọng là khả năng phục hồi sau đại dịch của các quỹ có xếp hạng HCE cao, phân
19
tích về lợi nhuận vượt trội xác nhận tầm quan trọng của HCE đối với hiệu quả hoạt động
20
của quỹ. Tương tự nghiên cứu của Hasnaoui & cộng sự (2021) cũng đánh giá tầm quan
21
trọng của vốn con người đối với hiệu quả hoạt động của các quỹ, đặc biệt trong những
22
giai đoạn kinh tế khó khăn và áp lực lớn như thời kỳ đại dịch Covid-19, nghiên cứu đã
23
thực hiện thu thập dữ liệu của 2044 quỹ cổ phiếu trên 16 quốc gia châu Á bị ảnh hưởng
24
bởi Covid-19 và kết luận rằng các quỹ có hiệu quả vốn con người tốt hơn thì hoạt động
25
tốt hơn.
26
Các nghiên cứu Lucas & cộng sự (2019), Cheng & Dewi (2020)…chứng minh
27
tác động của các nhân tố bên ngoài cũng có tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ
28
bên cạnh các nhân tố bên trong đã được đề cập đến trong nhiều nghiên cứu nêu trên.
29
Lucas & cộng sự (2019) nghiên cứu dữ liệu tháng của các quỹ đầu tư Indonesia từ
30
tháng 01/2011 - 12/2017 và kết luận rằng lạm phát có tác động đến lợi nhuận của quỹ
31
cổ phiếu, Cheng & Dewi (2020) cũng đưa ra kết luận trong nghiên cứu của mình rằng
32
lạm phát có tác động ngược chiều tới hiệu quả hoạt động của quỹ. Nghiên cứu của
33
Qureshi & cộng sự (2017) chỉ ra rằng lợi suất thị trường có tương quan ngược chiều
34
với hiệu quả hoạt động của quỹ cổ phiếu và quỹ cân bằng, trong khi đó biến động thị
35
20
trường lại có tương quan cùng chiều với hiệu quả của quỹ trái phiếu. Khi thị trường
1
chứng khoán biến động có thể làm giảm giá trị tài sản của các quỹ đầu tư, hoặc khó
2
khăn trong các giao dịch chứng khoán theo chiến lược đầu tư của quỹ làm giảm hiệu
3
quả hoạt động. Các chính sách điều tiết vĩ mô của Nhà nước cũng là yếu tố có tác động
4
đến hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán. Chính sách tài khóa và chính sách
5
tiền tệ khi được thực thi sẽ có tác động đáng kể đến hoạt động của các quỹ trái phiếu.
6
Nghiên cứu của Qureshi & cộng sự (2019) chỉ ra rằng chính sách tiền tệ mở rộng có tác
7
động tiêu cực đến lợi nhuận của quỹ trái phiếu trong khi chính sách tài khóa thắt chặt lại
8
có tác động tích cực. Khi nền kinh tế tăng trưởng, lợi nhuận của doanh nghiệp thường
9
tăng theo, dẫn đến giá cổ phiếu tăng, hoạt động của doanh nghiệp đạt hiệu quả cao cũng
10
có thể khiến việc chi trả cổ tức nhiều hơn, điều này mang lại lợi ích cho các quỹ đầu tư
11
nắm giữ cổ phiếu; Tăng trưởng kinh tế mang lại nhiều cơ hội đầu tư mới cho các doanh
12
nghiệp, nhiều dự án đầu tư mới được thực hiện. Điều này mang đến cơ hội cho các quỹ
13
khi đầu tư vào các lĩnh vực tăng trưởng cao và kiếm được lợi nhuận cao hơn. Sự tin
14
tưởng của các nhà đầu tư cũng tăng lên trong điều kiện nền kinh tế tăng trưởng, điều này
15
giúp việc huy động vốn của các quỹ đầu tư dễ dàng hơn và cho phép họ mở rộng quy
16
mô hoạt động. Như vậy tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ tích cực với hiệu quả hoạt
17
động của quỹ đầu tư chứng khoán, điều này được chứng minh trong nghiên cứu của
18
Banegas & cộng sự (2013).
19
Với sự ra đời của các tổ chức xếp hạng nổi tiếng như Morningstar, Wall Street
20
Journal... thì cũng có một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa xếp hạng Morningstar’
21
ESG (Environment, Social, Governance) hay xếp hạng Wall Street Journal với hiệu quả
22
hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán và các tác giả đã tìm được bằng chứng cho
23
thấy tồn tại mối quan hệ này. Cụ thể như trong nghiên cứu của Kaniel & Parham (2017)
24
đã chứng minh rằng 31% dòng vốn tăng thêm đổ vào các quỹ đầu tư được xếp hạng cao
25
theo Wall Street Journal. Như vậy có thể thấy có mối quan hệ giữa truyền thông và hành
26
vi của các nhà đầu tư trên thị trường. Điều này cũng được Guercio & Tkac (2008) chỉ
27
ra có sự thay đổi lớn trong dòng tiền đầu tư vào các quỹ tương hỗ khi xếp hạng các quỹ
28
thay đổi, với việc nghiên cứu sự kiện hơn 10.000 xếp hạng theo Morningstar. Các nghiên
29
cứu này còn chỉ ra sự khác nhau giữa tiêu chí xếp hạng theo Morningstar và Wall Street
30
Journal (WSJ), theo đó Morningstar thường tính lợi nhuận quỹ theo thời kỳ 3, 5 hoặc 10
31
năm, trong khi đó WSJ sử dụng số liệu lợi nhuận quỹ của 12 tháng trước, và được công
32
bố rõ ràng trong các tài liệu gửi đến công chúng. Edward Graham & To (2020) sử dụng
33
phân tích so sánh fsQCA để xem xét hiệu quả hoạt động của các quỹ châu Âu và Mỹ
34
cho thấy các quỹ được xếp hạng tích cực theo Morningstar là điều kiện cần thiết để quỹ
35
21
tạo ra giá trị (được đo bằng Jensen Alpha), các quỹ có phí quản lý thấp có tỷ lệ Sharpe
1
hấp dẫn và lợi nhuận cao; Các quỹ đầu tư của Mỹ và châu Âu đều có tỷ lệ Sharpe kém
2
khi các nhà quản lý quỹ có thời gian nhiệm kỳ dài, điều này là một vấn đề cần xem xét
3
khi duy trì đội ngũ điều hành quỹ theo thời gian. Steen & cộng sự (2020) nghiên cứu
4
mối quan hệ giữa xếp hạng ESG của Morningstar và hiệu quả hoạt động của 146 quỹ
5
tương hỗ Tại Na Uy từ năm 2014 - 2018, áp dụng mô hình 3-nhân tố của Fama-French
6
để đánh giá hiệu quả hoạt động của quỹ thông qua hệ số alpha phản ánh lợi nhuận điều
7
chỉnh rủi ro, kết quả của nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ rõ rệt giữa xếp hạng
8
ESG và hiệu quả hoạt động của quỹ Na Uy; Tuy nhiên khi phân tích các quỹ đầu tư châu
9
Âu theo xếp hạng toàn cầu của Morningstar thì danh mục quỹ có xếp hạng ESG cao đạt
10
alpha là 0,4% cao hơn đang kể so với quỹ có xếp hạng ESG thấp, hàm ý rằng ở thị
11
trường châu Âu các quỹ có xếp hạng ESG cao có hiệu quả hơn so với các quỹ xếp hạng
12
ESG thấp. Hiệu ứng vượt trội này chủ yếu nhờ yếu tố Xã hội (Social) và Quản trị
13
(Governance) hơn là yếu tố Môi trường (Environmental). Kết quả nghiên cứu cho thấy
14
các quỹ có đà ESG (ESG momentum) tức là cải thiện xếp hạng ESG nhiều nhất, đạt
15
alpha 0,3% mỗi tháng tương đương 3,6% mỗi năm với mức nghĩa 5%, điều này gợi ý
16
có phần thưởng tài chính khi đầu tư vào các quỹ có xu hướng cải thiện xếp hạng ESG
17
từ mức thấp lên cao hơn thông qua vai trò cổ đông tích cực.
18
Nghiên cứu về quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán còn kể đến một loạt các
19
nghiên cứu về tính bền vững trong hiệu quả hoạt động (performance persistence) của
20
quỹ đầu tư. Điển hình là nghiên cứu của Carhart (1997) đã chỉ ra các yếu tố phổ biến là
21
lợi nhuậncổ phiếu và chi phí đầu tư giải thích được toàn bộ vấn đề về tính bền vững của
22
lợi nhuận trung bình và lợi nhuận điều chỉnh rủi ro của quỹ đầu tư. Nghiên cứu của
23
Hendricks & cộng sự (1993), Brown & Goetzman (1995), Bialkowski & Otten (2011),
24
chứng minh rằng tính duy trì trong hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư diễn ra trong
25
khoảng thời gian từ 1-3 năm; Deb (2019) nghiên cứu 263 quỹ chủ động ở Ấn Độ và
26
chứng minh rằng hiệu quả hoạt động của các quỹ Ấn Độ có tính duy trì ngắn hạn (12
27
tháng) và dài hơn đối với các quỹ lớn, lâu đời hơn, còn Grinblatt & Titman (1992), Elton
28
& cộng sự (1993) thì chỉ ra rằng tính bền vững này kéo dài trong khoảng 5 - 10 năm.
29
Với nghiên cứu của Volkman & Wohar (1995) thì tác giả tìm thấy mối liên hệ giữa mục
30
tiêu của quỹ với tính bền vững trong hiệu quả hoạt động của quỹ, và những quỹ có phí
31
quản lý thấp thường duy trì được hiệu quả hoạt động cao và ngược lại. Gần đây tác giả
32
Cuthbertson & cộng sự (2022) nghiên cứu dữ liệu của 2.183 quỹ cổ phiếu Mỹ từ tháng
33
01/1990 đến tháng 10/2021, sử dụng cả mô hình nhân tố học thuật (mô hình 4-nhân tố
34
Carhart, mô hình 6-nhân tố Fama & French) và mô hình nhân tố mang tính thực hành
35
22
(mô hình 7-nhân tố IDXI của Cremers), các quỹ được sắp xếp thành danh mục dựa trên
1
hiệu quả trong quá khứ và được giữ trong khoảng thời gian khác nhau (1, 3, 6, 12 tháng)
2
để khẳng định tính duy trì trong hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư ở Mỹ, kết quả
3
cho thấy hiệu quả hoạt động của quỹ mang giá trị dương (hệ số alpha dương) có thể
4
được duy trì trong các danh mục đầu tư nhỏ với thời gian nắm giữ ngắn (dưới 6 tháng),
5
từ đây nghiên cứu đề xuất rằng các nhà đầu tư có thể đạt được alpha dương bằng cách
6
hình thành danh mục nhỏ từ các quỹ có hiệu suất cao trong quá khứ và nắm giữ trong
7
thời gian ngắn (6 tháng trở xuống).
8
Những nghiên cứu gần đây về yếu tố tác động đến quyết định của nhà đầu tư vào
9
quỹ đầu tư cũng được nhiều tác giả quan tâm. Hai nghiên cứu nổi tiếng gần đây là nghiên
10
cứu của Berk & Van Binsbergen (2015) (BvB) và nghiên cứu của Barber & cộng sự
11
(2016) (BHO) đưa ra kết luận giống nhau, đó là các nhà đầu tư vào quỹ có sử dụng mô
12
hình định giá tài sản vốn (CAPM) để đánh giá hiệu quả hoạt động của các quỹ tương hỗ,
13
từ đó làm cơ sở phân bổ dòng tiền đầu tư của mình vào các quỹ. Tương tự, trong nghiên
14
15
cứu của Berk & Green (2004) chứng minh rằng các nhà đầu tư lý trí sẽ ra quyết định đầu
tư dựa vào những phân tích về các kỹ năng của nhà quản lý quỹ. Tuy nhiên cũng có một
16
số kết quả nghiên cứu đưa ra nhận định hoàn toàn khác với những nghiên cứu trên:
17
Itzhak Ben-David & cộng sự (2019) đã chứng minh rằng các nhà đầu tư vào quỹ tương
18
hỗ sử dụng những tín hiệu dễ theo dõi - đó là xếp hạng các quỹ tương hỗ theo Morningstar
19
và lợi nhuận của quỹ những kỳ gần đây - để quyết định đầu tư vào quỹ nào, mà không sử
20
dụng bất kỳ mô hình định giá tài sản nào cho quyết định đầu tư của họ. Việc các nhà đầu
21
tư dựa theo xếp hạng các quỹ (theo Morningstar, Wall Street Journal) để ra quyết định
22
đầu tư vào quỹ cũng được tìm thấy trong các nghiên cứu của Guercio & Tkac (2008),
23
Reuter & Zitzewitz (2010), Kaniel & Parham (2017). Tương tự với nghiên cứu của Ben-
24
David & cộng sự (2019) một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các nhà đầu tư vào quỹ
25
xem xét lợi nhuận của quỹ trong những năm gần đây để ra quyết định đầu tư như
26
Chevalier & Ellison (1997), Sirri & Tufano (1998), Choi & Robertson (2020).
27
1.2. Tổng hợp các nghiên cứu trong nước
28
29
30
31
32
33
34
Các nghiên cứu ở Việt Nam về quỹ đầu tư còn khá khiêm tốn, mới chỉ dừng lại
ở việc nghiên cứu về vấn đề quản lý quỹ đầu tư chứng khoán dưới giác độ quy định
pháp luật hay phát triển quỹ đầu tư chứng khoán trên cơ sở xem xét thực trạng quỹ
đầu tư trên thị trường và nghiên cứu kinh nghiệm phát triển quỹ ở một số các quốc
gia. Điều này có thể lý giải do ngành quỹ của Việt Nam còn khá non trẻ với số lượng
quỹ chưa nhiều nên việc thu thập thông tin và nghiên cứu về hoạt động của quỹ đầu
tư còn hạn chế.
35
23
Một số bài báo nghiên cứu về quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam
1
như nghiên cứu của Nguyễn Thu Thủy (2011) đưa ra kinh nghiệm phát triển quỹ đầu tư
2
chứng khoán ở Mỹ, Nhật, Singapore, Thái Lan, phân tích thực trạng tại Việt Nam từ đó
3
đưa ra một vài gợi ý về việc thành lập quỹ mở trên thị trường chứng khoán, hoàn thiện
4
khung khổ pháp lý cho hoạt động của quỹ đầu tư, phát triển các công ty quản lý quỹ và
5
ngân hàng giám sát bằng cách cho phép công ty quản lý quỹ trong nước liên doanh với
6
nước ngoài (có giới hạn tỷ lệ) nhằm tranh thủ vốn và kỹ năng của đối tác nước ngoài.
7
Tạp chí tài chính (2019) có đưa ra bài nghiên cứu về quỹ đầu tư chứng khoán trên
8
phương diện quản lý giám sát nhà nước đã đưa ra những giải pháp hoàn thiện các quy
9
định pháp luật về quản lý và giám sát quỹ đầu tư chứng khoán nhằm bảo vệ quyền lợi
10
của nhà đầu tư trên cơ sở nêu một số điểm bất cập trong quy định hiện nay, như tồn tại
11
vốn pháp định của công ty quản lý quỹ còn nhỏ hơn so với quỹ đầu tư là chưa hợp lý,
12
hay ngân hàng giám sát do công ty quản lý quỹ lựa chọn ở giai đoạn đầu khi thành lập
13
quỹ, điều này sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của các nhà đầu tư. Nghiên cứu của Phạm
14
15
Tiến Đạt & Phạm Quang Huy (2023) tiến hành phân tích thực trạng của các quỹ đầu tư
trái phiếu tại Việt Nam, tác giả bình luận, đối chiếu so sánh quá trình xây dựng pháp
16
luật cũng như những giải pháp phát triển quỹ đầu tư trái phiếu tại Việt Nam như đẩy
17
mạnh hoạt động của các tổ chức xếp hạng tín nhiệm, nghiên cứu ban hành các ưu đãi về
18
thuế, đa dạng hóa kênh phân phối chứng chỉ quỹ.
19
Nghiên cứu gần đây được thực hiện bởi hai tác giả Nguyễn Thị Hoa & Nguyễn
20
Thị Nguyệt Dung (2019) đã tiến hành xem xét mối quan hệ giữa các biến số thể hiện
21
sự phát triển kinh tế và các biến thuộc quỹ có tác động như thế nào đến hiệu quả hoạt
22
động của quỹ, kết quả cho thấy có mối quan hệ thuận chiều giữa kinh tế vĩ mô và
23
hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư, với các biến thuộc quỹ thì không tìm thấy
24
mối quan hệ giữa quy mô quỹ và hiệu quả hoạt động của quỹ, và quỹ đầu tư thụ động
25
hoạt động hiệu quả hơn quỹ đầu tư chủ động. Nghiên cứu của Trần Thị Xuân Anh &
26
Trần Thị Thu Hương (2021) đánh giá hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư khác
27
nhau trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong bối cảnh đại dịch Covid-19, nghiên
28
cứu chỉ ra rằng ở làn sóng dịch bệnh thứ nhất, hiệu suất của hầu hết các quỹ đều
29
không tốt, nhưng biến động của các quỹ đã giảm xuống trong các làn sóng dịch bệnh
30
tiếp theo nhờ những chính sách quyết liệt phòng chống và dập dịch của Chính phủ.
31
Trong nghiên cứu Nguyễn Hồng Nga & Nguyễn Thị Thu Trang (2022) nhóm tác giả
32
chứng minh yếu tố tỷ lệ chi phí hoạt động có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt
33
động của các quỹ mở cổ phiếu tại Việt Nam. Nghiên cứu của Nguyễn Quang Minh
34
Nhi (2022) phân tích hiệu quả tài chính và các yếu tố quyết định lợi nhuận của các
35
24
công ty quản lý quỹ Việt Nam trong giai đoạn 2014-2020, kết quả cho thấy quy mô
1
quỹ là yếu tố quan trọng nhất đối với hiệu quả tài chính của công ty quản lý quỹ, các
2
công ty quản lý quỹ lớn thì có lợi nhuận cao hơn, phù hợp với lý thuyết lợi thế kinh
3
tế theo quy mô.
4
Một số luận án kinh tế nghiên cứu về quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán
5
Việt Nam theo hướng nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển quỹ đầu tư
6
chứng khoán. Luận án của Nguyễn Ngọc Linh (2022) được tác giả thu thập dữ liệu về
7
quỹ đầu tư chứng khoán từ chuyên trang tài chính và trang web của quỹ đầu tư chứng
8
khoán đã thiết lập bộ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán
9
hoạt động tại Việt Nam từ năm 2017 đến năm 2021 trên khía cạnh sinh lời, sử dụng
10
thước đo Sharpe và Treynor đánh giá hiệu quả sinh lời có điều chỉnh theo rủi ro và sử
11
dụng phần mềm R để đánh giá nguy cơ rủi ro trong hoạt động của quỹ đầu tư chứng
12
khoán để có nhìn nhận đa chiều về hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư nhằm giúp quỹ
13
có giải pháp cải thiện hiệu quả hoạt động tốt hơn. Luận án tiến sĩ của Dương Hùng Sơn
14
(2012) nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn ở các nước về quỹ đầu tư chỉ số, từ đó đề xuất
15
biện pháp thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển quỹ đầu tư chỉ số tại Việt Nam,
16
trong đó đưa ra mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến quỹ đầu tư chỉ số là sự phát
17
triển của nền kinh tế, hiệu quả của thị trường chứng khoán, quy định pháp luật, mức sinh
18
lời bình quân thị trường. Qua thu thập và phân tích dữ liệu với mô hình hồi quy đa biến
19
tác giả chỉ ra các yếu tố tác động đến quỹ đầu tư chỉ số là sự phát triển của thị trường
20
chứng khoán, hiệu lực pháp luật và mức độ phát triển của nền kinh tế. Tác giả cũng đề
21
xuất một số giải pháp chính nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển quỹ đầu tư chỉ số
22
tại Việt Nam như xây dựng mô hình quỹ đầu tư chỉ số phù hợp với Việt Nam, giải pháp
23
về pháp luật, hoàn thiện chỉ số chứng khoán, tác động đến nhận thức của nhà đầu tư.
24
Luận án kinh tế của Nguyễn Thu Thủy (2011) đã tổng kết sự phát triển của quỹ đầu tư
25
trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2004 đến 2010, nêu những ưu điểm và
26
hạn chế và đưa ra các giải pháp nhằm mục tiêu phát triển quỹ đầu tư chứng khoán đến
27
năm 2015 định hướng đến năm 2020. Luận án của Nguyễn Văn Định (2001) nghiên
28
cứu quỹ đầu tư trong bối cảnh thị trường chứng khoán Việt Nam mới hình thành (ngày
29
20/07/2000 bắt đầu có giao dịch chứng khoán trên thị trường) cho đến tháng 05/2001
30
nên tác giả chủ yếu nêu thực trạng của quỹ đầu tư phát triển địa phương và quỹ đầu tư
31
mạo hiểm. Với quỹ đầu tư phát triển địa phương có ghi trong điều lệ về hoạt động mua
32
bán chứng khoán, môi giới và kinh doanh chứng khoán nhưng chưa quỹ nào thực hiện,
33
mà hoạt động đầu tư chủ yếu là cho vay dự án và đầu tư xây dựng bất động sản. Còn
34
quỹ đầu tư mạo hiểm thì hầu hết đầu tư vào các công ty có vốn đầu tư nước ngoài,
35
25
dưới hình thức mua cổ phần hoặc nợ có khả năng chuyển đổi. Luận án của Nguyễn
1
Văn Định (2001) cũng nghiên cứu kinh nghiệm phát triển quỹ đầu tư ở một số quốc
2
gia như Hồng Kông, Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc, và đưa ra một số
3
giải pháp phát triển quỹ đầu tư, đó là lựa chọn mô hình quỹ đầu tư tín thác, thúc đẩy
4
thành lập quỹ và các công ty quản lý quỹ...
5
Như vậy, các nghiên cứu trên thế giới về hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư
6
chủ yếu được nghiên cứu ở các thị trường phát triển như Mỹ, một vài nước châu Âu và
7
châu Á. Với những sự khác biệt về điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị nên một số kết
8
luận đưa ra có sự khác nhau giữa các thị trường. Các nghiên cứu trên thế giới đã đi sâu
9
nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của quỹ trên các khía cạnh như trình bày thước đo
10
hiệu quả hoạt động của quỹ với hệ số Sharpe, Jensen Alpha hay mô hình 3-nhân tố Fama
11
& French... ; xem xét và chứng minh các nhân tố thuộc đặc điểm của quỹ như quy mô
12
quỹ, tỷ lệ chi phí hoạt động, tốc độ vòng quay danh mục, nhà quản lý quỹ... và các nhân
13
tố bên ngoài như lạm phát, chính sách tiền tệ, xếp hạng quỹ... có tác động đáng kể đến
14
hiệu quả hoạt động của quỹ. Bên cạnh đó một số nghiên cứu còn chỉ ra rằng hoạt động
15
của quỹ đầu tư chứng khoán hiệu quả và có thể chiến thắng thị trường trong nhiều thời
16
kỳ, đặc biệt giai đoạn khủng hoảng do Covid-19 gây ra. Thị trường chứng khoán Việt
17
Nam mang những đặc điểm riêng nên cần nghiên cứu kỹ lưỡng được thực hiện để có cơ
18
sở vững chắc cho những bước đi tiếp theo cho sự phát triển bền vững của quỹ đầu tư
19
chứng khoán trên thị trường.
20
Những nghiên cứu ở Việt Nam về quỹ đầu tư còn rất ít so với những nghiên
21
22
23
24
25
26
27
cứu đã được công bố ở các nước trên thế giới, một phần do thị trường chứng khoán Việt
Nam nói chung và ngành quỹ nói riêng còn khá non trẻ, do vậy hạn chế trong việc thu
thập và phân tích dữ liệu về quỹ. Các nghiên cứu ở Việt Nam thiếu vắng những nghiên
cứu về quỹ đầu tư như áp dụng phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động của quỹ theo
mô hình nào để phù hợp với thị trường Việt Nam, các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả
hoạt động của các quỹ đầu tư là gì, mức độ tác động ra sao…nên chưa có cơ sở vững
chắc cho việc đánh giá hoạt động của những quỹ này và đưa ra các giải pháp phát triển
ngành quỹ trong tương lai.
28
29
30
1.3. Khoảng trống nghiên cứu
31
Qua quá trình tổng hợp các nghiên cứu đã công bố về hiệu quả hoạt động của quỹ
32
đầu tư có thể thấy những khoảng trống nghiên cứu như sau:
33
26
1
2
3
4
Thứ nhất, nghiên cứu về quỹ đầu tư chứng khoán ở thị trường chứng khoán Việt
Nam còn rất hạn chế. Các nghiên cứu quốc tế đa phần nghiên cứu hiệu quả hoạt động
của quỹ đầu tư chứng khoán trên những thị trường chứng khoán phát triển trên thế giới,
đặc biệt là ở Mỹ, và một số quốc gia phát triển khác như Anh, Pháp, Đức…Ở Việt Nam
chưa có nhiều nghiên cứu về quỹ đầu tư chứng khoán.
5
6
7
8
Thứ hai, có ít nghiên cứu thực nghiệm về nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt
động của quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam. Những nhân tố nào tác động đến hiệu
quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán và mức độ tác động ra sao chưa được làm rõ
trong các nghiên cứu ở Việt Nam.
9
10
11
12
Thứ ba, chưa có nghiên cứu thực nghiệm nào ở Việt Nam khẳng định vai trò của
nhà quản lý quỹ đối với hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán. Lịch sử phát
triển của quỹ đầu tư chứng khoán đã khẳng định vai trò quan trọng của các nhà quản lý
quỹ đối với hiệu quả của quỹ đầu tư nhờ khả năng lựa chọn cổ phiếu và xây dựng danh
13
14
15
mục đầu tư. Quỹ có hiệu quả cao thường là quỹ có nhà quản lý giỏi, kiến thức chuyên
môn cao, nhiều kinh nghiệm và ngược lại. Nhưng ở Việt Nam chưa có nghiên cứu thực
nghiệm nào chứng minh vai trò này.
16
17
18
19
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm lấp đầy các khoảng trống nghiên cứu nêu trên.
Cụ thể luận án đóng góp thêm cho nghiên cứu về quỹ đầu tư chứng khoán ở thị trường
chứng khoán Việt Nam với những nét đặc trưng riêng của TTCK và nền kinh tế; luận án
chứng mình mối quan hệ giữa các nhân tố thuộc đặc điểm quỹ với hiệu quả hoạt động của
20
21
22
23
quỹ đầu tư chứng khoán, và đặc điểm của nhà quản lý quỹ có tác động như thế nào đối với
hiệu quả hoạt động của quỹ, từ đó có những giải pháp thiết thực và xác đáng để phát triển
quỹ đầu tư chứng khoán trong thời gian tới, phù hợp với chiến lược phát triển nhà đầu tư
có tổ chức, nhà đầu tư chuyên nghiệp trên TTCK.
24
27
1
2
3
CHƯƠNG 2:
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ
ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
4
5
6
2.1. Hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán
7
2.1.1. Khái quát về quỹ đầu tư chứng khoán
8
2.1.1.1. Khái niệm
9
10
11
Quỹ đầu tư chứng khoán là một nhà đầu tư tổ chức trên thị trường chứng khoán
với hoạt động huy động vốn thông qua phát hành chứng chỉ quỹ để đầu tư vào các chứng
khoán trên thị trường thông qua phân tích và quản lý bởi các nhà quản lý quỹ chuyên
12
nghiệp. Một số khải niệm được nêu ra về quỹ đầu tư chứng khoán như sau:
13
14
15
16
17
Theo điều 4 của Luật Chứng khoán 2019 có nêu: “Quỹ đầu tư chứng khoán là
quỹ hình thành từ vốn góp của nhà đầu tư với mục đích thu lợi nhuận từ việc đầu tư vào
chứng khoán hoặc vào các tài sản khác, kể cả bất động sản, trong đó nhà đầu tư không
có quyền kiểm soát hằng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư vào quỹ” (Quốc hội,
2019, 5).
18
19
20
21
22
23
Theo Ủy ban Giao dịch và Chứng khoán Hoa Kỳ (SEC, 2016, 4): “Quỹ đầu tư là
một công ty đầu tư tập hợp tiền từ nhiều nhà đầu tư (NĐT) và đầu tư khoản tiền này vào
các cổ phiếu, trái phiếu, công cụ thị trường tiền tệ ngắn hạn, các chứng khoán hoặc tài
sản khác. Các chứng khoán và tài sản kết hợp mà quỹ sở hữu được gọi là danh mục đầu
tư của quỹ. Các NĐT mua phần đóng góp trong quỹ đầu tư. Mỗi phần đóng góp đại diện
cho quyền sở hữu một phần của NĐT trong quỹ và thu nhập mà nó tạo ra”.
24
25
26
27
28
Theo Nguyễn Thị Minh Huệ (2023, 235): “Quỹ đầu tư là một định chế tài chính
trung gian phi ngân hàng thu hút tiền nhàn rỗi từ các nguồn khác nhau để đầu tư vào
các cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ, hay các loại tài sản khác. Tất cả các khoản đầu tư này
đều được quản lý chuyên nghiệp, chặt chẽ bởi công ty quản lý quỹ, ngân hàng giám sát
và cơ quan có thẩm quyền khác”.
29
30
Như vậy, quỹ đầu tư là một tổ chức hoạt động trên thị trường tài chính, họ huy
động vốn từ các nhà đầu tư trên thị trường thông qua phát hành chứng chỉ quỹ và sử
31
32
dụng số tiền huy động được này để ra các quyết định đầu tư chứng khoán trên thị trường.
Nhà đầu tư mua chứng chỉ quỹ tức là sở hữu một phần chứng khoán trong danh mục đầu
33
28
1
2
3
4
5
6
tư của quỹ. Quỹ đầu tư huy động vốn từ cá nhân hoặc tổ chức để đầu tư vào các loại tài
sản như cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản hay các công cụ tài chính khác. Vốn được
quản lý bởi các chuyên gia tài chính theo một chiến lược đầu tư cụ thể, với mục tiêu tối
ưu hóa lợi nhuận và quản lý rủi ro. Mỗi nhà đầu tư tham gia vào quỹ sẽ sở hữu một phần
trong tổng danh mục đầu tư của quỹ. Việc nắm giữ này được thể hiện thông qua việc sở
hữu các chứng chỉ quỹ đầu tư. Chứng chỉ quỹ là loại chứng khoán xác nhận quyền sở
hữu của nhà đầu tư đối với một phần vốn góp vào quỹ đầu tư chứng khoán.
7
8
9
10
11
12
13
14
Quỹ đầu tư với đặc điểm chính là huy động vốn tập thể từ nhiều nhà đầu tư (cá
nhân, tổ chức) tạo ra nguồn vốn lớn để đầu tư vào nhiều loại tài sản khác nhau - đa dạng
hóa danh mục đầu tư - để giảm thiểu rủi ro, các quỹ được quản lý chuyên nghiệp bởi các
nhà quản lý quỹ có chuyên môn cao chịu trách nhiệm phân tích thị trường, lựa chọn tài
sản và ra quyết định đầu tư. Đầu tư vào quỹ cũng có tính thanh khoản cao vì nhà đầu tư
có thể rút vốn dễ dàng bằng cách bán chứng chỉ quỹ cho công ty quản lý quỹ hay các
đại lý được chỉ định (quỹ mở) hoặc cho các nhà đầu tư khác thông qua niêm yết chứng
chỉ quỹ (quỹ đóng).
15
2.1.1.2 Phân loại quỹ đầu tư
16
17
18
Việc phân loại quỹ đầu tư là việc làm cần thiết giúp nhà đầu tư có góc nhìn tổng
quan về các quỹ như đặc điểm của mỗi quỹ, chiến lược đầu tư của quỹ, mức độ rủi ro
chấp nhận được của mỗi quỹ… Trên cơ sở đó có thể đánh giá và lựa chọn quỹ đầu tư
19
phù hợp với mục tiêu của nhà đầu tư.
20
Theo Điều 99 Luật Chứng khoán 2019 thì quỹ đầu tư chứng khoán bao gồm quỹ
21
đại chúng và quỹ thành viên:
22
23
24
25
26
27
Quỹ đại chúng: “Quỹ đại chúng là quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện chào bán
chứng chỉ quỹ ra công chúng” (Quốc hội, 2019, 5). Nhà đầu tư có thể là cá nhân hay
pháp nhân nhưng đa phần là các nhà đầu tư riêng lẻ. Quỹ đại chúng cung cấp cho các
nhà đầu tư nhỏ phương tiện đầu tư đảm bảo đa dạng hóa đầu tư, giảm thiểu rủi ro và chi
phí đầu tư thấp với hiệu quả cao do tính chuyên nghiệp của đầu tư mang lại. Quỹ đại
chúng bao gồm quỹ đóng và quỹ mở:
28
29
30
31
32
33
Quỹ đóng: “Quỹ đóng là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công
chúng không được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư” (Quốc hội, 2019, 5). Quỹ phát
hành chứng chỉ quỹ một lần duy nhất khi tiến hành huy động vốn cho quỹ và không thực
hiện việc mua lại chứng chỉ quỹ khi nhà đầu tư có nhu cầu bán lại. Quỹ đầu tư này
thường không phát hành thêm chứng chỉ quỹ, cũng không mua lại chứng chỉ quỹ đã phát
hành. Nhằm tạo tính thanh khoản cho loại quỹ này, sau khi kết thúc việc huy động vốn,
34
29
1
2
các chứng chỉ quỹ sẽ được niêm yết trên thị trường chứng khoán. Các nhà đầu tư có thể
mua hoặc bán để thu hồi vốn đầu tư của mình thông qua thị trường thứ cấp. Chứng chỉ
quỹ có thể được giao dịch thấp hơn hoặc cao hơn giá trị tài sản ròng của quỹ (NAV).
3
4
5
6
7
8
9
10
11
Quỹ mở: “Quỹ mở là quỹ đại chúng mà chứng chỉ quỹ đã chào bán ra công
chúng phải được mua lại theo yêu cầu của nhà đầu tư” (Quốc hội, 2019, 5). Sau đợt
phát hành lần đầu ra công chúng, giao dịch mua/bán của nhà đầu tư được thực hiện
định kỳ căn cứ vào giá trị tài sản ròng (NAV). Giao dịch này được thực hiện trực tiếp
với công ty quản lý quỹ hoặc tại các đại lý chỉ định, do vậy số vốn của quỹ đầu tư
không ngừng thay đổi. Các chứng chỉ quỹ mở được bán trực tiếp cho nhà đầu tư không
qua sở giao dịch hay nói cách khác, chứng chỉ quỹ đầu tư mở sẽ không niêm yết trên
sở giao dịch. Giá chứng chỉ quỹ mở sẽ tùy thuộc vào giá trị tài sản ròng trên một chứng
chỉ và lệ phí bán.
12
Ngoài hai loại quỹ này, hiện nay trên thị trường tồn tại một loại quỹ mà nó được
13
14
15
16
17
18
19
biết đến như là quỹ lai giữa quỹ mở và quỹ đóng về cách thức huy động - đó là quỹ đầu
tư chỉ số hay còn gọi quỹ hoán đổi danh mục - Exchange traded funds (ETF). Quỹ hoán
đổi danh mục là quỹ mở được hình thành từ việc tiếp nhận, hoán đổi danh mục chứng
khoán cơ cấu lấy chứng chỉ quỹ. Quỹ ETF có một số đặc điểm như: chứng chỉ quỹ ETF
được niêm yết trên SGDCK, giá giao dịch gần với NAV, giao dịch trực tiếp với quỹ
hàng ngày, danh mục đầu tư của quỹ được công khai và quỹ công bố NAV hàng ngày
(Nguyễn Thị Minh Huệ, 2023, 239-240).
20
21
22
23
Quỹ thành viên: “Quỹ thành viên là quỹ đầu tư chứng khoán có số thành viên
tham gia góp vốn từ 02 vến 99 thành viên và chỉ bao gồm thanh viên là nhà đầu tư chứng
khoán chuyên nghiệp” (Quốc hội, 2019, 5). Quỹ huy động vốn bằng phương thức phát
hành riêng lẻ cho một nhóm nhỏ các nhà đầu tưCác nhà đầu tư vào quỹ thành viên
24
25
thường với lượng vốn lớn, và đổi lại họ có thể tham gia vào việc kiểm soát hoạt động
đầu tư của quỹ.
26
Căn cứ theo tính chất pháp lý: Quỹ đầu tư gồm Quỹ đầu tư dạng công ty và Quỹ
27
đầu tư dạng hợp đồng (Nguyễn Thị Minh Huệ, 2023, 238)
28
29
30
31
32
33
Quỹ đầu tư dạng công ty: quỹ là một pháp nhân, bộ phận điều hành cao nhất là
Hội đồng quản trị (HĐQT) quản lý, giám sát toàn bộ hoạt động đầu tư của quỹ, lựa chọn
công ty quản lý quỹ và giám sát hoạt động đầu tư của công ty quản lý quỹ và có quyền
thay đổi công ty quản lý quỹ. Trong mô hình này, công ty quản lý quỹ hoạt động như
một nhà tư vấn đầu tư, chịu trách nhiệm tiến hành phân tích đầu tư, quản lý danh mục
đầu tư và thực hiện các công việc quản trị kinh doanh khác.
34
30
1
2
3
4
5
Quỹ đầu tư dạng hợp đồng: mô hình quỹ này không phải là pháp nhân. Công ty
quản lý quỹ đứng ra thành lập quỹ, tiến hành việc huy động vốn, thực hiện việc đầu tư
theo những mục tiêu đã đề ra trong điều lệ quỹ. Nhà đầu tư là những người góp vốn vào
quỹ (nhưng không phải là cổ đông như mô hình quỹ đầu tư dạng công ty) và ủy thác
việc đầu tư cho công ty quản lý quỹ để bảo đảm khả năng sinh lợi cao nhất từ khoản vốn
đóng góp của họ. Đây là mô hình quỹ tín thác đầu tư.
6
Căn cứ theo đối tượng đầu tư: Quỹ đầu tư gồm quỹ cổ phiếu, quỹ trái phiếu và
7
quỹ thị trường tiền tệ (Nguyễn Thị Minh Huệ, 2023).
8
Quỹ cổ phiếu: là loại quỹ đầu tư sử dụng hầu hết tiền vốn của quỹ để đầu tư vào
9
10
các loại cổ phiếu của các công ty trên thị trường, thường là cổ phiếu của các công ty có
danh tiếng, có hướng phát triển tốt
11
12
13
14
Quỹ trái phiếu: là loại dùng số tiền huy động được đầu tư vào trái phiếu, có thể
là trái phiếu Chính phủ hoặc trái phiếu doanh nghiệp được xếp hạng cao nhằm đạt được
sự ổn định về thu nhập. Đây là loại quỹ đầu tư hoạt động an toàn nhất. Cũng có quỹ đầu
tư vào trái phiếu của những công ty nhỏ, uy tín thấp… Loại trái phiếu này có khả năng
15
rủi ro cao nhưng lãi suất cao hơn.
16
17
18
Quỹ thị trường tiền tệ: quỹ huy động vốn từ nhà đầu tư và thường đầu tư vào các
công cụ trên thị trường tiền tệ với thời gian ngắn như tín phiếu, thương phiếu, chứng chỉ
tiền gửi, mang tính chất an toàn, ngắn hạn và tính thanh khoản cao.
19
2.1.1.3. Hoạt động của quỹ đầu tư
20
21
22
Hoạt động của quỹ đầu tư bao gồm nhiều nội dung: huy động vốn, hoạt động đầu
tư, bảo quản tài sản và giám sát hoạt động của quỹ, định giá, cung cấp thông tin (Nguyễn
Thị Minh Huệ, 2023).
23
24
Huy động vốn: các quỹ đầu tư thường phát hành cổ phiếu hoặc chứng chỉ quỹ
đầu tư mà không được phép phát hành trái phiếu hay các nguồn vốn khác để đầu tư. Đối
25
26
27
28
29
với quỹ đầu tư dạng công ty, quỹ phát hành cổ phiếu để huy động vốn. Đối với quỹ đầu
tư dạng hợp đồng, số lượng vốn dự kiến được chia thành các đơn vị và quỹ phát hành
chứng chỉ quỹ để xác nhận số vốn mà người đầu tư góp vào quỹ. Khi phát hành chứng
khoán, quỹ đầu tư được phép quảng cáo để thu hút vốn, trong đó nói rõ mục đích đầu tư
của quỹ mà không được phép cam kết về lợi nhuận thu được. Có 2 cách thức phát hành:
30
31
32
Có thể huy động vốn thông qua các đợt phát hành riêng lẻ cho nhóm nhỏ các nhà
đầu tư, có thể được lựa chọn trước, hoặc bán rộng rãi cho các nhà đầu tư lớn mà không
thông qua trung gian.
33
31
Các quỹ niêm yết và bán chứng khoán công khai cho các nhà đầu tư riêng lẻ hoặc
1
tổ chức đầu tư thông qua người bảo lãnh, các tổ chức bảo lãnh phát hành thường giữ vai
2
trò là người bán buôn hay người phân phối cho các đại lý bán hàng (có thể là ngân hàng
3
thương mại, công ty chứng khoán, công ty tài chính…) để họ bán thông qua mạng lưới
4
của họ.
5
Hoạt động đầu tư: đây là hoạt động quan trọng nhất đối với một quỹ đầu tư. Các
6
quỹ thường đầu tư rất rộng như chứng khoán, bất động sản, các công trình cơ sở hạ
7
tầng…Quỹ đầu tư thường phải phân tích, đánh giá tình hình, năng động trong đa dạng
8
hóa danh mục tùy theo thị trường. Quy trình hoạt động đầu tư của quỹ thường trải qua
9
một số bước như: nghiên cứu, phân tích lợi nhuận và rủi ro, xác định mục tiêu đầu tư,
10
phân bổ tài sản và lựa chọn chứng khoán, xây dựng danh mục đầu tư.
11
Bảo quản tài sản và giám sát hoạt động của quỹ: tài sản của quỹ do người lưu giữ
12
hoặc ngân hàng giám sát kiểm soát để bảo đảm công ty quản lý quỹ thực hiện đúng tôn
13
chỉ, điều lệ nhằm bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, trách nhiệm quản lý tài sản quỹ giao
14
cho ngân hàng giám sát hoặc ngân hàng lưu ký.
15
Thiết lập cơ chế thoát vốn cho các nhà đầu tư: nhà đầu tư đánh giá đúng các
16
khoản đầu tư của mình, để có thể tiếp tục đầu tư hoặc thu hồi vốn. Việc đánh giá giá trị
17
tài sản của quỹ được thực hiện thông qua chỉ tiêu giá trị tài sản ròng của quỹ (NAV -
18
Net Asset Value).
19
20
21
22
Cung cấp thông tin cho nhà đầu tư: Định kỳ quỹ cung câ giá trị NAV cho các
nhà đầu tư làm cơ sở xác định giá mua bán; cung cấp thông tin liên quan tới hoạt động
của quỹ như các báo cáo tài chính, tình hình tài chính, tình hình đầu tư… nhằm giúp người
đầu tư đánh giá đúng thực trạng của các khoản đầu tư, để đánh giá rủi ro và lợi nhuận.
23
2.1.1.4. Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư tham gia vào quỹ đầu tư chứng khoán
24
Theo điều 101 Luật Chứng khoán 2019 (Quốc hội, 2019), nhà đầu tư có các
25
quyền sau:
26
Hưởng lợi từ hoạt động đầu tư của quỹ đầu tư chứng khoán tương ứng với tỷ lệ
27
vốn góp;
28
Hưởng các lợi ích và tài sản được chia hợp pháp từ việc thanh lý tài sản quỹ đầu
29
tư chứng khoán;
30
Yêu cầu công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán mua lại chứng chỉ quỹ mở;
31
Khởi kiện công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, ngân hàng giám sát hoặc tổ
32
chức liên quan nếu tổ chức này vi phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình;
33
32
Thực hiện quyền của mình thông qua Đại hội nhà đầu tư;
1
Chuyển nhượng chứng chỉ quỹ theo quy định tại Điều lệ quỹ đầu tư chứng khoán;
2
Quyền khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ quỹ đầu tư chứng khoán.
3
Nhà đầu tư có các nghĩa vụ sau đây:
4
Thanh toán đủ tiền mua chứng chỉ quỹ;
5
Nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật và Điều lệ quy định chứng khoán.
6
2.1.1.5. Vai trò của quỹ đầu tư chứng khoán
7
Vai trò của quỹ đầu tư chứng khoán đối với thị trường chứng khoán (Trung tâm
8
Nghiên cứu khoa học và Đào tạo chứng khoán, 2022):
9
Quỹ đầu tư chứng khoán tạo hiệu quả và góp phần ổn định thị trường chứng
10
khoán: Với vai trò là các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp, có tầm nhìn chiến lược lâu dài,
11
việc nắm giữ chứng khoán của các quỹ đầu tư mang tính dài hạn và ổn định, giúp bình
12
ổn thị trường chứng khoán.
13
Góp phần tăng cung - cầu về chứng khoán: các quỹ đầu tư phát hành chứng chỉ
14
quỹ sẽ tạo các hàng hóa mới, tăng cung cho thị trường chứng khoán. Ngoài ra, các quỹ
15
đầu tư khi tham gia đầu tư mua bán các loại chứng khoán sẽ làm tăng lượng cầu về
16
chứng khoán.
17
Góp phần phát triển thị trường vốn và tăng cường năng lực quản trị doanh nghiệp:
18
sự tham gia của các quỹ đầu tư vào thị trường chứng khoán thúc đẩy sự tăng trưởng và
19
phát triển có trật tự, ổn định của cả thị trường cổ phiếu và trái phiếu và việc củng cố vai
20
trò của các tổ chức trên thị trường làm cho năng lực quản trị doanh nghiệp tốt hơn.
21
Giúp nâng cao chuẩn mực và chất lượng quản lý đầu tư: các quỹ đầu tư được
22
quản lý bởi các tổ chức chuyên nghiệp, mang tính chuyên môn hóa cao; các tổ chức này
23
thực hiện các nghiên cứu một cách chặt chẽ và giám sát, theo dõi một cách cẩn trọng
24
các loại chứng khoán mà quỹ đầu tư vào.
25
Giúp huy động có hiệu quả các nguồn vốn để phát triển nền kinh tế: quản lý hiệu
26
quả các quỹ đầu tư chứng khoán góp phần quan trọng làm tăng nguồn vốn có thể đầu tư
27
trong nền kinh tế và chuyển nguồn vốn nhàn rỗi từ những người tiết kiệm sang các tổ
28
chức cần vốn đầu tư cho phát triển.
29
30
31
Giúp xã hội hóa hoạt động đầu tư chứng khoán: quỹ đầu tư tạo ra một phương
thức đầu tư giúp các nhà đầu tư nhỏ, ít có sự hiểu biết về chứng khoán vẫn có thể tham
gia vào thị trường chứng khoán.
32
33
Vai trò của quỹ đầu tư chứng khoán đối với nhà đầu tư:
1
Quỹ đầu tư chứng khoán giúp nhà đầu tư đa dạng hóa danh mục đầu tư, giảm
2
thiểu rủi ro: quỹ đầu tư tập hợp tiền từ nhiều nhà đầu tư thành một lượng tiền lớn để đầu
3
tư, giúp cho mỗi người dù chỉ có ít vốn vẫn được tham gia chung vào tất cả các dự án
4
đầu tư của quỹ, như vậy sẽ giúp giảm bớt rủi ro và đảm bảo ổn định lợi nhuận.
5
Tăng cường tính chuyên nghiệp của việc đầu tư: quỹ đầu tư với đội ngũ nhân
6
viên có kiến thức, có trình độ và chỉ chuyên sâu vào việc đầu tư sẽ dễ dàng phân tích
7
được tình hình và đánh giá dự án hơn các nhà đầu tư cá nhân rất nhiều. Họ có thể áp
8
dụng các kiến thức chuyên môn sâu trong lĩnh vực tài chính và đầu tư chứng khoán, kết
9
hợp với kinh nghiệm tham gia thị trường tài chính sẽ giúp đội ngũ chuyên gia của quỹ
10
phân tích và ra quyết định đầu tư hiệu quả.
11
Giảm chi phí thông tin, nghiên cứu và giao dịch: quỹ đầu tư có thể giúp giảm bớt
12
chi phí trên một đồng vốn đầu tư do có khả năng tiếp cận với các dự án dễ dàng hơn và
13
là nhà đầu tư lớn nên họ có khả năng nhận được các ưu đãi về chi phí giao dịch.
14
Bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư tốt hơn: tỷ lệ tham gia vốn vào tổ chức phát hành
15
lớn, hiểu biết sâu về pháp luật và quản trị công ty, quỹ đầu tư có thể gây ảnh hưởng một
16
cách tích cực đến việc bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư trước sự thao túng của cổ đông
17
trong nội bộ doanh nghiệp và ban giám đốc, đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư.
18
2.1.2. Hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán
19
2.1.2.1. Khái niệm hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
Hiệu quả (Efficiency) là khái niệm chỉ mức độ sử dụng tối ưu các nguồn lực
đầu vào để đạt kết quả đầu ra mong muốn. Trong từ điển kinh tế học (Nguyễn Văn
Ngọc, 2006) có nêu: “Hiệu quả là mối quan hệ giữa các đầu vào nhân tố khan hiếm
và sản lượng hàng hóa, dịch vụ. Mối quan hệ này có thể tính bằng hiện vật (hiệu
quả kỹ thuật) hoặc giá trị (hiệu quả kinh tế). Khái niệm hiệu quả còn được dùng
làm tiêu chuẩn để đánh giá xem thị trường phân bổ nguồn lực tốt đến mức nào. Hiệu
quả hoạt động là mức độ sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Hiệu quả hoạt động càng lớn thì
lợi nhuận của một công ty hoặc một khoản đầu tư càng cao. Điều này là do chủ thể
kinh doanh tạo ra thu nhập hoặc lợi nhuận cao hơn cho cùng một khoản chi phí hoặc
thấp hơn so với các lựa chọn kinh doanh thay thế. Hiệu quả hoạt động trong thị
31
32
trường đầu tư thường tập trung vào việc tối ưu các chi phí giao dịch liên quan đến
khoản đầu tư.
33
34
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
Jensen (1969) đưa ra khái niệm hiệu quả theo nghĩa Markowitz-Tobin-Sharpe:
“Danh mục đầu tư hiệu quả là danh mục mang lại lợi nhuận kỳ vọng tối đa cho một
mức rủi ro nhất định, và rủi ro tối thiểu cho một mức lợi nhuận kỳ vọng nhất định
(rủi ro đề cập trên đây là rủi ro tổng thể của danh mục đầu tư)”. Như vậy quỹ có danh
mục đầu tư hiệu quả là danh mục đạt được sự cân bằng tối ưu giữa lợi nhuận và rủi
ro, yếu tố kiểm soát rủi ro được nhấn mạnh trong danh mục đầu tư của quỹ do tính
chất quy mô đầu tư của quỹ lớn hơn so với cá nhân nên có thể đa dạng hóa danh mục
đầu tư giúp hạn chế rủi ro trong đầu tư chứng khoán. Jensen sử dụng hệ số Jensen
Alpha để đo lường hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư với ý nghĩa thể hiện phần lợi
nhuận vượt trội so với kỳ vọng dựa trên mô hình định giá tài sản vốn (CAPM). Khi
hệ số Alpha dương (α > 0) tức là danh mục hoạt động tốt hơn kỳ vọng, tạo ra lợi
nhuận vượt trội so với mức bù rủi ro theo CAPM, nếu Alpha bằng 0 (α = 0) tức là
danh mục hoạt động theo đúng kỳ vọng, phù hợp với mức bù rủi ro theo CAPM, còn
khi Alpha âm (α < 0) thể hiện danh mục hoạt động kém hơn kỳ vọng, không đạt được
mức bù rủi ro theo CAPM. Hệ số Jensen Alpha dương và càng cao thì càng phản ánh
nhà quản lý có khả năng tạo ra lợi nhuận vượt trội sau điều chỉnh rủi ro.
16
Theo Luật chứng khoán 2019 thì quỹ đầu tư hình thành từ vốn góp của nhà
17
đầu tư (cá nhân hoặc tổ chức), hoạt động với mục đích thu lợi nhuận từ đầu tư chứng
18
khoán (cổ phiếu, trái phiếu…) hoặc các tài sản khác, kể cả bất động sản. Trong đó
19
nhà đầu tư không có quyền kiểm soát hàng ngày đối với việc ra quyết định đầu tư
20
của quỹ, mà quyền quản lý và quyết định đầu tư do đội ngũ quản lý quỹ thực hiện.
21
Thực chất hoạt động nghiệp vụ của quỹ đầu tư là việc thực hiện chức năng quản lý
22
vốn thông qua việc đầu tư theo danh mục đầu tư hiệu quả nhất làm gia tăng giá trị
23
của quỹ đầu tư. HQHĐ của quỹ đầu tư được phản ánh chủ yếu ở kết quả đầu tư của
24
quỹ, phản ánh khả năng mang lại lợi nhuận trên mức trung bình ứng với mức độ rủi
25
ro được chấp nhận, khả năng đa dạng hóa DMĐT nhằm loại bỏ rủi ro phi hệ thống.
26
Do đó, việc đánh giá HQHĐ của quỹ đầu tư luôn đi kèm với việc tạo ra lợi nhuận
27
điều chỉnh theo mức rủi ro của DMĐT cao hơn nhờ việc lựa chọn thời điểm đầu tư
28
tốt (market timing) và/hoặc lựa chọn được cổ phiếu tốt (Stock picking) của quỹ. Lợi
29
nhuận điều chỉnh rủi ro mới phản ánh hiệu quả hoạt động thực sự của quỹ đầu tư với
30
một số thước đo phổ biến như hệ số Sharpe (Sharpe ratio) đo lường lợi nhuận vượt
31
trội so với lãi suất phi rủi ro trên một đơn vị rủi ro, hệ số Alpha của Jensen (Jensen
32
Alpha) đo lường phần lợi nhuận vượt trội so với kỳ vọng dựa trên mô hình CAPM.
33
34
Như vậy có thể đưa ra khái niệm: “Hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng
khoán là khả năng quỹ tạo ra lợi nhuận cho các nhà đầu tư, trong khi quản lý các
35
35
1
2
3
4
5
6
7
khoản chi phí và rủi ro ở mức chấp nhận được. Hiệu quả hoạt động cao thể hiện khả
năng điều hành quỹ của công ty quản lý quỹ, phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận và
sinh lời của quỹ so với mục tiêu và chiến lược đầu tư đã đề ra”. Khái niệm hiệu quả
hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán được dùng để đánh giá mức độ thành công
của quỹ trong việc đạt được các mục tiêu đầu tư, bao gồm khả năng sinh lời, khả
năng kiểm soát rủi ro và sự bền vững của quỹ trong dài hạn. Hiệu quả hoạt động của
quỹ đầu tư chứng khoán thường được phản ánh thông qua các chỉ số khác nhau bao
gồm tăng trưởng lợi nhuận, hệ số Sharpe, hệ số Jensen Alpha...
8
2.1.2.2. Các thước đo thể hiện hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán
9
Để đo lường hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán, các nhà nghiên
10
cứu đã phát triển một số thang đo được sử dụng phổ biến liên quan đến hoạt động
11
của quỹ trong thực tiễn, đặc biệt là các quỹ cổ phiếu vì phần lớn các nhà đầu tư đều
12
lựa chọn đầu tư quỹ cổ phiếu, nếu so với quỹ trái phiếu thì số vốn đầu tư vào quỹ cổ
13
phiếu gấp khoảng 2 lần (Elton & Gruber, 2000). Thước đo hiệu quả hoạt động của
14
quỹ được sử dụng rất phổ biến trong các nghiên cứu như Tốc độ tăng trưởng giá trị
15
tài sản ròng (NAV), hệ số Sharpe (1966) trong mô hình đơn nhân tố; mô hình 3-nhân
16
tố (three-factor model) của Fama & French (1992) hay mô hình 4-nhân tố (four-factor
17
model) của Carhart (1997) trong mô hình đa nhân tố.
18
a. Tốc độ tăng trưởng giá trị tài sản ròng
19
Tốc độ tăng trưởng giá trị tài sản ròng của quỹ là chỉ tiêu đo lường hiệu quả
20
hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán xuất phát từ khái niệm lợi suất đầu tư được
21
đề cập trong cuốn sách “Investment” của Bodie & cộng sự (2011) đề cập đến mức
22
tăng hoặc giảm giá trị của một khoản đầu tư trong một khoảng thời gian cụ thể, biểu
23
thị dưới dạng phần trăm hoặc giá trị tiền tệ, mà không so sánh với bất kỳ tiêu chuẩn
24
nào (như chỉ số thị trường hay lãi suất phi rủi ro). Đây là cách đo lường đơn giản
25
tập trung vào kết quả thực tế mà nhà đầu tư nhận được từ khoản đầu tư của mình,
26
với công thức tính sau:
27
(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)
(cid:1792)(cid:1809)(cid:1820) (cid:3404) (cid:3)
28
Trong đó:
(cid:1788)(cid:1775)(cid:1796)(cid:1809)(cid:1820) (cid:3398) (cid:3) (cid:1788)(cid:1775)(cid:1796)(cid:1809)(cid:1820)(cid:3398)(cid:2778)
(cid:1788)(cid:1775)(cid:1796)(cid:1809)(cid:1820)(cid:3398)(cid:2778)
29
Rit: Lợi suất đầu tư quỹ i kỳ t
30
NAVit: Giá trị tài sản ròng quỹ i kỳ t
31
NAVit-1: Giá trị tài sản ròng quỹ i kỳ (t-1)
32
36
1
2
3
4
5
6
Đối với nhà đầu tư cá nhân, lợi suất đầu tư này là chỉ số trực quan để đánh giá
xem khoản đầu tư có sinh lời hay không, tuy nhiên tác giả Bodie & cộng sự (2011)
nhấn mạnh rằng chỉ nhìn vào lợi suất đầu tư này không đủ để đưa ra quyết định đầu
tư tối ưu, nhà đầu tư cần xem xét rủi ro, chi phí cơ hội và bối cảnh thị trường. Do
vậy các chỉ số như hệ số Sharpe, Jensen Alpha... được hình thành nhằm đánh giá hiệu
quả đầu tư nói chung và hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán nói riêng
được toàn diện hơn.
7
b. Mô hình đơn nhân tố
8
Mô hình đơn nhân tố được biết đến với một số thước đo như hệ số Sharpe,
9
10
11
hệ số Jensen Alpha được phát triển dựa theo lý thuyết định giá tài sản vốn (CAPM)
và cũng là mô hình được sử dụng phổ biến trong nhiều nghiên cứu về quỹ đầu tư
chứng khoán.
12
Hệ số Sharpe
13
14
15
16
17
18
19
Hệ số Sharpe được phát triển đầu tiên bởi Sharpe (1966) theo mô hình đơn
nhân tố với lý thuyết định giá tài sản vốn (CAPM) là lý thuyết nền tảng. Hãng xếp
hạng Morningstar cũng đưa ra xếp hạng về quỹ dựa trên hệ số Sharpe. Một số nghiên
cứu chứng minh mô hình đơn nhân tố có ý nghĩa giải thích về quyết định của nhà
đầu tư tốt hơn so với các mô hình đa nhân tố, và lý thuyết CAPM là lý thuyết tốt
nhất để giải thích về hiệu quả của quỹ (Berk & Van Binsbergen, 2015; Barber &
cộng sự, 2016)
20
Hệ số Sharpe để đo lường hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán có
21
công thức sau:
22
(cid:2175)(cid:2190)(cid:2183)(cid:2200)(cid:2198)(cid:2187)(cid:2191)(cid:2202) (cid:3404) (cid:3)
(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:4666)(cid:2779)(cid:4667)
23
Trong đó:
(cid:2174)(cid:2191)(cid:2202) (cid:3398) (cid:2174)(cid:2188)(cid:2202)
(cid:2252)(cid:2202)
24
Sharpeit: hệ số Sharpe của danh mục đầu tư quỹ i kỳ t
25
Rit: Lợi suất khi đầu tư vào danh mục quỹ i kỳ t
26
Rft: Lợi suất phi rủi ro kỳ t
27
σit: Độ lệch chuẩn của danh mục quỹ i kỳ t
28
29
30
Hệ số Sharpe đo lường lợi nhuận vượt trội trên mỗi đơn vị rủi ro của quỹ (đo
lường bằng độ lệch chuẩn của danh mục đầu tư). Tối đa hóa hệ số Sharpe đồng nghĩa
với việc chọn quỹ có lợi nhuận vượt trội cao nhất trên mỗi đơn vị rủi ro.
31
37
Hệ số JensenAlpha
1
Hệ số JensenAlpha được giới thiệu bởi Jensen (1968) với mô hình đơn nhân tố.
2
3
4
5
6
7
Cơ sở lý thuyết của mô hình này là mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) với ý nghĩa
hệ số α (alpha) cho biết quỹ hoạt động tốt hơn bao nhiêu so với việc kết hợp danh mục
đầu tư thị trường và đi vay/cho vay với mức lãi suất phi rủi ro sao cho sự kết hợp này
có cùng mức rủi ro với quỹ đang được xem xét. Barber & cộng sự (2016) chứng minh
rằng mô hình đơn nhân tố dựa trên danh mục thị trường giải thích quyết định của nhà
đầu tư tốt hơn các mô hình đa nhân tố.
8
Hệ số Jensen Alpha là hệ số chặn theo công thức:
9
Rit - Rft = αit + βit(Rmt - Rft) + eit (3)
10
Trong đó:
11
Rit: Lợi suất khi đầu tư vào quỹ i kỳ t
12
Rft: Lợi suất phi rủi ro kỳ t
13
αit: Hệ số alpha đo lường hiệu quả hoạt động của quỹ i kỳ t
14
βit: Hệ số rủi ro hệ thống quỹ i kỳ t
15
Rmt: Lợi suất của thị trường kỳ t
16
eit: Tập hợp các yếu tố khác tác động đến lợi suất của quỹ
17
c. Mô hình đa nhân tố
18
19
Các thước đo về lợi nhuận của danh mục đầu tư của quỹ được xây dựng theo cách
tiếp cận của mô hình đa nhân tố dựa trên hệ số Sharpe và hệ số Jensen Alpha và phát
20
triển thêm một số thành phần khác với công thức tổng quát:
21
(4)
Rit
(cid:2167)
(cid:2193)(cid:2880)(cid:2778)
22
Trong đó:
(cid:3397) (cid:3) (cid:2187)(cid:2191)(cid:2202)
(cid:3404) (cid:2183)(cid:2191) (cid:3397) (cid:963)
(cid:2746)(cid:2191)(cid:2193)(cid:2165)(cid:2193)(cid:2202)
23
βik: Hệ số đánh giá tác động của yếu tố k đến chứng khoán quỹ i
24
Ikt: Yếu tố k tác động đến lợi suất của chứng khoán của quỹ i
25
26
27
Mô hình đa nhân tố đã được nhiều nhà nghiên cứu phát triển để đo lường hiệu
quả hoạt động của quỹ đầu tư như mô hình 3-nhân tố Fama & French (1992), mô hình
4-nhân tố Carhart (1997)…
28
Mô hình 3-nhân tố Fama & French
29
30
Fama & French (1992) đã phát triển mô hình đa nhân tố đầu tiên với phương
pháp tiếp cận ngoài yếu tố thị trường có ảnh hưởng đến lợi nhuận vượt trội của tài sản
31
38
1
2
quỹ quản lý, thì yếu tố quy mô công ty và sự tăng trưởng của công ty cũng có tác động
đến mức lợi nhuận này, với tên gọi mô hình 3-nhân tố Fama & French, được thể hiện
thông qua phương trình sau:
3
(5)
Rit = αi + βiMktt + siSMBt + hiHMLt + eit
4
5
6
7
8
Trong đó, ngoài phần tỷ suất lợi nhuận vượt trội của danh mục thị trường so với
lợi suất phi rủi ro, hai nhân tố rủi ro khác được xác định là: SMB (small minus big) là lợi
nhuận của một danh mục cổ phiếu có vốn hóa nhỏ trừ đi lợi nhuận của một danh mục cổ
phiếu có vốn hóa lớn, hay SMB được dùng để chỉ các yếu tố rủi ro liên quan đến quy mô
công ty; HML (high minus low) là lợi nhuận của một danh mục cổ phiếu có tỷ lệ giá trị sổ
9
10
11
sách trên giá trị thị trường cao (tỷ số B/P cao) trừ đi lợi nhuận của một danh mục cổ phiếu
có tỷ lệ giá trị sổ sách trên giá trị thị trường thấp, hay HML được dùng để chỉ rõ sự khác
biệt liên quan đến sự tăng trưởng của các công ty.
12
Mô hình 4-nhân tố Carhart
13
14
15
16
17
18
19
20
Carhart (1997) trong nghiên cứu của mình đã mở rộng mô hình 3-nhân tố của
Fama & French bằng cách thêm vào nhân tố thứ tư có khả năng giải thích khuynh hướng
của các công ty với lợi nhuận dương (hoặc âm) trong quá khứ để đem lại lợi nhuận trong
tương lai (dương hoặc âm). Carhart gọi nhân tố này là nhân tố động lượng (momentum)
mà trong nghiên cứu của Jagadeesh & Titman (1993) có đề cập đến và ước lượng nó
bằng cách lấy lợi nhuận bình quân của một tập hợp các cổ phiếu tốt nhất trong năm trước
trừ đi lợi nhuận bình quân của các cổ phiếu xấu nhất. Mô hình này được biết đến với tên
gọi mô hình 4-nhân tố của Carhart, với phương trình sau:
21
(6)
Rit= αi + βiMktt + siSMBt + hiHMLt + piPR1YRt + eit
22
Một số mô hình đa nhân tố khác
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
Mô hình 3-nhân tố Fama & French và mô hình 4-nhân tố Carhart là hai mô hình
đã trở thành tiêu chuẩn được sử dụng trong rất nhiều các nghiên cứu về quỹ đầu tư. Bằng
việc các tác giả bổ sung thêm chỉ tiêu như trong nghiên cứu của Jordan & Riley (2015)
đưa thêm biến giả thể hiện hiệu ứng tháng Giêng; hay Moreno & Rodríguez (2009) đưa
thêm biến đo lường coskewness vào mô hình của Carhart; Novy-Marx (2013) đưa thêm
yếu tố thể hiện tổng lợi nhuận; hay tính thanh khoản với nghiên cứu của Huang & cộng sự
(2012). Trên cơ sở mô hình 4-nhân tố của Carhart thì các tác giả Cremers & cộng sự (2012)
còn phát triển thêm 3 nhân tố nữa trong mô hình để đưa ra mô hình 7-nhân tố được chứng
minh trong nghiên cứu đó là phù hợp hơn trong việc đo lường hiệu quả hoạt động của quỹ
so với mô hình của Carhart ở thị trường chứng khoán Mỹ. Năm 2015, Fama & French trong
33
nghiên cứu của mình (Fama & French, 2015) tiếp tục hoàn thiện mô hình đo lường hiệu
34
39
1
2
3
4
5
6
7
8
9
quả hoạt động của quỹ với việc phát triển thêm 2 biến trong mô hình, đó là biến đại diện
tính sinh lời (profitability) và biến thể hiện yếu tố đầu tư (investment), các biến này trước
đó đã được một số tác giả đưa ra trong nghiên cứu của mình như Novy-Marx (2013) đưa
thêm yếu tố lợi nhuận, hay Aharoni & cộng sự (2013) cũng đã phát hiện ra mối quan hệ
giữa đầu tư và mức sinh lời. Fama & French cũng chứng minh việc áp dụng mô hình 5-
nhân tố là phù hợp nhất so với hai mô hình 3-nhân tố và mô hình 4-nhân tố trên thị
trường chứng khoán Mỹ, và điều này cũng được chứng minh trên thị trường chứng
khoán Trung Quốc với nghiên cứu của Sha & Gao (2019) với việc nghiên cứu dữ liệu
theo tháng trong giai đoạn 2006 - 2017 của các quỹ mở Trung Quốc. Mô hình 5-nhân tố
được kỳ vọng có thể là mô hình tiêu chuẩn mới cho các nghiên cứu trong tương lai.
10
11
Một số nghiên cứu khác về quỹ còn phát triển thước đo thể hiện hiệu quả hoạt
động của quỹ thông qua đánh giá khả năng điều hành của nhà quản lý quỹ như khả năng
12
13
14
15
nắm bắt thời cơ (Timing ability), hay khả năng lựa chọn danh mục đầu tư hiệu quả
(stock-picking ability/Selectivity skills) của nhà quản lý quỹ. Nghiên cứu Treynor &
Mazuy (1966) cho rằng nhà quản lý quỹ có khả năng nắm bắt thời cơ nghĩa là sẽ tìm
cách tăng beta nếu lợi nhuận thị trường tăng và ngược lại. Công thức tính toán:
16
Rit - Rft = αi + βi0(Rmt - Rft) + βi1(Rmt - Rft)2 + ε (7)
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
Trong đó, αi là hệ số alpha hiệu chỉnh theo thời gian, thể hiện khả năng lựa chọn
danh mục của các nhà quản lý quỹ. Hệ số βi1 thể hiện khả năng nắm bắt thời cơ của
nhà quản lý quỹ. Nếu βi1 dương tức là nhà quản lý quỹ có khả năng xác định thời
điểm thị trường vượt trội, tức là danh mục đầu tư của các quỹ đầu tư được điều chỉnh
tích cực theo những thay đổi của điều kiện thị trường đã được dự báo trước. βi1 âm
hàm ý rằng các nhà quản lý quỹ không thể hiện khả năng xác định đúng thời điểm
thị trường. Tương tự Henriksson & Merton (1981) thì cũng chứng minh được rằng
nhà quản lý quỹ có khả năng nắm bắt thời cơ tức là tăng beta khi điều kiện thị trường
là tốt và giảm beta khi điều kiện thị trường xấu (so sánh tỷ suất sinh lời trung bình
của thị trường với lãi suất phi rủi ro).
27
2.2. Các lý thuyết liên quan đến hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán
28
2.2.1. Lý thuyết danh mục đầu tư
29
30
31
32
33
Lý thuyết lựa chọn danh mục đầu tư được Markowitz đưa ra lần đầu tiên vào năm
1952 (Markowitz, 1952) mô tả các kỹ thuật hiệu quả để lựa chọn danh mục đầu tư trên
cơ sở dự đoán về kết quả hoạt động của từng chứng khoán. Việc lựa chọn danh mục đầu
tư được thực hiện trên cơ sở kết hợp cả yếu tố lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro (đo lường
bằng độ lệch chuẩn hoặc phương sai). Các nhà đầu tư cố gắng xây dựng danh mục đầu
34
40
1
2
3
tư hiệu quả gồm nhiều tài sản để tối ưu hóa lợi nhuận cho mỗi mức rủi ro nhất định.
Tương tự như vậy, với mỗi mức lợi nhuận mong muốn, nhà đầu tư xây dựng một danh
mục đầu tư với rủi ro thấp nhất có thể. Lý thuyết danh mục đầu tư dựa trên một số giả
định cơ bản liên quan đến tâm lý của nhà đầu tư:
4
- Các nhà đầu tư xem xét từng phương án đầu tư như một phân phối xác suất của
5
lợi nhuận dự kiến trong thời gian nắm giữ;
6
- Nhà đầu tư tối đa hóa giá trị hữu dụng kỳ vọng, hàm hữu dụng chứng minh rằng
7
lợi ích cận biên giảm dần;
8
- Nhà đầu tư ước tính rủi ro danh mục đầu tư dựa trên mức biến động của lợi nhuận;
9
10
11
- Cơ sở đưa ra quyết định đầu tư là mối quan hệ giữa lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro,
vì vậy giá trị hữu dụng chỉ phụ thuộc lợi nhuận kỳ vọng và phương sai (hoặc độ lệch
chuẩn) kỳ vọng;
12
- Tại một mức rủi ro nhất định, nhà đầu tư sẽ ưa thích lợi nhuận cao hơn là lợi nhuận
13
thấp. Tại một mức lợi nhuận nhất định, nhà đầu tư ưa thích ít rủi ro hơn là nhiều rủi ro.
14
15
16
17
18
Markowitz khẳng định rằng việc phân bổ vốn vào nhiều tài sản khác nhau có thể
làm giảm rủi ro tổng thể của danh mục, nhờ vào sự không tương quan giữa các tài sản.
Như vậy, một danh mục tài sản được coi là một sự đầu tư tối ưu nếu không có một tài
sản hay một danh mục tài sản nào khác đem lại mức thu nhập dự tính cao hơn, hoặc
mang lại mức rủi ro thấp hơn với mức thu nhập dự tính bằng hoặc cao hơn.
19
20
21
22
23
24
25
26
Lý thuyết này được vận dụng đối với hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trong
việc quỹ tiến hành phân tích và xác định tỷ trọng tối ưu cho các loại tài sản (cổ phiếu,
trái phiếu, tiền mặt...) dựa trên mục tiêu đầu tư của quỹ. Bên cạnh đó, để giảm thiểu rủi
ro, quỹ đầu tư có thể lựa chọn đầu tư cổ phiếu vào các ngành khác nhau (đa dạng hóa
ngành) hay các loại tài sản khác nhau như cổ phiếu của các công ty vốn hóa lớn, vốn
hóa nhỏ, cổ phiếu giá trị, cổ phiếu tăng trưởng, trái phiếu Chính phủ...(đa dạng hóa các
dạng tài sản). Trên cơ sở nay quỹ phân tích và lựa chọn danh mục đầu tư với mức sinh
lời mong muốn tại mức rủi ro càng thấp càng tốt.
27
2.2.2. Lý thuyết định giá tài sản vốn
28
29
30
31
32
Lý thuyết định giá tài sản vốn (CAPM) là một trong những đổi mới quan trọng
nhất trong lý thuyết danh mục đầu tư, được phát triển bởi William Sharpe, John Lintner
và Jan Mossin (Sharpe, 1964; Lintner, 1965; Mossin, 1966) và xây dựng dựa trên lý
thuyết của Harry Markowitz về đa dạng hóa danh mục đầu tư vào năm 1952. Mô hình
thể hiện mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuậnkỳ vọng của một tài sản dựa trên một số
33
41
1
2
3
4
5
6
7
giả định được đơn giản hóa. Rủi ro ở đây là rủi ro hệ thống của tài sản, phần rủi ro phi
hệ thống đã được loại trừ hoàn toàn thông qua đa dạng hóa danh mục đầu tư, tức là
chuyển trọng tâm từ việc xem xét rủi ro tổng thể sang xem xét rủi ro hệ thống và cho
rằng đây là yếu tố quan trọng hàng đầu trong việc xác định mức lợi nhuận kỳ vọng của
một danh mục đầu tư được đa dạng hóa tốt. Mô hình CAPM cho rằng mức lợi nhuận
kỳ vọng của một tài sản riêng biệt chủ yếu sẽ được xác định dựa vào hệ số beta (thước
đo rủi ro hệ thống của một tài sản đầu tư) với điều kiện các rủi ro phi hệ thống đã được
đa dạng hóa tốt.
8
9
10
11
12
13
14
Kết quả của CAPM là lợi nhuận yêu cầu (kỳ vọng) của một tài sản, lợi nhuận này
được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau. Trước hết, lợi nhuận yêu cầu là lợi nhuận
tối thiểu mà nhà đầu tư có thể chấp nhận được, do đó, để quyết định có nên đầu tư vào tài
sản hay không, nhà đầu tư sẽ so sánh tỷ lệ lợi nhuận kỳ vọng và tỷ suất sinh lời yêu cầu
này. Thứ hai, tỷ lệ lợi nhuận yêu cầu được sử dụng như một yếu tố đầu vào cho các mô
hình định giá chứng khoán như mô hình chiết khấu dòng tiền. CAPM được ứng dụng rộng
rãi trong việc định giá các tài sản tài chính. Công thức của mô hình CAPM như sau:
15
Ri = Rf + βi(Rm - Rf)
16
Trong đó:
17
Ri: Lợi suất sinh lời kỳ vọng của chứng khoán i
18
Rf: Lợi suất phi rủi ro
19
Rm: Lợi suất sinh lời của danh mục thị trường
20
βi: Hệ số rủi ro hệ thống của chứng khoán i
21
22
23
24
25
Mô hình CAPM mô tả mối quan hệ giữa rủi ro hệ thống và lợi nhuận kỳ vọng
của tài sản, do đó giúp các nhà đầu tư đưa ra ước tính về lợi nhuận kỳ vọng. Lý thuyết
CAPM cho phép tính toán mức lợi nhuận kỳ vọng (yêu cầu) với một tài sản dựa vào
thước đo beta đo lường rủi ro hệ thống của tài sản đó. Khi một DMĐT được đa dạng
hóa tốt, thước đo phù hợp để đo lường rủi ro là hệ số beta. Mỗi nhà đầu tư đều mong
26
27
28
29
muốn đạt mức lợi nhuận cao nhất đối với DMĐT của mình, đồng thời phải kiểm soát
được rủi ro hoặc không phải chịu một mức rủi ro quá cao cho một mức lợi nhuận cao.
Cả hai thước đo lợi nhuận và rủi ro đều quan trọng nên ra đời các thước đo tổng hợp cả
hai yếu tố này, đó là thước đo lợi nhuận điều chỉnh theo rủi ro, sử dụng hệ số beta của
30
31
mô hình CAPM như hệ số Treynor hay Jensen Alpha, trên cơ sở đó nhà đầu tư đưa ra
các quyết định về lựa chọn cổ phiếu.
32
33
Berk & Van Binsbergen (2014) chứng minh rằng mô hình CAPM là mô hình tốt
nhất để ước tính hiệu quả hoạt động của quỹ. Mô hình CAPM này cũng được các quỹ
34
42
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
đầu tư chứng khoán sử dụng để nghiên cứu về lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro hệ thống, từ
đó đưa ra quyết định lựa chọn danh mục đầu tư tối ưu. Các quỹ đầu tư sử dụng mô hình
CAPM để hỗ trợ ra quyết định đầu tư, quản lý danh mục đầu tư và đánh giá hiệu quả
đầu tư. Cụ thể với việc xây dựng và lựa chọn danh mục đầu tư của quỹ, quỹ sử dụng
CAPM để tính lợi nhuận kỳ vọng của cổ phiếu hoặc danh mục, so sánh lợi nhuận kỳ vọng
này với lợi nhuận thực tế để tìm cơ hội đầu tư vào các cổ phiếu bị định giá thấp; quỹ cũng
dùng CAPM để lựa chọn cổ phiếu có beta phù hợp với mục tiêu rủi ro, xác định tỷ trọng
giữa các loại tài sản dựa trên lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro hệ thống beta. Thứ hai là mô
hình CAPM được quỹ sử dụng để quản lý rủi ro, bằng cách đánh giá rủi ro hệ thống, quỹ
có thể đo lường mức độ rủi ro của danh mục so với thị trường, điều chỉnh danh mục để
đạt mức rủi ro mong muốn; khi thị trường biến động làm beta của các tài sản có thể thay
đổi, quỹ sử dụng mô hình CAPM để tính toán lại giúp tái cân bằng DMĐT, tức là đảm
bảo danh mục duy trì mức lợi nhuận mong muốn và rủi ro phù hợp với mục tiêu. Thứ ba,
quỹ đầu tư có thể sử dụng mô hình CAPM để đánh giá DMĐT thực tế của quỹ có đạt hay
vượt kỳ vọng về lợi nhuận, nếu lợi nhuận thực tế của DMĐT quỹ đã đầu tư cao hơn lợi
nhuận kỳ vọng theo tính toán từ công thức CAPM tức là quỹ đã hoạt động hiệu quả, hay
16
17
18
có thể đánh giá hiệu quả hoạt động thông qua chỉ tiêu Sharpe hay Jensen Alpha đo lường
lợi nhuận điều chỉnh rủi ro, từ đó giúp quỹ so sánh với mục tiêu đã đề ra hay với hiệu quả
của các quỹ khác để có chiến lược đầu tư ngày càng phù hợp và hiệu quả hơn.
19
2.2.3. Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá
20
Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (APT) được phát triển bởi Ross (1973) là
21
mô hình định giá tài sản đa nhân tố dựa trên ý tưởng rằng, tỷ suất sinh lời của chứng
22
khoán có thể được giải thích bởi mô hình nhân tố. Lý thuyết này là một công cụ hữu ích
23
để phân tích danh mục đầu tư từ góc độ đầu tư theo giá trị, mục đích để xác định chứng
24
khoán có tạm thời bị định giá sai hay không.
25
Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá giả định thị trường đôi khi định giá sai giá
26
trị của chứng khoán. Thị trường sau đó sẽ điều chỉnh và chứng khoán quay trở lại giá trị
27
hợp lý. Sử dụng lý thuyết này, các nhà định giá sẽ tận dụng những sai lệch so với giá trị
28
thị trường hợp lý. Khi tồn tại cơ hội kinh doanh chênh lệch giá, một số nhà đầu tư nhận
29
thấy điều này và họ sẽ muốn nắm giữ một vị thế mua hoặc bán tối đa đến mức có thể,
30
nhà đầu tư điều chỉnh danh mục đầu tư của mình, khi áp lực điều chỉnh đủ lớn thì giá về
31
lại trạng thái cân bằng. Lý thuyết APT sử dụng để đo lường mức sinh lời kỳ vọng của
32
một chứng khoán i là một hàm số của nhiều nhân tố phản ánh rủi ro hệ thống và rủi ro
33
phi hệ thống, được thể hiện qua công thức tính:
34
43
Ri = E (Ri) + bijδk + εi
1
Ri = E (Ri) + bi1δ1 + bi2δ2 + … + bikδk + εi (i = 1,n)
2
Trong đó:
3
Ri: Lợi nhuận thực tế của chứng khoán i tại một thời điểm.
4
E (Ri): Lợi tnhuận kỳ vọng của chứng khoán i nếu các nhân tố rủi ro không
5
thay đổi.
6
bij: Thay đổi về lợi nhuận của chứng khoán i khi nhân tố rủi ro j thay đổi.
7
δk: Tập hợp các nhân tố hệ thống.
8
εi: Nhân tố đặc thù chỉ tác động tới lợi nhuận của tài sản i (phần dư đại diện
9
cho rủi ro phi hệ thống có thể được giảm thiểu hoàn toàn thông qua đa dạng hóa).
10
n: Số lượng tài sản.
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
Lý thuyết APT giúp phân tích các yếu tó tác động đến tài sản trong danh mục đầu
tư, bao gồm cả nhân tố vĩ mô, ngành hay thị trường. Lý thuyết APT cũng giúp các quỹ tối
ưu danh mục đầu tư bằng cách kết hợp các tài sản có beta trái dấu, và giúp quỹ có thể nhận
diện tài sản bị định giá sai để tận dụng cơ hội chênh lệch giá (abirtrage). Nếu giá cả tài sản
không phản ánh tỷ lệ lợi nhuận kỳ vọng, nhà đầu tư sẽ tiến hành kinh doanh chênh lệch giá.
Khi đó, nhà đầu tư sẽ bán tài sản bị định giá cao và dùng tiền để mua các tài sản bị định giá
thấp cho đến khi thị giá được điều chỉnh về đúng giá trị thật. Lý thuyết APT giúp lý giải
việc các quỹ đầu tư phân tích diễn biến thị trường, trong những thời kỳ thị trường chưa phản
ánh đúng giá trị thật sự của chứng khoán thì tiến hành mua bán để hưởng lợi ích tài chính
từ chênh lệch giá, và điều này giúp lý giải tại sao các quỹ chủ động có thể hoạt động hiệu
quả hơn các quỹ thụ động, trong điều kiện phát triển bình thường của nền kinh tế (không
xảy ra khủng hoảng).
23
2.2.4. Lý thuyết đại diện
24
25
Lý thuyết đại diện (Agent Theory) được hình thành với nghiên cứu của Ross
(1973), Jensen & Meckling (1976) về mối quan hệ giữa người ủy quyền (principal) và
26
27
28
29
30
31
32
người đại diện (agent), khi đó người đại diện được người ủy quyền cho phép thực hiện
một số nhiệm vụ hoặc quyết định thay cho mình, thì quyết định của hai bên có thể
không đồng nhất và điều này gây ra sự xung đột. Lý thuyết đại diện cho rằng, chi phí
đại diện (agency cost) là hệ quả của mối quan hệ xung đột giữa người ủy quyền và
người đại diện như chi phí giám sát, chi phí xây dựng cơ chế khuyến khích… để đảm
bảo người đại diện hoạt động đúng với lợi ích của người ủy quyền. Nghiên cứu cho
rằng, khi các chủ sở hữu (người ủy quyền) không trực tiếp quản lý công ty, thì các nhà
33
44
1
2
3
4
5
6
quản lý (người đại diện) sẽ tận dụng vị trí của họ để đạt được lợi ích cá nhân chứ không
quan tâm và phục vụ cho lợi ích của chủ sở hữu. Những vấn đề mà lý thuyết đại diện
nghiên cứu khi lợi ích của các bên khác nhau và nhất là giữa họ tồn tại thông tin không
hoàn hảo (không có toàn bộ thông tin xác đáng), thông tin không đối xứng (thường thì
người đại diện biết nhiều hơn người ủy quyền về công việc mình phải làm). Sự tồn tại
của thông tin không hoàn hảo và thông tin không đối xứng dẫn tới hành vi cơ hội của
người đại diện. Nghiên cứu của Jensen & Meckling (1976) đưa ra các kết luận sau:
7
- Người đại diện hành xử vì lợi ích của người ủy quyền nhiều hơn khi hợp đồng
8
giữa người ủy quyền và người đại diện dựa trên kết quả, hay nói cách khác, hợp đồng
9
dựa trên kết quả có hiệu quả trong việc kiềm chế hành vi cơ hội của người đại diện.
10
- Người đại diện hành xử vì lợi ích của người ủy quyền nhiều hơn khi người ủy
11
quyền có hệ thống thông tin kiểm tra hoạt động của người đại diện.
12
13
14
- Chi phí người đại diện càng lớn khi người đại diện sở hữu ít hoặc không sở hữu
cổ phiếu của công ty, hay nói cách khác, sở hữu của người đại diện trong doanh nghiệp
tăng lên thì hành vi cơ hội của người đại diện sẽ giảm đi.
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
Nghiên cứu của Fama (1980) tập trung vào vấn đề quản lý công ty và giải quyết
mẫu thuẫn giữa chủ sở hữu và nhà quản lý. Ông cho rằng các cổ đông đầu tiên thường
tham gia quản lý công ty khi công ty mới thành lập, nhưng sau đó theo quá trình phát
triển, công ty mở rộng quy mô và thu hút được nhiều cổ đông khác sẽ xuất hiện mâu
thuẫn giữa nhà quản lý với các cổ đông. Nhà quản lý có thể sử dụng quyền lực của mình
để đưa ra các quyết định có lợi cho họ nhưng đôi khi lại mâu thuẫn với lợi ích của cổ
đông. Điều này đòi hỏi cổ đông cần có một cơ chế giám sát để đảm bảo rằng các nhà
quản lý hành động vì lợi ích chung của công ty. Tuy nhiên, cơ chế giám sát này cũng
cần chi phí, được hiểu là chi phí đại diện, bao gồm chi phí tìm kiếm thông tin, chi phí
phát biểu ý kiến…Vì thế, công ty cần đưa ra cơ chế khuyến khích các cổ đông thực hiện
việc giám sát này để đảm bảo quyền lợi cho cổ đông. Điều này đặt ra vấn đề cần xây
dựng một hệ thống động viên và theo dõi khiến người đại diện có thể ứng xử với mục
tiêu tối đa hóa lợi ích của người ủy quyền, chẳng hạn như phí quản lý trả cho nhà quản
lý quỹ dựa trên hiệu quả hoạt động của quỹ. Lý thuyết này vận dụng trong việc giải thích
bản chất của các quỹ đầu tư chứng khoán là người được ủy quyền sử dụng vốn của nhà
đầu tư để đầu tư chứng khoán trên thị trường nhằm mục tiêu sinh lời, vì vậy quỹ đầu tư
trong quá trình hoạt động đã xây dựng và ngày càng hoàn thiện cơ chế công bố thông
tin về quỹ, thành lập ban đại diện quỹ… để giám sát hoạt động của quỹ cũng như các
quyết định của nhà quản lý quỹ, đảm bảo bảo toàn và tăng trưởng vốn đầu tư của các
34
nhà đầu tư quỹ.
35
45
2.2.5. Lý thuyết tài chính hành vi
1
2
3
Lý thuyết tài chính hành vi (Behavioral finance Theory) nghiên cứu những mô
hình thị trường tài chính trong đó tính tới yếu tố tâm lý có ảnh hưởng đến hành vi của
nhà đầu tư. Hai dạng tổng quát của yếu tố tâm lý:
4
- Các nhà đầu tư không phải lúc nào cũng xử lý thông tin một cách đúng đắn và
5
do đó, họ suy luận sai về phân phối xác suất của suất sinh lời tương lai;
6
- Ứng với một phân phối xác suất sinh lợi cho trước, họ cũng thường ra những
7
quyết định không nhất quán hoặc có tính chất không tối ưu một cách hệ thống.
8
Một số dạng thiên lệch ảnh hưởng tới việc xử lý thông tin và quyết định đầu tư
9
trên thị trường:
10
11
- Thiên lệch sai số dự báo (forecasting errors): đặt nặng trải nghiệm gần đây so
với niềm tin ban đầu khi làm dự báo (thiên hướng hồi tưởng), đưa ra những dự báo quá
12
cực đoan ứng với tính không chắc chắn vốn có của thông tin.
13
14
15
16
- Thiên lệch do quá tự tin (Overconfidence): nhà đầu tư có thiên hướng ước lượng
quá cao tính chính xác trong dự báo của mình, hoặc lạc quan quá mức về tương lai và
khả năng kiểm soát tình thế. Nhà đầu tư có thiên hướng ước lượng quá cao khả năng của
bản thân, thịnh hành chiến lược quản lý đầu tư chủ động so với thụ động.
17
18
19
- Thiên lệch do bảo thủ (conservatism): các nhà đầu tư quá chậm chạp khi cập
nhật niềm tin của mình trước những bằng chứng mới. Giá chứng khoán chỉ phản ánh
thông tin đầy đủ một cách từ từ.
20
21
22
- Thiên lệch về tính đại diện (representativeness): nhà đầu tư thường bỏ qua quy
mô của mẫu. Họ hành động như thể một mẫu nhỏ là đủ để đại diện cho tổng thể chẳng
khác gì mẫu lớn. Giá chứng khoán phản ánh thái quá và rồi sau đó điều chỉnh.
23
24
25
26
Lý thuyết tài chính hành vi đưa ra giả thuyết rằng các nhóm nhà đầu tư không
phải lúc nào cũng lý trí, điều này cho phép các nhà quản lý quỹ đầu tư có khả năng tạo
ra lợi nhuận vượt trội hơn chỉ số chuẩn nhờ các quyết định đầu tư hiệu quả (Alqadhib &
cộng sự, 2022). Như vậy lý thuyết tài chính hành vi có thể vận dụng để giải thích về việc
27
28
29
30
31
32
một số quỹ lâu đời lại hoạt động không hiệu quả bằng những quỹ mới, vì thiên lệch do
quá tự tin hay thiên lệch do bảo thủ khiến quyết định đầu tư của quỹ trong những trường
hợp này không hiệu quả. Quỹ cũng có thể tận dụng sai lầm của các nhà đầu tư cá nhân
để tìm kiếm cơ hội đầu tư sinh lời, khi thị trường phản ứng thái quá với những tin xấu,
quỹ có thể mua vào những cổ phiếu bị giảm giá mạnh (định giá thấp) với kỳ vọng giá sẽ
phục hồi.
33
46
1
2.3. Lý luận chung về các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ
đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán
2
3
4
5
6
7
8
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm được công bố trên các tạp chí khoa học uy tín đã
nghiên cứu và chứng minh các nhân tố tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt động của quỹ
là cơ sở quan trọng để hệ thống hóa lý luận chung về các nhân tố này bao gồm các nhân
tố bên trong quỹ đầu tư như các đặc điểm của quỹ về tỷ lệ chi phí hoạt động, tốc độ vòng
quay danh mục đầu tư…, các yếu tố thuộc đặc điểm của nhà quản lý quỹ như trình độ,
giới tính của nhà quản lý quỹ… Và các yếu tố bên ngoài quỹ đầu tư như sự phát triển của
nền kinh tế và thị trường chứng khoán, sự ổn định về chính trị, lạm phát, lãi suất,...
9
2.3.1. Các nhân tố bên trong
10
2.3.1.1. Các nhân tố thuộc đặc điểm quỹ
11
v Quy mô quỹ
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
Quy mô quỹ (Size) là tổng giá trị tài sản mà một quỹ đầu tư kiểm soát hoặc quản
lý, đồng nghĩa với khả năng quỹ có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư của quỹ ở các loại
tài sản khác nhau. Quy mô quỹ có thể là một nhân tố tác động tích cực tới hiệu quả hoạt
động của quỹ ở khía cạnh giảm thiểu rủi ro do đa dạng hóa danh mục đầu tư, bảo đảm
mang lại lợi nhuận ổn định cho các nhà đầu tư, một số khoản chi phí cố định nhỏ so với
quy mô của quỹ giúp tỷ lệ chi phí của quỹ thấp và tăng lợi nhuận cũng như hiệu quả của
quỹ. Điều này phù hợp với lý thuyết lợi thế kinh tế theo quy mô khi các công ty quản lý
quỹ có thể tăng tổng tài sản của quỹ nhanh hơn so với tổng chi phí vì tồn tại khoản chi
phí cố định không thay đổi khi quy mô tăng nên quỹ có thể đạt hiệu quả hoạt động cao
hơn khi tăng quy mô quỹ. Quy mô của quỹ có thể được đo lường thông qua tổng tài sản
của quỹ, giá trị tài sản ròng của quỹ (NAV) hoặc thông qua số lượng chứng chỉ quỹ đang
23
24
25
lưu hành x giá 1 chứng chỉ quỹ. Quy mô quỹ thay đổi khi quỹ phát hành thêm chứng chỉ
quỹ tới công chúng. Quy mô quỹ có thể thay đổi theo thời gian do các yếu tố như đầu
tư mới, rút vốn, hay biến động giá trị tài sản trong quỹ.
26
27
28
Quy mô quỹ là một chỉ số quan trọng ảnh hưởng đến quá trình quản lý quỹ và
cũng có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của quỹ. Quỹ càng lớn thì càng có cơ hội tiếp cận
thông tin, đa dạng hóa danh mục đầu tư, được quản lý bởi các nhà quản lý quỹ có trình
29
30
31
32
độ cao và nhiều kinh nghiệm nên có thể sẽ đạt hiệu quả hoạt động cao, song có thể cản
trở giao dịch nhanh chóng và linh hoạt. Ngược lại thì các quỹ nhỏ có khả năng chuyển
đổi giữa các tài sản dễ dàng hơn và có thể thực hiện giao dịch một cách nhanh chóng và
linh hoạt. Một số nghiên cứu xem xét tác động của quy mô quỹ đến hiệu quả hoạt động
33
của quỹ đầu tư chứng khoán như Farid & Wahba (2022), Busse & cộng sự (2021),
34
47
1
2
3
4
5
6
Xuemin (2008), Chen & cộng sự (2004) kết luận quy mô quỹ có tác động ngược chiều
tới hiệu quả của quỹ, do tính thanh khoản của danh mục đầu tư mà quỹ nắm giữ, Tang
& cộng sự (2012) thì chứng minh về mối quan hệ giữa quy mô quỹ và hiệu quả hoạt
động của quỹ theo hình chữ U ngược, tương tự các nghiên cứu trước thì đến một mức
quy mô lớn nhất định trở đi thì hiệu quả của quỹ lại giảm khi quỹ tăng quy mô, còn giai
đoạn đầu khi quy mô của quỹ nhỏ thì hiệu quả hoạt động của quỹ có tăng theo mức tăng
của quy mô do lợi thế kinh tế theo quy mô giúp tiết kiệm các khoản chi phí.
7
v Tỷ lệ chi phí hoạt động
8
9
10
11
12
13
Chi phí hoạt động bao gồm tất cả những chi phí để quản lý, duy trì hoạt động của
quỹ. Khoản chi phí này do nhà đầu tư chi trả và được công bố công khai trong bản cáo
bạch quỹ ban đầu cũng như cập nhật định kỳ hàng tháng cho nhà đầu tư. Chi phí này
cao hay thấp ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận cuối cùng của nhà đầu tư. Theo khoản 1
điều 22 thông tư 98/2020/TT-BTC hướng dẫn hoạt động và quản lý Quỹ đầu tư chứng
khoán dạng mở do Bộ Tài chính ban hành, chi phí của quỹ là các khoản sau:
14
· Chi phí quản lý quỹ trả cho công ty quản lý quỹ;
15
· Chi phí lưu ký tài sản quỹ, chi phí giám sát (nếu có) trả cho ngân hàng lưu ký
16
hoặc ngân hàng giám sát;
17
· Chi phí kiểm toán trả cho tổ chức kiểm toán;
18
· Chi phí thẩm định giá trả cho các doanh nghiệp thẩm định giá (nếu có); chi phí
19
dịch vụ tư vấn pháp lý, dịch vụ báo giá và các dịch vụ hợp lý khác, thù lao trả cho Ban
20
đại diện quỹ;
21
· Chi phí dự thảo, in ấn, gửi Bản cáo bạch, Bản cáo bạch tóm tắt, Báo cáo tài
22
chính và các tài liệu khác cho thành viên góp vốn; chi phí công bố thông tin của quỹ;
23
chi phí tổ chức họp Đại hội nhà đầu tư, Ban đại diện quỹ;
24
· Chi phí liên quan đến thực hiện các giao dịch tài sản của quỹ và các chi phí
25
khác theo quy định của pháp luật;
26
· Chi phí liên quan đến việc chuyển đổi ngân hàng lưu ký, ngân hàng giám sát
27
(nếu có) hoặc các tổ chức cung cấp dịch vụ khác.
28
Công thức tính:
Tỷ lệ chi phí hoạt động của quỹ (Expense) được xác định theo công thức sau:
29
Tổng chi phí hoạt động của quỹ
Tỷ lệ chi phí hoạt động (%) =
x 100%
Giá trị tài sản ròng trung bình
30
31
48
1
2
3
Chi phí hoạt động phản ánh tỷ lệ chi phí trên tổng giá trị tài sản trung bình trong
năm để duy trì hoạt động của quỹ. Giá trị tài sản ròng/chứng chỉ quỹ được tính toán và
công bố tới nhà đầu tư sau khi trừ đi chi phí, do vậy nhà đầu tư cần nắm rõ tỷ lệ chi phí
này để quyết định đầu tư.
4
5
6
7
8
Thông qua các nghiên cứu được công bố (Carhart, 1997; Babalos & cộng sự,
2009; Ferreira & cộng sự, 2013…) có thể thấy hầu hết trên các thị trường chứng khoán
đều tìm thấy mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ chi phí hoạt động và hiệu quả hoạt
động của quỹ đầu tư chứng khoán, tương tự như ở TTCK Việt Nam như trong nghiên
cứu của Nguyễn Hồng Nga & Nguyễn Thị Thu Trang (2022).
9
v Tốc độ vòng quay danh mục
10
11
12
13
14
15
16
17
18
Tốc độ vòng quay danh mục (Turnover) phản ánh mức độ mua bán chứng khoán
trong danh mục. Nhà quản lý quỹ sẽ lựa chọn loại chứng khoán để đầu tư theo mục tiêu
của quỹ, những chứng khoán này sẽ được nhà quản lý quỹ mua bán hay nắm giữ tùy giai
đoạn nhằm tối đa hóa lợi nhuận cho quỹ. Tùy vào loại quỹ hoặc mục tiêu đầu tư mà chỉ
số này có thể cao hay thấp. Chỉ số này cao, đồng nghĩa với việc chứng khoán được mua
bán thường xuyên, hay quản lý chủ động (active management) và ngược lại. Điều này
cũng phù hợp với lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá (APT) khi các nhà quản lý quỹ
có thể tận dụng những biến động tạm thời từ thị trường để giao dịch chứng khoán hay
cơ cấu danh mục đầu tư của quỹ, góp phần tăng hiệu quả hoạt động của quỹ.
19
Công thức tính:
Tổng giá trị mua vào + Tổng giá trị bán ra
Tốc độ vòng quay danh mục =
2 * Giá trị tài sản ròng trung bình trong kỳ
20
Tốc độ vòng quay danh mục cũng là một yếu tố quan trọng được xem xét khi
21
22
so sánh các quỹ đầu tư, làm cơ sở đánh giá quỹ và quyết định quỹ sẽ đầu tư. Nghiên cứu
23
của Carhart (1997) chỉ ra rằng tốc độ vòng quay danh mục (turnover) tác động tiêu cực
24
đến hiệu quả hoạt động của quỹ cổ phiếu Mỹ giai đoạn 1966 - 1993. Nhưng trái ngược
25
với kết luận này thì trong nghiên cứu của Grinblatt & Titman (1994), Wermers (2000),
26
Kaur (2018) lại chứng minh rằng giữa turnover và hiệu quả hoạt động của quỹ có mối
27
quan hệ thuận chiều. Nghiên cứu của Kenchington và cộng sự (2019) nghiên cứu các
28
quỹ đầu tư tại Mỹ cũng chỉ ra các quỹ có tốc độ quay vòng lớn (với cả quỹ có quy mô
29
nhỏ và quy mô lớn) đều hoạt động hiệu quả hơn.
30
v Thời gian hoạt động của quỹ
31
32
Thời gian hoạt động của quỹ (Age) trước tiên thể hiện lịch sử hình thành và thời
gian tham gia thị trường của quỹ. Những quỹ thành lập sớm có bề dày hoạt động trên
33
49
1
thị trường sẽ có những lợi thế riêng về kinh nghiệm, am hiểu sự vận hành thị trường
cũng như trải qua những giai đoạn lên xuống của thị trường.
2
3
4
5
6
7
8
Thời gian hoạt động của quỹ được chứng minh là có tác động tích cực tới hiệu
quả hoạt động của quỹ, như trong nghiên cứu của Rao & cộng sự (2017), do các quỹ
có lịch sử hoạt động lâu đời thì am hiểu thị trường và có kinh nghiệm trong các quyết
định đầu tư, từ đó giúp cho hiệu quả của quỹ cao hơn. Trái ngược với kết luận này là
nghiên cứu của Prather & cộng sự (2004), Fang & Wang (2015) chỉ ra các quỹ hoạt
động lâu lại có hiệu quả không cao, vì các nhà quản lý quỹ này đưa ra quyết định dựa
theo những kinh nghiệm đầu tư có thể không còn phù hợp trong tình hình hiện tại.
9
v Phí giao dịch chứng chỉ quỹ
10
11
12
Phí giao dịch chứng chỉ quỹ (Load) đề cập đến một khoản phí mà nhà đầu tư phải
trả khi mua hoặc bán chứng chỉ quỹ. Phí giao dịch chứng chỉ quỹ này bao gồm hai loại:
(i) phí trả trước (Front-end load) là khoản phí được trừ ngay vào số tiền đầu tư ban đầu
13
14
15
16
khi mua chứng chỉ quỹ, số tiền còn lại được sử dụng mua chứng chỉ quỹ; (ii) phí trả sau
(back-end load) là loại phí bị tính khi nhà đầu tư bán chứng chỉ quỹ trong một khoảng
thời gian nhất định. Các quỹ đầu tư sẽ quy định loại phí này, một số trong đó có thể
không tính phí load, được gọi là “no-load fund”.
17
18
Một số nghiên cứu trên thế giới xem xét mối quan hệ giữa phí giao dịch chứng
chỉ quỹ với hiệu quả hoạt động của quỹ cũng có những kết luận trái chiều về mối quan
19
20
21
22
23
hệ này: Hooks (1996), Elton & cộng sự (1993); Dellva & Olson (1998); Prather & cộng
sự (2004) chứng minh mối quan hệ ngược chiều giữa phí giao dịch chứng chỉ quỹ và
hiệu quả của quỹ. Một số nghiên cứu khác thì không tìm thấy sự khác biệt đáng kể về
hiệu quả hoạt động của quỹ giữa những quỹ có duy trì phí giao dịch chứng chỉ quỹ (load
fund) và những quỹ không có phí giao dịch chứng chỉ quỹ (no-load fund).
24
2.3.1.2. Các nhân tố thuộc đặc điểm của nhà quản lý quỹ
25
v Giới tính của nhà quản lý quỹ
26
27
28
29
30
31
Giới tính nhà quản lý quỹ (Gender) được phân biệt là giới tính nam và giới tính
nữ. Giới tính là yếu tố tạo nên khẩu vị rủi ro khác nhau giữa nhà quản lý nam và nữ, vì
vậy ảnh hưởng đến các quyết định đầu tư của nhà quản lý quỹ và từ đó tác động đến hiệu
quả hoạt động của quỹ. Lý thuyết tài chính hành vi cũng chỉ ra rằng các nhà quản lý quỹ
- đóng vai trò là các nhà đầu tư chứng khoán - có thể ra quyết định đầu tư mang thiên lệch
do quá tự tin hay bảo thủ, mà điều này phần nào cũng bị ảnh hưởng bởi yếu tố giới tính.
32
33
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự khác biệt về giới tính của nhà quản lý quỹ có
tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ do giới tính có ảnh hưởng đến các quyết định
34
50
1
2
3
đầu tư của nhà quản lý quỹ. Hu & cộng sự (2012) chứng minh rằng nhà quản lý nữ có
ưu điểm hơn trong việc quản lý chi phí và kiểm soát rủi ro. Nhưng một số nghiên cứu
khác lại chỉ ra rằng các nhà quản lý nam thì quyết đoán hơn trong các quyết định và điều
này góp phần vào thành công trong hoạt động của quỹ (Fang & Wang, 2015).
4
v Trình độ học vấn của nhà quản lý quỹ
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
Quỹ đầu tư hoạt động hiệu quả một phần rất lớn đến từ các quyết định đầu tư
hiệu quả của các chuyên gia quản lý quỹ, hay nói cách khác trình độ của nhà quản lý
quỹ có tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ. Trong lĩnh vực tài chính nói chung và
quản lý quỹ nói riêng thì các chuyên gia được đào tạo ở nước ngoài (các nước phát triển)
hay có chứng chỉ CFA, MBA… là những chuyên gia giỏi, đã được đào tạo bài bản các kiến
thức chuyên môn về tài chính, điều này sẽ đóng góp tích cực cho hiệu quả hoạt động của
quỹ. Một số nghiên cứu cũng chỉ ra mối quan hệ giữa trình độ nhà quản lý quỹ với hiệu quả
hoạt động của quỹ như Friis & Smit (2004), Fang & Wang (2015). Ngoài ra cấu trúc của
ban điều hành quỹ cũng là yếu tố có tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng
khoán. Liu & cộng sự (2015) đã chứng minh mối quan hệ cùng chiều giữa tính độc lập
trong ban điều hành quỹ với hiệu quả hoạt động của quỹ ở Trung Quốc. Lý thuyết đại
diện chỉ ra rằng các nhà quản lý quỹ là người được ủy quyền để thực hiện hoạt động
giao dịch chứng khoán sử dụng vốn đầu tư của quỹ có thể ra các quyết định đầu tư không
phù hợp với quyền lợi của người ủy quyền, vì vậy nếu nhà quản lý có trình độ học vấn
cao cũng có thể là điều kiện để họ cân bằng được lợi ích của các bên liên quan, từ đó
góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán.
21
2.3.2. Các nhân tố bên ngoài
22
Hiệu quả hoạt động của quỹ còn chịu tác động bởi một số nhân tố khác là các yếu
23
tố thể hiện môi trường vĩ mô như tăng trưởng kinh tế, chính sách điều tiết vĩ mô...
24
25
Tăng trưởng kinh tế: Khi nền kinh tế tăng trưởng, lợi nhuận của doanh nghiệp
thường tăng theo, dẫn đến giá cổ phiếu tăng, hoạt động của doanh nghiệp hiệu quả cũng
26
27
28
29
có thể khiến việc chi trả cổ tức nhiều hơn, điều này mang lại lợi ích cho các quỹ đầu tư
nắm giữ cổ phiếu. Tăng trưởng kinh tế thường được thể hiện với chỉ tiêu tốc độ tăng
trưởng GDP của nền kinh tế. Sự tin tưởng của các nhà đầu tư cũng tăng cao hơn trong
điều kiện nền kinh tế tăng trưởng, điều này giúp việc huy động vốn của các quỹ đầu tư
30
31
32
33
dễ dàng hơn và cho phép họ mở rộng quy mô hoạt động. Như vậy tăng trưởng kinh tế
có mối quan hệ tích cực với hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán. Nghiên
cứu của Nguyễn Thị Hoa & Nguyễn Thị Nguyệt Dung (2019) đã chứng minh tăng
trưởng kinh tế có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của quỹ. Nghiên cứu của
34
51
1
Gyamfi Gyimah & cộng sự (2021) cũng chứng minh tăng trưởng GDP có tác động tích
cực trong dành hạn đôi với hiệu quả tài chính cảu quỹ tương hỗ Ghana.
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
Chính sách điều tiết vĩ mô: Các chính sách điều tiết vĩ mô của Nhà nước cũng là
yếu tố có tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán. Chính sách tài
khóa và chính sách tiền tệ khi được thực thi sẽ có tác động đáng kể đến hoạt động của các
quỹ. Nghiên cứu của Qureshi & cộng sự (2019) chỉ ra rằng chính sách tiền tệ mở rộng có
tác động tiêu cực đến lợi nhuận của quỹ trái phiếu trong khi chính sách tài khóa thắt
chặt lại có tác động tích cực. Lãi suất cũng là biến vĩ mô có tác động đến hiệu quả hoạt
động của quỹ, lãi suất tăng khiến các doanh nghiệp tiếp cận vốn với chi phí vốn cao
hơn làm gia tăng chi phí của doanh nghiệp, khiến hoạt động của các doanh nghiệp gặp
khó khăn hơn và phản ánh điều này vào giá chứng khoán trên thị trường, từ đó cũng
tác động tới lợi ích của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán trong đó có quỹ
đầu tư. Như vậy lãi suất có tác động tiêu cực tới hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư
chứng khoán, điều này được chứng minh trong nghiên cứu của Panigrahi & cộng sự
(2019). Lạm phát cũng là yếu tố có tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt động của quỹ,
như trong nghiên cứu của Cheng & Dewi (2020) nghiên cứu tác động của các yếu tố
vĩ mô như lạm phát, rủi ro và cung tiền đến hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng
khoán và đưa ra kết luận rằng lạm phát có tác động tiêu cực đến hiệu quả của quỹ, khi
lạm phát tăng sẽ làm chi phí sản xuất trở nên đắt đỏ và chi phí bán hàng tăng, sức mua
giảm ảnh hưởng đến lợi nhuận của các công ty trên TTCK và theo đó tác động tiêu
cực đến hiệu quả hoạt động của quỹ. Tương tự nghiên cứu Gyamfi Gyimah & cộng sự
(2021) cũng đưa ra kết luận đồng thuận.
22
23
24
25
26
27
28
29
30
Môi trường chính trị, pháp lý: Môi trường chính trị ổn định, diễn biến thị
trường chứng khoán tích cực là những yếu tố góp phần làm tăng hiệu quả hoạt động của
quỹ. Nghiên cứu của Qureshi & cộng sự (2017) chỉ ra rằng lợi suất thị trường có quan hệ
ngược chiều với hiệu quả hoạt động của quỹ cổ phiếu và quỹ cân bằng, trong khi đó biến
động thị trường lại có tương quan cùng chiều với hiệu quả của quỹ trái phiếu. Chính trị
ổn định tạo môi trường đầu tư thuận lợi, khuyến khích các nhà đầu tư tham gia thị trường
chứng khoán và có thể khiến giá cổ phiếu tăng. Điều này mang lại lợi ích cho các quỹ đầu
tư chứng khoán. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoa & Nguyễn Thị Nguyệt Dung (2019),
Banegas & cộng sự (2013) đã chứng minh mối quan hệ này trên thị trường chứng khoán.
31
32
52
CHƯƠNG 3:
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1
2
3
3.1. Xây dựng giả thuyết nghiên cứu
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
Các nghiên cứu thực nghiệm tại các thị trường chứng khoán khác nhau trên thế
giới đã nêu bật một số nhân tố bên trong và bên ngoài, đặc biệt các nhân tố bên trong
quỹ có tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán, đây là
căn cứ quan trọng để luận án xém xét và đưa ra các giả thuyết nghiên cứu về các nhân
tố tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ. Các quỹ đầu tư trên TTCK Việt Nam có
những đặc điểm khác biệt và thay đổi theo thời gian, đồng thời một phần chịu tác động
chung của những biến động trên thị trường. Với phạm vi nghiên cứu của luận án, tác
giả thực hiện xây dựng các giả thuyết để đánh giá tác động của các nhân tố thuộc đặc
điểm riêng của quỹ và các các nhân tố thuộc đặc điểm của nhà quản lý quỹ tới hiệu
quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên TTCK Việt Nam, như sau:
14
3.1.1. Quy mô quỹ và hiệu quả hoạt động của quỹ
15
Quy mô quỹ (SIZE) là một nhân tố tác động tích cực tới hiệu quả hoạt động của
16
quỹ ở khía cạnh giảm thiểu rủi ro do đa dạng hóa danh mục đầu tư, bảo đảm mang lại
17
lợi nhuận ổn định cho các nhà đầu tư, một số khoản chi phí cố định nhỏ so với quy mô
18
của quỹ giúp tỷ lệ chi phí của quỹ thấp và tăng lợi nhuận cũng như hiệu quả của quỹ.
19
Michelson & cộng sự (2008) nghiên cứu các quỹ mở trên các thị trường chứng khoán
20
mới nổi giai đoạn 1999 - 2005 đưa ra kết luận về mối quan hệ cùng chiều giữa hiệu quả
21
của quỹ và quy mô quỹ, hàm ý rằng các quỹ có quy mô càng lớn thì càng hiệu quả. Reuter
22
& Zitzewitz (2010) nghiên cứu và đưa ra kết luận rằng có rất ít bằng chứng cho thấy quy
23
mô quỹ tác động xấu đến hiệu quả hoạt động của quỹ, giải thích bởi các nhà quản lý quỹ
24
có kỹ năng càng cao sẽ càng quản lý quỹ lớn do đó quỹ lớn có cơ hội tạo lợi nhuận tốt do
25
các quyết định đầu tư đúng đắn từ các nhà quản lý quỹ giỏi. Indro & cộng sự (1999)
26
nghiên cứu riêng quỹ cổ phiếu ở Mỹ giai đoạn 1993 - 1995 kết luận quy mô quỹ có tác
27
động đến hiệu quả hoạt động của quỹ. Các quỹ phải đạt đến quy mô quỹ tối thiểu để bù
28
đắp các chi phí thu thập thông tin và giao dịch, nếu quỹ vượt quá quy mô quỹ tối ưu thì
29
lợi nhuận cận biên trở nên âm. Bên cạnh đó, nghiên cứu của Tang & cộng sự (2012)
30
thực hiện với các quỹ tương hỗ Trung Quốc từ 2004 - 2009 và kết luận rằng tồn tại mối
31
quan hệ theo hình chữ “U ngược” giữa quy mô quỹ và hiệu quả hoạt động của quỹ, tức
32
là ở một quy mô nhất định thì hiệu quả hoạt động của quỹ tăng theo mức tăng của quy
33
mô quỹ, nhưng sau đó nếu quy mô quỹ tăng quá lớn thì hiệu quả của quỹ lại có xu hướng
34
giảm. Xuemin (2008), Chen & cộng sự (2004) kết luận rằng quy mô quỹ có tác động
35
53
tiêu cực tới hiệu quả hoạt động của quỹ, giải thích tính thanh khoản là nguyên nhân quan
1
trọng khiến quy mô quỹ càng lớn càng có tác động xấu đến hiệu quả hoạt động của quỹ.
2
Nghiên cứu của Nguyễn Quang Minh Nhi (2022) kết luận quy mô quỹ là yếu tố quan
3
trọng nhất đối với hiệu quả tài chính của công ty quản lý quỹ, các công ty quản lý
4
quỹ lớn thì có lợi nhuận cao hơn, phù hợp với lý thuyết lợi thế kinh tế theo quy mô.
5
Qua các nghiên cứu cho thấy tác động của quy mô quỹ tới hiệu quả hoạt động của quỹ ở
6
các thị trường khác nhau cũng phản ánh khác nhau. Theo quan điểm về lợi thế kinh tế theo
7
quy mô, quỹ đầu tư có quy mô càng lớn thì càng hiệu quả do lợi thế các chi phí môi giới,
8
chi phí nghiên cứu... tiết kiệm đáng kể so với quỹ nhỏ. Nhưng quy mô quỹ quá lớn thì tính
9
thanh khoản lại bị hạn chế do quỹ nắm giữ lượng chứng khoán lớn không thể phản ứng
10
ngay trước những biến động của thị trường, lúc này các quỹ nhỏ với quy trình ra quyết định
11
đầu tư được thực hiện nhanh chóng cùng lượng chứng khoán nắm giữ ít hơn lại có lợi thế
12
trong những quyết định đầu tư của quỹ, đặc biệt khi cần phản ứng nhanh trước những thay
13
đổi bất thường của thị trường. TTCK Việt Nam đang dần tiến tới nâng hạng lên thị
14
15
trường mới nổi, với đặc điểm các quỹ đầu tư Việt Nam quy mô còn nhỏ so với các quỹ
ở những TTCK phát triển và đang trong quá trình tăng trưởng quy mô quỹ theo thời
16
gian sẽ góp phần thúc đẩy các quỹ đầu tư hoạt động hiệu quả.
17
Để kiểm chứng tác động của quy mô quỹ đến hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu
18
tư chứng khoán trên thị trường Việt Nam, tác giả thực hiện kiểm định giả thuyết sau:
19
H1: Quy mô quỹ có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư
20
chứng khoán.
21
3.1.2. Tỷ lệ chi phí hoạt động của quỹ và hiệu quả hoạt động của quỹ
22
23
24
Nhiều nghiên cứu trên thế giới chỉ ra rằng hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư có
liên quan chặt chẽ với tỷ lệ chi phí của quỹ (Expense), trong đó đa phần các nghiên cứu
chứng minh rằng tỷ lệ chi phí và hiệu quả hoạt động của quỹ có mối quan hệ ngược
25
26
27
28
29
chiều. Một trong những nghiên cứu điển hình về quỹ đầu tư là nghiên cứu của Carhart
(1997) với dữ liệu tháng của tất cả các quỹ cổ phiếu ở Mỹ từ tháng 01/1962 - 12/1993
chỉ ra rằng tỷ lệ chi phí hoạt động có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của quỹ.
Tương tự nghiên cứu với các quỹ đầu tư chứng khoán Mỹ thì các tác giả Sharpe (1966),
Ippolito (1989), Elton & cộng sự (1993), Golec (1996), Dellva & Olson (1998) cũng
30
31
32
33
34
chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ chi phí với hiệu quả của quỹ. Nghiên cứu
được thực hiện với 506 quỹ đầu tư ở 5 nước châu Âu của tác giả Otten & Bams (2002)
cũng cho kết quả tương tự, hay tác giả Dahlquist & cộng sự (2000) chứng minh tỷ lệ chi
phí hoạt động tác động tiêu cực tới hiệu quả hoạt động của quỹ Thụy Điển. Babalos &
cộng sự (2009) nghiên cứu dựa trên dữ liệu các quỹ cổ phiếu Hy Lạp trong giai đoạn
35
54
1
2
3
4
2000 - 2006 để đánh giá yếu tố tác động tới hiệu quả hoạt động của quỹ theo thước đo
tăng trưởng giá trị tài sản ròng (NAV) và cho kết quả tác động tiêu cực giữa tỷ lệ chi
phí tới hiệu quả hoạt động của các quỹ cổ phiếu Hy Lạp. Tương tự kết quả này cũng
được tìm thấy trong các nghiên cứu gần đây của Gil-Bazo & Ruiz-VerdÚ (2009),
Ferreira & cộng sự (2013).
5
6
7
Để kiểm chứng tác động của tỷ lệ chi phí hoạt động tới hiệu quả hoạt động của
các quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường Việt Nam, tác giả thực hiện kiểm định giả
thuyết sau:
8
H2: Tỷ lệ chi phí hoạt động của quỹ có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động
9
của quỹ đầu tư chứng khoán
10
3.1.3. Tốc độ vòng quay danh mục và hiệu quả hoạt động của quỹ
11
12
13
14
15
16
17
18
19
Tốc độ vòng quay danh mục (Turnover) phản ánh chiến lược giao dịch chủ động
của các quỹ, thể hiện qua chênh lệch mua bán chứng khoán trên giá trị tài sản ròng của
quỹ, chỉ tiêu này cao cho thấy chiến lược đầu tư mua và bán chứng khoán của quỹ tích
cực. Kenchington và cộng sự (2019) nghiên cứu các quỹ đầu tư tại Mỹ chỉ ra các quỹ có
tốc độ quay vòng lớn (với cả quỹ có quy mô nhỏ và quy mô lớn) đều hoạt động hiệu quả
hơn. Kaur (2018) nghiên cứu các quỹ đầu tư cổ phiếu ở thị trường Ấn Độ trong giai
đoạn 2004 - 2013 sử dụng phương pháp ước lượng sys-GMM cũng chứng minh rằng
giữa turnover và hiệu quả hoạt động của quỹ có mối quan hệ cùng chiều, cho thấy các
quỹ tiến hành giao dịch tích cực để lợi nhuận gộp của quỹ thể hiện tốt hơn.
20
Tác giả thực hiện kiểm định giả thuyết sau để chứng minh tác động của Tốc độ
21
vòng quay danh mục tới hiệu quả hoạt động của các quỹ:
22
H3: Tốc độ vòng quay danh mục có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của
23
quỹ đầu tư chứng khoán.
24
3.1.4. Đặc điểm riêng của nhà quản lý quỹ và hiệu quả hoạt động của quỹ
25
26
27
28
29
30
Một số yếu tố thuộc đặc điểm của nhà quản lý quỹ cũng có tác động đáng kể đến
hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư như: giới tính, trình độ học vấn, nơi đào tạo
ĐH/SĐH chính quy (trong nước, nước ngoài) của nhà quản lý quỹ... Giới tính là yếu tố
tạo nên khẩu vị rủi ro khác nhau giữa nhà quản lý nam và nhà quản lý nữ (Powell &
Ansic, 1997). Nghiên cứu của Fang & Wang (2015) chỉ ra rằng các nhà quản lý quỹ nữ
thường có xu hướng e ngại rủi ro hơn, do đó lợi nhuận của quỹ mà họ quản lý bị ảnh
31
32
hưởng, từ đó tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán mà họ quản
lý. Nghiên cứu này cũng nhấn mạnh vai trò của nhà quản lý quỹ có bằng MBA hay CFA
33
55
1
2
3
4
5
6
7
8
9
là yếu tố quan trọng giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của quỹ, tương tự như trong
nghiên cứu của Golec (1996), Friis & Smit (2004) đã khẳng định các nhà quản lý quỹ
có bằng MBA hay chứng chỉ CFA có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của quỹ
đầu tư chứng khoán. Bên cạnh đó với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam thì
việc được đi học tập tại nước ngoài (các nước phát triển) là cơ hội tốt để lĩnh hội kiến
thức và phát triển kỹ năng nghề nghiệp. Trên góc độ quỹ đầu tư chứng khoán thì các nhà
quản lý quỹ được đào tạo ở nước ngoài thường thể hiện năng lực chuyên môn, trình độ
ngoại ngữ vượt trội hơn nên có khả năng tác động tốt hơn tới hiệu quả hoạt động của
quỹ. Để đánh giá tác động của đặc điểm riêng của Nhà quản lý quỹ, tác giả thực hiện
xây dựng các cặp giả thuyết sau:
10
H4: Có sự khác biệt về tác động của giới tính nhà quản lý tới hiệu quả hoạt động
11
của quỹ đầu tư chứng khoán.
12
H5: Hiệu quả hoạt động của các quỹ cao hơn với nhà quản lý quỹ có chứng chỉ CFA.
13
H6: Có sự khác biệt về tác động của nơi đào tạo nhà quản lý tới hiệu quả hoạt
14
động của quỹ.
15
16
17
Đặc điểm riêng của nhà quản lý quỹ sẽ được xây dựng dưới dạng biến nhị phân
(0,1) để đánh giá sự khác biệt của các thuộc tính tới hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu
tư chứng khoán trên TTCK Việt Nam.
18
3.1.5. Biến kiểm soát
19
20
21
22
23
24
25
Biến kiểm soát thể hiện đặc trưng của các quỹ đầu tư gồm biến Thời gian hoạt
động của quỹ (AGE), Phí giao dịch chứng chỉ quỹ (LOAD) và biến thể hiện nhân tố bên
ngoài quỹ là Tỷ lệ lạm phát (INF). Tác giả đưa vào mô hình nghiên cứu hai biến kiểm soát
AGE và LOAD nhằm loại bỏ khả năng tác động chi phối của các biến này tới hiệu quả hoạt
động của các quỹ đầu tư chứng khoán, và biến INF đại diện cho đặc điểm riêng của nền
kinh tế cũng như TTCK Việt Nam nói chung với dữ liệu của biến INF thu thập theo tháng
phù hợp với bộ dữ liệu của quỹ đầu tư chứng khoán được nghiên cứu trong luận án.
26
27
28
29
30
31
Thời gian hoạt động của quỹ có tác động như thế nào tới hiệu quả hoạt động
của quỹ cũng được nhiều nghiên cứu xem xét như Rao & cộng sự (2017) thực hiện
với các quỹ đầu tư ở Trung Quốc đưa ra kết luận rằng thời gian hoạt động có tác
động thuận chiều đến hiệu quả hoạt động của quỹ. Trái ngược với kết luận này là
nghiên cứu của Prather & cộng sự (2004), Fang & Wang (2015) chỉ ra các quỹ hoạt
động lâu lại có hiệu quả không cao.
32
33
Biến phí giao dịch chứng chỉ quỹ (load fees) tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt
động của quỹ theo nghiên cứu của nhiều tác giả như (Prather & cộng sự, 2004; Dellva
34
56
1
2
& Olson, 1998; Elton & cộng sự, 1993; Golec, 1996). Bên cạnh đó thì cũng có những
nghiên cứu chỉ ra rằng phí giao dịch chứng chỉ quỹ không tác động đến hiệu quả hoạt
động của quỹ như trong nghiên cứu của Volkmsan & Wohar (1995), Garyn-Tal (2015).
3
4
5
6
7
8
Lạm phát được chứng minh trong nhiều nghiên cứu có tác động ngược chiều đến
hiệu quả hoạt động của quỹ như nghiên cứu của Lucas & cộng sự (2019), Cheng &
Dewi (2020), khi lạm phát cao sẽ khiến giá cả các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp
tăng, chi phí sản xuất trở nên đắt đỏ, chi phí bán hàng tăng và sức mua giảm ảnh
hưởng đến lợi nhuận của công ty, và theo đó lợi nhuận của quỹ đầu tư nắm giữ cổ
phiếu của công ty đó cũng bị ảnh hưởng.
9
3.2 Mô hình nghiên cứu
10
3.2.1. Khung nghiên cứu
11
12
13
14
Từ tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm và cơ sở lý thuyết, có thể rút ra có
nhiều nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ, nhất là các nhân tố thuộc đặc
điểm của quỹ và các nhân tố thuộc đặc điểm của nhà quản lý quỹ. Trên cơ sở những đặc
điểm riêng có của TTCK Việt Nam, luận án đưa ra khung nghiên cứu về hiệu quả hoạt
động của quỹ đầu tư chứng khoán như sau:
15
16
17
Các nhân tố thuộc đặc điểm quỹ
Quy mô quỹ (SIZE)
Tỷ lệ chi phí hoạt động
(EXPENSE)
Tốc độ vòng quay danh mục
(TURNOVER)
Thời gian hoạt động của quỹ (AGE)
Phí giao dịch chứng chỉ quỹ (LOAD) Nhân tố bên
ngoài
Tỷ lệ lạm phát
(INFLATION) HIỆU QUẢ
HOẠT
ĐỘNG CỦA
QUỸ ĐẦU
TƯ CHỨNG
KHOÁN
(PERFM)
Các nhân tố thuộc đặc điểm
nhà quản lý quỹ
18
19 Giới tính của nhà quản lý quỹ
(GENDER)
Trình độ học vấn của nhà quản lý
quỹ (CFA)
Đào tạo nước ngoài (OVER)
Sơ đồ 3.1. Khung nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán
20
(Nguồn: tác giả tự tổng hợp)
21
57
1
2
3
4
5
Hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán (PERFM) được đo lường với
nhiều thước đo được xây dựng dựa trên cả mô hình đơn nhân tố và mô hình đa nhân tố.
Trong nghiên cứu của luận án, tác giả sử dụng 3 thước đo bao gồm: Tỷ suất lợi nhuận
(Tốc độ tăng trưởng giá trị tài sản ròng - G_NAV), Hệ số Sharpe, Hệ số Jensen alpha để
thể hiện hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán
Việt Nam.
6
7
8
9
10
11
12
Các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ được nghiên cứu chi tiết
trong luận án bao gồm quy mô quỹ, tỷ lệ chi phí hoạt động của quỹ, tốc độ vòng quay
danh mục; giới tính và trình độ học vấn của nhà quản lý quỹ. Đây là những nhân tố đặc
trưng của từng quỹ đầu tư chứng khoán được đưa vào nghiên cứu nhằm xác định sự tác
động của các nhân tố này thể hiện như thế nào ở các quỹ đầu tư chứng khoán trên TTCK
Việt Nam, kết hợp với tỷ lệ lạm phát thể hiện đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam trong
từng thời kỳ.
13
3.2.2. Mô hình nghiên cứu và biến nghiên cứu
14
3.2.2.1. Mô hình nghiên cứu
15
16
17
18
Mô hình nghiên cứu tập trung đánh giá tác động của các nhân tố bên trong quỹ
(bao gồm các nhân tố thuộc đặc điểm quỹ và các nhân tố thuộc đặc điểm nhà quản lý
quỹ) đến hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư dạng mở trên thị trường chứng khoán Việt
Nam. Biến phụ thuộc là hiệu quả hoạt động của quỹ (PERFM); Các biến độc lập đại
19
20
21
22
23
24
25
diện cho các nhân tố bên trong quỹ là: Quy mô quỹ (SIZE); Tỷ lệ chi phí hoạt động của
quỹ (EXPENSE); Tốc độ vòng quay danh mục (TURNOVER); Giới tính của nhà quản
lý quỹ (GENDER); Chứng chỉ CFA của nhà quản lý quỹ (CFA); Đào tạo nước ngoài
của nhà quản lý quỹ (OVER). Biến kiểm soát bao gồm hai biến thuộc nội tại của quỹ là
Thời gian hoạt động của quỹ (AGE), Phí giao dịch chứng chỉ quỹ (LOAD); và một biến
đại diện cho nhân tố bên ngoài quỹ là Tỷ lệ lạm phát (INF) với dữ liệu được thu thập
theo tháng.
26
27
28
Dựa vào các nghiên cứu được công bố trên thế giới về các nhân tố tác động đến
hiệu quả hoạt động của quỹ cũng như tính duy trì trong hiệu quả hoạt động của quỹ, tác
giả xây dựng mô hình nghiên cứu sau:
29
PERFMit = β0 + β1SIZEit +β2EXPENSEit + β3TURNOVERit + β4GENDERit
+β5CFAit + β6OVERit + β’ Controlit + εit
Trong đó:
30
PERFMit: Hiệu quả hoạt động của quỹ i kỳ t
31
SIZEit: Quy mô của quỹ i kỳ t
32
58
EXPENSEit: Tỷ lệ chi phí hoạt động của quỹ i kỳ t
1
TURNOVERit: Vòng quay giao dịch chứng khoán quỹ i kỳ t
2
GENDER: Giới tính của nhà quản lý quỹ i kỳ t
3
CFA: Chứng chỉ CFA của nhà quản lý quỹ i kỳ t
4
OVER: Đào tạo nước ngoài của nhà quản lý quỹ i kỳ t
5
Controls: Ba biến kiểm soát bao gồm Thời gian hoạt động của quỹ i kỳ t
6
(AGEit), Phí giao dịch chứng chỉ quỹ i kỳ t (LOADit), Tỷ lệ lạm phát đại diện
7
nhân tố bên ngoài quỹ thể hiện đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam (INFit)
8
3.2.2.2. Các biến nghiên cứu:
9
Biến phụ thuộc: PERFM - biến đo lường hiệu quả hoạt động của quỹ
10
Với các dữ liệu có khả năng thu thập được trên thị trường chứng khoán Việt Nam
11
và trên cơ sở các nghiên cứu trước đã sử dụng các thước đo để xem xét hiệu quả hoạt
12
động của quỹ đầu tư chứng khoán, luận án sử dụng các thước đo hiệu quả hoạt động của
13
quỹ đầu tư chứng khoán bao gồm: Tỷ suất lợi nhuận, Lợi nhuận điều chỉnh rủi ro, Lợi
14
nhuận so với với chỉ số chuẩn.
15
Tỷ suất lợi nhuận: đo lường mức tăng trưởng giá trị tài sản ròng NAV của quỹ
16
được dùng để đo lường hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư trên thị trường chứng
17
khoán Việt Nam, tương tự với nghiên cứu Babalos & cộng sự (2009), Nguyễn Thị Hoa
18
& Nguyễn Thị Nguyệt Dung (2019). Công thức tính của G_NAVit:
19
(MH1)
(cid:1788)(cid:1775)(cid:1796)(cid:1809)(cid:1820)(cid:2879)(cid:1788)(cid:1775)(cid:1796)(cid:1809)(cid:1820)(cid:3127)(cid:2778)
(cid:1788)(cid:1775)(cid:1796)(cid:1809)(cid:1820)(cid:3127)(cid:2778)
(cid:1781)(cid:820)(cid:1788)(cid:1775)(cid:1796)(cid:1809)(cid:1820) (cid:3404) (cid:3)
20
Trong đó:
21
G_NAVit: Tỷ suất lợi nhuận quỹ i kỳ t (Tốc độ tăng trưởng NAV)
22
NAVit: Giá trị tài sản ròng của quỹ i kỳ t
23
NAVit-1: Giá trị tài sản ròng của quỹ i kỳ (t-1)
24
Hệ số Sharpe - Lợi nhuận điều chỉnh rủi ro: chỉ tiêu này tính đến rủi ro để đạt
25
được lợi nhuận. Chỉ tiêu này cao cho thấy hiệu quả điều chỉnh rủi ro tốt hơn, với thước
26
đo là hệ số Sharpe thể hiện lợi nhuận thu về trên một đơn vị rủi ro của danh mục đầu tư
27
của quỹ. Đây là những thước đo về hiệu quả hoạt động của quỹ rất phổ biến trên thế
28
giới, nhưng chưa có nhiều nghiên cứu sử dụng thước đo này tại Việt Nam. Chỉ tiêu này
29
thể hiện được phần lợi nhuận đã tính cả yếu tố rủi ro nên sẽ mang tính khái quát cao,
30
59
một số nghiên cứu sử dụng thước đo này như Ishak & cộng sự (2022), Lucas & cộng sự
1
(2019), Kaur (2018):
2
(MH2)
(cid:1792)(cid:1809)(cid:1820)(cid:2879)(cid:1792)(cid:1806)(cid:1820)(cid:3)
(cid:2748)(cid:1809)(cid:1820)
(cid:1793)(cid:1808)(cid:1801)(cid:1818)(cid:1816)(cid:1805)(cid:1809)(cid:1820) (cid:3404)
3
Trong đó:
4
5
Sharpeit: Hệ số Sharpe của danh mục chứng khoán quỹ i kỳ t
Rit: Tỷ suất lợi nhuận quỹ i kỳ t (được tính bằng tốc độ tăng trưởng NAV của quỹ)
6
Rft: Lợi suất phi rủi ro kỳ t
7
σit: độ lệch chuẩn danh mục đầu tư quỹ i kỳ t
8
9
10
11
12
13
14
15
16
Hệ số JensenAlpha - Lợi nhuận so sánh với chỉ số chuẩn: theo lý thuyết định
giá tài sản vốn (CAPM) lợi nhuận kỳ vọng của danh mục đầu tư phụ thuộc vào các chỉ
số tham chiếu trên thị trường và hệ số rủi ro hệ thống (βi). Khi đó hiệu quả hoạt động
của quỹ thể hiện thông qua hệ số alpha (αi), hệ số này mang giá trị dương và càng lớn
thì càng thể hiện quỹ có hiệu quả hoạt động tốt. Một số nghiên cứu sử dụng hệ số này
như Bunnenberg & cộng sự (2019), Blake & cộng sự (2017). Hệ số JensenAlpha được
xác định từ mô hình chỉ số đơn: Rit - Rft = α + βi (Rmt - Rft). Công thức đo lường hệ
số Jensen như sau:
17
18
Trong đó:
(cid:1784)(cid:1805)(cid:1814)(cid:1819)(cid:1805)(cid:1814)(cid:1775)(cid:1812)(cid:1816)(cid:1808)(cid:1801)(cid:1809)(cid:1820) (cid:3404) (cid:3) (cid:1792)(cid:1809)(cid:1820) (cid:3398) (cid:1792)(cid:1806)(cid:1820) (cid:3398) (cid:2746)(cid:1809)(cid:1820) (cid:1499) (cid:4666)(cid:1792)(cid:1813)(cid:1820) (cid:3398) (cid:1792)(cid:1806)(cid:1820)(cid:4667)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:4666)(cid:1787)(cid:1782)(cid:3)(cid:2780)(cid:4667)
19
)
Rit: Tỷ suất lợi nhuận trung bình của quỹ i kỳ t (Rit =
(cid:1788)(cid:1775)(cid:1796)(cid:1809)(cid:1820)(cid:2879)(cid:1788)(cid:1775)(cid:1796)(cid:1809)(cid:1820)(cid:3127)(cid:2778)
(cid:1788)(cid:1775)(cid:1796)(cid:1809)(cid:1820)(cid:3127)(cid:2778)
20
Rft: Lãi suất phi rủi ro tại kỳ t
21
Rmt: Tỷ suất sinh lời của danh mục thị trường kỳ t
22
δit: độ lệch chuẩn lợi nhuận DMĐT quỹ i kỳ t
23
βit: Hệ số rủi ro hệ thống của quỹ i kỳ t
24
Các biến độc lập và biến kiểm soát:
25
26
27
28
29
30
Dựa vào cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm, tác giả xác
định trọng tâm nghiên cứu của luận án bao gồm các biến độc lập thể hiện đặc điểm của
quỹ và nhà quản lý quỹ có khả năng tác động đáng kể tới biến phụ thuộc, ngoài ra để
kiểm sát tác động của một số các yếu tố khác, tác giả cũng đưa thêm một số biến kiểm
soát vào mô hình nghiên cứu. Tên các biến và phương pháp đo lường các biến độc lập
cũng như biến kiểm soát được tổng kết trong bảng dưới đây.
31
60
Bảng 3.1. Các biến độc lập và biến kiểm soát trong mô hình nghiên cứu
TÊN BIẾN NỘI DUNG BIẾN
CÔNG THỨC TÍNH
BIẾN ĐỘC LẬP THỂ HIỆN ĐẶC ĐIỂM CỦA QUỸ
SIZE
Quy mô quỹ
Tổng giá trị tài sản của quỹ tại thời điểm cuối
mỗi tháng (các khoản đầu tư chứng khoán, tiền
và tương đương tiền...)
EXPENSE
Tỷ lệ chi phí hoạt
động của quỹ
TURNOVER Tốc độ vòng quay
1
danh mục
BIẾN ĐỘC LẬP THỂ HIỆN ĐẶC ĐIỂM CỦA NHÀ QUẢN LÝ QUỸ
GENDER
Giới tính của nhà
quản lý quỹ
(cid:23)(cid:4816)(cid:144)(cid:137)(cid:3)(cid:137)(cid:139)(cid:158)(cid:3)(cid:150)(cid:148)(cid:4811)(cid:3)(cid:143)(cid:151)(cid:131)(cid:3)(cid:152)(cid:157)(cid:145) (cid:3397) (cid:23)(cid:4816)(cid:144)(cid:137)(cid:3)(cid:137)(cid:139)(cid:158)(cid:3)(cid:150)(cid:148)(cid:4811)(cid:3)(cid:132)(cid:158)(cid:144)(cid:3)(cid:148)(cid:131)
(cid:884)(cid:3)(cid:154)(cid:3)(cid:137)(cid:139)(cid:158)(cid:3)(cid:150)(cid:148)(cid:4811)(cid:3)(cid:150)(cid:157)(cid:139)(cid:3)(cid:149)(cid:4791)(cid:144)(cid:3)(cid:148)(cid:214)(cid:144)(cid:137)(cid:3)(cid:150)(cid:148)(cid:151)(cid:144)(cid:137)(cid:3)(cid:132)(cid:191)(cid:144)(cid:138)(cid:3)(cid:150)(cid:148)(cid:145)(cid:144)(cid:137)(cid:3)(cid:141)(cid:252)
Biến giới tính được xây dựng dưới dạng biến
giả (0,1) và lấy biến cơ sở là trường giới tính Nam.
GENDER nhận giá trị = 0 nếu giới tính nam,
= 1 nếu giới tính nữ
CFA
Chứng chỉ CFA
Biến CFA được xây dựng dưới dạng biến giả
(0,1) với trường nhà quản lý không có chứng
chỉ CFA làm phạm trù cơ sở.
Biến CFA nhận giá trị = 0 nếu nhà quản lý
không có chứng chỉ CFA và nhận giá trị = 1
nếu nhà quản lý có chứng chỉ CFA.
OVER
Đào tạo chính quy ở
nước ngoài (các nước
phát triển)
Biến OVER đại diện trình độ của nhà quản lý
quỹ thể hiện trên khía cạnh đào tạo trong và
ngoài nước. Biến OVER được xây dựng dưới
dạng biến giả (0,1) với trường đào tạo nước
ngoài là phạm trù cơ sở.
Biến OVER nhận giá trị = 0 nếu tốt nghiệp
ĐH/SĐH ở nước ngoài, = 1 nếu đào tạo trong nước.
BIẾN KIỂM SOÁT
AGE
Thời gian hoạt động
của quỹ
Thời gian tính theo tháng từ khi thành lập quỹ
cho đến thời điểm thu thập dữ liệu
LOAD
Phí giao dịch chứng
chỉ quỹ
Các khoản chi phí liên quan đến giao dịch tài
sản của quỹ như: chi phí môi giới, chi phí
thanh toán bù trừ, chi phí khác.
INF
Lạm phát
Phản ánh sự thay đổi của mức giá chung trên
thị trường.
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)
(cid:23)(cid:4816)(cid:144)(cid:137)(cid:3)(cid:133)(cid:138)(cid:139)(cid:3)(cid:146)(cid:138)(cid:192)(cid:3)(cid:138)(cid:145)(cid:4790)(cid:150)(cid:3)(cid:175)(cid:4818)(cid:144)(cid:137)(cid:3)(cid:133)(cid:4826)(cid:131)(cid:3)(cid:147)(cid:151)(cid:4835)(cid:3)(cid:154)(cid:3)(cid:883)(cid:882)(cid:882)(cid:936)
(cid:10)(cid:139)(cid:158)(cid:3)(cid:150)(cid:148)(cid:4811)(cid:3)(cid:150)(cid:157)(cid:139)(cid:3)(cid:149)(cid:4791)(cid:144)(cid:3)(cid:148)(cid:214)(cid:144)(cid:137)(cid:3)(cid:150)(cid:148)(cid:151)(cid:144)(cid:137)(cid:3)(cid:132)(cid:191)(cid:144)(cid:138)(cid:3)(cid:150)(cid:148)(cid:145)(cid:144)(cid:137)(cid:3)(cid:141)(cid:252)
2
3
4
61
3.3. Dữ liệu nghiên cứu
1
2
3
4
5
6
7
Dữ liệu đầu tiên và cũng là quan trong nhất cho luận án là dữ liệu về các chỉ tiêu thể
hiện đặc điểm của quỹ đầu tư, từ đó có cơ sở tính toán thước đo về hiệu quả hoạt động của
quỹ cũng như đánh giá tác động của các nhân tố thuộc đặc điểm quỹ có tác động đến hiệu
quả hoạt động của quỹ. Với số lượng chiếm tỷ lệ lớn nhất trong số các loại quỹ đầu tư trên
thị trường chứng khoán Việt Nam (gần 60%), quỹ mở hiện là quỹ có vai trò quan trọng trên
TTCK và có nhiều ưu điểm như quản lý chuyên nghiệp, đa dạng hóa danh mục đầu tư giúp
hạn chế rủi ro, phù hợp với nhà đầu tư có nguồn lực hạn chế…
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
Do sự phổ biến bởi nhiều tính chất ưu việt của quỹ đầu tư dạng mở và khả năng
tiếp cận các thông tin về quỹ thông qua cơ chế công bố thông tin, luận án sử dụng dữ
liệu theo tháng của các quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở trên TTCK Việt Nam trong
giai đoạn 01/2016 - 12/2023 để phục vụ công tác thống kê, tổng hợp và phân tích số liệu
thông qua các bảng biểu, đồ thị. Tác giả lựa chọn giai đoạn này để nghiên cứu bởi đây
là giai đoạn chứng kiến sự tăng trưởng ấn tượng của TTCK Việt Nam nói chung và số
lượng, quy mô các quỹ đầu tư chứng khoán trên TTCK Việt Nam nói riêng, phản ánh
bức tranh tổng thể về tình hình hoạt động và sự phát triển của các quỹ đầu tư chứng
khoán trên TTCK Việt Nam. Trong giai đoạn này còn bao hàm thời kỳ xảy ra dịch bệnh
Covid-19 với những diễn biến phức tạp, khó lường ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế
và đời sống xã hội nói chung cũng như thị trường chứng khoán nói riêng, nên việc xem
xét hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trong giai đoạn này cũng phản ánh
được vai trò của quỹ đầu tư đối với thị trường và nhà đầu tư, đặc biệt trong những giai
đoạn biến động, phát huy được tính ưu việt của hình thức đầu tư chứng chỉ quỹ.
22
23
24
25
26
Bên cạnh đó tác giả sử dụng mô hình kinh tế lượng với dữ liệu bảng, do vậy với
nghiên cứu định lượng thì giai đoạn nghiên cứu được thu hẹp lại từ tháng 01/2018 - 09/2023
để đảm bảo tính chính xác của nghiên cứu do số liệu của nhiều quỹ chưa có từ giai đoạn
trước 2018; số lượng các quỹ trong mô hình kinh tế lượng bao gồm 8 quỹ cổ phiếu, 4 quỹ
cân bằng và 4 quỹ trái phiếu. Dữ liệu thu thập từ các nguồn tin cậy cho luận án, cụ thể:
27
28
29
30
31
Dữ liệu liên quan đến đặc điểm của quỹ được thu thập trên các báo cáo hoạt động
tháng của các công ty quản lý quỹ. Báo cáo hoạt động tháng của các công ty quản lý quỹ
được thu thập trực tiếp từ trang web công bố thông tin chính thức của công ty quản lý quỹ.
Trong báo cáo có đầy đủ các số liệu về giá trị tài sản ròng của quỹ, tổng giá trị tài sản, tỷ
lệ chi phí hoạt động, tốc độ vòng quay danh mục, số lượng nhà đầu tư vào quỹ…
32
33
34
Dữ liệu về nhà quản lý quỹ được tác giả thu thập thông qua bản cáo bạch của quỹ. Bản
cáo bạch định kỳ công bố các thông tin về ban điều hành quỹ, ở đây đại diện nhà quản
lý quỹ sẽ được thu thập thông tin của người đứng đầu ban điều hành quỹ, một số các
35
62
1
2
quỹ có sự thay đổi nhà quản lý quỹ theo thời gian, số còn lại không đổi trong thời gian
nghiên cứu. Các dữ liệu thu thập bao gồm họ tên, giới tính, trình độ học vấn, có hoặc
không có chứng chỉ CFA.
3
4
5
6
Dữ liệu về lãi suất phi rủi ro được thu thập từ lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn
10 năm (theo quy định tại Thông tư số 28/2021/TT-BTC ban hành tiêu chuẩn thẩm định
giá Việt Nam số 12) trên trang web của Kho bạc nhà nước (vst.mof.gov.vn) sau đó quy
đổi về lãi suất phi rủi ro theo tháng.
7
Chỉ số VN-Index được thu thập từ số liệu thống kê thị trường của Ủy ban chứng
8
khoán nhà nước (ssc.gov.vn)
9
Tỷ lệ lạm phát được thu thập theo tháng từ số liệu công bố của Tổng cục thống kê
10
(gos.gov.vn).
11
12
13
14
15
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán được tính
toán theo các công thức (MH1, MH2, MH3). Với Độ lệch chuẩn bình quân tháng tính
theo hàm excel STDEV của tốc độ tăng trưởng NAV mỗi tháng của 12 tháng trong năm;
Hệ số Beta trong công thức JensenAlpha tính bình quân tháng theo hàm excel SLOPE
của tốc độ tăng trưởng NAV và lợi nhuận thị trường.
16
3.4. Phương pháp phân tích tổng hợp
17
18
19
20
21
22
Để xây dựng mô hình nghiên cứu, tác giả thực hiện phương pháp tổng hợp và phân
tích thông tin từ các nghiên cứu đã được thực hiện trong nước và quốc tế về hiệu quả hoạt
động của các quỹ đầu tư chứng khoán và các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của
quỹ. Kết quả phân tích và đánh giá kết luận từ các nghiên cứu trước sẽ hỗ trợ tác giả xác
định khoảng trống nghiên cứu và hình thành khung nghiên cứu lý thuyết về tác động của
các nhân tố tới hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán trên TTCK Việt Nam.
23
24
25
26
27
28
Tác giả sử dụng kết hợp phương pháp so sánh, phân tích, thống kê mô tả để
đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động và thực trạng các nhân tố tác động tới hiệu quả
hoạt động của các quỹ đầu tư dạng mở trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn từ tháng
01 năm 2016 đến tháng 12 năm 2023. Phân tích thực trạng sẽ hỗ trợ để xây dựng các
mô hình nghiên cứu thực nghiệm và là cơ sở để đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán trên TTCK Việt Nam.
29
3.5. Phương pháp phân tích định lượng
30
31
32
33
Tác giả đồng thời sử dụng mô hình kinh tế lượng để xem xét tính phù hợp của
mô hình nghiên cứu và kiểm chứng các giả thuyết nghiên cứu đã đặt ra. Do hạn chế về
thu thập dữ liệu của một số biến nghiên cứu nên nghiên cứu định lượng chỉ được thực
hiện với 16 quỹ đầu tư chứng khoán trong giai đoạn từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 09
34
63
1
2
năm 2023. Tác giả sử dụng phần mềm thống kê STATA phiên bản 17 để hỗ trợ thực
hiện các phương pháp ước lượng. Các bước thực hiện của phương pháp phân tích định
lượng được mô tả chi tiết trong nội dung sau.
3
3.5.1. Thống kê mô tả
4
5
6
7
8
Sau khi đã thu thập và tính toán số liệu nghiên cứu liên quan đến HQHĐ của quỹ và
các nhân tố tác động đến HQHĐ của quỹ trong khoảng thời gian nghiên cứu, tác giả thực
hiện thống kê mô tả để chỉ ra những đặc điểm cơ bản của số liệu nghiên cứu như: giá trị
trung bình, giá trị lớn nhất, nhỏ nhất, phương sai của chuỗi dữ liệu… qua đó có thể xác định
được một số quan sát ngoại lai có thể làm ảnh hưởng lớn và làm lệch lạc số liệu nghiên cứu.
9
10
11
12
Đồng thời, để hạn chế ảnh hưởng của các quan sát ngoại lai (outliers), tác giả thực hiện thay
thế những quan sát có giá trị bé hơn giá trị ở phân vị 1% bằng giá trị ở phân vị 1% và những
quan sát có giá trị lớn hơn giá trị ở phân vị 99% cũng được thay thế bằng giá trị ở phân
vị 99% trong phân phối mẫu ở mỗi biến.
13
3.5.2. Lựa chọn phương pháp ước lượng
14
Tác giả thực hiện lựa chọn phương pháp ước lượng phù hợp theo tiêu chuẩn kiểm
15
định của Hsiao (2022) được thực hiện theo sơ đồ như sau:
16
i Xit + εit
(cid:2869)
(cid:1834)(cid:3042)
yit = αi + β'
Nếu H0 không được chấp nhận
yit = αi + β'
i Xit + εit
Nếu H0 được chấp nhận (POLS)
yi,t = α + β' Xi,t + εi,t
(cid:483)(cid:3)(cid:2010)(cid:3036) (cid:3404) (cid:2010)(cid:3)(cid:1482)(cid:1861)(cid:3) (cid:1488) (cid:883)(cid:481) (cid:1840)
(cid:2870)
(cid:1834)(cid:3042)
Nếu H0 không được chấp nhận
Nếu H0 được chấp nhận
yit = αi + β' Xit + εit
i Xi,t + εit
yi,t = αi + β'
(cid:483)(cid:3)(cid:2009)(cid:3036) (cid:3404) (cid:2009)(cid:3)(cid:1482)(cid:1861)(cid:3) (cid:1488) (cid:883)(cid:481) (cid:1840)
(cid:2871)
(cid:1834)(cid:3042)
Nếu H0 được chấp nhận
yi,t = α + β' xi,t + εi,t
Nếu H0 không được chấp nhận
yi,t = αi + β' Xi,t + εi,t (RE,FE)
(cid:483)(cid:3)(cid:2009)(cid:3036) (cid:3404) (cid:2009)(cid:3)(cid:1874)(cid:157)(cid:3)(cid:2010)(cid:3036) (cid:3404) (cid:2010)(cid:3)(cid:1482)(cid:1861)(cid:3) (cid:1488) (cid:883)(cid:481) (cid:1840)
17
Sơ đồ 3.2. Qui trình lựa chọn phương pháp ước lượng phù hợp
18
(Nguồn: Tác giả xây dựng theo Hsiao (2022))
19
64
Thực hiện lựa chọn phương pháp ước lượng theo tiêu chuẩn kiểm định của Hsiao
1
(2022), tác giả sẽ thực hiện các kiểm định sau:
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
Thực hiện kiểm định xem xét có hay không tồn tại các thành phần đặc trưng riêng
cho mỗi đối tượng không thay đổi theo thời gian trong mô hình hồi qui đa biến dữ liệu
bảng. Bằng kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian để lựa chọn phương pháp ước
lượng POLS hoặc RE với cặp giả thuyết H0: Kiểm định PLOS cho kết quả phù hợp, H1:
Kiểm định RE cho kết quả phù hợp. Nếu kết quả kiểm định cho hệ số Prob nhỏ hơn mức
ý nghĩa 5% thì đủ bằng chứng thống kê chấp nhận giả thuyết H1 - tồn tại các thành phần
đặc trưng riêng cho mỗi đối tượng không thay đổi theo thời gian và phương pháp ước
lượng với tác động ngẫu nhiên (RE) được sử dụng và ngược lại nếu kết quả kiểm định
cho hệ số Prob lớn hơn mức ý nghĩa 5% thì phương pháp ước lượng PLOS sẽ phù hợp
để sử dụng.
12
Tiếp đến, tác giả thực hiện lựa chọn phương pháp tác động cố định (FE) với
13
14
15
16
17
18
phương pháp tác động ngẫu nhiên (RE) dựa trên giả thuyết tương quan giữa các biến
độc lập với thành phần đặc trưng riêng (không quan sát được). Nếu có tồn tại mối tương
quan này thì phương pháp FE cho kết quả tin cậy hơn và ngược lại phương pháp RE cho
kết quả hiệu quả hơn. Thực hiện kiểm định Hausman với cặp giả thuyết H0: kiểm định
RE cho kết quả phù hợp, H1: kiểm định FE cho kết quả phù hợp và dựa vào kết quả
Prob so với mức ý nghĩa 5% để đưa ra kết luận.
19
20
21
Kiểm định lựa chọn phương pháp ước lượng phù hợp với mô hình nghiên cứu sử
dụng dữ liệu bảng có dạng tổng quát như sau: yit = αi + β'i Xit + εit. Tác giả đồng thời
kiểm định các khuyết tật có thể xảy ra khi thực hiện hồi qui dữ liệu bảng.
22
3.5.3. Kiểm định các khuyết tật của mô hình hồi qui
23
24
25
Sau khi lựa chọn phương pháp ước lượng phù hợp với mô hình nghiên cứu, tác
giả thực hiện kiểm định hồi qui đồng thời kiểm định các khuyết tật có thể xảy ra với mô
hình bảng tĩnh tuyến tính.
26
27
28
29
30
31
32
33
Kiểm định phân phối chuẩn: Kiểm định phân phối chuẩn với các sai số ngẫu
nhiên để thực hiện được ước lượng tuyến tính không chệch cho hệ số ước lượng tốt nhất
thì điều kiện cần là phân phối của các sai số ngẫu nhiên tuân theo phân phối chuẩn. Khi
các sai số ngẫu nhiên không tuân theo qui luật phân phối chuẩn thì thống kê t không
tuân theo qui luật Student và thống kê F không tuân theo qui luật Fisher. Tuy nhiên, với
kích thước mẫu lớn thì các thống kê về hệ số ước lượng vẫn có giá trị. Tác giả sử dụng
hệ số tập trung (độ nhọn) Kurtosis và hệ số bất đối xứng (Skewness) để kiểm định phân
phối chuẩn của các sai số ngẫu nhiên trong mô hình.
34
65
Kiểm định đa cộng tuyến: Hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra khi các biến độc lập
1
(biến giải thích) trong mô hình hồi qui có mối quan hệ tuyến tính. Hậu quả của đa cộng
2
tuyến trong mô hình hồi qui khiến cho các ước lượng không còn là tốt nhất với khoảng
3
tin cậy cho các hệ số β lớn nghĩa là ước lượng kém chính xác; sai số chuẩn quá lớn làm
4
cho các tỷ số t quá bé khiến cho hệ số ước lượng dễ bị mất ý nghĩa; phương sai lớn tương
5
ứng với độ phân tán của hệ số β cao khiến kỳ vọng về chiều tác động của các biến giải
6
thích trong mô hình bị ngược so với kỳ vọng. Để phát hiện hiện tượng đa cộng tuyến
7
trong mô hình nghiên cứu, luận án sử dụng hệ số phóng đại phương sai VIF (variance
8
inflation factor) được tính toán như sau:
với qui ước chung nếu VIF > 10
(cid:2869)
(cid:3118)
(cid:2869)(cid:2879)(cid:3019)(cid:3285)
9
(cid:1848)(cid:1835)(cid:1832)(cid:3037) (cid:3404)
là dấu hiệu hiện tượng đa cộng tuyến cao; 10 > VIF > 2 có khả năng xảy ra hiện tượng
10
đa cộng tuyến và VIF < 2 không có hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình hồi qui.
11
Kiểm định tự tương quan: Hiện tượng tự tương quan xảy ra khi sai số ngẫu nhiên
12
tại các thời điểm khác nhau có tương quan với nhau, hậu quả của tự tương quan là khá
13
nghiêm trọng khi phương sai các hệ số ước lượng thu được bị chệch, khoảng tin cậy
14
thường bé hơn so với khoảng tin cậy đúng và kết luận từ bài toán kiểm định giả thuyết
15
thống kê về các hệ số là không đáng tin cậy. Nghiên cứu của Wooldridge (2010) kiểm
16
định Wooldrige được sử dụng để xác định mô hình có hay không hiện tượng tự tương
17
quan với cặp giả thuyết như sau:
18
(cid:3420)
19
Tại mức ý nghĩa 5% mô hình sẽ không có hiện tượng tự tương quan nếu như
20
(cid:11)(cid:2868)(cid:483)(cid:3)(cid:16)(cid:216)(cid:3)(cid:138)(cid:191)(cid:144)(cid:138)(cid:3)(cid:141)(cid:138)(cid:216)(cid:144)(cid:137)(cid:3)(cid:133)(cid:215)(cid:3)(cid:138)(cid:139)(cid:4809)(cid:144)(cid:3)(cid:150)(cid:4827)(cid:4824)(cid:144)(cid:137)(cid:3)(cid:150)(cid:4832)(cid:3)(cid:150)(cid:4827)(cid:4819)(cid:144)(cid:137)(cid:3)(cid:147)(cid:151)(cid:131)(cid:144)(cid:481)
(cid:11)(cid:2869)(cid:483)(cid:3)(cid:16)(cid:216)(cid:3)(cid:138)(cid:191)(cid:144)(cid:138)(cid:3)(cid:133)(cid:215)(cid:3)(cid:138)(cid:139)(cid:4809)(cid:144)(cid:3)(cid:150)(cid:4827)(cid:4824)(cid:144)(cid:137)(cid:3)(cid:150)(cid:4832)(cid:3)(cid:150)(cid:4827)(cid:4819)(cid:144)(cid:137)(cid:3)(cid:147)(cid:151)(cid:131)(cid:144)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)
giả thuyết H0 được chấp nhận. Nếu mô hình có hiện tượng tự tương quan tác giả sẽ sử
21
dụng phương pháp bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS - feasible generalized
22
least squares).
23
Kiểm định phương sai sai số thay đổi: Trong trường hợp phương sai sai số
24
trong mô hình bằng nhau tại mọi quan sát thì ước lượng OLS là ước lượng tốt nhất,
25
hiện tượng phương sai sai số thay đổi trong mô hình khiến cho hệ số ước lượng bị
26
chệch và không có giá trị. Tác giả sẽ sử dụng kiểm định White hoặc kiểm định Breusch
27
and Pagan để kiểm tra khuyết tật phương sai sai số thay đổi của mô hình nghiên cứu
28
với cặp giả thuyết như sau:
29
(cid:3420)
(cid:11)(cid:2868)(cid:483)(cid:3)(cid:16)(cid:216)(cid:3)(cid:138)(cid:191)(cid:144)(cid:138)(cid:3)(cid:133)(cid:215)(cid:3)(cid:146)(cid:138)(cid:4827)(cid:4819)(cid:144)(cid:137)(cid:3)(cid:149)(cid:131)(cid:139)(cid:3)(cid:133)(cid:4826)(cid:131)(cid:3)(cid:149)(cid:131)(cid:139)(cid:3)(cid:149)(cid:4814)(cid:3)(cid:175)(cid:4815)(cid:144)(cid:137)(cid:3)(cid:144)(cid:138)(cid:4792)(cid:150)(cid:481)
(cid:11)(cid:2869)(cid:483)(cid:3)(cid:16)(cid:216)(cid:3)(cid:138)(cid:191)(cid:144)(cid:138)(cid:3)(cid:133)(cid:215)(cid:3)(cid:146)(cid:138)(cid:4827)(cid:4819)(cid:144)(cid:137)(cid:3)(cid:149)(cid:131)(cid:139)(cid:3)(cid:133)(cid:4826)(cid:131)(cid:3)(cid:149)(cid:131)(cid:139)(cid:3)(cid:149)(cid:4814)(cid:3)(cid:150)(cid:138)(cid:131)(cid:155)(cid:3)(cid:175)(cid:4816)(cid:139)(cid:3)(cid:3)(cid:3)(cid:3)
30
66
1
2
3
Với mức ý nghĩa 5% mô hình nghiên cứu sẽ có phương sai không đổi nếu giả
thuyết H0 không bị bác bỏ. Trong trường hợp mô hình gặp khuyết tật phương sai sai số
thay đổi nghiên cứu sẽ khắc phục bằng phương pháp sai số chuẩn vững (Robust standard
error) hoặc phương pháp FGLS.
4
3.5.4. Phân tích hồi qui tuyến tính
5
6
7
8
Phân tích hồi qui tuyến tính là một trong những phương pháp phân tích dữ liệu
phổ biến trong thống kê để xem xét mối quan hệ tác động giữa biến phụ thuộc và
biến giải thích. Tác giả sử dụng phân tích hồi qui tuyến tính bội với mô hình nghiên
cứu gồm từ 3 biến trở lên (một biến phụ thuộc và k biến độc lập (biến giải thích) với
9
10
11
12
k > 1). Mô hình hồi qui bội cho phép đánh giá tác động riêng của biến độc lập (biến
giải thích) lên biến phụ thuộc khi giả định các biến độc lập khác trong mô hình không
đổi. Mô hình bảng tĩnh tuyến tính bội có dạng tổng quát (với i được xác định từ 1
đến k) như sau:
13
(*)
14
Trong đó:
(cid:1799)(cid:1809)(cid:1820) (cid:3404) (cid:2745)(cid:1809) (cid:3397) (cid:2746)(cid:2778)(cid:1798)(cid:2778)(cid:1820) (cid:3397) (cid:2746)(cid:2779)(cid:1798)(cid:2779)(cid:1820) (cid:3397) (cid:1710) (cid:3397) (cid:2746)(cid:1811)(cid:1798)(cid:1811)(cid:1820) (cid:3397) (cid:2749)(cid:1809)(cid:1820)
15
αi: Hệ số cắt thay đổi theo i
16
β1...k: Hệ số độ dốc
17
εit: sai số ngẫu nhiên
18
Phương pháp ước lượng FGLS (Feasible generalized least squares)
19
20
21
22
23
24
25
Khi ước lượng mô hình số liệu mảng có sự hiện diện của vấn đề phương sai sai
số thay đổi và tự tương quan trong dữ liệu thì ước lượng OLS thông thường sẽ không
hiệu quả. Để có kết quả chính xác hơn ta phải loại đi những khuyết tật này, phương pháp
FGLS được sử dụng để thực hiện ước lượng mô hình (*). Sự khác nhau của hệ số ước
lượng β từ OLS và FGLS là sử dụng ma trận hiệp phương sai của sai số (W) để sao cho
tăng hiệu quả và giải quyết vấn đề về vi phạm các giả thiết phương sai đồng nhất và
không tương quan chuỗi trong các sai số (Cameron & Trivedi, 2010). Khi áp dụng FGLS
-
1
-
1
-
1
-
1
x
x
y
ˆ'
W
26
(
ˆ
ˆ'
W=b
x
)
FGL
27
cho mô hình (*) thì hệ số β được xác định:
. Với ước lượng của
W thu được thông qua ước lượng của å, ước lượng của å là Sˆ được xác định như sau:
j
ˆ =S
ij
'ˆ'ˆ
ee
i
T
28
và để tính toán được theo thủ tục đã trình bày, trước hết mô hình được ước
29
lượng bằng POLS và sử dụng phần dư của nó.
30
67
1
2
3
4
5
6
Ưu điểm của ước lượng FGLS là tính toán đơn giản bằng cách sử dụng phần dư
trong ước lượng POLS để xây dựng ma trận phương sai. Phương pháp này không yêu
cầu dạng phân bố của tác động không quan sát được và sai số ngẫu nhiên. Phương pháp
FGLS ước lượng được với sự hiện diện của tự tương quan (AR1), tương quan chéo,
phương sai sai số thay đổi trong số liệu mảng. Khi ước lượng FGLS không có sự hiện
diện tự tương quan thì kết quả ước lượng sẽ hội tụ đến kết quả ước lượng bằng phương
pháp ML.
7
Kiểm định Chow:
8
9
10
11
12
Tác giả đồng thời kiểm định Chow để kiểm chứng sự khác biệt về đặc điểm của
nhà quản lý tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ. Hồi qui biến Genderit được xây
dựng theo nguyên tắc biến giả (0,1) với 2 phạm trù và giới tính nam là phạm trù cơ sở
tương ứng biến Genderit được xác định như sau: = 0 nếu nhà quản lý có giới tính nam,
= 1 nếu có giới tính nữ.
13
14
15
16
17
Biến OVERit cũng được xây dựng theo nguyên tắc biến giả (0,1) với 2 phạm trù
và phạm trù trong nước là phạm trù cơ sở tương ứng biến OVERit được xác định như
sau: = 0 nếu nhà quản lý đào tạo chính quy ở trong nước, = 1 nếu đào tạo ở nước ngoài
(các nước phát triển). Biến CFAit cũng được xây dựng dưới dạng biến giả (0,1) với phạm
trù nhà quản lý không có chứng chỉ CFA làm biến cơ sở.
18
19
68
CHƯƠNG 4:
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
1
2
3
4
4.1. Khái quát tình hình hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường
chứng khoán Việt Nam
5
4.1.1. Khái quát tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam
6
7
8
9
10
11
12
13
14
Thị trường chứng khoán Việt Nam đánh dấu hình thành từ năm 1996 với sự thành
lập của Ủy ban chứng khoán nhà nước, là đơn vị thuộc Bộ Tài chính được Nhà nước
giao nhiệm vụ xây dựng và quản lý thị trường chứng khoán Việt Nam. Đến ngày
28/07/2000 thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức vận hành với giao dịch đầu
tiên của 2 mã cổ phiếu là REE và SAM tại Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố
Hồ Chí Minh. Năm 2005 trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội chính thức vận hành,
sau đó 4 năm (năm 2009) thị trường giao dịch cổ phiếu công ty đại chúng chưa niêm yết
(UPCOM) đã chính thức vận hành. Một số các cột mốc nổi bật của thị trường chứng
khoán Việt Nam được mô tả trong hình sau:
15
16
Hình 4.1. Các dấu mốc quan trọng của Thị trường chứng khoán Việt Nam
17
(Nguồn: tác giả tự tổng hợp theo UBCKNN)
18
69
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
Thị trường chứng khoán đã hình thành đa dạng các loại chứng khoán trên thị
trường, hiện nay thị trường chứng khoán Việt Nam đã giao dịch các loại chứng khoán
bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ, hợp đồng tương lai, chứng quyền có bảo
đảm… Số lượng các doanh nghiệp niêm yết trên các sở giao dịch chứng khoán tăng qua
các năm, tính đến hết tháng 12/2023 có 394 doanh nghiệp niêm yết trên HOSE và 327
doanh nghiệp niêm yết trên HNX (theo số liệu thống kê thị trường của UBCKNN) so
với thời điểm cuối năm 2016 là 320 doanh nghiệp trên HOSE và 375 doanh nghiệp trên
HNX. Số lượng doanh nghiệp trên HNX giai đoạn 2016 - 2018 vẫn tăng nhưng sau đó
giảm sút một phần nguyên nhân là nhiều doanh nghiệp “chuyển sàn” sang HOSE, bên
cạnh đó là do hoạt động thanh lọc thị trường - hủy niêm yết những doanh nghiệp yếu
kém, hoạt động không hiệu quả. Trên UPCOM ghi nhận 862 doanh nghiệp đăng ký giao
dịch tính đến tháng 12/2023, tăng gấp hơn 2 lần so với số liệu năm 2016. Tính đến hết
năm 2023 Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (mã chứng khoán VCB) là doanh
nghiệp niêm yết có giá trị vốn hóa thị trường lớn nhất. Top 5 doanh nghiệp niêm yết có
giá trị vốn hóa lớn nhất thị trường còn bao gồm các doanh nghiệp với mã cổ phiếu BID,
VHM, GAS, VIC.
16
17
18
Chỉ số VNIndex có sự biến động tăng giảm qua các năm. Kết thúc phiên giao dịch
cuối cùng của tháng 12/2023, VNIndex đạt 1.129,93 điểm, tăng 12,20% so với cuối năm
2022. Diễn biến chính trong giai đoạn 2016 - 2023 được mô tả theo biểu đồ dưới đây:
1600
60.00%
1498.28
50.00%
1400
40.00%
1129.93
1200
1103.87
30.00%
1007.09
984.24
960.99
1000
892.54
20.00%
10.00%
800
664.87
0.00%
600
-10.00%
400
-20.00%
200
-30.00%
-40.00%
0
2016
2017
2018
2019
2020
2021
2022
2023
VNIndex
Tỷ lệ % thay đổi
19
20
21
Biểu đồ 4.1. Diễn biến VNIndex qua các năm giai đoạn 2016 - 2023
22
(Nguồn: Số liệu thống kê thị trường của UBCKNN)
23
70
Nhìn chung, VNIndex qua các năm có xu hướng tăng, kết thúc phiên giao dịch
1
năm 2016 VNIndex chỉ đạt 664,87 điểm nhưng qua các năm đã có mức tăng lên trên
2
1.000 điểm từ cuối năm 2020. Dấu mốc tăng trưởng đáng chú ý đầu tiên trong giai đoạn
3
này là năm 2017 VNIndex tăng mạnh 48,03% so với năm 2016. Có được điều này là do
4
trong năm này làn sóng lên sàn của các doanh nghiệp lớn đã giúp thị trưởng tăng trưởng
5
mạnh mẽ về quy mô, như: Tổng công ty Hàng không Việt Nam (HVN), CTCP Hàng
6
không Vietjet (VJC), Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (PLX), CTCP Vincom Retail
7
(VRE), Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPB), CTCP Tập đoàn Lộc Trời
8
(LTG)…, đồng thời ghi nhận sự gia tăng mạnh mẽ của dòng tiền khối ngoại. Bên cạnh
9
đó, kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp cũng chuyển biến tích cực, sự ra đời của
10
thị trường chứng khoán phái sinh là một trong những tác nhân chính giúp thị trường
11
chứng khoán tăng mạnh trong năm 2017. Năm 2021 chứng kiến mức tăng mạnh của
12
VNIndex đạt mức cao kỷ lục khi vượt 1.500 điểm vào ngày 25/11/2021 và diễn biến
13
tăng tiếp diễn sang tháng 01/2022 với mức đỉnh của VNIndex đạt 1.528,57 điểm vào
14
06/01/2022. Tuy nhiên đà tăng này không được giữ vững, qua các phiên giao dịch năm
15
2022 VNIndex điều chỉnh giảm mạnh và đạt mức thấp nhất vào ngày 15/11/2022 ở mức
16
911,9 điểm, sau đó có hồi phục nhẹ và chốt phiên cuối năm đạt 1.007,09 điểm. Diễn
17
biến hồi phục nhẹ của chỉ số VNIndex tiếp diễn sang năm 2023 và đến cuối năm chỉ số
18
này đã tăng 12,20% so với cuối năm 2022 đạt giá trị 1.129,93 điểm.
19
Tính đến cuối năm 2023 giá trị vốn hóa cổ phiếu ước đạt 5.937 nghìn tỷ VNĐ
20
tương đương 58,1% GDP. Trước đó quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu niêm yết đạt
21
khoảng 7,7 triệu tỷ VNĐ trong năm 2021, bằng 123,77% GDP, tăng 45,27% so với năm
22
2020. Thị trường trái phiếu niêm yết (bao gồm trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh
23
nghiệp) với tổng giá trị niêm yết đạt hơn 2.030 nghìn tỷ VNĐ, bằng 20% GDP, tăng
24
16,5% so với năm 2022. Chứng khoán phái sinh ra đời sau cổ phiếu, trái phiếu khi chính
25
thức giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội năm 2017 với sản phẩm phái sinh
26
đầu tiên là hợp đồng tương lai chỉ số VN30, sau đó đến năm 2019 có thêm sản phẩm
27
hợp đồng tương lai trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm, và 2021 tiếp tục có sản phẩm
28
hợp đồng tương lai trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm, trong đó sản hợp hợp đồng
29
tương lai chỉ số VN30 vẫn là sản phẩm giao dịch sôi động nhất với tổng khối lượng giao
30
dịch năm 2023 đạt gần 58.590 nghìn hợp đồng, khối lượng giao dịch bình quân đạt
31
235.300 hợp đồng/phiên, giảm 14% so với năm 2022. Tính đến tháng 10/2022 khối
32
lượng giao dịch Hợp đồng tương lai VN30 đã tăng gấp hơn 21 lần so với năm 2017, đạt
33
213.041 hợp đồng/phiên, với giá trị cao nhất tới 647.457 hợp đồng tại ngày 25/10/2022.
34
71
Với sản phẩm phái sinh hợp đồng tương lai trái phiếu chính phủ có mức giao dịch khiêm
1
tốn do đặc thù của sản phẩm, trong 7 tháng đầu năm 2022 khối lượng giao dịch bình
2
quân đạt 680 hợp đồng/phiên.
3
Về thanh khoản, số liệu của UBCKNN công bố cho thấy năm 2022 đã có những
4
dấu hiệu hồi phục trong giá trị giao dịch bình quân khi số liệu liên tục tăng từ đầu năm
5
đến tháng 12/2022 đã tăng tới 32.556 tỷ VNĐ/phiên trên sàn HOSE nhưng ngay sau đó
6
vào tháng 01/2023 giá trị gia dịch chỉ đạt 10.652 tỷ VNĐ/phiên, trong năm này cũng ghi
7
nhận sự tăng trưởng trong giá trị giao dịch đến tháng 12/2023 đạt 16.131 tỷ VNĐ/phiên,
8
trung bình cả năm 2023 giá trị giao dịch đạt 15.237 tỷ VNĐ/phiên. Năm 2021 giá trị
9
giao dịch bình quân của thị trường cổ phiếu đạt hơn 26 nghìn tỷ VNĐ/phiên, tăng mạnh
10
250% so với năm 2020, thị trường ghi nhận phiên giao dịch kỷ lục với giá trị hơn 56
11
nghìn tỷ VNĐ (tương đương 2,5 tỷ USD) vào ngày 19/11/2021 (Theo số liệu của
12
UBCKNN). Còn trong giai đoạn 2016 - 2019 giá trị giao dịch trung bình trên sàn HOSE
13
có biến động không lớn, tăng từ 2.334 tỷ VNĐ/phiên năm 2016 lên 5.408 tỷ VNĐ/phiên
14
năm 2018 nhưng sau đó đến năm 2019 giảm với giá trị giao dịch trung bình 3.915 tỷ
15
VNĐ/phiên.
16
Trên thị trường chứng khoán còn ghi nhận số lượng tài khoản nhà đầu tăng liên
17
tục trong giai đoạn 2016 - 2023, đặc biệt tăng mạnh trong giai đoạn 2020 - 2022. Cụ thể
18
số liệu về tài khoản nhà đầu tư được mô tả trong biểu đồ dưới đây:
8,000,000
70%
6,897,071
7,000,000
60%
6,000,000
50%
5,000,000
40%
4,310,211
4,000,000
7,292,361
30%
2,771,409
3,000,000
2,182,3272,374,894
20%
2,000,000
1,712,389 1,921,554
10%
1,000,000
-
0%
2016
2017
2018
2019
2020
2021
2022
2023
Tổng cộng
Thay đổi so với năm trước
19
20
21
Biểu đồ 4.2. Số lượng tài khoản NĐT trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2016-2023
22
(Nguồn: Ủy ban chứng khoán nhà nước)
23
72
Về tài khoản nhà đầu tư trên thị trường có sự tăng trưởng liên tục qua các năm
1
2016 - 2023, đặc biệt tăng mạnh mẽ trong những năm gần đây, tính đến cuối năm
2
2023 số lượng tài khoản nhà đầu tư đã lên con số kỷ lục gần 7,3 triệu tài khoản, tương
3
đương hơn 7% dân số Việt Nam, trong đó có tới 99,16% là tài khoản của nhà đầu tư
4
trong nước với đa phần là các tài khoản của nhà đầu tư cá nhân. Nếu giai đoạn 2016-
5
2019 tốc độ tăng trưởng trung bình mỗi năm khoảng hơn 10% từ số lượng tài khoản
6
đầu tư hơn 1,7 triệu tài khoản năm 2016 đã tăng lên mức gần 2,4 triệu tài khoản vào
7
năm 2019 và sau đó là sự tăng trưởng ấn tượng về số lượng tài khoản nhà đầu tư trên
8
TTCK Việt Nam trong. Tính riêng trong 3 năm 2020 - 2022 là giai đoạn mà thị trường
9
chứng kiến tốc độ tăng trưởng ấn tượng hơn 50% so với năm trước về số lượng tài
10
khoản nhà đầu tư, từ hơn 2,7 triệu tài khoản năm 2020 đã tăng lên gần 6,9 triệu tài
11
khoản năm 2022. Với sự tăng trưởng vượt bậc và liên tục trong những năm qua và
12
kỳ vọng tiếp tục tăng trong những năm tới thì TTCK Việt Nam có thể hoàn thành tốt
13
mục tiêu đến năm 2025 đạt 9 triệu tài khoản và 11 triệu tài khoản vào năm 2030 theo
14
Chiến lược phát triển thị trường chứng khoán đến năm 2030 trong Quyết định
15
1726/QĐ-TTg ngày 29/12/2023.
16
4.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của ngành quỹ tại Việt Nam
17
Năm 2003 đánh dấu mốc thời gian hình thành của ngành quỹ tại Việt Nam với
18
sự ra đời của công ty quản lý quỹ Việt Nam VFM với các hoạt động chính là quản lý
19
quỹ, quản lý danh mục ủy thác đầu tư cho khách hàng, đánh dấu sự tham gia của nhà
20
đầu tư tổ chức chuyên nghiệp trong nước đầu tiên. Đến năm 2004 thành lập quỹ đầu tiên
21
do VFM quản lý là VF1, có số vốn ban đầu là 300 tỷ VNĐ, liên tục tăng vốn trong thời
22
gian hoạt động đến nay đã đạt quy mô vốn 1.000 tỷ VNĐ. Ban đầu hoạt động dưới dạng
23
quỹ đóng, tuy nhiên theo quá trình phát triển và đòi hỏi thực tế, VFM đã chuyển đổi các
24
quỹ mình quản lý sang dạng quỹ mở. VFM cũng là công ty quản lý quỹ thành lập quỹ
25
ETF đầu tiên vào năm 2013 là quỹ ETF VFMVN30 mô phỏng gần nhất biến động của
26
chỉ số tham chiếu VN30. Sự phát triển của ngành quỹ Việt Nam có thể chia làm 2 giai
27
đoạn chính:
28
Giai đoạn 2003 - 2010: đây là giai đoạn hình thành và bắt đầu đi vào hoạt động
29
của quỹ đầu tư chứng khoán, theo sau VFM là một số công ty quản lý quỹ được thành
30
lập trong thời gian này như công ty quản lý quỹ Vietcombank (VCBF), Công ty quản lý
31
quỹ Bảo Việt (Bao Viet Fund), MB Capital… Hầu hết các quỹ hoạt động trên thị trường
32
giai đoạn này là quỹ thành viên, chỉ có 6 quỹ đóng đại chúng là VFMVF1, VFMVF2,
33
VFMVF4, PruBF1, MAFPF1, ACBGF.
34
73
1
Hình 4.2. Sự thành lập một số công ty quản lý quỹ lớn tại Việt Nam
2
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp theo Bản cáo bạch của các công ty quản lý quỹ)
3
Giai đoạn 2011 - nay: Sự xuất hiện của các quỹ mở, quỹ ETF được coi là bước
4
ngoặt trong sự phát triển của ngành quản lý quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt
5
Nam. Thực tiễn trên thế giới và quá trình phát triển tại Việt Nam cho thấy quỹ mở là
6
quỹ chiếm phần lớn số lượng các quỹ trên thị trường, quỹ mở cũng là sản phẩm nền tảng
7
để thiết kế các mô hình quỹ liên kết thị trường chứng khoán với thị trường bảo hiểm, thị
8
trường trái phiếu chính phủ. Ở giai đoạn này, hoạt động thành lập quỹ đầu tư chứng
9
khoán được các công ty quản lý quỹ đẩy mạnh, cho đến 31/12/2023 trên thị trường
10
chứng khoán Việt Nam có tổng cộng 106 quỹ đầu tư, trong đó riêng năm 2021 có 14
11
quỹ được thành lập với tổng vốn huy động ban đầu là 1.500 tỷ VNĐ. Đặc biệt sự xuất
12
hiện của quỹ mở, quỹ ETF, quỹ bất động sản tạo bước ngoặt cho sự phát triển của ngành
13
quỹ tại Việt Nam. Ngoài ra trong suốt giai đoạn 2011 - nay, hoạt động nghiệp vụ kinh
14
doanh của các công ty quản lý quỹ được phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu. Trong
15
đó, hoạt động quản lý danh mục đầu tư cho khách hàng ủy thác cũng được chú trọng,
16
chủ yếu là khối khách hàng doanh nghiệp bảo hiểm luôn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng
17
tài sản quản lý tại các công ty quản lý quỹ, đặc biệt là các hãng bảo hiểm có uy tín trên
18
thế giới như Prudential, Manulife, Dai-ichiLife, ChubbLife.
19
Sự tham gia của các quỹ đầu tư vào thị trường chứng khoán thúc đẩy sự tăng trưởng
20
và phát triển có trật tự, ổn định của cả thị trường cổ phiếu và trái phiếu và việc củng cố
21
vai trò của các tổ chức trên thị trường làm cho năng lực quản trị doanh nghiệp tốt hơn.
22
Bên cạnh đó, quỹ đầu tư chứng khoán ra đời đã tạo cơ hội cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ có
23
74
thể đa dạng hóa danh mục đầu tư và giảm thiểu rủi ro, điều này khó có thể thực hiện
1
được với các nhà đầu tư nhỏ lẻ với số vốn ít. Quỹ đầu tư tập hợp tiền từ nhiều nhà
2
đầu tư thành một lượng tiền lớn để đầu tư, giúp cho mỗi người dù chỉ có ít vốn vẫn
3
được tham gia chung vào tất cả các dự án đầu tư của quỹ, như vậy sẽ giúp giảm bớt
4
rủi ro và đảm bảo ổn định lợi nhuận. Hơn nữa, quỹ đầu tư với đội ngũ chuyên gia có
5
kiến thức, trình độ và chỉ chuyên sâu vào việc đầu tư sẽ dễ dàng phân tích được tình
6
hình và đánh giá dự án hơn các nhà đầu tư cá nhân rất nhiều, giúp tăng cường tính
7
chuyên nghiệp của việc đầu tư.
8
Về dấu ấn pháp lý, luật chứng khoán đầu tiên của Việt Nam được ra đời năm
9
2006 đã đánh dấu sự kiện lớn về mặt pháp lý liên quan đến quản lý thị trường chứng
10
khoán, với quy định chung về loại hình quỹ đầu tư chứng khoán chỉ bao gồm quỹ đại
11
chúng và quỹ thành viên, trong đó quỹ đại chúng bao gồm quỹ mở và quỹ đóng. Đến
12
năm 2010 sau khi có một số sửa đổi bổ sung với các mô hình quỹ mới như quỹ hoán đổi
13
danh mục - ETF, quỹ đầu tư bất động sản đã hình thành khung pháp lý rõ ràng hơn cho
14
hoạt động ngành quỹ. Thời gian này Bộ tài chính cũng đã ban hành một số thông tư
15
hướng dẫn hoạt động đối với quỹ mở như: Thông tư 183/2011/TT-BTC hướng dẫn việc
16
huy động vốn để thành lập, quản lý quỹ mở và các hoạt động của công ty quản lý quỹ,
17
ngân hàng giám sát, đại lý phân phối; Thông tư 198/2012/TT-BTC về chế độ kế toán
18
áp dụng đối với quỹ mở do Bộ trưởng Bộ tài chính ban hành.
19
20
Năm 2019 Việt Nam đã ban hành Luật chứng khoán 2019 và các thông tư hướng
dẫn được đánh giá là phù hợp với chuẩn mực thị trường chứng khoán của IOSCO về
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
quỹ đầu tư chứng khoán và hoàn toàn tuân thủ các cam kết quốc tế mà Việt Nam gia
nhập. Những nội dung trong luật chứng khoán 2019 kỳ vọng sẽ có tác động tích cực
đối với sự phát triển của ngành quỹ những năm tiếp theo như: duy trì điều kiện cấp
giấy phép hoạt động của công ty quản lý quỹ, theo đó công ty quản lý quỹ luôn phải
duy trì vốn chủ sở hữu lớn hơn vốn điều lệ tối thiểu và các điều kiện cấp phép về
nhân sự và trụ sở. Đặc biệt luật quy định tách biệt tài sản của khách hàng ủy thác
trong hoạt động quản lý danh mục đầu tư và quản lý quỹ đầu tư chứng khoán. Theo
đó, tài sản ủy thác của khách hàng ủy thác được đăng ký sở hữu và lưu ký trên tài
khoản lưu ký dưới tên của công ty quản lý quỹ nhưng thuộc sở hữu của khách hàng
ủy thác, tách biệt với tài khoản của công ty quản lý quỹ và không phải là tài sản của
công ty quản lý quỹ. Điều này giúp bảo vệ quyền lợi về tài sản cho nhà đầu tư. Năm
2020 cũng là năm ghi dấu ấn pháp lý với việc ban hành nhiều thông tư, nghị định
hướng dẫn liên quan đến lĩnh vực chứng khoán, như nghị định số 155/2020/NĐ-CP
34
75
1
2
3
4
5
6
7
8
9
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán, thông tư số 96/2020/TT-
BTC hướng dẫn công bố thông tin trên thị trường chứng khoán…và đặc biệt liên
quan trực tiếp tới hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng
khoán Việt Nam như: Thông tư số 98/2020/TT-BTC hướng dẫn hoạt động và quản
lý quỹ đầu tư chứng khoán với các quy định liên quan đến quỹ thành viên, quỹ đại
chúng, quỹ đóng, quỹ mở, quỹ ETF, quỹ đầu tư bất động sản, công ty đầu tư chứng
khoán; Thông tư số 99/2020/TT-BTC hướng dẫn về hoạt động của công ty quản lý
quỹ đầu tư chứng khoán trong đó quy định chi tiết về hoạt động nghiệp vụ của công
ty quản lý quỹ như nghiệp vụ quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, nghiệp vụ quản lý
danh mục đầu tư, nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán.
10
11
12
Trong thời gian vừa qua, ngành quản lý quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam đã
trưởng thành nhanh chóng và đạt được nhiều dấu ấn quan trọng để đóng góp chung vào
sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán Việt Nam, thể hiện ở các mặt:
13
Thứ nhất, hoạt động quản lý quỹ đã có một khung pháp lý đầy đủ, hoàn thiện và
14
15
16
17
được định hướng phát triển một cách ổn định, an toàn, thận trọng dựa trên nền tảng
những quy định pháp luật chặt chẽ theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế, từ đó, nhiều
công ty quản lý quỹ đã xây dựng được hạ tầng phát triển hiện đại, có mô hình quản trị
hiệu quả và tích cực đào tạo đội ngũ nhân viên có kinh nghiệm, chuyên môn.
18
Thứ hai, các công ty quản lý quỹ đã không ngừng nỗ lực kinh doanh nhằm tìm
19
20
21
22
23
kiếm khách hàng, gia tăng tổng tài sản ủy thác của nhà đầu tư và thực hiện quản lý
chuyên nghiệp để góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường chứng khoán,
mang lại hiệu quả và niềm tin cho cộng đồng đầu tư. Các công ty quản lý quỹ khẳng
định là nhà đầu tư chuyên nghiệp trên thị trường, thành lập nhiều loại hình quỹ theo các
mô hình hiện đại trên thế giới.
24
Thứ ba, một số quỹ đầu tư đã chủ động tích cực huy động vốn từ nhà đầu tư nước
25
26
27
ngoài, hình thành kênh dẫn vốn gián tiếp nước ngoài an toàn vào các doanh nghiệp Việt
Nam, hỗ trợ tích cực cho các doanh nghiệp Việt Nam huy động vốn thông qua thị trường
chứng khoán.
28
Thứ tư, các công ty quản lý quỹ đóng vai trò là những nhà quản lý tài sản chuyên
29
30
31
nghiệp cho các tổ chức tài chính lớn như các công ty bảo hiểm và các ngân hàng thương
mại góp phần chuyên nghiệp hóa các hoạt động trên thị trường tài chính, tạo sự phát
triển ổn định và bền vững cho thị trường chứng khoán Việt Nam.
32
33
34
Thứ năm, các quỹ đầu tư phát triển góp phần đa dạng hóa các kênh đầu tư của
công chúng đầu tư, thúc đẩy đầu tư chứng khoán xanh và đầu tư có trách nhiệm theo xu
hướng tiệm cận với thông lệ quốc tế vì mục tiêu phát triển bền vững.
35
76
1
4.1.3. Khái quát hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường
chứng khoán Việt Nam
2
3
4
5
6
7
8
Sau 20 năm hình thành và phát triển, ngành quản lý quỹ đã có sự tăng trưởng
mạnh cả về số lượng quỹ, quy mô tài sản quản lý, cũng như loại hình quỹ đầu tư. Năm
2022 - 2023, thực hiện chủ trương phát triển nhà đầu tư tổ chức góp phần xây dựng thị
trường chứng khoán hoạt động ổn định, bền vững và lành mạnh, UBCKNN đã tiếp tục
cấp phép thành lập cho một số quỹ đầu tư chứng khoán đủ điều kiện theo quy định. Tình
hình các quỹ đầu tư được thành lập và duy trì hoạt động trên thị trường chứng khoán
Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu 2016 - 2023 được mô tả dưới biểu đồ sau:
120
90,000
84,960
80,000
100
70,000
68067
68,688
80
60,000
57,693
50,000
32,603
60
40,000
106
97
40
30,000
67
22,485
57
20,000
47
20
40
14,831
36
31
10,000
7,759
0
-
2016
2017
2018
2019
2020
2021
2022
2023
NAV
Số quỹ
9
10
Biểu đồ 4.3. Số lượng và NAV các quỹ giai đoạn 2016 - 2023
11
(Nguồn: Ủy ban chứng khoán nhà nước)
12
13
14
15
16
17
18
19
20
Theo thống kê của UBCKNN trong giai đoạn 2016 - 2023, số lượng các quỹ đầu
tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam đã tăng hơn 3 lần từ con số 31
quỹ năm 2016 lên 106 quỹ vào năm 2023, trong đó quỹ mở chiếm hơn một nửa tổng số
lượng quỹ trên thị trường với 56 quỹ mở, còn lại là quỹ đóng, quỹ thành viên, quỹ ETF
và quỹ bất động sản. Giá trị tài sản ròng của các quỹ trong tăng trưởng mạnh mẽ trong
giai đoạn 2016 - 2021, đặc biệt là năm 2021 tăng tới 45% so với năm trước và tăng tới
hơn 10 lần so với năm 2016, đạt 84.960 tỷ VNĐ, tuy nhiên sang đến năm 2022 -2023
do diễn biến chung của thị trường nên tổng giá trị tài sản ròng của các quỹ đầu tư có
sự giảm sút. Tốc độ tăng trưởng của ngành quỹ tăng mạnh trong những năm vừa qua,
21
77
1
2
3
4
5
6
7
8
tuy nhiên có sự phân hóa giữa các quỹ cũng rất lớn thể hiện chênh lệch về giá trị tài
sản ròng của các quỹ. Một số quỹ có quy mô tài sản ròng trên 1.000 tỷ VNĐ như quỹ
DCDS, DCBC, VEOF, SSIBF…, đặc biệt quỹ VFMVSF qua quá trình phát triển đã
có sự tăng trưởng ngoạn mục về giá trị tài sản ròng từ mức dưới 100 tỷ VNĐ trong
những năm đầu hoạt động (thành lập tháng 12/2017) thì đến 08/2020 bắt đầu tăng
mạnh lên hơn 1.000 tỷ VNĐ và tiếp tục tăng trưởng nhanh chóng, trong đó giá trị tài
sản ròng của quỹ đạt giá trị cao nhất lên tới hơn 5.500 tỷ VNĐ vào tháng 02/2022. Tuy
nhiên sự phân hóa thể hiện một số quỹ khác thì giá trị tài sản ròng nhỏ, qua các thời
kỳ hoạt động chỉ đạt quy mô dưới 100 tỷ VNĐ như quỹ VCBF-FIF, BVFED…
9
10
11
Theo số liệu thống kê có thể thấy số lượng nhà đầu tư tham gia vào quỹ trung
bình qua các năm có sự biến động thất thường trong giai đoạn 2016 - 2020, sau đó thì
thể hiện rõ xu hướng tăng trưởng từ 2020 - 2023, được thể hiện qua hình sau:
6000
5000
4000
3000
5.418
2000
3.817
1000
1.494
1.156
1.016
883
866
590
0
2016
2017
2018
2019
2020
2021
2022
2023
12
13
14
Biểu đồ 4.4. Số lượng trung bình nhà đầu tư tham gia vào mỗi quỹ đầu tư
giai đoạn 2016 - 2023
15
(Nguồn: tổng hợp từ báo cáo hoạt động của các quỹ)
16
17
Năm 2018 số lượng trung bình nhà đầu tư tham gia vào quỹ là 1.156 nhà đầu tư
tăng đáng kể so với năm 2017 với tốc độ tăng 30,91% và tăng gần gấp đôi năm 2016.
18
19
Giai đoạn 2018 - 2020 số lượng nhà đầu tư trung bình tham gia vào quỹ lại có xu hướng
giảm từ 1.156 nhà đầu tư năm 2018 xuống còn 866 nhà đầu tư trong năm 2020. Tuy
20
78
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
nhiên sau đó đã chứng kiến sự tăng trưởng nhanh chóng, đặc biệt năm 2022 trung bình
mỗi quỹ đã có 3.817 nhà đầu tư tham gia, tăng 113,32% so với năm 2021, diễn biến tăng
vẫn tiếp tục trong năm 2023 với trung bình 5.418 nhà đầu tư tham gia vào quỹ. Tuy
nhiên mỗi quỹ lại có số lượng nhà đầu tư tham gia chênh lệch nhau rất nhiều, điển hình
quỹ có số lượng nhà đầu tư tham gia nhiều nhất phải kể đến là quỹ đầu tư chứng khoán
năng động DC (DCDS) do công ty quản lý quỹ Dragon Capital Việt Nam (DCVFM)
quản lý có số lượng lên tới 26.096 nhà đầu tư tham gia vào tháng 12/2023, các quỹ khác
thuộc công ty quản lý quỹ DCVFM như quỹ đầu tư doanh nghiệp hàng đầu DC (DCBC),
quỹ đầu tư trái phiếu DC (DCBF) cũng là những quỹ có số lượng nhà đầu tư tham gia
nhiều trên thị trường; quỹ VESAF, VEOF thuộc công ty quản lý quỹ VinaCapital cũng
có số lượng nhà đầu tư tham gia hơn 22.114 nhà đầu tư tham gia quỹ VESAF tháng
12/2023. Bên cạnh đó thì có những quỹ còn ghi nhận số lượng rất hạn chế nhà đầu tư
tham gia như quỹ đầu tư cổ phiếu Việt Nam chọn lọc (VFMVSF) thời điểm tháng
12/2022 chỉ có 20 nhà đầu tư tham gia, so với kỳ đầu quỹ mới thành lập có 68 nhà đầu
tư tham gia thì con số này liên tục giảm qua quá trình hoạt động của quỹ, điều này đi
ngược lại với hầu hết các quỹ khi số lượng nhà đầu tư tham gia vào các quỹ thường có
16
xu hướng tăng qua các năm hoạt động.
17
18
19
Về cơ cấu danh mục đầu tư của quỹ, các quỹ đã có tỷ lệ phân bổ vào các loại
chứng khoán phù hợp với loại hình của quỹ. Tỷ lệ nắm giữ trung bình các loại chứng
khoán trong danh mục đầu tư của các quỹ được thể hiện trong biểu đồ 4.5:
20
1.11%
15.23%
0.51%
31.24%
39.67%
61.38%
59.22%
84.26%
7.38%
Quỹ cổ phiếu Quỹ cân bằng Quỹ trái phiếu
Biểu đồ 4.5. Cơ cấu danh mục đầu tư của các quỹ giai đoạn 2016 - 2023
21
(Nguồn: Tổng hợp số liệu từ báo cáo tháng của các công ty quản lý quỹ)
22
23
24
25
Các quỹ mở cổ phiếu trung bình nắm giữ 84,26% cổ phiếu trong danh mục đầu
tư của quỹ, trong đó quỹ đầu tư cổ phiếu năng động Bảo Việt (BVFED) của công ty
quản lý quỹ Bảo Việt có tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu cao nhất trong tháng 7/2019 với tỷ lệ
99,71% trong danh mục đầu tư của quỹ, tỷ lệ nắm giữ trái phiếu ở các quỹ mở cổ phiếu
26
79
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
rất nhỏ và còn lại là tiền và các tài sản khác là 15,23%. Ngược lại thì quỹ trái phiếu nắm
giữ tỷ lệ nhỏ chỉ 1,11% đối với cổ phiếu, tỷ lệ nắm giữ trái phiếu có những tháng rất cao
với tỷ lệ cao nhất tới 96,49% của quỹ đầu tư trái phiếu An Bình vào tháng 2/2021, tuy
nhiên có một số quỹ trái phiếu trong nhiều giai đoạn khác nhau không đầu tư vào trái
phiếu như quỹ đầu tư trái phiếu mở rộng Chubb (CBPF) hay quỹ đầu tư trái phiếu DFVN
(DFVN-FIX), vì vậy tỷ lệ nắm giữ trái phiếu trung bình của các quỹ mở trái phiếu trong
thời kỳ 2016 - 2023 chỉ đạt tỷ lệ 39,67%, còn lại là tiền và các tài sản khác. Đối với quỹ
cân bằng thì gần tương tự như quỹ cổ phiếu với tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu trung bình là
61,38%, chỉ nắm giữ trung bình 7,38% trái phiếu trong danh mục đầu tư và còn lại là
tiền và các tài sản khác, trong số các quỹ này thì quỹ đầu tư chứng khoán năng động DC
(DCDS) thường đầu tư nhiều vào cổ phiếu, và tỷ lệ cao nhất lên tới 90,23% danh mục
đầu tư vào cổ phiếu trong tháng 3/2018.
12
13
14
15
16
17
18
Có thể thấy rằng trong giai đoạn sau của quá trình phát triển ngành quỹ có rất
nhiều các quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở được hình thành, trong đó các quỹ đầu tư cổ
phiếu chiếm tỷ lệ khá lớn. Một số các quỹ mở điển hình như quỹ đầu tư cổ phiếu tiếp cận
thị trường Việt Nam VESAF và quỹ cổ phiếu Hưng Thịnh VEOF thuộc công ty quản lý
quỹ VinaCapital; quỹ đầu tư doanh nghiệp hàng đầu DCBC thuộc công ty quản lý quỹ
Dragon Capital Việt Nam DCVFM… Dưới đây là biểu đồ về sự tăng trưởng giá trị tài sản
ròng trên 1 đơn vị chứng chỉ quỹ (NAV/CCQ) của một số quỹ đầu tư chứng khoán.
25.00%
21.64%
20.00%
16.58%
15.81%
14.96%
14.07%
15.00%
12.78%
9.43%
10.00%
9.47%
8.54%
7.54%
5.85%
5.00%
0.00%
19
20
21
Biểu đồ 4.6. Tăng trưởng NAV/CCQ của một số quỹ đầu tư so với VNIndex giai
đoạn 2018 - 2023
22
(Nguồn: Tổng hợp dựa theo Báo cáo hoạt động tháng của các công ty QLQ)
23
80
Trong giai đoạn 2018 - 2023 giá trị NAV/CCQ của các hầu hết các quỹ đầu tư có
1
mức tăng trưởng cao hơn so với VNIndex trong đó quỹ đầu tư cổ phiếu tiếp cận thị
2
trường Việt Nam VESAF thuộc công ty quản lý quỹ VinaCapital có mức tăng trưởng
3
cao nhất với giá trị trung bình 21,64% mỗi năm. Theo sau đó là quỹ DCDS thuộc công
4
ty quản lý quỹ DCVFM với giá trị tăng trưởng trung bình của NAV/CCQ đạt
5
16,58%/năm. Một số quỹ đầu tư khác cũng có mức tăng trưởng NAV/CCQ tương đối
6
cao như quỹ BVPF, SSI-SCA, VEOF. Quỹ SSIBF thuộc công ty quản lý quỹ SSI là quỹ
7
duy nhất có NAV/CCQ tăng trong giai đoạn 2021 - 2022 với tốc độ tăng 2,79% trong
8
khi VNIndex giảm mạnh 32,78% và NAV/CCQ của các quỹ đều giảm mạnh như quỹ
9
DCDS giảm 34,39% hay quỹ MBVF giảm 32,29%, điều này cho thấy trong giai đoạn
10
rủi ro của thị trường thì quỹ trái phiếu phát huy hiệu quả khi ít rủi ro hơn so với thị
11
trường chung. Giai đoạn 2020 - 2021 ghi nhận thị trường chung tăng trưởng mạnh mẽ
12
với VNIndex tăng 35,73% thì nhiều quỹ cổ phiếu trên thị trường cũng có kết quả rất ấn
13
tượng với tốc độ tăng trưởng NAV/CCQ cao hơn nhiều so với thị trường chung như quỹ
VESAF tăng 67,03% hay quỹ DCDS tăng 53,92%.
14
15
16
17
4.2. Thực trạng hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán trên thị
trường chứng khoán Việt Nam
18
19
4.2.1. Thực trạng hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng
khoán Việt Nam
20
Căn cứ vào số liệu thu thập theo tháng của 23 quỹ đầu tư chứng khoán trên
21
TTCK Việt Nam giai đoạn 2016 - 2023, tác giả tiến hành phân tích với các phương
22
pháp tổng hợp, thống kê, so sánh về các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động của quỹ ĐTCK
23
và giá trị trung bình năm của các chỉ tiêu thuộc đặc điểm quỹ đầu tư chứng khoán để
24
xem xét diễn biến các chỉ tiêu này nhằm đánh giá tổng quan về hiệu quả hoạt động
25
của các quỹ ĐTCK trên TTCK Việt Nam và mối quan hệ của hiệu quả hoạt động quỹ
26
với các nhân tố thuộc đặc điểm quỹ.
27
Với số liệu thu thập từ báo cáo hoạt động tháng của các công ty quản lý quỹ,
28
ba chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư trên thị trường chứng
29
khoán Việt Nam là tốc độ tăng trưởng giá trị tài sản ròng của quỹ (G_NAV), hệ
30
số Sharperatio và hệ số JensenAlpha trung bình qua các năm được thể hiện trong
31
bảng sau:
32
81
1
Bảng 4.1. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán
giai đoạn 2016 - 2023
2
2016 2017 2018 2019 2020 2021 2022 2023
G_NAV 2,53% 6,40% 1,72% -1,28% 7,94% 4,16% -1,56% 1,03%
Sharperatio 29,42% 75,95% 2,91% -39,94% 41,26% 67,63% -38,57% 12,89%
JensenAlpha 1,67% 4,17% 2,14% -1,78% 6,72% 2,68% 0,42% 0,22%
(Tác giả tính toán từ báo cáo hoạt động của công ty quản lý quỹ)
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
Qua bảng số liệu 4.1 có thể thấy năm 2019 cả 3 chỉ tiêu phán ánh hiệu quả hoạt
động của các quỹ đầu tư đều mang giá trị âm phản ánh hoạt động của các quỹ trong năm
này còn kém hiệu quả. Trong năm này thị trường chứng khoán có nhiều biến động, thể
hiện qua chỉ số VNIndex tăng trưởng chậm và không ổn định, điều này ảnh hưởng đến
giá trị tài sản ròng của các quỹ. Giá trị trung bình của các chỉ tiêu hiệu quả này qua các
năm có sự biến động thất thường chứ chưa có xu hướng tăng rõ rệt. Tốc độ tăng trưởng
NAV trung bình của các quỹ đạt giá trị cao nhất vào năm 2020 với tốc độ tăng trưởng
trung bình đạt 7,94%. Một số quỹ đầu tư có tốc độ tăng trưởng NAV cao trong năm này
như quỹ VFMVSF tăng trưởng NAV đạt tới 985,13% vào tháng 6/2020 (khi tăng NAV
từ hơn 39 tỷ VNĐ lên đến 430 tỷ VNĐ sau 1 tháng), một số quỹ khác cũng có mức tăng
trưởng NAV ấn tượng như quỹ SSIBF tăng 144,81% vào tháng 11/2020, quỹ VFF tăng
76,55% vào tháng 8/2020. Tương tự như hệ số G_NAV, hệ số JensenAlpha cũng ghi
nhận đạt giá trị cao nhất vào năm 2020 do thị trường chứng khoán có nhiều khởi sắc và
phục hồi ấn tượng nhờ việc kiểm soát thành công dịch Covid-19, chỉ số VNIndex ghi
nhận mức tăng trưởng 15% so với cuối năm 2019, tăng trưởng kinh tế năm 2020 đạt
mức 2,91% thuộc nhóm cao nhất thế giới trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến
phức tạp. Trong năm này cũng ghi nhận khung pháp lý về thị trường chứng khoán nói
chung và đặc biệt là quỹ đầu tư nói riêng đã có những bước tiến quan trọng, với một số
quy định pháp lý bổ sung cho hoạt động của quỹ như Nghị định 155/2020/NĐ-CP quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật chứng khoán, Thông tư 98/2020/TT-BTC
hướng dẫn về hoạt động và quản lý quỹ đầu tư chứng khoán. Những điều này đã tạo
động lực vĩ mô giúp các quỹ hoạt động hiệu quả. Quỹ VFMVSF tiếp tục đạt được con
số ấn tượng với hệ số JensenAlpha đạt tới 978,57% trong tháng 6/2020. Hệ số Sharpe
trung bình của các quỹ trong mẫu nghiên cứu đạt mức cao nhất vào năm 2017 với giá
trị 75,95% và năm 2021 cũng khá cao với giá trị 67,63%.
28
29
30
Bên cạnh đó diễn biến thị trường chứng khoán giảm điểm trong năm 2022 với
chỉ số VNIndex giảm tới 35% đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới hoạt động của các chủ thể
trên thị trường, trong đó có quỹ đầu tư chứng khoán. Thị trường chứng khoán Việt Nam
31
82
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
cũng chịu áp lực lớn từ chính sách tăng lãi suất của Fed để kiềm chế lạm phát, vì vậy
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt, lãi suất ngân
hàng tăng mạnh khiến dòng tiền vào TTCK sụt giảm. Thêm nữa các vụ việc liên quan
đến trái phiếu doanh nghiệp như Tân Hoàng Minh, Vạn Thịnh Phát làm ảnh hưởng đến
tâm lý nhà đầu tư, áp lực bán ròng lớn. Trong năm 2022 này tốc độ tăng trưởng NAV
trung bình đạt giá trị âm 1,56%, mức giảm nhiều nhất trong giai đoạn 7 năm nghiên cứu,
tương tự hệ số Sharperatio cũng ghi nhận giá trị rất thấp là âm 38,57%. Rất nhiều quỹ
đầu tư có hệ số Sharperatio mang giá trị âm trong năm này như quỹ BVFED hệ số
Sharperatio là âm 311,72%, quỹ DCDS có hệ số Sharperatio là âm 240,68% vào tháng
9/2022… Hệ số JensenAlpha chỉ ghi nhận giá trị trung bình mang dấu âm vào năm 2019,
năm 2022 vẫn đạt giá trị dương mặc dù khá nhỏ chỉ 0,42%.
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
Đến năm 2023 các chỉ tiêu hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán đã
cải thiện với hệ số tăng trưởng NAV (G_NAV), ghi nhận trung bình NAV tăng trưởng
1,03%, với tốc độ tăng trưởng NAV lớn nhất năm này đạt được là 11,42% của quỹ DCDS;
hệ số Sharperatio đã đạt giá trị dương mặc dù vẫn khá nhỏ so với giai đoạn trước, đạt
12,89%; hệ số JensenAlpha mặc dù giá trị dương nhưng vẫn nhỏ so với các năm trong giai
đoạn nghiên cứu với giá trị 0,22%, trong đó quỹ SSIBF đạt được hệ số JensenAlpha cao
nhất so với các quỹ khác vào tháng 07/2023 với giá trị 6,74%. Năm 2023 thị trường chứng
khoán Việt Nam có mức tăng trưởng khá với tốc độ tăng của VNIndex đạt 12,2% so với
cuối năm 2022, TTCK hưởng lợi nhờ lãi suất giảm, từ tháng 5 tới tháng 9 TTCK xuấất hiện
sóng tăng kéo dài với mức tăng trưởng VNIndex trong giai đoạn này tăng tới hơn 20%. Các
quỹ cũng chủ động điều chỉnh tỷ trọng cổ phiếu và trái phiếu để phù hợp với diễn biến thị
trường, chẳng hạn quỹ SSI-SCA tập trung đầu tư vào các công ty có lợi thế cạnh tranh bền
vững, phân bổ linh hoạt giữa cổ phiếu và trái phiếu. Một số quỹ cũng chú ý đầu tư theo
chuẩn bền vững ESG đáp ứng xu hướng đầu tư bền vững toàn cầu.
25
26
4.2.2. Thực trạng các nhân tố tác động tới hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư
chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam
27
4.2.2.1 Các nhân tố phản ánh đặc điểm của quỹ đầu tư chứng khoán
28
Quy mô quỹ (SIZE)
29
Quy mô các quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam được thể hiện qua
30
giá trị tổng tài sản của quỹ, phản ánh giá trị danh mục đầu tư chứng khoán của các quỹ.
31
Với 20 năm phát triển ngành quỹ tại Việt Nam thì quy mô các quỹ ở thị trường Việt
32
Nam vẫn còn khá nhỏ nhưng đang trong giai đoạn tăng trưởng. Biểu đồ 4.7 thể hiện quy
33
mô quỹ trung bình giai đoạn 2016 - 2023 như sau:
34
83
ĐVT: tỷ VNĐ
800.00
693.53
700.00
631.13
600.89
600.00
500.00
421.63
400.00
283.48
281.93
300.00
269.37
178.89
200.00
100.00
-
2016
2017
2018
2019
2020
2021
2022
2023
1
Biểu đồ 4.7. Quy mô quỹ trung bình giai đoạn 2016 - 2023
2
(Tổng hợp số liệu từ báo cáo hoạt động tháng của các quỹ)
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
Theo biểu đồ trên có thể thấy trong giai đoạn 2016 - 2023 quy mô quỹ trung bình
có sự biến động lên xuống nhưng chủ yếu thể hiện xu hướng tăng theo thời gian, cụ thể
giai đoạn 2016 - 2018 tổng tài sản trung bình của các quỹ tăng với tốc độ khá cao từ hơn
178,89 tỷ VNĐ năm 2016 lên 421,63 tỷ VNĐ năm 2018, nhưng sau đó chứng kiến sự
giảm sút trong năm 2019 và 2020 do ảnh hưởng của Covid-19 tác động đến nền kinh tế
và TTCK nói chung cũng như hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán nói riêng. Một số
quỹ giảm đáng kể tổng tài sản trong giai đoạn này là quỹ DCDS giảm từ 1.426 tỷ VNĐ
của tháng 01/2018 xuống chỉ còn 836 tỷ VNĐ vào tháng 12/2019, hay quỹ DCBC cũng
thuộc công ty quản lý quỹ DCVFM giảm từ 1.136 tỷ VNĐ xuống còn 622 tỷ VNĐ giai
đoạn 2018-2019. Năm 2021 TTCK chứng kiến những thay đổi rất lớn trên nhiều mặt
với sự tăng trưởng vượt bậc của chỉ số giá chứng khoán và thanh khoản trên thị trường,
theo đó quy mô quỹ trung bình trong năm này cũng tăng trưởng mạnh mẽ gấp gần 3 lần
so với năm 2020 đạt hơn 631 tỷ VNĐ, trong giai đoạn 2020 - 2021 này một số quỹ có
sự tăng trưởng ấn tượng về tổng tài sản như quỹ VFMVSF tăng từ 49 tỷ VNĐ tổng tài
sản tháng 01/2020 lên tới 5.421 tỷ VNĐ vào tháng 12/2021, hay quỹ VFSAF tổng tài
sản tăng từ 277 tỷ VNĐ lên 929 tỷ VNĐ, quỹ SSIBF tăng từ 79 tỷ VNĐ lên 1.382 tỷ
VNĐ. Sau đó giá trị tổng tài sản trung bình tiếp tục tăng trong năm 2022 nhưng năm
20
2023 thì giảm nhẹ về mức hơn 600 tỷ VNĐ.
21
84
1
2
3
4
5
6
7
8
Trong giai đoạn nghiên cứu 2016 - 2023 loại hình quỹ cổ phiếu có giá trị tài sản
cao nhất so với quỹ cân bằng và quỹ trái phiếu vì quỹ cổ phiếu vẫn được nhà đầu tư quỹ
quan tâm và đầu tư nhiều hơn. Một số quỹ cổ phiếu có giá trị tổng tài sản lớn như quỹ
VESAF thuộc công ty quản lý quỹ VinaCapital có quy mô tổng tài sản đạt trên 1 nghìn
tỷ VNĐ duy trì từ tháng 02/2022 đến 12/2023, đến tháng 12/2023 đã đạt giá trị cao nhất
trong giai đoạn nghiên cứu với tổng tài sản 1.573 tỷ VNĐ. Quỹ cân bằng DCDS thuộc
công ty quản lý quỹ DCVFM cũng có giá trị tổng tài sản những tháng gần đây đạt trên
1 nghìn tỷ VNĐ, đặc biệt tháng 04/2022 đạt giá trị cao nhất 1.914 tỷ VNĐ và có sự biến
động nhẹ đến tháng 12/2023 còn 1.559 tỷ VNĐ.
9
Tỷ lệ chi phí hoạt động (EXPENSE)
10
11
12
13
Tỷ lệ chi phí hoạt động phản ánh mức chi phí hoạt động mà công ty quản lý quỹ phải
chi trong kỳ tính trên giá trị tài sản ròng của mỗi quỹ. Tỷ lệ này càng cao sẽ ảnh hưởng đáng
kể đến lợi nhuận của quỹ, từ đó tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ. Tỷ lệ chi phí hoạt
động trung bình của các quỹ giai đoạn 2016 - 2023 được phản ánh trong biểu đồ 4.8:
14
2.50% 2.36%
2.01% 1.90% 1.91% 1.89% 1.87% 2.00% 1.82% 1.83%
1.50%
1.00%
0.50%
0.00% 2016 2017 2018 2019 2020 2021 2022 2023 15
Biểu đồ 4.8. Tỷ lệ chi phí hoạt động trung bình của quỹ giai đoạn 2016-2023
16
(Tổng hợp số liệu từ báo cáo hoạt động tháng của các quỹ)
17
18
19
Biểu đồ trên cho thấy chỉ tiêu này có sự biến động nhẹ qua các năm nhưng xu
hướng chung là giảm từ 2,36% năm 2016 xuống còn 1,87% năm 2023. Tỷ lệ chi phí
hoạt động trung bình thấp nhất vào năm 2017 với 1,82%, giảm đáng kể 0,54% so với năm
20
85
1
2
3
4
5
2016 nhưng sau đó tăng dần lên đến năm 2020 là 2,01%. Giai đoạn sau từ 2020 - 2023 tỷ
lệ chi phí hoạt động trung bình của các quỹ giảm dần thể hiện xu hướng chung trong giai
đoạn gần đây là các quỹ điều chỉnh và quản lý khoản chi phí hoạt động của quỹ để tỷ lệ
này giảm xuống giúp tiết kiệm chi phí cho quỹ và góp phần tăng trưởng kết quả hoạt động
của quỹ đầu tư chứng khoán. Điều này thể hiện trong quá trình hoạt động các quỹ đã tăng
cường kiểm soát chi phí và dần cải thiện được tỷ lệ chi phí hoạt động của mình.
6
Đáng chú ý trong số các quỹ được nghiên cứu thì quỹ DCDS đang có mức tăng
7
8
9
10
11
12
13
đối với tỷ lệ này khá cao theo thời gian, trong năm 2022 tỷ lệ chi phí hoạt động của DCDS
đã tăng mạnh vào những tháng cuối năm, cao nhất lên mức 4,99% vào tháng 11/2022, tương
tự với quỹ DCBC thì tỷ lệ này cũng ở mức cao trong những tháng cuối năm 2022 nhưng sau
đó đã giảm trong các tháng của năm 2023. Quỹ VFMVSF là một trong số những quỹ có tỷ
lệ chi phí hoạt động giảm dần theo thời gian và đến tháng 12/2023 chỉ còn 0,86%, quỹ
BVFED cũng là quỹ có tỷ lệ chi phí hoạt động thấp trong giai đoạn 01/2017 - 06/2020 chỉ
duy trì tỷ lệ này dưới 0,2% nhưng sau đó tăng lên, đến tháng 12/2023 là 1,87%.
14
Tốc độ vòng quay danh mục (TURNOVER)
15
16
17
Tốc độ vòng quay danh mục đầu tư của quỹ cũng là một trong những nhân tố tác
động đến hiệu quả hoạt động của quỹ, phản ánh mức độ thực hiện các giao dịch mua
bán chứng khoán của quỹ.
120.00%
107.11%
103.25%
100.00%
90.29%
85.47%
84.54%
80.00%
70.76%
67.16%
54.42%
60.00%
40.00%
20.00%
0.00%
2016
2017
2018
2019
2020
2021
2022
2023
18
19
20
Biểu đồ 4.9. Tốc độ vòng quay danh mục trung bình của các quỹ
giai đoạn 2016-2023
21
(Tổng hợp số liệu từ báo cáo hoạt động tháng của các quỹ)
22
86
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
Theo dữ liệu của các quỹ đầu tư trong giai đoạn 2016 - 2023 có thể thấy tốc độ
vòng quay danh mục (Turnover) của các quỹ có sự biến động gần tương đồng với sự
thay đổi của tỷ lệ chi phí hoạt động, tốc độ quay vòng chứng khoán giảm trong giai đoạn
2016 - 2019 nhưng sau đó tăng trưởng nhanh chóng. Cụ thể tốc độ vòng quay danh mục
trung bình của các quỹ từ 85,47% năm 2016, tăng nhẹ lên 90,29% năm 2017 nhưng sau
đó giảm liên tục chỉ còn 54,42% năm 2019 trong bối cảnh TTCK có những diễn biến
trái chiều do ảnh hưởng bối cảnh kinh tế toàn cầu với chính sách tiền tệ thắt chặt của
FED khi liên tục tăng lãi suất dẫn đến giảm tăng trưởng kinh tế, kéo theo sự giảm sút
của TTCK. Năm 2019 quỹ đầu tư trái phiếu BVBF có Turnover là 0% duy trì gần như
cả năm 2019 (trừ tháng 01/2019). Sau giai đoạn này thì tốc độ quay vòng danh mục đầu
tư tăng mạnh và vượt mức cao nhất của giai đoạn trước, đến năm 2022 trung bình đạt
107,11%. Việc các quỹ đầu tư đẩy mạnh quay vòng danh mục trong năm 2022 cũng
phản ánh việc các nhà đầu tư tổ chức tích cực nghiên cứu, phân tích thị trường và quyết
định đầu tư cũng như mua bán thường xuyên hơn để giảm bớt những rủi ro do thị trường
mang lại. Năm 2023 có giảm nhẹ so với năm trước nhưng vẫn duy trì ở mức cao với tốc
độ vòng quay danh mục đạt 103,25%. Các quỹ có tốc độ vòng quay danh mục đầu tư
16
17
18
cao nhất trên thị trường phải kể đến quỹ DCDS với giá trị Turnover các tháng năm 2023
duy trì tốc độ khoảng 400% - 600%; quỹ DCBC cũng có tốc độ quay vòng danh mục
cao nhất đạt 820,86% vào tháng 11/2022.
19
20
21
22
23
24
25
26
Trong cả giai đoạn 2016 - 2023 các quỹ trái phiếu luôn có tốc độ quay vòng danh
mục đầu tư thấp hơn quỹ cổ phiếu và quỹ cân bằng do tính chất nắm giữ lâu dài các loại
trái phiếu mà quỹ đầu tư. Cụ thể trong giai đoạn này quỹ trái phiếu quay vòng với tốc
độ trung bình 71,73% thấp hơn nhiều so với quỹ cân bằng là 94,56% và quỹ cổ phiếu là
82,01%. Chẳng hạn như quỹ trái phiếu BVBF không quay vòng danh mục đầu tư trong
nhiều tháng liền (từ tháng 02/2019 - 03/2020), ngược lại một số quỹ trái phiếu như
DCBF có tốc độ vòng quay danh mục cao và đạt giá trị cao nhất là 951,1% vào tháng
03/2017, quỹ trái phiếu VFF vẫn quay vòng danh mục đầu tư nhiều trong tháng 08/2022
27
28
với tốc độ quay vòng danh mục 400,89%; trong khi đó các quỹ cân bằng DCDS quay
vòng trên 400% trong suốt giai đoạn từ tháng 06/2022 đến tháng 12/2023.
29
4.2.2.2. Các nhân tố phản ánh đặc điểm của Nhà quản lý quỹ (GENDER, CFA, OVER)
30
Trong giai đoạn 2016 - 2023 tỷ lệ các nhà quản lý là nam giới và các nhà quản lý
31
có chứng chỉ CFA có xu huớng tăng lên. Cụ thể từ 2016 - 2023 tỷ lệ nhà quản lý nam
32
- nữ và tỷ lệ nhà quản lý quỹ có chứng chỉ CFA được phản ánh trong biểu đồ 4.10
33
dưới đây:
34
87
65.00%
70.00%
54.74% 55.17% 55.17%
60.00%
53.13%
44.74% 47.08% 48.02%
50.00%
51.09% 52.36% 53.83%
50.00%
40.00%
50.00% 52.10% 50.67% 51.46%
30.00%
20.00%
10.00%
0.00%
2016
2017
2018
2019
2021
2022
2023
Nam
2020
CFA
1
2
Biểu đồ 4.10. Tỷ lệ nhà quản lý nam và tỷ lệ nhà quản lý có chứng chỉ CFA
giai đoạn 2016-2023
3
(Nguồn: Tổng hợp từ bản cáo bạch của các công ty quản lý quỹ)
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
Năm 2016 nhà quản lý quỹ nam và nữ tương đương nhau thì đến năm 2022 nhà
quản lý nam đã tăng lên và chiếm tỷ lệ lớn hơn so với nhà quản lý nữ với tỷ lệ 53,83%,
nhưng sang đến năm 2023 tỷ lệ nhà quản lý nam và nữ lại ở trạng thái cân bằng. Bên
cạnh đó xu hướng các nhà quản lý quỹ có chứng chỉ CFA cũng ngày càng có chiều
hướng gia tăng từ tỷ lệ 44,74% tổng số nhà quản lý quỹ có chứng chỉ CFA năm 2016
thì đến năm 2022 đã tăng lên đến 55,17% và năm 2023 là 65% các nhà quản lý quỹ có
chứng chỉ CFA. Đây là một trong những chứng chỉ quan trọng trong ngành tài chính,
được chứng minh trong nhiều nghiên cứu có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động
của quỹ (Shukla & Singh, 1994; Friis & Smit, 2004), do vậy xu hướng tất yếu trong thời
gian qua và cả trong tương lai thì tỷ lệ nhà quản lý quỹ có chứng chỉ CFA sẽ ngày càng
tăng lên. Tỷ lệ nhà quản lý quỹ ở Việt Nam sở hữu chứng chỉ CFA tăng lên theo thời
gian thể hiện xu hướng ngày càng nâng cao trình độ của các nhà quản lý quỹ chuyên
16
17
18
nghiệp trên thị trường, góp phần nâng cao khả năng điều hành quỹ trong các quyết định
đầu tư và quản lý danh mục đầu tư của quỹ hiệu quả. Đây cũng là đòi hỏi tất yếu trong
bối cảnh kinh tế phát triển và trình độ nhân lực tài chính nói chung ngày càng nâng cao.
19
20
21
Các nhà quản lý quỹ được đào tạo trình độ đại học và trên đại học ở nước
ngoài sẽ có cơ hội tiếp thu những kiến thức cơ bản và chuyên sâu liên quan tới lĩnh
vực đầu tư tài chính, hơn nữa họ cũng có nhiều cơ hội trong việc sử dụng ngoại ngữ
22
88
1
2
3
4
5
6
7
8
và thiết lập mạng lưới trao đổi thông tin giữa nhiều thành viên ở các quốc gia khác nhau,
điều này càng có lợi thế khi họ tham gia điều hành quỹ đầu tư. Các nghiên cứu cũng chỉ ra
tác động tích cực của các nhà quản lý quỹ được đào tạo ở nước ngoài sẽ điều hành quỹ hiệu
quả hơn các nhà quản lỹ quỹ học tập trong nước. Bên cạnh đó theo sự phát triển của kinh
tế - xã hội thì quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng, hệ thống giáo
dục trong nước cũng được đầu tư bởi cả các nhà đầu tư trong và ngoài nước nên chất lượng
ngày một nâng cao, trình độ ngoại ngữ của người học trong nước cũng ngày càng cải thiện
nên cũng đóng góp nhiều nhân tài quản lý tài chính cho đất nước. Biểu đồ 4.11 dưới đây
thể hiện tỷ lệ nhà quản lý quỹ đào tạo chính quy ĐH/SĐH tại nước ngoài tham gia
điều hành quỹ trong giai đoạn 2016 - 2023:
9
90.00%
84.21% 82.42%
77.88% 78.08%
75.00%
80.00%
72.10% 73.91%
70.00%
70.00%
60.00%
50.00%
40.00%
30.00%
20.00%
10.00%
0.00%
2 0 1 6
2 0 1 7
2 0 1 8
2 0 1 9
2 0 2 0
2 0 2 1
2 02 2
2 0 2 3
10
11
12
13
Biểu đồ 4.11. Tỷ lệ nhà quản lý quỹ đào tạo nước ngoài điều hành quỹ
giai đoạn 2016-2023
14
(Nguồn: Tổng hợp từ bản cáo bạch của các công ty quản lý quỹ)
15
16
17
Theo số liệu thống kê qua các năm trong giai đoạn 2016 - 2023 có thể thấy rằng
tỷ lệ các nhà quản lý quỹ được đào tạo ở nước ngoài có dấu hiệu giảm đi theo thời gian,
từ tỷ lệ 84,21% năm 2016 xuống còn 70,00% năm 2023. Hay nói cách khác tỷ lệ các
18
19
20
21
22
nhà quản lý quỹ đào tạo trong nước được giao trách nhiệm điều hành quỹ ngày càng có
xu hướng tăng lên do những nhà quản lý này thể hiện tốt các kiến thức chuyên môn cũng
như kỹ năng và kinh nghiệm quản lý quỹ, điều đó cũng thể hiện giáo dục đào tạo trong
nước có những cải thiện đáng kể và đảm bảo cung cấp nguồn nhân lực tài chính chất
lượng cao cho thị trường tài chính nói chung và TTCK nói riêng. Ngoài ra với xu hướng
23
89
1
2
3
hội nhập quốc tế sâu rộng trong nhiều lĩnh vực, cả lĩnh vực giáo dục đào tạo, nguồn nhân
lực đào tạo trong nước vẫn đảm bảo lĩnh hội được các kiến thức chuyên môn, có trình
độ ngoại ngữ cao và phát nhiều nhiều kỹ năng cần thiết phục vụ yêu cầu công việc phức
tạp trong hoạt động quản lý quỹ.
4
5
4.2.3. Phân tích mối tương quan giữa hiệu quả hoạt động của quỹ và các nhân tố
thuộc đặc điểm quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam
6
7
8
9
10
Đặc điểm của quỹ đầu tư chứng khoán được thể hiện thông qua một số chỉ tiêu
như tổng tài sản, tỷ lệ chi phí hoạt động, tốc độ vòng quay danh mục. Xét mối quan hệ
giữa hiệu quả hoạt động của quỹ và các đặc điểm của quỹ trong giai đoạn 2016 - 2023
có thể thấy được tác động của chỉ tiêu đặc điểm quỹ tới đến hiệu quả hoạt động của quỹ
theo hướng nhất định. Cụ thể xét mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động của quỹ và quy
mô quỹ thể hiện ở biểu đồ dưới đây:
11
12
13
25.00%
20.00%
15.00%
10.00%
5.00%
0.00%
2016 2017 2018 2019 2020 2021 2022 2023
-5.00%
TTS < GTTB
TTS > GTTB
JensenAlpha
Sharpe
0.200
200.00%
0.177
150.00%
0.150
100.00%
0.087
0.100
50.00%
0.037
0.00%
0.050
0.036
0.028
2016 2017 2018 2019 2020 2021 2022 2023
-50.00%
0.0140.003
0.000
-100.00%
2016 2017 2018 2019 2020 2021 2022 2023
-0.022
-0.050
-150.00%
TTS < GTTB
TTS > GTTB
TTS < GTTB
TTS > GTTB
G_NAV
14
Biểu đồ 4.12. Mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động của quỹ và quy mô quỹ đầu
tư chứng khoán giai đoạn 2016 - 2023
15
(Tổng hợp số liệu từ báo cáo hoạt động tháng của các quỹ)
16
90
Theo biểu đồ 4.12 có thể thấy sự phân hóa về các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả
1
hoạt động của quỹ khi quy mô quỹ lớn hơn hoặc nhỏ hơn giá trị trung bình, nhưng xu
2
hướng chung thể hiện ở nhiều năm trong giai đoạn nghiên cứu 2016 - 2023 cho thấy
3
với nhóm quỹ có quy mô lớn thường có chỉ tiêu hiệu quả hoạt động tốt hơn nhóm quỹ
4
còn lại (riêng năm 2019 thì thì chưa thể hiện điều này). Chẳng hạn như năm 2020 tăng
5
trưởng NAV trung bình của các quỹ lớn đạt tới 19,70% trong khi các quỹ nhỏ chỉ tăng
6
1,66%, hệ số Sharpe cũng có giá trị lớn hơn ở các quỹ lớn và hệ số JensenAlpha còn
7
chênh lệch đáng kể với giá trị 0,463 ở các quỹ lớn trong khi các quỹ nhỏ chỉ đạt 0,317
8
vào năm 2020. Các năm 2016 - 2018 và 2020 - 2023 nhìn chung các quỹ có quy mô
9
lớn đều hiệu quả hơn các quỹ nhỏ. Một số ví dụ điển hình như tháng vào tháng 11/2022
10
quỹ MAFEQI đạt hiệu quả cao với tốc độ tăng trưởng NAV là 25,41%, hệ số Sharpe lên
11
tới 168,46% và hệ số Jensen Alpha đạt 0,222; hay quỹ trái phiếu VFF vào tháng 8/2022
12
đạt giá trị tổng tài sản hơn 1.100 tỷ đồng cũng có hiệu quả hoạt động tốt với các chỉ tiêu
13
lần lượt đạt 15,77%; 122,81% và 0,177. Riêng năm 2019 thì các quỹ quy mô nhỏ ở
14
TTCK Việt Nam lại hoạt động hiệu quả hơn, tốc độ tăng trưởng NAV, hệ số Sharpe và
15
hệ số JensenAlpha của các quỹ nhỏ có giá trị lớn hơn so với các quỹ lớn, quỹ nhỏ đều
16
có chỉ tiêu hiệu quả hoạt động dương thì các quỹ lớn giá trị hiệu quả hoạt động trung
17
bình lại ở mức âm. Chẳng hạn như quỹ DCBC tháng 5/2019 bị giảm NAV 8,61%, hệ
18
số Sharpe và hệ số JensenAlpha cũng ở mức âm (lần lượt là -253,68% và -0,068); quỹ
19
VEOF, VCBF-BCF cũng có các hệ số hiệu quả hoạt động thấp và có giá trị âm.
20
Với số liệu trong biểu đồ 4.12 có thể đưa ra giả thuyết về mối quan hệ giữa quy
21
mô quỹ với hiệu quả hoạt động của quỹ là: Quy mô quỹ có tác động tích cực đến hiệu
22
quả hoạt động của quỹ, hay quỹ có quy mô tổng tài sản càng lớn thì càng có hiệu quả.
23
Mối tương quan này sẽ được kiểm chứng thông qua nội dung phân tích định lượng trong
24
phần sau.
25
Thứ hai, tác giả xem xét tương quan giữa chỉ tiêu hiệu quả hoạt động của quỹ với
26
tỷ lệ chi phí hoạt động của quỹ, được tính bằng tỷ lệ các chi phí hoạt động của quỹ trên
27
giá trị tài sản ròng trung bình của quỹ, và được công bố trên báo cáo hoạt động tháng
28
của các công ty quản lý quỹ. Tỷ lệ chi phí hoạt động là một chỉ tiêu tác động trực tiếp
29
tới lợi nhuận của công ty, và trong nhiều nghiên cứu đã chứng minh tỷ lệ Expense có
30
tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán. Với dữ liệu 23
31
quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở trên TTCK Việt Nam trong giai đoạn 2016 - 2023 thì
32
mối quan hệ giữa 2 chỉ tiêu này được phản ánh thông qua tổng hợp số liệu trung bình
33
theo năm và thể hiện trên biểu đồ sau:
34
91
JensenAlpha
0.0800
0.0600
0.0400
0.0200
0.0000
2016 2017 2018 2019 2020 2021 2022 2023
-0.0200
Expense < GTTB
Expense > GTTB
1
Biểu đồ 4.13. Mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động của quỹ và tỷ lệ chi phí hoạt
động của quỹ đầu tư chứng khoán giai đoạn 2016 - 2023
2
(Tổng hợp số liệu từ báo cáo hoạt động tháng của các quỹ)
3
Biểu đồ 4.13 cho thấy bức tranh tổng quát qua các năm đối với các quỹ có tỷ lệ chi
4
phí so với giá trị trung bình. Có thể thấy trong giai đoạn 2017 - 2021 và đặc biệt 2 năm
5
gần đây 2020 - 2021 các quỹ có tỷ lệ chi phí thấp hơn giá trị trung bình hàng năm thì có
6
các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động đều cao hơn so với các quỹ có tỷ lệ chi phí
7
hoạt động cao. Tốc độ tăng trưởng NAV giai đoạn 2020 - 2021 đạt cao nhất 8,18% năm
8
2020 đối với các quỹ có tỷ lệ chi phí hoạt động thấp hơn so với giá trị trung bình, trong
9
năm này hệ số Sharpe và JensenAlpha cũng đạt cao nhất với giá trị lần lượt là 88,29%
10
và 7,16%. Năm 2017 trung bình tốc độ tăng trưởng NAV đạt 7,76% đối với các quỹ
11
có tỷ lệ chi phí nhỏ, cao hơn so với 5,72% đối với các quỹ còn lại, hệ số Sharpe và
12
hệ số JensenAlpha đều có giá trị cao ở nhóm quỹ có tỷ lệ chi phí thấp. Riêng năm
13
2016 lại phản ánh ngược lại khi cả 3 chỉ tiêu hiệu quả hoạt động của quỹ đều ghi
14
nhận mức thấp hơn ở nhóm quỹ có tỷ lệ chi phí nhỏ (Expense < GTTB), chẳng hạn
15
như tốc độ tăng trưởng NAV tăng 1,08% ở nhóm quỹ có tỷ lệ chi phí thấp so với mức
16
92
tăng 3,57% ở nhóm quỹ còn lại. Mặc dù vậy trong cả giai đoạn nghiên cứu thì các
1
quỹ có tỷ lệ chi phí thấp vẫn thể hiện hiệu quả hoạt động tốt hơn, do vậy tác giả dự
2
đoán về mối quan hệ giữa tỷ lệ chi phí hoạt động của các quỹ với hiệu quả hoạt động
3
của quỹ là mối quan hệ ngược chiều: Tỷ lệ chi phí hoạt động có tác động tiêu cực tới
4
hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán. Điều này sẽ làm cơ sở cho mô hình
5
nghiên cứu thực nghiệm và được chứng minh cụ thể hơn thông qua phương pháp
6
nghiên cứu định lượng.
7
Thứ ba, xét trong mối tương quan giữa hiệu quả hoạt động của quỹ với tốc độ
8
vòng quay danh mục của quỹ đầu tư có thể thấy trong hầu hết các năm trong giai đoạn
9
2016 - 2023 khi tốc độ vòng quay danh mục càng cao thì hiệu quả hoạt động của quỹ
10
càng có xu huớng gia tăng. Biểu đồ 4.14 dưới đây thể hiện rõ hình ảnh trực quan về mối
11
quan hệ giữa hai chỉ tiêu này:
12
25.00%
20.00%
15.00%
10.00%
5.00%
0.00%
2016 2017 2018 2019 2020 2021 2022 2023
-5.00%
Turnover < GTTB
Turnover > GTTB
G_NAV
200.00%
0.200
150.00%
0.150
100.00%
0.100
50.00%
0.050
0.00%
2016 2017 2018 2019 2020 2021 2022 2023
0.000
-50.00%
2016 2017 2018 2019 2020 2021 2022 2023
-0.050
-100.00%
Turnover < GTTB
Turnover > GTTB
Turnover < GTTB
Turnover > GTTB
Sharpe JensenAlpha
13
Biểu đồ 4.14. Mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động của quỹ và tốc độ vòng quay
danh mục của quỹ đầu tư chứng khoán giai đoạn 2016 - 2023
14
(Tổng hợp số liệu từ báo cáo hoạt động tháng của các quỹ)
15
93
Đối với chỉ tiêu tăng trưởng NAV giữa 2 nhóm quỹ tương đối chênh lệch như
1
năm 2018 nhóm quỹ loại 1 (có tốc độ vòng quay danh mục thấp hơn giá trị trung bình)
2
chỉ đạt 0,50% nhưng đối với nhóm quỹ còn lại thì đạt tới 3,80%, đặc biệt sự chênh lệch
3
này còn thể hiện rõ trong năm 2020 với tốc độ tăng trưởng NAV của 2 nhóm quỹ này
4
lần lượt là 1,24% và 19,37%. Biểu đồ cũng cho thấy sự khác biệt lớn về hiệu quả hoạt
5
động giữa hai nhóm quỹ với hệ số JensenAlpha năm 2020 là 17,98% ở nhóm quỹ có
6
Turnover lớn so với nhóm quỹ còn lại, các năm khác thì hệ số JensenAlpha vẫn duy trì
7
cao hơn ở nhóm quỹ có Turnover cao hơn trung bình. Hệ số Sharpe cũng thể hiện hầu
8
hết trong các năm với nhóm quỹ có Turnover lớn thì đạt hiệu quả hoạt động cao hơn,
9
một số năm mức độ chênh lệch giữa hai nhóm quỹ khá lớn như năm 2017 hệ số Sharpe
10
ở nhóm quỹ có Turnover > GTTB đạt 61,85% trong khi nhóm quỹ còn lại có hệ số
11
Sharpe thấp hơn là 30,19%, hay năm 2021 với hệ số Sharpe của hai nhóm quỹ lần lượt
12
là 52,36% và 28,04%.
13
Như vậy với số liệu trong biểu đồ phân tích ở trên có thể thấy mối quan hệ giữa
14
vòng quay danh mục đầu tư và hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán là mối
15
quan hệ cùng chiều, hay nói cách khác, khi tốc độ quay vòng danh mục đầu tư của quỹ
16
càng lớn thì càng góp phần làm tăng hiệu quả hoạt động của quỹ. Mối quan hệ này sẽ
17
được làm rõ và khẳng định trong nghiên cứu định lượng ở phần sau.
18
Nội dung phân tích thực trạng nêu trên là cơ sở để tác giả tiếp tục thực hiện nghiên
19
cứu định lượng, kiểm định tác động của các các nhân tố tới hiệu quả hoạt động của các
20
quỹ đầu tư chứng khoán với mô hình kinh tế lượng được thực hiện trong nội dung tiếp
21
theo. Do hạn chế trong việc thu thập dữ liệu của một số nhân tố tác động nên phần nội
22
dung phân tích tác động của các nhân tố tới hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứng
23
khoán bằng mô hình nghiên cứu định lượng sẽ được giới hạn lại. Tác giả giới hạn các
24
nhân tố sau là biến độc lập của mô hình nghiên cứu gồm: SIZE (Quy mô quỹ),
25
EXPENSE (Chi phí hoạt động của quỹ), TURNOVER (Tốc độ vòng quay danh mục
26
đầu tư), Các nhân tố thể hiện đặc điểm riêng của Nhà quản lý quỹ gồm: GENDER (Giới
27
tính), CFA (Chứng chỉ CFA), OVER (Nơi đào tạo: trong nước hay nước ngoài); ba biến
28
kiểm soát gồm: AGE - Thời gian hoạt động của quỹ, LOAD - Phí giao dịch chứng chỉ
29
quỹ, và INF - Tỷ lệ lạm phát hàng tháng. Thời gian thực hiện nghiên cứu định lượng
30
được xác định từ tháng 1/2018 đến tháng 09/2023 với 16 quỹ đầu tư (gồm: BVBF,
31
BVFED, BVPF, DCBC, DCBF, DCDS, ENF, MBVF, SSIBF, SSI-SCA, VCAMBF,
32
VCBF-BCF, VCBF-TBF, VEOF, VESAF, VFF).
33
94
4.3. Kết quả nghiên cứu định lượng và thảo luận
1
4.3.1. Thống kê mô tả
2
3
Kết quả phân tích thống kê mô tả cho thấy những đặc tính cơ bản của các biến
nghiên cứu gồm: giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất, được
4
thể hiện trong bảng dưới đây.
5
Bảng 4.2. Kết quả thống kê mô tả các biến thể hiện đặc điểm của quỹ đầu tư
BIẾN
GT TRUNG
BÌNH
PHƯƠNG
SAI
GT NHỎ
NHẤT
GT LỚN
NHẤT
G_NAV
0,0123883
0,1263943
-0,6018731
1,4481
Sharperatio
0,2317858
1,176358
-3,06
5,4
JensenAlpha
0,008164
0,1081353
-0,547
1,352
SIZE
443*109
399*109
18,8*109
1.990*109
EXPENSE
0,0187087
0,0074932
0,0007
0,0499
TURNOVER
0,7128942
0,9227388
0
5,549757
LOAD
8,02*107
23,5*107
0
287*107
AGE
80,58424
40,24679
5
233
INF
0,0019884
0,0019943
-0,0026
0,0076
6
(Nguồn: Tính toán của tác giả từ phần mềm Stata)
7
Biến phụ thuộc:
8
9
10
11
12
13
14
15
Biến Tăng trưởng NAV (G_NAV): Tốc độ tăng trưởng giá trị tài sản ròng
(G_NAV) trung bình của các quỹ đầu tư chứng khoán là 1,24%/tháng với độ lệch chuẩn
là 12,64% trong giai đoạn 2018 - 2023, ghi nhận giai đoạn này quỹ trái phiếu SSIBF
trong tháng 11/2020 có mức tăng trưởng NAV cao vọt lên tới 144,81% so với tháng
trước, do thời kỳ này quỹ thu hút được lượng lớn các nhà đầu tư vào quỹ so với giai
đoạn trước chỉ từ dưới 200 nhà đầu tư đã tăng lên 538 nhà đầu tư và duy trì tăng đều số
lượng nhà đầu tư vào quỹ. Quỹ đầu tư cổ phiếu DCBC có mức tăng trưởng NAV thấp
nhất là -60,19% vào tháng 10/2022.
16
17
18
19
Biến Sharperatio: Hệ số Sharperatio đo lường hiệu quả hoạt động của quỹ được
tính toán theo công thức của Sharpe (1966) thể hiện lợi nhuận thu được là bao nhiêu trên
một đơn vị rủi ro. Giá trị trung bình của tỷ lệ Sharperatio là 0,2317 tương ứng lợi nhuận
điều chỉnh theo rủi ro trung bình là 23,17% với độ lệch chuẩn là 117,64%. Quỹ DCBF
20
95
1
có tỷ lệ Sharperatio cao nhất là 540,18% đạt được vào tháng 12/2021, và hệ số Sharpe
thấp nhất là -306% của quỹ trái phiếu BVBF vào tháng 5/2020.
2
Biến JensenAlpha: đo lường hiệu quả hoạt động của quỹ được tính toán theo
3
công thức của Jensen (1969). Giá trị trung bình của hệ số JensenAlpha là 0,008164 lớn
4
hơn 0 chứng tỏ các quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam có khả năng chiến thắng thị
5
trường. Do các quỹ được điều hành bởi các nhà quản lý quỹ có trình độ, kinh nghiệm
6
và kỹ năng trên thị trường tài chính hơn hẳn với các nhà đầu tư khác trên thị trường,
7
đặc biệt là các nhà đầu tư cá nhân nên cũng ủng hộ cho kết quả về khả năng chiến
8
thắng thị trường của các quỹ đầu tư. Hệ số JensenAlpha cao nhất ghi nhận đạt được tại
9
quỹ DCBC vào tháng 5/2021 là 1,35 và thấp nhất là hệ số Jensen chỉ đạt -0,547 của
10
quỹ cổ phiếu SSI-BF vào tháng 10/2022.
11
Biến độc lập:
12
Tổng tài sản (SIZE): Tổng tài sản trung bình của các quỹ trong giai đoạn 2018 -
13
2023 ghi nhận ở mức 443 tỷ VNĐ với độ lệch chuẩn 399 tỷ VNĐ, trong đó quỹ SSIBF
14
tiếp tục ghi nhận quy mô tổng tài sản cao nhất trong số các quỹ đầu tư chứng khoán giai
15
đoạn 2018 - 2023 với giá trị tổng tài sản đạt 1.990 tỷ VNĐ trong tháng 8/2021 và tổng
16
tài sản thấp nhất là quỹ cân bằng ENF với 18,8 tỷ VNĐ vào tháng 11/2022.
17
Tỷ lệ chi phí hoạt động (EXPENSE): Tỷ lệ chi phí hoạt động của quỹ cho biết
18
chi phí hoạt động của quỹ chiếm tỷ lệ bao nhiêu trên tổng giá trị tài sản ròng của
19
quỹ, theo dữ liệu thống kê thì mức tỷ lệ chi phí trung bình đạt 1,87%, trong đó quỹ
20
BVBF có tỷ lệ chi phí hoạt động thấp nhất ghi nhận trong tháng 2/2019 là 0,07%,
21
trong khi dữ liệu ghi nhận quỹ MBVF có tỷ lệ chi phí hoạt động cao nhất là 4,99%
22
vào tháng 11/2022.
23
Tốc độ vòng quay danh mục (TURNOVER): Tốc độ vòng quay danh mục trung
24
bình ở mức khá với giá trị 0,7128942 tương ứng trung bình hàng tháng danh mục đầu
25
tư quay vòng với tốc độ 71,29% với độ lệch chuẩn là 92,27%. Quỹ đầu tư DCDS có
26
hoạt động giao dịch rất nhiều trong tháng 5/2023 với hệ số Turnover đạt 554,98%. Một
27
số quỹ cổ phiếu có tốc độ vòng quay danh mục bằng 0 hay không tiến hành giao dịch
28
chứng khoán trong tháng do tính chất đầu tư nắm giữ lâu dài của loại chứng khoán mà
29
quỹ đầu tư, như quỹ trái phiếu BVBF duy trì tốc độ vòng quay danh mục Turnover =
30
0 trong nhiều tháng từ 07/2020 - 01/2022, hay quỹ SSI-BF trong tháng 04 - 05/2020
31
có Turnover = 0.
32
96
1
2
3
4
Phí giao dịch chứng chỉ quỹ (LOAD): thể hiện khoản phí phải trả liên quan đến
giao dịch tài sản của quỹ. Trung bình mỗi tháng quỹ phải trả 80,2 triệu VNĐ cho giao
dịch liên quan đến tài sản của quỹ. Một số các quỹ không tiến hành giao dịch mua bán
chứng khoán sẽ không phát sinh chi phí này. Chỉ tiêu này có giá trị lớn nhất là 2.870
triệu VNĐ của quỹ DCDS vào tháng 11/2022.
5
6
7
8
9
Thời gian hoạt động của quỹ (AGE): Thời gian hoạt động trung bình của 16 quỹ
đầu tư là 80,58 tháng với độ lệch chuẩn là 40,24 tháng cho thấy sự khác biệt tương đối
lớn về thời gian hoạt động của các quỹ đầu tư. Quỹ lâu đời nhất trên thị trường chứng
khoán Việt Nam là quỹ DCDS (thành lập vào tháng 4/2004), đây là quỹ đại chúng được
thành lập đầu tiên tại Việt Nam đánh dấu ngành quỹ Việt Nam chính thức hình thành.
10
11
12
Tỷ lệ lạm phát (INF): Tỷ lệ lạm phát theo tháng được tác giả thu thập từ Tổng
cục thống kê (GOS) với giá trị trung bình tỷ lệ lạm phát của Việt Nam là 0,1988%/tháng
và độ lệch chuẩn lớn xấp xỉ bằng giá trị trung bình là 0,1994% với tỷ lệ lạm phát lớn
13
nhất vào tháng 01/2020 và nhỏ nhất vào tháng 9/2021.
14
Các nhân tố thể hiện đặc điểm riêng của Nhà quản lý quỹ
15
Quỹ đầu tư chứng khoán hoạt động hiệu quả ngoài việc đóng vai trò là nhà đầu tư
16
17
18
tổ chức có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư nhằm hạn chế rủi ro thì còn cần có các quyết
định đầu tư hiệu quả để đạt được mức sinh lời tối ưu trên một mức rủi ro nhất định. Vì lẽ
đó vai trò của nhà quản lý quỹ là rất quan trọng đối với hiệu quả hoạt động của quỹ. Nghiên
19
cứu về các nhà quản lý quỹ tại Việt Nam có một số đặc điểm được mô tả trong bảng sau:
20
Bảng 4.3. Một số đặc điểm nhà quản lý quỹ ở Việt Nam
Đặc điểm
Tỷ lệ (%)
Giới tính
Nam
52,08%
Nữ
47,92%
Học vấn
CFA
52,17%
Khác
47,83%
Đào tạo trong nước và nước ngoài
Đào tạo trong nước
26,99%
Đào tạo nước ngoài
73,01%
21
(Nguồn: Tính toán của tác giả từ phần mềm Stata)
22
97
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
Từ kết quả thống kê mô tả cho thấy tỷ lệ các nhà quản lý quỹ là nam giới
chiếm 52,08%, chênh lệch không nhiều so với số lượng các nhà quản lý nữ chiếm
47,92%, tuy nhiên tỷ lệ này thấp hơn khá nhiều so với dữ liệu quỹ ở Đài Loan
(khoảng 67,7% nhà quản lý quỹ nam) theo nghiên cứu của Hu & cộng sự (2012).
Bên cạnh đó cũng có hơn một nửa trong tổng số các nhà quản lý quỹ có chứng chỉ
CFA, và hầu hết các nhà quản lý quỹ đều được đào tạo chính quy ở nước ngoài (các
nước phát triển như Anh, Pháp, Mỹ…) với tỷ lệ hơn 73,01%. Như vậy có thể thấy
các nhà quản lý quỹ ở Việt Nam cũng thể hiện những đặc điểm chuyên môn cao để
thực hiện công tác quản lý quỹ đầu tư, góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp và
hiệu quả hoạt động của quỹ, giúp gia tăng và hiện đại hóa thị trường chứng khoán
Việt Nam.
11
4.3.2. Kết quả kiểm định lựa chọn mô hình nghiên cứu
12
13
14
Dựa vào các nghiên cứu được công bố trên thế giới về các nhân tố tác động đến
hiệu quả hoạt động của quỹ và nội dung phân tích tổng hợp, tác giả xây dựng mô hình
nghiên cứu định lượng như sau:
G_NAVit = β0 + β1SIZEit +β2EXPENSEit + β3TURNOVERit +
β4GENDERit +β5CFAit + β6OVERit + β’ Controlit + εit
(MH1)
15
Sharperatioit =
β0 + β1SIZEit +β2EXPENSEit + β3TURNOVERit +
β4GENDERit +β5CFAit + β6OVERit + β’ Controlit + εit
(MH2)
JensenAlphait = β0 + β1SIZEit +β2EXPENSEit + β3TURNOVERit +
β4GENDERit +β5CFAit + β6OVERit + β’ Controlit + εit
(MH3)
16
Mô hình nghiên cứu gồm biến phụ thuộc thể hiện thước đo hiệu quả hoạt động
17
của quỹ là tăng trưởng giá trị tài sản ròng của Quỹ (G_NAV), hệ số Sharperatio của
18
nghiên cứu Sharpe (1966), hệ số JensenAlpha được phát triển bởi Jensen (1969). Đây là các
19
thước đo hiệu quả hoạt động của quỹ được nhiều tác giả sử dụng trong nghiên cứu của mình
20
(Prather & cộng sự, 2004; Babalos & cộng sự, 2009; Fang & Wang, 2015…). Các biến độc
21
lập gồm biến SIZE thể hiện quy mô của quỹ (để giảm sai số trong mô hình với quy mô tài
22
sản đang được thể hiện đơn vị tính trong ảng thống kê mô tả là Việt Nam đồng, tác giả thực
23
hiện lấy logarit cơ số e của tổng tài sản để làm đại diện cho quy mô quỹ), EXPENSE thể
24
hiện tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng giá trị tài sản ròng của quỹ, TURNOVER cho biết tốc
25
độ vòng quay danh mục đầu tư của quỹ hay tốc độ mua bán chứng khoán của quỹ như thế
26
nào, GENDER đại diện cho đặc điểm về giới tính của nhà quản lý quỹ với biến cơ sở là
27
98
giới tính Nữ, CFA cho biết nhà quản lý quỹ có chứng chỉ CFA cũng được xây dựng biến
1
giả (0,1) với biến cơ sở là Nhà quản lý không có chứng chỉ CFA, và OVER cho biết nhà
2
quản lý quỹ có tham gia các bậc đào tạo chính quy (đại học/sau đại học) ở nước ngoài hay
3
không, được xây dựng biến giả (0,1) và có biến cơ sở là nơi đào tạo là Trong nước. Ba
4
biến kiểm soát bao gồm: hai biến thể hiện đặc điểm riêng của quỹ gồm AGE là thời gian
5
hoạt động của quỹ tính từ khi thành lập cho đến thời điểm nghiên cứu và biến LOAD thể
6
hiện khoản phí giao dịch liên quan đến tài sản của quỹ; biến tỷ lệ lạm phát INFLATION
7
là nhân tố vĩ mô đại diện cho đặc điểm riêng của TTCK Việt Nam, yếu tố bên ngoài quỹ
8
tác động tới hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán.
9
10
11
12
Tác giả thực hiện các kiểm định khác để lựa chọn phương pháp ước lượng phù
hợp cho mô hình nghiên cứu. Tác giả tiếp cận lựa chọn phương pháp ước lượng theo
mô hình Hsiao (2022) với các biến đều là chuỗi dừng và không có biến độc lập là biến
trễ của biến phụ thuộc.
13
14
15
Tác giả thực hiện kiểm định tính đồng nhất cho hệ số chặn α và hệ số góc β của 3
mô hình để lựa chọn phương pháp kiểm định bình phương nhỏ nhất cho dữ liệu bảng -
POLS hay phương pháp kiểm định tác động ngẫu nhiên - RE (hoặc tác động cố định - FE).
16
17
18
19
20
Kết quả kiểm định Hausman để lựa chọn phương pháp kiểm định tác động cố
định - FE (fixed effect) hay kiểm định tác động ngẫu nhiên - RE (random effect) được
dựa trên giả thuyết nếu tồn tại tương quan giữa các biến độc lập và thành phần đặc trưng
riêng không quan sát được thì phương pháp FE cho kết quả tin cậy hơn và ngược lại
phương pháp RE sẽ hiệu quả hơn.
21
Bảng 4.4. Kết quả kiểm định Hausman
G_NAV
Sharperatio
JensenAlpha
Chi2(08)
20,31
41,67
7,09
Prob>Chibar2
0,0092
0,0000
0,5267
22
(Nguồn: Tác giả tính toán từ phần mềm Stata)
23
24
25
26
Mô hình biến phụ thuộc G_NAV và Sharperatio, với hệ số Prob lần lượt là 0,0092
< mức ý nghĩa 5% và 0,0000 < mức ý nghĩa 5% nên đủ cơ sở để bác bỏ giả thuyết H0
với “H0: Khác biệt giữa các hệ số là ngẫu nhiên”. Như vậy, mô hình nghiên cứu sử dụng
kiểm định FE (fixed effect) sẽ cho kết quả ước lượng tin cậy hơn.
27
28
29
30
Mô hình biến phụ thuộc JensenAlpha, với hệ số Prob = 0,5267 > mức ý nghĩa
5% nên không đủ cơ sở để bác bỏ giả thuyết H0 với “H0: Khác biệt giữa các hệ số là
ngẫu nhiên”. Như vậy, mô hình nghiên cứu sử dụng kiểm định RE (random effect) sẽ
cho kết quả ước lượng tin cậy hơn.
31
99
4.3.3. Kiểm định các khuyết tật của mô hình
1
Sau khi xác định được kiểm định tác động cố định sẽ phù hợp hơn với mô hình
2
nghiên cứu, tác giả tiếp tục kiểm định các khuyết tật của mô hình.
3
4.3.3.1. Kiểm định đa cộng tuyến
4
5
6
7
Kiểm định đa cộng tuyến để phát hiện sự tương quan tuyến tính giữa các biến
độc lập trong mô hình hồi qui với hệ số phóng đại phương sai - VIF và kỳ vọng không
có hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình khi hệ số VIF của các biến độc lập < 2, kết
quả kiểm định được thể hiện trong bảng sau:
8
Bảng 4.5. Bảng kết quả kiểm định đa cộng tuyến
Variable
Size Turnover Expense
Load
Inflation Gender OVER
CFA
AGE
VIF
1,52
1,41
1,32
1,23
1,06
1,49
1,36
1,55
1,44
1/VIF
0,65834 0,708498 0,755529 0,813805 0,947537 0,672342 0,735299 0,646867 0,693031
1,37
Mean
VIF
9
(Nguồn: Tác giả tính toán từ phần mềm Stata)
10
4.3.3.2. Kiểm định tự tương quan
11
12
13
Kiểm định tự tương quan để xem xét có sự tương quan của sai số ngẫu nhiên tại các
thời điểm khác nhau hay không. Kỳ vọng của mô hình nghiên cứu không xảy ra hiện tượng
tự tương quan với kiểm định Wooldridge (2010) cho kết quả được thể hiện trong bảng sau:
14
Bảng 4.6. Bảng kết quả kiểm định tự tương quan
G_NAV
Sharperatio
JensenAlpha
F(1, 15) = 1,915
F(1, 15) = 31,533
F(1, 15) = 0,651
Prob > F
0,1866
0,0000
0,4324
15
(Nguồn: Tác giả tính toán từ phần mềm Stata)
16
17
18
Kết quả kiểm định Wooldridge cho mô hình biến phụ thuộc Sharperatio, có giá trị P-
value = 0,0000 < 5% cho nên đủ bằng chứng thống kê để kết luận có hiện tượng tự tương
quan trong mô hình và thực hiện khắc phục bằng (AR1) với phương pháp ước lượng FGLS.
19
Ngược lại, kết quả kiểm định Wooldridge với mô hình biến phụ thuộc G_NAV
20
21
22
có giá trị P-value = 0,1866 > 5% và mô hình biến phụ thuộc JensenAlpha có giá trị P-
value = 0,4324 > 5% cho nên kết luận không đủ bằng chứng thống kê để kết luận mô
hình có hiện tượng tự tương quan.
23
100
4.3.3.3. Kiểm định phương sai sai số thay đổi
1
Kiểm định phương sai sai số thay đổi để xác định phương sai sai số trong mô
2
hình có bằng nhau tại mọi quan sát hay không với kỳ vọng của tác giả mô hình không
3
có khuyết tật phương sai sai số thay đổi để các giá trị ước lượng không bị chệch. Kiểm
4
định White-test cho PLOS và kiểm định Wald-test cho dữ liệu bảng với tác động cố định
5
cho kết quả như sau:
6
Bảng 4.7. Bảng kết quả kiểm định phương sai sai số thay đổi
G_NAV
Sharperatio
JensenAlpha
chi2(16) = 56039,52
chi2 (16) = 101,48 chi2 (120) = 2805,33
Prob > chi2
0,0000
0,0000
0,0000
7
(Nguồn: Tác giả tính toán từ phần mềm Stata)
8
Kết quả kiểm định White-test với MH3 biến phụ thuộc JensenAlpha cho kết quả
9
P-value = 0,0000 < mức ý nghĩa 5% nên đủ bằng chứng thống kê để kết luận mô hình
10
có hiện tượng phương sai không đồng nhất. Đồng kết quả kiểm định Wald-test với MH1
11
và MH2 với biến phụ thuộc G_NAV và biến phụ thuộc Sharperatio có giá trị P-value =
12
0,0000 < mức ý nghĩa 5% cho nên đủ bằng chứng thống kê để bác bỏ giả thuyết H0 và
13
chấp nhận giả thuyết H1: Mô hình có hiện tượng phương sai sai số thay đổi. Tác giả thực
14
hiện khắc phục hiện tượng phương sai sai số thay đổi của cả các mô hình với: MH1 và
15
MH2 bằng ma trận hiệp phương sai (W) theo phương pháp ước lượng FGLS, MH3 bằng
16
ước lượng vững của ma trận hiệp phương sai.
17
Kết luận: MH1 với biến phụ thuộc G_NAV và MH3 với biến phụ thuộc
18
JensenAlpha có khuyết tật về phương sai sai số không đồng nhất và không có khuyết tật
19
tự tương quan với độ tin cậy 95%. MH2 với biến phụ thuộc Sharperatio có tồn tại hiện
20
tượng tự tương quan trong mô hình và phương sai sai số thay đổi với độ tin cậy 95%.
21
Tác giả thực hiện khắc phục hiện tượng khuyết tật trong các mô hình và kết quả ước
22
lượng được trình bày trong nội dung dưới đây.
23
4.3.4. Kết quả phân tích hồi quy và thảo luận
24
Kết quả hồi quy được thể hiện trong bảng 4.8 với biến đo lường hiệu quả hoạt
25
động của quỹ theo tốc độ tăng trưởng NAV của quỹ, hệ số Sharperatio và hệ số
26
JensenAlpha được giải thích bởi các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu như sau:
27
101
Bảng 4.8. Kết quả hồi qui mô hình
1
(1) (2) (3)
Biến G_NAV Sharperatio JensenAlpha
Hệ số Hệ số Hệ số
SIZE 0,03277*** 0,10467*** 0,01214**
(0,00946) (0,01923) (0,00536)
EXPENSE 0,042472 -6,47216** -1,09659*
(1,07728) (2,52211) (0,62783)
TURNOVER 0,00522*** 0,00549 0,00961*
(0,00577) (0,01433) (0,00529
GENDER (Nữ) -0,03001** -0,15350*** -0,03142**
(0,01359) (0,03399) (0,01349)
OVER (trong nước) -0,01887 -0,23587*** -0,01092
(0,01690) (0,03852) (0,01179)
CFA (không CFA) -0,03915*** 0,06868** -0,02618**
(0,01367) (0,3178) (0,01263)
LOAD -0,00001 -0,00039*** 0,00003
(0,00005) (0,00011) (0,00002)
AGE -0,00032 0,00043* -0,00033**
(0,00026) (0,00025) (0,00015)
INFLATION -7,13116*** 16,61714 -4,64522***
(2,05524) (35,72300) (1,51628)
Hệ số tự do -0,74731*** -2,41844*** -0,23238*
(0,24114) (0,50082) (0,12498)
Số quan sát 1.104 1.104 1.104
Số QĐTCK 16 16 16
Standard errors in parentheses 2
*** p<0,01, ** p<0,05, * p<0,1 3
(Nguồn: Tính toán của tác giả từ phần mềm Stata)
4
5
Với ba thước đo về hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán là tốc độ
tăng trưởng NAV (G_NAV), hệ số Sharpe và hệ số JensenAlpha đều cho kết quả tương
6
102
1
đồng về tác động của các nhân tố thuộc quỹ tới hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng
khoán. Cụ thể:
2
Quy mô của các quỹ (Biến độc lập SIZE) trong MH1 có hệ số ước lượng là
3
0,03277 và giá trị P-value = 0,001 nhỏ hơn mức ý nghĩa 1% nên có đủ bằng chứng
4
thống kê để kết luận biến SIZE có tác động cùng chiều tới biến phụ thuộc G_NAV,
5
khoảng tin cậy 95% cho tham số ước lượng là [0,014 ; 0,051] tương ứng khi các yếu
6
tố khác trong mô hình không thay đổi nếu quy mô quỹ tăng 1% thì trung bình tăng
7
trưởng NAV trong khoảng từ 1,4% đến 5,1%. Biến SIZE trong MH2 có hệ số ước
8
lượng là 0,10467 và P-value = 0,0000 < mức ý nghĩa 1% nên đủ bằng chứng thống kê
9
để kết luận biến SIZE có tác động cùng chiều với biến phụ thuộc Sharperatio, khoảng
10
tin cậy 95% cho tham số ước lượng là [0,066 ; 0,142] tương ứng khi các yếu tố khác
11
trong mô hình không thay đổi nếu quy mô quỹ tăng 1% thì trung bình hệ số Sharperatio
12
của quỹ tăng từ 0,066 đơn vị đến 0,142 đơn vị. Biến SIZE trong MH3 có hệ số ước
13
lượng là 0,01214 và P-value = 0,023 < mức ý nghĩa 5% nên đủ bằng chứng thống kê
14
để kết luận biến SIZE có tác động tích cực đến biến phụ thuộc JensenAlpha, khoảng
15
tin cậy 95% cho tham số ước lượng là [0,0016 ; 0,0226] tương ứng khi các yếu tố trong
16
MH3 không thay đổi nếu qui mô quỹ tăng 1% thì trung bình hệ số JensenAlpha của
17
quỹ tăng từ 0,0016 đơn vị đến 0,0226 đơn vị. Biến SIZE có quan hệ cùng chiều với
18
biến phụ thuộc tức là nếu quy mô quỹ tăng lên góp phần tăng hiệu quả hoạt động của
19
quỹ. Điều này có được là do lợi thế kinh tế theo quy mô của các quỹ, các quỹ lớn hơn
20
sẽ có chi phí môi giới, chi phí nghiên cứu tiếp thị ít hơn so với các quỹ nhỏ và do đó
21
hiệu quả hoạt động tốt hơn. Bên cạnh đó các quỹ có quy mô lớn đồng nghĩa với khả
22
năng có thể đa dạng hóa danh mục đầu tư nhằm phân tán và hạn chế rủi ro, hay có thể
23
giảm hoàn toàn rủi ro phi hệ thống. Theo lý thuyết danh mục đầu tư, các quỹ sẽ xác
24
định mức lợi nhuận kỳ vọng ứng với rủi ro có thể chấp nhận và sau đó mời các nhà
25
đầu tư có cùng quan điểm tham gia đầu tư vào quỹ; hoặc mô tả mức độ rủi ro chung
26
của danh mục đầu tư của quỹ, và sau đó cố gắng lựa chọn danh mục đầu tư hiệu quả
27
nhất trên mức độ rủi ro đó, khi quy mô quỹ lớn thì góp phần cho quỹ có điều kiện lựa
28
chọn được danh mục đầu tư hiệu quả. Bên cạnh đó theo lý thuyết kinh doanh chênh
29
lệch giá APT, thông qua các phương pháp định giá chứng khoán, các quỹ lớn có khả
30
năng thay đổi tỷ trọng đầu tư các chứng khoán bị định giá không chính xác từ đó tận
31
dụng được cơ hội lợi nhuận do mua bán các chứng khoán này. Kết quả của nghiên cứu
32
phù hợp với phát hiện của Michelson & cộng sự (2008), Nguyễn Quang Minh Nhi,
33
(2022) trong nghiên cứu của mình. So sánh với kết quả trong nghiên cứu của Tang &
34
cộng sự (2012) với mối quan hệ chữ “U ngược” giữa hiệu quả của quỹ và quy mô quỹ,
35
103
thì các quỹ trong bộ dữ liệu nghiên cứu trên thị trường chứng khoán Việt Nam đang
1
có giá trị tổng tài sản ở mức thấp (ngưỡng dưới), tức là quy mô quỹ tăng thì vẫn đạt
2
mức tăng trưởng về hiệu quả. Theo dữ liệu các quỹ có thể thấy mối quan hệ tác động
3
cùng chiều giữa quy mô quỹ và hiệu quả hoạt động của quỹ, như quỹ trái phiếu VFF
4
trong giai đoạn từ tháng 11/2020 đến tháng 10/2021 tổng tài sản có giá trị khá cao so
5
với các thời kỳ khác và tăng trưởng từ 1.023 tỷ VNĐ lên 1.153 tỷ VNĐ, thì tỷ lệ Sharpe
6
trong giai đoạn này cũng có xu hướng tăng từ 137% lên 248%. Khi quy mô tăng thì
7
các chi phí cũng tăng theo nhưng tăng với tốc độ nhỏ hơn, thể hiện ở tỷ lệ chi phí trên
8
giá trị tài sản ròng của quỹ VFF trong giai đoạn này chỉ khoảng 1,03% - 1,22%, thấp
9
hơn so với các giai đoạn trước (1,9% - 2,3%), điều này góp phần làm gia tăng hiệu quả
10
hoạt động của quỹ. Theo nghiên cứu của Tang & cộng sự (2012) thì có thể trong tương
11
lai khi các quỹ đầu tư chứng khoán trên TTCK Việt Nam có quy mô lớn đến một mức
12
nhất định thì có thể việc tăng quy mô quỹ sẽ làm giảm hiệu quả hoạt động của quỹ do
13
tính thanh khoản của danh mục đầu tư của quỹ và vấn đề kiểm soát không đủ chặt chẽ
14
và tối ưu đối với danh mục đầu tư quá lớn với đa dạng các chứng khoán trên thị trường.
15
Khi đó đặt ra vấn đề nghiên cứu để tìm một mức tổng tài sản phù hợp của mỗi quỹ để
16
đảm bảo cả vấn đề hiệu quả hoạt động và tăng trưởng quy mô quỹ theo thời gian.
17
Tỷ lệ chi phí hoạt động (EXPENSE): MH1 có hệ số ước lượng của biến
18
EXPENSE là 0,42427 nhưng không có ý nghĩa thống kê nên chưa thể hiện được mối
19
quan hệ giữa tỷ lệ chi phí hoạt động với tốc độ tăng trưởng NAV. MH2 với biến phụ
20
thuộc Sharperatio có hệ số ước lượng của biến EXPENSE là -6,472 với P-value = 0,01
21
< mức ý nghĩa 5% nên đủ bằng chứng thống kê để kết luận biến EXPENSE có tác động
22
ngược chiều tới biến phụ thuộc Sharperatio, tương ứng khoảng tin cậy 95% tham số ước
23
lượng [-11,41 ; -1,52] khi các yếu tố khác trong mô hình không thay đổi nếu EXPENSE
24
tăng 1% thì trung bình hệ số Sharperatio của quỹ giảm ít nhất là 1,52 đơn vị và giảm
25
nhiều nhất đến 11,41 đơn vị. MH3 có hệ số ước lượng của biến EXPENSE là -1,09659
26
với P-value = 0,081 < mức ý nghĩa 10% nên đủ bằng chứng thống kê để kết luận biến
27
EXPENSE có tác động ngược chiều đến biến phụ thuộc JensenAlpha, khoảng tin cậy
28
90% của tham số ước lượng biến EXPENSE là [-2,129 ; -0,064] tương ứng khi các yếu
29
tố khác trong mô hình không thay đổi nếu Expense tăng 1% thì trung bình hệ số Jensen
30
của quỹ giảm ít nhất từ 0,064 đơn vị và giảm nhiều nhất đến 2,129 đơn vị. Như vậy, chi
31
phí hoạt động càng tăng thì hiệu quả hoạt động của quỹ càng giảm nên kiểm soát tốt chi
32
phí hoạt động sẽ góp phần gia tăng hiệu quả hoạt động của quỹ. Khoản chiếm phần lớn
33
trong chi phí hoạt động của quỹ là chi phí quản lý tài sản trả cho công ty quản lý quỹ.
34
Công ty quản lý quỹ phải duy trì các bộ phận chức năng trong công ty để tối ưu hóa hoạt
35
104
động của quỹ cũng như đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật, nếu quy mô quỹ
1
nhỏ thì tỷ lệ chi phí hoạt động này thường cao vì quỹ phải đáp ứng những chi phí hoạt
2
động bắt buộc và tối thiểu theo quy định. Khi tỷ lệ chi phí hoạt động này tăng tức là chi
3
phí hoạt động của quỹ ở mức cao, sẽ tác động khiến lợi nhuận sau thuế của quỹ giảm,
4
là một trong những nguyên nhân hạn chế sự tăng trưởng giá trị tài sản ròng NAV của
5
quỹ đầu tư. Ngoài ra chi phí hoạt động của quỹ còn ghi nhận một số các khoản chi phí
6
đáng kể khác như chi phí lưu ký, giám sát trả cho Ngân hàng Giám sát; Chi phí giám
7
sát; Chi phí quản trị quỹ; Chi phí dự thảo, in ấn... Việc tối ưu hóa và giảm bớt các chi
8
phí này có thể được triển khai đồng thời với yêu cầu chuyển đổi số trong các doanh
9
nghiệp nói chung và các công ty quản lý quỹ nói riêng, từ đó mở ra nhiều cơ hội để kiểm
10
soát chi phí hoạt động của quỹ ngày càng tối ưu, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động
11
của quỹ đầu tư chứng khoán. Kết quả tác động của tỷ lệ chi phí hoạt động đến hiệu quả
12
hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán mà nghiên cứu này đưa ra tương đồng với kết
13
luận được chứng minh trong các nghiên cứu điển hình về quỹ trên thế giới như trong
14
nghiên cứu của Carhart (1997), Dahlquist & cộng sự (2000), Otten & Bams (2002),
15
Ferreira & cộng sự (2013).
16
17
18
19
20
21
22
Tốc độ vòng quay danh mục đầu tư (TURNOVER): MH1 có hệ số ước lượng là
0,00522 và MH2 có hệ số ước lượng là 0,00549 nhưng không có ý nghĩa thống kê nên
chưa có đủ bằng chứng thống kê để kết luận biến TURNOVER có tác động cùng chiều
tới biến phụ thuộc G_NAV và biến phụ thuộc Sharperatio. Biến TURNOVER trong
MH3 có hệ số ước lượng là 0,00961 và P-value = 0,069 < mức ý nghĩa 10% nên đủ bằng
chứng thống kê để kết luận biến TURNOVER có tác động cùng chiều đến biến phụ
thuộc JensenAlpha, khoảng tin cậy 90% cho tham số ước lượng là [0,0009 ; 0,0183]
23
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
tương ứng khi các yếu tố trong MH3 không thay đổi nếu tốc độ vòng quay danh mục
đầu tư tăng 1 đơn vị thì trung bình hệ số JensenAlpha của quỹ tăng từ 0,0009 đơn vị đến
0,0183 đơn vị. Theo lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá APT thì ở một số thời điểm giá
chứng khoán trên thị trường chưa phản ánh đúng giá trị thật sự của chúng, do vậy việc
thực hiện mua bán chứng khoán thường xuyên nhằm tận dụng điều này có thể góp phần
gia tăng hiệu quả đầu tư. Quỹ thay đổi danh mục đầu tư trong từng giai đoạn tương ứng
với diễn biến của thị trường hoặc tìm được những cổ phiếu tiềm năng tăng trưởng tốt,
khi đó quỹ sẽ tìm giải pháp cơ cấu lại danh mục đầu tư của quỹ, thay thế một số cổ phiếu
trong danh mục đầu tư bằng những cổ phiếu tốt hơn nhằm đạt được hiệu quả đầu tư tốt
nhất. Đặc biệt nếu các nhà quản lý quỹ có thông tin giá trị thì họ có thể thực hiện giao
dịch nhiều hơn để nhắm vào các khoản đầu tư lợi nhuận nhiều hơn. Kết quả này ủng hộ
cho kết luận rằng các quỹ đầu tư cổ phiếu và các quỹ cân bằng với mức độ thường xuyên
35
105
1
2
3
4
5
6
7
8
trong việc thực hiện mua bán chứng khoán hơn so với quỹ trái phiếu sẽ có hiệu quả tốt
hơn. Hơn thế nữa, trong bối cảnh TTCK Việt Nam thì thị trường cổ phiếu vẫn có vai trò
quan trọng hơn cả so với thị trường trái phiếu hay chứng khoán phái sinh, vì vậy các
quỹ đầu tư trái phiếu hay quỹ cân bằng sẽ có lợi thế hơn trong những thời kỳ áp lực kinh
tế còn các quỹ cổ phiếu thì có nhiều cơ hội kinh doanh hưởng lợi hơn trong thời kỳ phát
triển kinh tế với những điểm thuận lợi khi thực hiện nhiều giao dịch cổ phiếu. Kết luận
của luận án về mối quan hệ thuận chiều giữa tốc độ vòng quay danh mục đầu tư và hiệu
quả hoạt động của quỹ tương tự với một số nghiên cứu của Grinblatt & Titman (1994),
Kaur (2018).
9
Biến Giới tính nhà quản lý quỹ, Với biến Giới tính được xây dựng dưới dạng biến
10
giả (0,1) và nhận biến Giới tính Nữ là biến cơ sở, MH1 có hệ số ước lượng của Giới tính
11
Nữ là -0,03001 và giá trị P-value = 0,027 nhỏ hơn mức ý nghĩa 5% nên có đủ bằng
12
chứng thống kê để kết luận có sự khác biệt về mức độ tác động của giới tính tới biến
13
phụ thuộc G_NAV. Khoảng tin cậy 95% cho tham số ước lượng của giới tính Nữ là [-
14
0,0566 ; -0,0034] tương ứng, khi các yếu tố khác trong mô hình không thay đổi nếu Nhà
15
quản lý là Nữ giới thì trung bình tăng trưởng NAV sẽ giảm trong khoảng từ 0,34 điểm
16
% đến 5,66 điểm %. Biến Giới tính Nữ trong MH2 có hệ số ước lượng là -0,15349 và
17
P-value = 0,0000 < mức ý nghĩa 1% nên đủ bằng chứng thống kê để kết luận có sự khác
18
biệt về tác động của giới tính Nhà quản lý tới biến phụ thuộc Sharperatio. Khoảng tin
19
cậy 95% cho tham số ước lượng là [-0,2201 ; -0,0868] tương ứng, khi các yếu tố khác
20
trong mô hình không thay đổi nếu Nhà quản lý có giới tính Nữ thì trung bình hệ số
21
Sharperatio sẽ thấp hơn so với Nhà quản lý có giới tính Nam từ 0,0868 đơn vị đến 0,2201
22
đơn vị. Biến Giới tính Nữ trong MH3 có hệ số ước lượng là -0,03142 và P-value = 0,02
23
< mức ý nghĩa 5% nên đủ bằng chứng thống kê để kết luận có sự khác biệt về tác động
24
của giới tính Nhà quản lý tới biến phụ thuộc JensenAlpha. Khoảng tin cậy 95% cho
25
tham số ước lượng là [-0,0578 ; -0,0049] tương ứng, khi các yếu tố khác trong mô hình
26
không thay đổi nếu Nhà quản lý có giới tính Nữ thì trung bình hệ số JensenAlpha của
27
quỹ sẽ thấp hơn so với quỹ có Nhà quản lý Nam từ 0,0049 đơn vị đến 0,0578 đơn vị. Ba
28
mô hình với biến phụ thuộc là G_NAV, hệ số Sharperatio và JensenAlpha đều có hệ số
29
ước lượng của biến Giới tính Nữ mang dấu âm với hệ số P-value < mức ý nghĩa 5% nên
30
đủ bằng chứng thống kê cho thấy nếu nhà quản lý là Nữ giới thì có khả năng hiệu quả
31
hoạt động của quỹ bị ảnh hưởng theo chiều hướng tiêu cực. Kết luận này tương tự với
32
nghiên cứu của Fang & Wang (2015), hay các nhà quản lý nữ thường có xu hướng “e
33
ngại rủi ro” hơn so với nam giới (Powell & Ansic, 1997), nên ảnh hưởng tới quyết định
34
đầu tư của quỹ và từ đó hiệu quả của quỹ cũng bị ảnh hưởng. Với đặc điểm giới tính thì
35
106
các nhà quản lý nam thường quyết đoán, táo bạo trong các quyết định, trong khi đó các
1
nhà quản lý nữ thường khéo léo, linh hoạt trong quản lý. Bên cạnh đó các nhà quản lý
2
nữ ở Việt Nam còn phải cân đối trách nhiệm trong công tác quản lý và trách nhiệm với
3
việc gia đình. Theo đó các nhà quản lý là nam giới sẽ có khả năng cống hiến và đóng
4
góp đáng kể cho hiệu quả hoạt động của quỹ, bên cạnh đó cũng rất cần những nhà quản
5
lý nữ trong ban điều hành để cân bằng lợi nhuận và rủi ro. Tuy nhiên, trái ngược với
6
nghiên cứu Hu & cộng sự (2012) ở thị trường chứng khoán Đài Loan khi các tác giả
7
chứng minh rằng nhà quản lý nữ hoạt động tốt hơn nam giới ở cả khía cạnh kiểm soát
8
chi phí và quản lý rủi ro. Giới tính của nhà quản lý còn ảnh hưởng đến quyết định đầu
9
tư của các nhà đầu tư vào quỹ, nghiên cứu của Atkinson & cộng sự (2003) chỉ ra rằng
10
các nhà đầu tư quỹ có xu hướng đầu tư vào quỹ có nhà quản lý là nam giới nhiều hơn.
11
Biến OVER: với biến OVER được xây dựng dưới dạng biến giả (0,1) và nhận
12
biến đào tạo Trong nước là biến cơ sở, MH1 có hệ số ước lượng của đào tạo Trong
13
nước là -0,01887 và MH3 có hệ số ước lượng là -0,01092 và giá trị P-value lớn hơn
14
mức ý nghĩa 5% nên không đủ bằng chứng thống kê để kết luận có sự khác biệt về mức
15
độ tác động của Nơi đào tạo trong nước hay nước ngoài tới biến phụ thuộc G_NAV và
16
biến phụ thuộc Jensen Alpha. Ngược lại, biến OVER trong MH2 có hệ số ước lượng
17
là -0,23587 và P-value = 0,000 < mức ý nghĩa 1% nên đủ bằng chứng thống kê để kết
18
luận có sự khác biệt về tác động của trình độ học vấn Nhà quản lý tới biến phụ thuộc
19
Sharperatio. Khoảng tin cậy 95% cho tham số ước lượng là [-0,3113 ; -0,1603] tương
20
ứng khi các yếu tố khác trong mô hình không thay đổi nếu Nhà quản lý được đào tạo
21
chính quy ở Trong nước thì trung bình hệ số Sharperatio sẽ thấp hơn so với Nhà quản
22
lý được đào tạo nước ngoài từ 0,1603 đơn vị đến 0,3113 đơn vị. Hệ số ước lượng của
23
biến độc lập Nơi đào tạo Trong nước theo cả 3 thước đo đều mang dấu âm và có ý
24
nghĩa thống kê với biến Sharperatio, như vậy đồng thuận với kết luận trong nghiên
25
cứu của Lee & cộng sự (2008) thì với dữ liệu các quỹ ở Việt Nam cho thấy các nhà
26
quản lý quỹ được đào tạo ở nước ngoài (các nước phát triển) sẽ đóng góp đáng kể vào
27
hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư mà họ quản lý, điều này được lý giải là vì các nhà
28
quản lý quỹ được đào tạo ở nước ngoài sẽ tiếp thu những kiến thức tiên tiến nhất, cách
29
đào tạo lý thuyết gắn với thực tiễn giúp người học hiểu về cơ chế vận hành, mối quan
30
hệ giữa các yếu tố trên thị trường tài chính, hơn nữa các nước phát triển có nền tài
31
chính phát triển sẽ giúp người học lĩnh hội được những kiến thức về tài chính tốt hơn.
32
Thứ hai, là họ có lợi thế khi có thể sử dụng tốt ngoại ngữ để mở rộng kiến thức chuyên
33
môn cũng như nắm bắt thông tin từ mạng lưới được tạo dựng trước đó, nhờ có lợi thế
34
thông tin từ đó góp phần gia tăng hiệu quả hoạt động của quỹ. Bên cạnh đó, thì với
35
107
biến phụ thuộc là G_NAV và JensenAlpha thì hệ số của biến OVER chưa có ý nghĩa
1
thống kê thể hiện tác động của việc các nhà quản lý quỹ được đào tạo ở nước ngoài đến
2
hiệu quả của quỹ đầu tư chưa được rõ nét. Như vậy, với kết quả này có thể thấy việc các
3
nhà quản lý quỹ có cơ hội tiếp cận với kiến thức chuyên môn được đào tạo bài bản ở
4
nước ngoài vẫn là một ưu thế vượt trội giúp các nhà quản lý quỹ có thể nắm bắt thời cơ
5
và quản lý danh mục đầu tư hiệu quả giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư.
6
Các nhà quản lý có chứng chỉ CFA sẽ là một lợi thế rất lớn, được chứng minh
7
trong nghiên cứu của Friis & Smit (2004), Fang & Wang (2015) khi nhà quản lý quỹ có
8
chứng chỉ CFA sẽ có tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt động của quỹ. Biến CFA cũng
9
được xây dựng dưới dạng biến giả (0,1) và nhận biến Không có chứng chỉ CFA là biến
10
cơ sở. Với dữ liệu quỹ ở Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu, các Nhà quản lý quỹ có
11
chứng chỉ CFA chiếm hơn 50% trong tổng các quan sát. Trong MH1, hệ số ước lượng
12
của biến Không CFA mang giá trị âm là -0,0391 với P-value = 0,004 nhỏ hơn mức ý
13
nghĩa 5% nên đủ bằng chứng thống kê cho rằng có sự khác biệt về hiệu quả hoạt động
14
của QĐT với các Nhà quản lý có chứng chỉ CFA. Khoảng tin cậy 95% của tham số ước
15
lượng là [-0,0659; -0,0123] được hiểu là với các quỹ đầu tư chứng khoán được điều hành
16
bởi Nhà quản lý quỹ có chứng chỉ CFA sẽ giúp gia tăng NAV và ngược lại. Đồng kết
17
quả nghiên cứu trong MH3, hệ số ước lượng của biến Không CFA mang giá trị âm là -
18
0,0262 với P-value = 0,038 nhỏ hơn mức ý nghĩa 5% nên đủ bằng chứng thống kê cho
19
rằng hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư với các Nhà quản lý Không CFA sẽ kém hơn
20
với các quỹ đầu tư được quản lý bởi Nhà quản lý có chứng chỉ CFA. Khoảng tin cậy
21
95% của tham số ước lượng là [-0,0509; -0,0014] tương ứng là với các QĐT được điều
22
hành bởi Nhà quản lý quỹ Không CFA có hệ số JensenAlpha giảm ít nhất là 0,0014 đơn
23
vị và giảm nhiều nhất là 0,0509 đơn vị. Chứng chỉ CFA là một chứng chỉ nghề nghiệp
24
thể hiện năng lực, tính chuyên nghiệp và đạo đức nghề nghiệp của giới đầu tư, theo phân
25
tích thống kê của nghiên cứu thì biến CFA có tác động tích cực tới biến hiệu quả hoạt
26
động của quỹ là G_NAV và Jensen Alpha, tức là quỹ được quản lý bởi những nhà quản
27
lý quỹ chuyên nghiệp có chứng chỉ CFA là một lợi thể trong việc phân tích đầu tư và
28
quản lý danh mục đầu tư hiệu quả.
29
Tuy nhiên, kết quả hồi qui của biến Không CFA trong MH2 cho kết quả ngược
30
lại với hệ số ước lượng là 0,06868 và P-value = 0,031 nhỏ hơn mức ý nghĩa 5% nên có
31
đủ bằng chứng thống kê để kết luận rằng Nhà quản lý quỹ Không có chứng chỉ CFA có
32
tác động tích cực tới biến phụ thuộc Sharperatio. Vì vậy, có thể thấy rằng vai trò của
33
chứng chỉ CFA chưa được thể hiện một cách rõ ràng với hiệu quả hoạt động của các
34
108
Nhà quản lý quỹ tại Việt Nam. Ở TTCK Việt Nam quỹ đầu tư chứng khoán mới hình
1
thành, vẫn đang trong quá trình xây dựng đội ngũ chuyên gia cũng như chuẩn hóa quy
2
trình phân tích đầu tư chứng khoán làm cơ sở ra quyết định đầu tư danh mục hiệu quả
3
mang lại mức sinh lời cao cho quỹ. Bên cạnh đó TTCK Việt Nam trong quá trình vận
4
hành vẫn đang tiếp tục hoàn thiện về hệ thống CNTT, hệ thống thành viên giao dịch tại
5
SGDCK, xử lý các vi phạm trong nghiệp vụ phát hành và giao dịch chứng khoán trên
6
thị trường… những điều này cũng ảnh hưởng đến quá trình phân tích và ra quyết định
7
đầu tư của các nhà quản lý quỹ.
8
Cả ba biến kiểm soát được đưa vào trong mô hình nghiên cứu đều có tương quan
9
ngược chiều với hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán, như biến LOAD có
10
hệ số ước lượng mang giá trị âm đối với biến hiệu quả G_NAV nhưng không có ý nghĩa
11
thống kê và hệ số Sharperatio có ý nghĩa thống kê phản ánh chi phí giao dịch chứng chỉ
12
quỹ làm ảnh hưởng không tốt tới hiệu quả hoạt động của quỹ; biến AGE có hệ số ước
13
lượng âm đối với hệ số JensenAlpha và có ý nghĩa thống kê tức là quỹ có thời gian hoạt
14
động dài lại không hiệu quả bằng những quỹ mới do các quỹ này không phản ứng nhanh
15
nhạy và kịp thời trước những biến động của thị trường, quy trình ra quyết định chậm
16
hay những yếu tố cho việc ra quyết định đầu tư không còn phù hợp trong tình hình mới,
17
tương tự với nghiên cứu Prather & cộng sự (2004), Fang & Wang (2015) chỉ ra các quỹ
18
hoạt động lâu lại có hiệu quả không cao, vì các nhà quản lý quỹ này đưa ra quyết định
19
dựa theo những kinh nghiệm đầu tư có thể không còn phù hợp trong tình hình hiện tại,
20
nhưng nghiên cứu cũng chỉ ra tác động tích cực của thời gian hoạt động quỹ và hiệu
21
quả hoạt động của quỹ thể hiện ở hệ số ước lượng đối với biến Sharperatio. Biến
22
INFLATION cũng có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của quỹ do cơ chế tác
23
động đến giá trị đồng tiền, giá cả hàng hóa làm cho hoạt động của các doanh nghiệp kém
24
hiệu quả hơn, do đó các quỹ đầu tư vào các doanh nghiệp này cũng bị ảnh hưởng, tương
25
đồng với kết quả trong nghiên cứu của Cheng & Dewi (2020).
26
Như vậy, với vị thế là nhà đầu tư tổ chức trên thị trường chứng khoán, quỹ đầu
27
tư đóng góp vào sự phát triển và ổn định của thị trường, có vai trò quan trọng trong việc
28
quản lý và tối ưu hóa các nguồn tài chính. Quỹ đầu tư chứng khoán hoạt động hiệu quả
29
sẽ là một trong những động lực to lớn cho sự phát triển thị trường, vì vậy việc nghiên
30
cứu các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ trở nên vô cùng cần thiết. Từ
31
kết quả nghiên cứu, có thể kết luận rằng trên thị trường chứng khoán Việt Nam, các quỹ
32
đầu tư hoạt động chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố bên trong quỹ. Bảng tổng hợp kết quả
33
tác động được thể hiện trong bảng sau:
34
109
1
Bảng 4.9. Tổng hợp kết quả nghiên cứu các nhân tố tác động đến hiệu quả
hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán
Nhân tố tác động
Kết quả nghiên cứu
Quy mô quỹ (SIZE)
(+)
Tỷ lệ chi phí hoạt động (EXPENSE)
(-)
Tốc độ vòng quay danh mục (TURNOVER)
(+)
Giới tính nhà quản lý quỹ: Nữ (GENDER)
(-)
Chứng chỉ CFA của nhà quản lý quỹ (CFA)
(+/-)
Nhà quản lý quỹ được đào tạo ở trong nước (OVER)
(-)
Phí giao dịch tài sản của quỹ (LOAD)
(-)
Thời gian hoạt động của quỹ (AGE)
(-)
Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam (INFLATION)
(-)
2
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)
3
Thứ nhất là quy mô quỹ (SIZE), thể hiện qua tổng giá trị tài sản của quỹ, tức là
4
giá trị thị trường của danh mục đầu tư mà quỹ nắm giữ, chỉ tiêu này được chứng minh
5
là có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của quỹ, hay các quỹ nỗ lực tăng quy mô
6
tài sản thì có cơ hội gia tăng hiệu quả hoạt động của quỹ. Ngành quản lý quỹ Việt Nam
7
mới ra đời từ năm 2003, chỉ sau 3 năm kể từ khi thị trường chứng khoán đi vào vận
8
hành (năm 2000) nhưng vẫn còn rất non trẻ so với ngành quỹ thế giới, vì vậy quy mô
9
quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam còn khá khiêm tốn, việc tăng cường mở rộng quy
10
mô quỹ đồng nghĩa với việc thu hút thêm các nhà đầu tư chứng chỉ quỹ, gia tăng giá
11
trị tài sản mà quỹ quản lý, góp phần nâng cao vị thế của ngành quỹ trên thị trường
12
chứng khoán. Khác với nhiều nghiên cứu trên thế giới (Farid & Wahba, 2022; Xuemin,
13
2008) lại cho kết quả tác động ngược chiều giữa quy mô quỹ với hiệu quả của quỹ,
14
hay các quỹ càng lớn thì càng bị giảm lợi nhuận, khi đó lợi thế kinh tế theo quy mô bị
15
lấn át bởi vấn đề thanh khoản khiến các quỹ trở nên kém hiệu quả hơn. Hay như trong
16
nghiên cứu Tang & cộng sự (2012) kết luận rằng tồn tại mối quan hệ theo hình chữ U
17
ngược giữa quy mô quỹ và hiệu quả hoạt động của quỹ, tức là ở một quy mô nhất định
18
thì hiệu quả hoạt động của quỹ tăng theo mức tăng của quy mô quỹ, nhưng sau đó nếu
19
quy mô quỹ tăng quá lớn thì hiệu quả của quỹ lại có xu hướng giảm, được giải thích
20
thông qua vấn đề lợi thế kinh tế theo quy mô và tính thanh khoản của danh mục chứng
21
khoán mà quỹ đang nắm giữ. Dữ liệu tổng tài sản của các quỹ ở Việt Nam lớn nhất
22
110
trong mẫu nghiên cứu cũng chỉ đang ở mức 1.988 tỷ VNĐ, vẫn là những mức tổng tài
1
sản nhỏ nên có thể tận dụng được tính kinh tế theo quy mô, vì vậy mới thấy quỹ càng
2
lớn thì càng có hiệu quả. Kết luận này đồng thuận với nghiên cứu của Michelson &
3
cộng sự (2008), Reuter & Zitzewitz (2010) về mối quan hệ cùng chiều giữa hiệu quả
4
của quỹ và quy mô quỹ.
5
Thứ hai là tỷ lệ chi phí hoạt động (EXPENSE): Đây là chỉ tiêu phản ánh khả năng
6
hoạt động của quỹ, đo lường tỷ lệ chi phí hoạt động so với giá trị tài sản ròng của quỹ.
7
Giống như các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế, việc kiểm
8
soát tốt các khoản chi phí trong doanh nghiệp sẽ góp phần gia tăng lợi nhuận và hiệu quả
9
của doanh nghiệp, các quỹ đầu tư nếu kiểm soát tốt các khoản chi phí hoạt động và đảm
10
bảo duy trì được tỷ lệ chi phí hoạt động trên giá trị tài sản ròng của quỹ ở mức thấp sẽ góp
11
phần gia tăng hiệu quả hoạt động của quỹ. Điều này đã được chứng minh trong rất nhiều
12
nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam như nghiên cứu của Carhart (1997), Otten & Bams
13
(2002), Ferreira & cộng sự (2013), Nguyễn Hồng Nga & Nguyễn Thị Thu Trang Trang
14
(2022)... càng ủng hộ cho quan điểm giảm tỷ lệ chi phí hoạt động góp phần nâng cao hiệu
15
quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán. Bên cạnh đó vẫn có một số nghiên cứu chỉ ra
16
tỷ lệ chi phí tác động thuận chiều tới hiệu quả hoạt động của quỹ (Nazir & Nawaz (2010),
17
Rehman & Baloch (2016), Rao & cộng sự (2017)…), hay không có tác động đến hiệu
18
quả hoạt động của quỹ (Bechmann & Rangvid (2007), Garyn-Tal (2015)...)
19
20
21
22
23
24
Thứ ba là chỉ tiêu vòng quay danh mục đầu tư (TURNOVER): Chỉ tiêu này phản
ánh mức độ thường xuyên giao dịch chứng khoán của quỹ đầu tư, cũng cho biết chiến
lược quản lý danh mục đầu tư mà quỹ đang theo đuổi. Theo kết quả nghiên cứu của luận
án, tốc độ vòng quay danh mục đầu tư tỷ lệ thuận với hiệu quả hoạt động của quỹ, hay
các quỹ tăng cường mua bán chứng khoán sẽ gia tăng hiệu quả hoạt động. Điều này phù
hợp trong bối cảnh các quỹ chủ động theo dõi sát sao các thông tin trên thị trường chứng
25
26
27
28
khoán và thường xuyên thực hiện các giao dịch mua bán nhằm đạt được mức tỷ suất
sinh lời tối ưu hơn so với thị trường chung cũng như so với chiến lược quản lý danh mục
đầu tư bị động. Kết quả này đồng thuận với một số nghiên cứu Grinblatt & Titman
(1994), Wermers (2000), Kaur (2018)…
29
30
31
32
33
Thứ tư là đặc điểm của nhà quản lý quỹ (được thể hiện qua một số đặc điểm như
giới tính - GENDER, trình độ học vấn - CFA, OVER) có tác động đáng kể đến hiệu quả
hoạt động của quỹ vì họ là những người trực tiếp ra quyết định đầu tư của quỹ nhằm đạt
mục tiêu đề ra. Nếu quỹ được điều hành bởi những các nhà quản lý nam được chứng
minh là có hiệu quả hơn, do nam giới có những tính cách quyết đoán hơn cũng như chấp
34
111
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
nhận mạo hiểm để đạt được lợi nhuận cao, quyết định đầu tư của nam giới thường nhanh
chóng và dứt khoát giúp tận dụng thời cơ thuận lợi của thị trường. Kết luận này phù hợp
với thị trường chứng khoán ở nhiều nước trên thế giới, và cũng đồng thuận với nghiên
cứu Fang & Wang (2015). Bên cạnh đó thì vai trò của nhà quản lý nữ cũng rất quan
trọng trong việc kiểm soát rủi ro và giảm chi phí, những nhà quản lý có thể phân tích
tổng thể về thị trường để có những bước đi đúng đắn, đặc biệt trong những giai đoạn thị
trường có biến động xấu. Đặc biệt các nhà quản lý quỹ nữ ở thị trường chứng khoán Đài
Loan lại được chứng minh rằng hoạt động tốt hơn ở cả hai khía cạnh kiểm soát chi phí
và quản lý rủi ro (theo nghiên cứu của Hu & cộng sự (2012)). Ngoài ra, hầu hết các nhà
quản lý quỹ của Việt Nam đều được đào tạo bài bản ở các nước phát triển nên có cơ hội
tiếp thu những kiến thức nền tảng và hiện đại về tài chính, làm cơ sở để họ nghiên cứu
phân tích thị trường chuyên sâu và có các quyết định đầu tư phù hợp.
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
Một số các nhân tố khác thuộc đặc điểm của quỹ là phí giao dịch tài sản của quỹ
(LOAD) và thời gian hoạt động của quỹ (AGE); nhân tố thể hiện đặc điểm riêng của
nền kinh tế và TTCK Việt Nam là tỷ lệ lạm phát hàng tháng (INFLATION) được đưa
vào mô hình nghiên cứu với vai trò là biến kiểm soát để đảm bảo tính tin cậy của nghiên
cứu mà vẫn tập trung vào việc nghiên cứu mối quan hệ của các biến chính. Với kết quả
của mô hình cho thấy phí giao dịch tài sản của quỹ có tác động ngược chiều tới hiệu quả
hoạt động của quỹ tương tự như tác động của thời gian hoạt động của quỹ. Kết quả này
được giải thích là do phí giao dịch chứng chỉ quỹ tăng lên sẽ làm giảm hiệu quả của quỹ
do nhiều nhà đầu tư không sẵn sàng chi trả những khoản phí này nên ảnh hưởng tới dòng
tiền nhà đầu tư góp vào quỹ, từ đó làm giảm quy mô vốn đầu tư của quỹ nên tác động
đến hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư; kết quả này tương đồng với kết luận trong nghiên
cứu của Dellva & Olson (1998); Prather & cộng sự (2004). Những quỹ có thời gian hoạt
động lâu trên thị trường lại kém năng động hơn những quỹ mới, danh mục đầu tư của
các quỹ này thường dựa trên những giá trị lịch sử không còn phù hợp với tình hình hiện
tại, theo lý thuyết tài chính hành vi yếu tố thiện lệch do quá tự tin hay do bảo thủ nên
27
28
29
30
31
32
33
34
một số quỹ lâu đời lại có hiệu quả thấp hơn những quỹ mới; hơn nữa nhiều quỹ mới ra
đời bởi các tổ chức tài chính lớn mạnh nên có quỹ vốn dồi dào, đầu tư lớn cho công
nghệ và đội ngũ quản lý quỹ nên có nhiều lợi thế khi hoạt động, kết quả này đồng thuận
với một số nghiên cứu của Prather & cộng sự (2004), Fang & Wang (2015). Xét đến
yếu tố bên ngoài quỹ, có thể thấy lạm phát vẫn thể hiện tác động tiêu cực đến hiệu quả
hoạt động của quỹ do lạm phát cao thì hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp bị ảnh hưởng, dẫn tới danh mục đầu tư của quỹ với các doanh nghiệp trên cũng
kém hiệu quả hơn, kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Cheng & Dewi (2020).
35
112
1
2
CHƯƠNG 5:
MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
3
4
5
6
5.1. Định hướng phát triển thị trường chứng khoán và quỹ đầu tư chứng
khoán tại Việt Nam trong thời gian tới
7
5.1.1. Định hướng phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới
8
9
10
11
12
13
14
15
16
Theo quyết định số 1726/QĐ-TTg ngày 29/12/2023 về việc phê duyệt Chiến lược
phát triển Thị trường chứng khoán đến năm 2030, với mục tiêu tổng quát là: “phát triển
TTCK ổn định, an toàn, lành mạnh, hiệu quả, bền vững, hội nhập; nâng cao khả năng
chống chịu rủi ro, có cơ cấu hợp lý giữa các cấu phần thị trường, trở thành kênh huy
động vốn trung và dài hạn quan trọng, chủ yếu cho nền kinh tế; duy trì tăng trưởng về
quy mô, chú trọng nâng cao chất lượng; phát triển các công cụ tài chính xanh; xây dựng
hệ thống quản lý, giám sát thị trường gắn với ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại;
tăng cường liên kết và hội nhập quốc tế, từng bước thu hẹp về khoảng cách phát triển
giữa TTCK Việt Nam so với TTCK các nước phát triển”.
17
Mục tiêu cụ thể:
18
19
20
21
22
23
Về quy mô thị trường: quy mô vốn hóa thị trường cổ phiếu đạt 100% GDP vào
năm 2025 và đạt 120% GDP vào năm 2030. Dư nợ thị trường trái phiếu đạt tối thiểu
47% GDP (trong đó dư nợ thị trường trái phiếu doanh nghiệp đạt tối thiểu 20% GDP)
vào năm 2025 và đạt tối thiểu 58% GDP (trong đó dư nợ thị trường trái phiếu doanh
nghiệp đạt tối thiểu 25% GDP) vào năm 2030; TTCK phái sinh tăng trưởng trung bình
khoảng 20% - 30% mỗi năm trong giai đoạn 2021 - 2030.
24
25
26
Về số lượng tài khoản của nhà đầu tư: số lượng tài khoản giao dịch chứng khoán
của nhà đầu tư trên TTCK đạt 9 triệu tài khoản vào năm 2025 và 11 triệu tài khoản vào
năm 2030, trong đó tập trung phát triển nhà đầu tư có tổ chức, nhà đầu tư chuyên nghiệp
27
28
29
và thu hút sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài. Tăng tỷ trọng trái phiếu Chính phủ
do nhà đầu tư là tổ chức phi ngân hàng nắm giữ lên mức 55% vào năm 2025 và 60%
vào năm 2030.
30
31
32
Về nâng cao chất lượng thị trường: nâng cao chất lượng quản trị công ty niêm
yết trên mức bình quân khu vực Đông Nam Á; áp dụng thông lệ tốt về tiêu chuẩn môi
trường, xã hội và quản trị công ty (tiêu chuẩn ESG) tại các Sở giao dịch chứng khoán
33
và Tổng công ty lưu ký và bù trừ chứng khoán Việt Nam hướng tới yếu tố phát triển bền
34
113
1
2
3
vững theo thông lệ quốc tế. Hoàn thành việc phân bảng cổ phiếu niêm yết tại Sở giao
dịch chứng khoán trong năm 2025. Phấn đấu đến năm 2025 nâng hạng TTCK Việt Nam
từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi theo tiêu chuẩn phân hạng TTCK của các
tổ chức quốc tế.
4
5
6
7
Về hội nhập quốc tế: thị trường chứng khoán Việt Nam tích cực hội nhập thị trường
tài chính, chứng khoán thế giới, đáp ứng yêu cầu về an ninh tài chính, nâng cao khả năng
cạnh tranh, quản trị rủi ro, đưa vào áp dụng các chuẩn mực và thông lệ quốc tế; hướng tới
đạt trình độ phát triển của nhóm 4 nước dẫn đầu khu vực ASEAN vào năm 2025.
8
9
5.1.2. Định hướng phát triển quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng
khoán Việt Nam trong thời gian tới
10
11
12
13
14
Vụ quản lý quỹ - UBCKNN xác định để thúc đẩy sự phát triển hoạt động của các
công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam, đáp ứng mục tiêu chiến lược
của Chính phủ trong việc tập trung phát triển nhà đầu tư có tổ chức, nha đầu tư chuyên
nghiệp và thu hút sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài. Trong thời gian tới cần thực
hiện tốt các mục tiêu sau:
15
16
17
18
Thứ nhất, nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty quản lý quỹ, đảm bảo
năng lực và an toàn tài chính, tiếp cận và thực hiện việc quản trị công ty, quản trị rủi ro
cũng như tuân thủ các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp cao nhất theo thông lệ quốc tế.
Phấn đấu đến năm 2030 quy mô quản lý tài sản đạt khoảng 6-10% GDP.
19
Thứ hai, phát triển và đa dạng hóa các loại hình quỹ đầu tư, trong đó cần thúc
20
đẩy quỹ hưu trí, các loại hình quỹ mới.
21
22
23
24
25
Thứ ba, nâng cao năng lực của các công ty quản lý quỹ (năng lực tài chính, năng
lực cung cấp dịch vụ, năng lực cạnh tranh và quản trị rủi ro). Cùng với đó là mở cửa thị
trường dịch vụ quản lý tài sản theo lộ trình hội nhập đã cam kết, kết hợp với việc nâng
cao sức cạnh tranh của quản lý quỹ tại Việt Nam, nâng cao năng lực và chất lượng dịch
vụ quản lý tài sản, năng lực quản trị rủi ro, đạo đức nghề nghiệp và năng lực quản trị
doanh nghiệp.
26
27
28
29
5.2. Một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư
chứng khoán trên Thị trường chứng khoán Việt Nam
30
5.2.1. Một số khuyến nghị đối với công ty quản lý quỹ
31
5.2.1.1 Gia tăng quy mô quỹ đầu tư chứng khoán
32
33
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của các công ty quản lý quỹ là phải gia tăng
quy mô quỹ, huy động được nhiều nhà đầu tư tham gia vào quỹ tạo điều kiện gia tăng
34
114
1
2
giá trị tài sản của quỹ. Quy mô quỹ ngày càng gia tăng trong giai đoạn hiện nay và trong
tương lai gần vẫn sẽ là yếu tố giúp quỹ đạt được hiệu quả hoạt động. Để làm được điều
này các công ty quản lý quỹ nên thực hiện một số các công tác sau:
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
Xây dựng hệ thống kênh phân phối chứng chỉ quỹ rộng khắp và thuận tiện cho nhà
đầu tư theo xu hướng chuyển đổi số hiện nay. Chứng chỉ quỹ cần được tiếp tục phân
phối thông qua các ứng dụng riêng của công ty quản lý quỹ, đẩy mạnh qua ứng dụng
của các ngân hàng thương mại, ứng dụng của công ty chứng khoán và ứng dụng của
công ty Fintech. Khi đó nhà đầu tư có thể dễ dàng thông qua tài khoản chứng khoán hay
ngân hàng của mình để tiếp cận nhiều quỹ đầu tư ngay trên một nền tảng, theo dõi và
quản lý tiền một cách dễ dàng. Triển khai số hóa sản phẩm tài chính của quỹ đầu tư trên
TTCK như chuẩn hóa hoạt động mở tài khoản trực tuyến (e-contract), xác thực khách
hàng trực tuyến (EKYC)...; hoàn thiện các ứng dụng đầu tư và giao dịch trực tuyến
chứng chỉ quỹ, triển khai các tính năng đặt lệnh giao dịch mua bán chứng chỉ quỹ cho
nhà đầu tư, tính năng cập nhật các thông tin về chứng chỉ quỹ theo thời gian; phát triển
một số các tính năng bổ sung khác như lên kế hoạch tài chính cá nhân, tính toán và phân
bổ dòng tiền đầu tư dự kiến…; tăng cường bảo mật thông tin và an ninh mạng trên hệ
thống các ứng dụng phân phối chứng chỉ quỹ. Điều này giúp đón đầu tệp khách hàng
mới là những người trẻ thường thực hiện các giao dịch online và hỗ trợ các nhà đầu tư
chứng chỉ quỹ thực hiện các giao dịch thuận tiện, hiệu quả và an toàn hơn. Bên cạnh đó
khách hàng cũng có thể giao dịch trực tiếp qua các công ty chứng khoán, công ty quản
lý quỹ và đặc biệt là hệ thống phòng giao dịch và chi nhánh của các ngân hàng thương
mại trên toàn quốc. Hiện nay công chúng đầu tư chủ yếu biết đến công ty chứng khoán
với nghiệp vụ môi giới chứng khoán, vì vậy cần xây dựng chính sách hấp dẫn để thu hút
các công ty chứng khoán tham gia phân phối chứng chỉ quỹ tích cực và hiệu quả. Tại
Việt Nam, các NHTM tham gia rộng khắp trên thị trường tài chính, với hệ thống các
phòng giao dịch, chi nhánh trải khắp cả nước và không ngừng mở rộng, vì vậy việc
phối hợp với các NHTM để tận dụng kênh phân phối này chắc chắn mang lại lợi thế
27
gia tăng quy mô quỹ nhanh chóng cho các quỹ đầu tư chứng khoán tại Việt Nam.
28
29
30
31
32
Áp dụng các công nghệ tài chính mới (Fintech) trong hoạt động của các quỹ đầu
tư. Các công ty quản lý quỹ nên nghiên cứu hợp tác với các công ty fintech có tên tuổi
trên thị trường (như Zalopay, Momo, Fireant, Fincorp…) để hình thành hệ sinh thái
tài chính, tích hợp hệ thống thanh toán trong đầu tư chứng chỉ quỹ, nhanh chóng số
hóa các sản phẩm tài chính để tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư và thu hút các nhà đầu
33
34
tư trên thị trường với “một chạm đa nền tảng”. Trên nền tảng của các công ty fintech
tích hợp các tính năng giúp nhà đầu tư thiết lập chiến lược đầu tư và theo dõi thị trường
35
115
1
2
3
4
5
6
7
8
dễ dàng mà không tốn nhiều thời gian do nền tảng fintech có thể tiến hành tổng hợp và
thống kê những diễn biến chung nhất của thị trường. Sự hợp tác chặt chẽ giữa các công
ty quản lý quỹ với các công ty công nghệ tài chính giúp tạo ra hệ sinh thái đa dạng tập
hợp nhiều loại chứng chỉ quỹ mở giúp nhà đầu tư thuận tiện và dễ dàng tiếp cận, so sánh
thông tin làm cơ sở ra quyết định đầu tư chứng chỉ quỹ, góp phần tạo ra nhiều giao dịch
sôi động cho thị trường chứng chỉ quỹ. Điều này không chỉ giúp các quỹ đầu tư gia tăng
công nghệ trong hoạt động mà còn có thể thu hút và tận dụng lượng lớn khách hàng sẵn
có của những công ty fintech này, thực hiện thành công mục tiêu thu hút các nhà đầu tư
vào quỹ giúp gia tăng quy mô của quỹ đầu tư chứng khoán.
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
Thu hút các nhà đầu tư vào quỹ bằng hàng loạt các hoạt động cung cấp thông tin
trên thị trường chứng khoán như: Thường xuyên cung cấp các thông tin hoạt động của
quỹ qua các báo cáo hoạt động, báo cáo tài chính…; Xây dựng và triển khai các chương
trình giáo dục kiến thức về quỹ đầu tư thông qua các phương tiện truyền thông như trang
web của công ty quản lý quỹ, trang tin tức về chứng khoán uy tín… để công chúng tiếp
cận nhiều hơn với loại hình quỹ đầu tư chứng khoán này; Đẩy mạnh tuyên truyền tới
các nhà đầu tư về các chính sách của cơ quan quản lý, các sản phẩm mới của quỹ đầu
tư, cảnh báo những thông tin giả trên thị trường; Tăng mức độ nhận diện thương hiệu
về công ty quản lý quỹ và quỹ đầu tư chứng khoán bằng việc xây dựng nội dung xung
quanh từ khóa liên quan đến lĩnh vực tài chính như “tài chính cá nhân, tự do tài chính,
đầu tư hiệu quả”… trên nền tảng website và các trang mạng xã hội; tận dụng tập khách
hàng rất lớn từ các nền tảng số, các công ty quản lý quỹ cũng có thể xem xét xây dựng
các tài khoản chính thức của công ty để truyền tải các thông tin tới đối tượng khách hàng
trẻ và năng động thường xuyên sử dụng các nền tảng số và mạng xã hội; Cung cấp các
tài liệu nghiên cứu, các tài khoản dùng thử…để nhà đầu tư trải nghiệm với các tính năng
tương tự như tài khoản thực.
25
26
27
28
29
30
31
32
Tổ chức thường kỳ các hội nghị, diễn đàn tổng kết thị trường, hoạt động của quỹ
trong thời gian vừa qua và bàn luận về chiến lược đầu tư chứng khoán trong thời gian
tới, tăng cường chia sẻ và phân tích từ công ty quản lý quỹ nhất là tại những thời điểm
thị trường biến động với sự tham gia của các bên có uy tín như đại diện UBCKNN, Vụ
quản lý quỹ, đại diện một số ngân hàng TMCP, những nhân vật nổi tiếng trong giới đầu
tư tài chính…có thể được phát trực tiếp trên truyền hình hoặc trực tuyến qua các nền
tảng ứng dụng online để tăng cường nhận diện thương hiệu của quỹ đầu tư chứng khoán,
giúp công chúng đầu tư trước tiên là quen thuộc với sự có mặt của các quỹ đầu tư chứng
33
34
khoán trên thị trường, hiểu hơn về hoạt động của quỹ đầu tư cũng như lợi ích của nhà
đầu tư khi tham gia đầu tư chứng chỉ quỹ, để quỹ đầu tư chứng khoán trở thành một
35
116
1
2
3
kênh đầu tư phổ biến, hấp dẫn và tối ưu cho các nhà đầu tư, đặc biệt là những nhà đầu
tư nhỏ lẻ. Các công ty quản lý quỹ chủ động xây dựng kế hoạch định kỳ phát triển nội
dung về đầu tư chứng khoán nói chung và đầu tư chứng chỉ quỹ nói riêng triển khai đến
các cá nhân thông qua các buổi hội thảo trực tiếp hoặc trực tuyến.
4
Các công ty quản lý quỹ phối hợp với các công ty chứng khoán xây dựng và triển
5
khai nền tảng giao dịch chứng chỉ quỹ tập trung, được cấp giấy phép bởi UBCKNN. Thị
6
trường có sàn giao dịch tập trung giúp cả nhà đầu tư và các công ty quản lý quỹ tiến
7
hành giao dịch thuận tiện và dễ dàng, các công ty chứng khoán tăng cường uy tín và độ
8
nhận diện với công chúng đầu tư. Cụ thể, các nhà đầu tư có thể cùng lúc tiếp cận nhiều loại
9
chứng chỉ quỹ của các quỹ đầu tư khác nhau, có cơ sở để so sánh đánh giá các chứng chỉ
10
quỹ làm cơ sở đầu tư chứng chỉ quỹ theo mục tiêu đầu tư của mình, không mất phí cho đại
11
lý phân phối chứng chỉ quỹ vì theo quy định các đại lý duy trì hoạt động dựa trên hoa hồng
12
phân phối nhận từ các đơn vị phát hành, nhà đầu tư có thể thực hiện đầu tư cổ phiếu và
13
chứng chỉ quỹ trên một ứng dụng duy nhất của công ty chứng khoán. Các công ty quản lý
14
quỹ cũng dễ dàng tương tác và phục vụ các nhà đầu tư, kể cả các nhà đầu tư nhỏ lẻ. Các
15
công ty chứng khoán tham gia phân phối chứng chỉ quỹ vừa có cơ hội tăng lợi nhuận từ hoa
16
hồng nhận được từ các công ty quản lý quỹ, vừa phát triển thêm tệp khách hàng mới và giữ
17
chân các khách hàng hiện tại do nền tảng của công ty chứng khoán mở rộng phục vụ khách
18
hàng với nhiều loại chứng khoán hơn bên cạnh cổ phiếu, trái phiếu.
19
5.2.1.2. Kiểm soát tỷ lệ chi phí hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán
20
Kiểm soát tỷ lệ chi phí hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán là một công tác
21
quan trọng trong hoạt động điều hành quỹ, vì đây nhân tố ảnh hưởng lớn tới chi phí của
22
quỹ và tác động đến hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán. Một số giải pháp
23
cụ thể như:
24
25
26
27
28
29
30
31
32
33
Các công ty quản lý quỹ cần tính toán và kiểm soát tỷ lệ chi phí hoạt động ở mức
hợp lý. Tỷ lệ này được tính toán với giá trị trung bình là 1,87%, đây là một con số tham
khảo cho các quỹ và các nhà đầu tư so sánh với tỷ lệ chi phí của một quỹ cụ thể để có
thể thấy được mức độ chi phí trong hoạt động của quỹ đầu tư, từ đó có những điều chỉnh
phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả của quỹ. Căn cứ vào thành phần của chi phí hoạt động,
có thể thấy chi phí trả cho công ty quản lý quỹ thường là khoản chi phí thành phần lớn
nhất, vì vậy kiểm soát chi phí này bằng cách công ty quản lý quỹ phát triển và điều hành
tập hợp nhiều quỹ có thể tối ưu chi phí trên những phân tích đánh giá thị trường. Bên
cạnh đó công ty quản lý quỹ cũng cần kiểm soát các khoản chi phí thành phần khác
trong chi phí hoạt động quỹ như chi phí lưu ký tài sản, chi phí giảm sát trả cho ngân
34
117
1
2
3
4
5
6
hàng giám sát; chi phí dịch vụ quản trị quỹ, chi phí dịch vụ đại lý chuyển nhượng và các
chi phí khác mà công ty quản lý quỹ trả cho tổ chức cung cấp dịch vụ có liên quan; chi
phí kiểm toán trả cho tổ chức kiểm toán…bằng cách hợp tác lâu dài với những đối tác uy
tín và phù hợp để có thể thương lượng các mức phí tối ưu nhất. Trong số các nhân tố tác
động đến hiệu quả đầu tư của quỹ đầu tư chứng khoán thì nhân tố về chi phí hoạt động có
tác động mạnh nhất tới HQHĐ của quỹ, vì vậy việc giảm được chi phí này sẽ góp phần
tăng HQHĐ của quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
7
Triển khai ứng dụng công nghệ trong hoạt động của công ty quản lý quỹ, chẳng
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
hạn như bộ phận phân tích và đầu tư chứng khoán sẽ ứng dụng các phần mềm tích hợp
để thay thế các công việc thủ công nhằm tinh giản đội ngũ nhân sự, giúp tiết kiệm chi
phí quản lý phải trả cho công ty quản lý quỹ. Công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động
hóa quy trình (RPA) có thể thay thế các tác vụ thủ công như xử lý dữ liệu, lập báo cáo tài
chính hoặc theo dõi danh mục đầu tư. Điều này giúp giảm chi phí nhân sự cho các công
việc lặp lại. Công nghệ chatbot và các công cụ tự động hóa dịch vụ khách hàng giúp giải
đáp thắc mắc của nhà đầu tư nhanh chóng và hiệu quả, giúp cải thiện trải nghiệm của nhà
đầu, xây dựng niềm tin và sự gắn bó của nhà đầu tư đối với quỹ đầu tư chứng khoán.
Các công ty quản lý quỹ chủ động gia nhập công cuộc chuyển đổi số đang diễn ra mạnh
mẽ trong các nền kinh tế trên thế giới cũng như ở Việt Nam để tận dụng những lợi ích
to lớn mà công nghệ mang lại, góp phần phát triển đã dạng các sản phẩm quỹ phù hợp
với nhu cầu và mục tiêu của các nhà đầu tư, thu hút các nhà đầu tư đồng thời tối ưu hóa
các hoạt động của quỹ đầu tư.
21
22
23
24
25
26
27
28
29
30
Theo dõi và đánh giá thường xuyên công tác quản lý chi phí của quỹ đầu tư chứng
khoán. Sử dụng các công cụ phân tích và chỉ tiêu đo lường các khoản chi phí thành phần
trong chi phí hoạt động của quỹ đầu tư, đưa ra điểm chuẩn cho các khoản chi phí này và
quản lý thường xuyên các khoản chi phí không bị vượt giới hạn đề ra. Tiết kiệm các
khoản chi phí hành chính, in ấn tài liệu bằng việc chuyển các dữ liệu dạng này cho các
nhà đầu tư và các bên liên quan trên các ứng dụng trực tuyến được áp dụng. Phân tích
cân đối lợi ích và chi phí khi thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán của quỹ đầu
tư, trong đó có tính đến yếu tố tiết kiệm chi phí môi giới khi giảm các giao dịch mua
bán chứng khoán và lợi nhuận từ việc mua bán chứng khoán trong các trường hợp tận
dụng chênh lệch giá trên thị trường.
31
5.2.1.3. Gia tăng tốc độ vòng quay danh mục của quỹ đầu tư chứng khoán
32
33
34
Các quỹ chủ động và thường xuyên quay vòng danh mục đầu tư của mình cũng
sẽ có cơ hội gia tăng hiệu quả hoạt động, tận dụng sự biến động giá qua các thời kỳ để
đầu tư sinh lời. Vì vậy các công ty quản lý quỹ cần:
35
118
Áp dụng chiến lược quản lý chủ động, tích cực tham gia đầu tư giao dịch chứng
1
khoán trên thị trường, đa dạng hóa danh mục đầu tư và tận dụng các cơ hội thị
2
trường mang lại đối với diễn biến giá của các chứng khoán trên thị trường cũng như
3
phù hợp với mục tiêu đầu tư của quỹ. Xác định mục tiêu lợi nhuận ứng với rủi ro
4
chấp nhận của quỹ phù hợp với loại hình quỹ (là quỹ cổ phiếu, quỹ trái phiếu hay
5
quỹ cân bằng), mục tiêu này được công bố rộng rãi tới ban đại diện quỹ để có thể
6
thông tin tới các nhà đầu tư của quỹ. Các công ty quản lý quỹ chủ động thu thập
7
thông tin và phân tích xử lý các thông tin về thị trường chứng khoán và các loại
8
chứng khoán để đưa ra các dự báo hợp lý về diễn biến giá chứng khoán trên thị
9
trường nhằm tận dụng các cơ hội mà thị trường mang lại. Việc quản lý quỹ theo
10
chiến lược chủ động được thực hiện bởi các chuyên gia ngành quỹ sẽ góp phần
11
mang lại hiệu quả cho các quỹ đầu tư trên thị trường. Từ những nhận định có cơ sở
12
vững chắc được đưa ra bởi các chuyên gia của công ty quản lý quỹ, các quỹ đầu tư
13
ra quyết định giao dịch chứng khoán theo mục tiêu và chiến lược đầu tư của quỹ,
14
tăng tốc độ vòng quay danh mục quỹ nhằm tăng khả năng sinh lời từ đầu tư chứng
15
khoán và nâng cao hiệu quả hoạt động của quỹ.
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
26
27
Đẩy mạnh chiến lược đầu tư theo xu hướng, tận dụng các biến động của thị
trường. Các nhà quản lý quỹ thường xuyên theo dõi và nắm bắt xu hướng của thị trường
để gia tăng giao dịch khi cổ phiếu hoặc các tài sản khác có xu hướng tăng hoặc giảm rõ
ràng. Thực hiện các giao dịch liên quan đến các sự kiện lớn của các công ty niêm yết
trên thị trường chứng khoán như phát hành cổ phiếu mới, chia cổ tức hay các tin tức sự
kiện liên quan đến các doanh nghiệp có tác động mạnh đến giá cổ phiếu cũng như các
tài sản khác để có các quyết định đầu tư kịp thời và hiệu quả. Ngoài những nhân tố nội
tại bên trong của các doanh nghiệp niêm yết thì một số nhân tố khách quan thuộc về môi
trường vĩ mô cũng có tác động rất lớn tới giá cổ phiếu trên thị trường, khi đó các quỹ
đầu tư sẵn sàng nguồn tiền mặt sẽ có cơ hội tận dụng ngay những biến động mạnh từ giá
chứng khoán bằng việc mua vào các chứng khoán có nền tảng cơ bản tốt tạm thời bị
biến động giảm giá theo thị trường chung nhưng sau đó chắc chắn sẽ về giá trị thực của
28
chứng khoán.
29
5.2.1.4. Nâng cao trình độ của nhà quản lý quỹ đầu tư chứng khoán
30
Trình độ học vấn thể hiện ở việc nhà quản lý quỹ được đào tạo ở nước ngoài hay
31
có chứng chỉ CFA vẫn là một lợi thế lớn, chắc chắn thị trường tài chính Việt Nam vẫn
32
cần các nhà quản lý giỏi được tiếp thu những kiến thức tiên tiến trên thế giới để vận
33
dụng có hiệu quả ở thị trường Việt Nam. Vì vậy các công ty quản lý quỹ cần:
34
119
Đưa ra những tiêu chuẩn nghề nghiệp nhất định để ngày càng phát triển đội ngũ
1
điều hành quỹ hiện tại cũng như định hướng cho các nhà điều hành quỹ trong tương lai
2
tiếp thu kiến thức và kỹ năng cần có trong lĩnh vực tài chính, chứng khoán để tham gia
3
phát triển ngành quỹ của Việt Nam. Chắc chắn khi thị trường chứng khoán Việt Nam
4
được nâng hạng lên thị trường mới nổi, sự tham gia ngày càng sâu rộng của các nhà đầu
5
tư nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ cần những chuyên gia tài chính
6
giỏi được đào tạo từ những nền giáo dục tiên tiến nhất để phát triển thành công trên thị
7
trường, góp phần phát triển nền tài chính quốc gia. Ngoài ra các nhà quản lý nam được
8
chứng minh rằng ở một khía cạnh nào đó có sự quyết đoán và mạo hiểm nên có thể chớp
9
thời cơ tốt, tận dụng cơ hội thị trường mang lại lợi ích cho quỹ và các nhà đầu tư, bên
10
cạnh đó vai trò kiểm soát rủi ro và giảm thiểu chi phí của các nhà quản lý quỹ nữ cũng
11
được khẳng định trong thực tiễn. Vì vậy các công ty quản lý quỹ nên duy trì kết hợp cả
12
nhà quản lý nam và nhà quản lý nữ trong ban điều hành để cân bằng rủi ro với mức lợi
13
nhuận tối ưu nhất, từ đó đạt được hiệu quả trong dài hạn.
14
Tổ chức đào tạo, nâng cao trình độ nghiệp vụ của đội ngũ quản lý quỹ. Xây dựng
15
kế hoạch và triển khai cho các nhà quản lý quỹ tham gia các khóa đào tạo chuyên môn
16
định kỳ, các lớp bồi dưỡng kiến thức tài chính nâng cao trong và ngoài nước một cách
17
hiệu quả, tham gia nâng cao trình độ và đạt các chứng chỉ uy tín như CFA, MBA…
18
nhằm nâng cao kỹ năng phân tích tài chính, quản lý danh mục đầu tư và cập nhật các
19
quy định pháp lý liên quan, các xu hướng thị trường và công nghệ mới. Đảm bảo các
20
nhà quản lý quỹ có kiến thức chuyên môn tốt và cập nhật thường xuyên phục vụ cho
21
công tác điều hành quỹ hiệu quả. Hình thành các tổ chức hợp tác/hiệp hội các công ty
22
quản lý quỹ để trao đổi kiến thức, chia sẻ kinh nghiệm giúp phát triển nền tảng tri thức
23
về quản lý quỹ, vừa cạnh tranh vừa hợp tác cùng phát triển.
24
Có chính sách thu hút và phát triển đội ngũ quản lý quỹ. Các công ty quản lý quỹ
25
cần xây dựng chính sách thu hút nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho quỹ đầu tư, đào tạo
26
và phát triển đội ngũ kế cận như liên kết với các trường đại học cấp học bổng cho sinh
27
viên xuất sắc hay xây dựng chương trình thực tập sinh. Phát triển đội ngũ bằng cách tạo
28
môi trường làm việc khuyến khích học hỏi và đổi mới. Đồng thời, xây dựng mục tiêu
29
chung của tổ chức, thúc đẩy tinh thần trách nhiệm và cam kết của các thành viên tích
30
cực hoạt động vì mục tiêu chung của quỹ. Công ty quản lý quỹ có chính sách khuyến
31
khích các nhà quản lý quỹ không ngừng trau dồi kiến thức và tích lũy kinh nghiệm từ
32
các khóa đào tạo trong nước và nước ngoài, các khóa tập huấn online...thông qua đánh
33
giá hiệu quả công việc (KPI), tài trợ học phí, báo cáo kết quả đào tạo...
34
120
5.2.2. Một số khuyến nghị đối với các nhà đầu tư
1
Đối với các nhà đầu tư, nên xem xét nhiều yếu tố trước khi ra quyết định đầu tư
2
vào quỹ, trong đó tổng giá trị tài sản hàng kỳ, tỷ lệ chi phí hoạt động hay vòng quay
3
danh mục đầu tư (được công bố trong các báo cáo định kỳ hoạt động) sẽ là những yếu
4
tố có ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của quỹ, từ đó tác động đến lợi ích của nhà đầu
5
tư. Đầu tư vào quỹ có thể coi là một hình thức đầu tư gián tiếp khi nhà đầu tư không trực
6
tiếp sử dụng số vốn của mình để đầu tư vào các chứng khoán trên thị trường mà ủy thác
7
cho các quỹ đầu tư, do vậy công tác phân tích để lựa chọn quỹ đầu tư có hiệu quả và
8
phù hợp với mục tiêu đầu tư của các nhà đầu tư là rất quan trọng để tối ưu số vốn đầu
9
tư của mình. Các nhà đầu tư có thể xem xét một số vấn đề quan trọng tác động đến hiệu
10
quả hoạt động của quỹ, từ đó tác động trực tiếp đến lợi ích của nhà đầu tư, đó là:
11
12
13
14
Tốc độ tăng trưởng NAV hàng kỳ: tỷ lệ này có thể được công ty quản lý quỹ công
bố cụ thể, hoặc thông qua báo cáo NAV từng ngày thì nhà đầu tư cũng có thể tính toán
được tốc độ tăng trưởng này. Chỉ tiêu này tăng trưởng theo thời gian thể hiện giá trị tài
sản của quỹ có sự gia tăng, vốn của nhà đầu tư được sử dụng để đầu tư vào các chứng
15
khoán sinh lời ổn định.
16
17
18
19
20
Các quỹ có quy mô lớn hoặc đang trong quá trình mở rộng quy mô hoạt động thể
hiện qua tổng giá trị tài sản của quỹ gia tăng hàng kỳ sẽ là lựa chọn tốt cho các nhà đầu
tư trong việc đầu tư mua chứng chỉ quỹ, bởi những quỹ lớn sẽ tận dụng được lợi thế
kinh tế theo quy mô của mình để tiết kiệm các chi phí, từ đó giúp gia tăng lợi nhuận và
hiệu quả cho quỹ, đảm bảo lợi ích của nhà đầu tư quỹ.
21
22
23
24
25
26
27
Tỷ lệ chi phí hoạt động của quỹ được công bố cụ thể hàng tháng trong báo cáo
hoạt động tháng của công ty quản lý quỹ. Ngoài ra một số quỹ có thể định kỳ công bố
tỷ lệ này qua các thời kỳ để thấy được sự thay đổi theo thời gian. Thông qua đây nhà
đầu tư đánh giá mức độ sử dụng hợp lý và kiểm soát chi phí hoạt động của quỹ góp phần
gia tăng hiệu quả hoạt động ra sao. Tỷ lệ chi phí hoạt động càng thấp sẽ tác động tích
cực đến hiệu quả hoạt động của quỹ, thể hiện việc kiểm soát chi phí của các quỹ góp
phần gia tăng lợi nhuận cho quỹ.
28
29
30
31
32
33
Tốc độ vòng quay danh mục phản ánh chiến lược hoạt động của quỹ trong từng
thời kỳ. Nhà đầu tư có thể xem xét chỉ số này để lựa chọn quỹ phù hợp với mục tiêu đầu
tư và khẩu vị rủi ro của mình. Nếu nhà đầu tư ưa thích đầu tư chứng chỉ quỹ trong dài
hạn với kỳ vọng giá trị danh mục tăng theo thời gian thì những quỹ có chỉ số vòng quay
danh mục thấp tức là quỹ chú trọng việc mua và nắm giữ, duy trì mức độ ổn định và an
toàn. Nếu nhà đầu tư kỳ vọng lợi nhuận vượt trội và sẵn sàng chấp nhận rủi ro thì những
34
121
1
2
3
quỹ có tốc độ vòng quay danh mục cao sẽ là lựa chọn phù hợp, vì những quỹ này tích
cực tìm kiếm và mua bán các cổ phiếu có mức tăng trưởng tốt, có tiềm năng mang lại
lợi nhuận nhanh trong thời gian ngắn. Như vậy việc hiểu rõ tốc độ vòng quay danh mục
sẽ giúp các nhà đầu tư cân nhắc các quỹ đầu tư phù hợp với kỳ vọng của mình.
4
5
6
7
8
9
10
Việc quyết định đầu tư vào quỹ lâu đời hay quỹ mới thành lập cũng cần được các
nhà đầu tư cân nhắc thi tham gia đầu tư chứng chỉ quỹ. Với những quỹ lâu đời có cơ sở
dữ liệu rõ ràng để đánh giá hiệu quả thực tế đã đạt được, còn các quỹ mới thành lập với
đội ngũ quản lý quỹ năng động cũng có những ưu thế trong việc linh hoạt trước những
biến động của thị trường để tận dụng tối đa thời cơ thị trường. Vì vậy căn cứ theo mục
tiêu của nhà đầu tư, khẩu vị rủi ro của nhà đầu tư có thể lựa chọn quỹ lâu đời hay những
quỹ mới hoạt động trên thị trường.
11
12
Các nhà đầu tư chứng chỉ quỹ vừa đóng vai trò là người góp vốn vào quỹ, đồng
thời giám sát hoạt động của quỹ diễn ra minh bạch, đi đúng mục tiêu mà bản cáo bạch
13
14
15
16
của quỹ đã đề ra. Các nhà đầu tư quỹ có thể thường xuyên theo dõi các công bố của quỹ
về tình hình hoạt động, liên hệ với ban đại diện quỹ khi cần làm rõ những thông tin hay
có những ý kiến với công ty quản lý quỹ, yêu cầu các hình thức cung cấp thông tin công
khai, minh bạch tới các nhà đầu tư.
17
5.2.3. Một số khuyến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước
18
19
20
21
22
Các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán có trách nhiệm xác định
chiến lược, mục tiêu phát triển cụ thể của ngành quỹ nói chung và quỹ đầu tư chứng
khoán nói riêng, thực hiện một số giải pháp tổng thể phát triển TTCK cũng như hoạt
động của các quỹ đầu tư chứng khoán, giúp các quỹ gia tăng quy mô tổng tài sản quản
lý, bằng cách:
23
24
25
26
27
28
Đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, thay đổi nhận thức của nhà đầu tư về quỹ đầu
tư, hướng tới thay đổi hành vi đầu tư từ việc tự đầu tư sang đầu tư qua các quỹ. Hoàn
thiện khung pháp lý liên quan đến hoạt động của các công ty quản lý quỹ, phát triển và
khuyến khích hợp tác giữa các công ty fintech và công ty quản lý quỹ theo hướng chuyên
nghiệp, mang đến cho nhà đầu tư những nền tảng đầu tư thuận tiện, an toàn và bảo mật.
Đảm bảo quyền lợi chính đáng của các nhà đầu tư khi tham gia đầu tư vào quỹ.
29
30
31
32
33
Tiếp tục phát triển và đa dạng hóa các loại hình quỹ đầu tư nhằm cải thiện
chất lượng cầu đầu tư, hướng tới cầu đầu tư bền vững. UBCKNN có cơ chế khuyến
khích sự phát triển của các trung gian tài chính, quỹ đầu tư để bình ổn thị trường,
khuyến khích đầu tư qua các sản phẩm đầu tư được quản lý chuyên nghiệp thay vì
các nhà đầu tư cá nhân tự đầu tư, nâng cao nhận thức của các nhà đầu tư cá nhân
34
122
1
2
3
4
để giảm thiểu biến động thị trường, có chính sách thúc đẩy đầu tư dài hạn, các ưu
đãi về thuế nhằm khuyến khích nhà đầu tư mua chứng chỉ quỹ; phát triển các dịch
vụ cho quỹ đầu tư: quản trị quỹ, lưu ký giám sát đại lý chuyển nhượng, khuyến
khích sự tham gia cung cấp dịch vụ của các tổ chức trong và ngoài nước nhằm nâng
cao chất lượng cung cấp dịch vụ.
5
Thành lập tổ chức công bố xếp hạng đánh giá các quỹ. Ngành quỹ tại Việt Nam
6
trong vài năm trở lại đây phát triển khá nhanh nhưng dữ liệu phục vụ nghiên cứu về quỹ
7
còn hạn chế. Bên cạnh đó Việt Nam chưa hình thành các tổ chức công bố xếp hạng quỹ
8
như Morningstar, Wall Street Jounal… nên gây khó khăn cho các nhà đầu tư trong việc
9
tìm hiểu thông tin về các quỹ, và các quỹ cũng chưa có cơ sở xem xét hiệu quả hoạt
10
động của quỹ mình so với các quỹ khác trên thị trường để có những bước đi mạnh mẽ
11
hơn nữa trong việc tạo dựng hình ảnh của quỹ trong mắt công chúng đầu tư. Do vậy
12
trong thời gian tới các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán cần xem
13
xét khuyến khích thành lập các tổ chức cung cấp thông tin quỹ hay công bố xếp hạng
14
đánh giá các quỹ. Thông qua các phương tiện truyền thông sẽ giúp công chúng đầu tư
15
biết và hiểu hơn về quỹ đầu tư chứng khoán, góp phần tăng cường hoạt động đầu tư của
16
các nhà đầu tư vào quỹ giúp gia tăng quỹ mô quỹ.
17
18
19
20
Với một thị trường chứng khoán nói chung và ngành quỹ nói riêng của Việt Nam
còn khá non trẻ chỉ với 20 năm hình thành và phát triển thì vai trò của cơ quan quản lý
nhà nước là vô cùng quan trọng. Một số nhóm giải pháp khuyến nghị đối với cơ quan
quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán bao gồm:
21
Thứ nhất, nhóm giải pháp kiểm soát lạm phát, ổn định nền kinh tế và duy trì ổn
22
định thị trường chứng khoán.
23
Phối hợp chặt chẽ chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa để kiểm soát lạm
24
phát theo mục tiêu. Ưu tiên chính sách tiền tệ linh hoạt theo diễn biến điều hành lãi
25
suất của ngân hàng trung ương trên thế giới và đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam.
26
Cung cấp vốn tín dụng cho sản xuất kinh doanh, tạo thuận lợi cho người dân và các
27
doanh nghiệp tiếp cận tín dụng đẩy mạnh sản xuất. Kiểm soát chi tiêu công và giải
28
ngân vốn đầu tư công hiệu quả, tránh thất thoát lãng phí và sử dụng vốn ngân sách
29
Nhà nước hiêu quả.
30
Hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý TTCK đảm bảo tính công khai, minh
31
bạch, hiệu quả. Quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của các thành viên tham gia thị
32
trường trong các văn bản pháp luật, đặc biệt quan tâm đến việc ngăn ngừa các hành vi
33
vi phạm có thể xảy ra. Thiết lập các tiêu chuẩn và biện pháp xử lý mạnh mẽ để ngăn
34
123
chặn vi phạm và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên tham gia, nhất là các
1
nhà đầu tư. Hệ thống pháp luật cần xây dựng khuôn khổ pháp lý phù hợp với tình hình
2
phát triển các hoạt động mới của TTCK, phù hợp với chuẩn mực quốc tế như: hoạt động
3
giao dịch tự động, quản lý danh mục tự động, tư vấn tự động, số hóa các tài sản tài chính
4
trên TTCK áp dụng công nghệ tài chính mới.
5
Có chính sách phối hợp hoạt động giữa Ủy ban chứng khoán nhà nước, Sở giao
6
dịch chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoán với Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc
7
gia (NIC), các công ty công nghệ tiến tới làm chủ công nghệ bao gồm cả lõi công nghệ
8
và bài toán nghiệp vụ, tập trung nghiên cứu khả năng phát triển các công nghệ mới, như:
9
AI, Big Data, công nghệ sinh trắc học, công nghệ chuỗi khối, các công nghệ nền tảng…
10
để ứng dụng Fintech.
11
Đa dạng hóa các sản phẩm chứng khoán, nâng cao chất lượng nguồn cung. Tăng
12
cường cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước gắn với hoạt động niêm yết để tạo hàng
13
hóa có chất lượng cho TTCK. Phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp, các sản
14
phẩm trái phiếu xanh bằng cách tăng cường thông tin, giáo dục, tuyên truyền về trái
15
phiếu xanh đến các đối tượng khác nhau nhằm nâng cao nhận thức về lợi ích của trái
16
phiếu xanh đối với môi trường và phát triển bền vững; hoàn thiện khung chính sách tài
17
chính, điều kiện khi niêm yết trái phiếu xanh. Phát triển các sản phẩm phái sinh niêm
18
yết trên Sở giao dịch chứng khoán dựa trên tài sản cơ sở là cổ phiếu, hàng hóa, lãi suất
19
và tỷ giá, phát triển các sản phẩm phái sinh khác theo thông lệ quốc tế bên cạnh dạng
20
hợp đồng như quy định hiện hành trong Luật Chứng khoán.
21
Tăng cường hiệu quả hoạt động thanh tra, giám sát, nhất là với dòng vốn đầu tư
22
gián tiếp, nâng cao năng lực quản trị rủi ro đối với TTCK. Xây dựng cơ chế, quy trình
23
giám sát phù hợp, hiệu quả đặc biệt là giám sát với các hành vi thường xảy ra vi phạm
24
như công bố thông tin, giao dịch nội gián, giao dịch “chui”… Xây dựng các văn bản quy
25
định chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và TTCK, hoàn
26
thiện các quy định về cách tính các khooản thu lời bất hợp pháp, xử phạt hành chính
27
trong lĩnh vực chứng khoán, tuy cứu trách nhiệm đối với các hành vi vi phạm. Xây dựng
28
tiêu chí giám sát giao dịch chứng khoán nhằm kịp thời phát hiện các trường hợp thao
29
túng, vi phạm trong giao dịch chứng khoán.
30
Tăng cường hợp tác song phương trong quan hệ với các đối tác quan trọng, nâng
31
cao vị thế quốc gia trong các diễn đàn hợp tác đa phương, là thành viên tích cực, có trách
32
nhiệm, thúc đẩy sự phát triển thị trường vốn trong khu vực và trên thế giới như ACMF
33
124
và IOSCO; xây dựng kế hoạch phát triển quan hệ với từng đối tác, nhằm hỗ trợ tốt nhất
1
cho các mục tiêu phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam”.
2
Thứ hai, nhóm giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước với hoạt động
3
của các công ty quản lý quỹ và các quỹ đầu tư:
4
Hoàn thiện những quy định về chính sách thuế đối với ngành quỹ, có chính sách
5
ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân đối với các nhà đầu tư vào
6
chứng chỉ quỹ. Theo kinh nghiệm của Singapore, Việt Nam có thể áp dụng miễn thuế 2
7
năm đầu thành lập đối với các công ty quản lý quỹ, sau đó có chính sách giảm thuế
8
TNDN theo lộ trình cụ thể, chẳng hạn như xem xét lộ trình giảm thuế TNDN đối với
9
các công ty quản lý quỹ: giai đoạn từ nay đến 2030 áp dụng mức 5%, giai đoạn 10 năm
10
tiếp theo 2031-2040 là 10%, 2041-2050 là 15% và sau đó theo quy định hiện hành đối
11
với các công ty hoạt động trên thị trường. Thứ hai là miễn thuế TNCN đối với nhà đầu
12
tư cá nhân tham gia đầu tư chứng chỉ quỹ trên thị trường, trước mắt có thể áp dụng từ
13
nay đến năm 2030.
14
Nâng cao hiệu quả công tác giám sát hoạt động của các công ty quản lý quỹ thông
15
qua việc kết hợp giữa giám sát tuân thủ, giám sát dựa trên rủi ro, tăng cường phối hợp
16
giám sát giữa các cơ quan quản lý, giám sát nhằm đảm bảo hệ thống công ty quản lý
17
quỹ, quỹ đầu tư chứng khoán hoạt động an toàn
18
Quy định rõ ràng hơn về quyền giám sát của các ngân hàng giám sát.
19
Tiếp tục phát triển và đa dạng hóa các loại hình quỹ đầu tư nhằm cải thiện chất
20
lượng cầu đầu tư, hướng tới cầu đầu tư bền vững. UBCKNN có cơ chế khuyến khích sự
21
phát triển của các trung gian tài chính, quỹ đầu tư để bình ổn thị trường, khuyến khích
22
đầu tư qua các sản phẩm đầu tư được quản lý chuyên nghiệp thay vì các nhà đầu tư cá
23
nhân tự đầu tư, đẩy mạnh nhận thức của các nhà đầu tư cá nhân để giảm thiểu biến động
24
thị trường, có chính sách thúc đẩy đầu tư dài hạn, các ưu đãi về thuế nhằm khuyến khích
25
nhà đầu tư mua chứng chỉ quỹ, phát triển các dịch vụ cho quỹ đầu tư, quản trị quỹ, lưu
26
ký giám sát đại lý chuyển nhượng, khuyến khích sự tham gia cung cấp dịch vụ của các
27
tổ chức trong và ngoài nước nhằm nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ. Đồng thời,
28
tiếp tục đa dạng hóa kênh phân phối chứng chỉ quỹ thông qua các Ngân hàng thương
29
mại và công ty bảo hiểm.
30
31
32
Thành lập tổ chức công bố xếp hạng đánh giá các quỹ. Việt Nam chưa hình thành
các tổ chức cung cấp dữ liệu về quỹ đầu tư (như CRSP ở Mỹ, Wind database ở Trung
Quốc…) hay các tổ chức công bố xếp hạng hiệu quả quỹ như Morningstar, Wall Street
33
125
1
2
3
4
5
Jounal… nên cũng phần nào gây khó khăn cho các nhà đầu tư trong việc tìm hiểu thông
tin về các quỹ, và các quỹ cũng chưa có cơ sở xem xét hiệu quả hoạt động của mình so
với các quỹ khác trên thị trường để có những bước đi mạnh mẽ hơn nữa trong việc tạo
dựng hình ảnh của quỹ trong mắt công chúng đầu tư. Do vậy trong thời gian tới các cơ
quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán cần xem xét khuyến khích thành lập
các tổ chức cung cấp thông tin quỹ hay công bố xếp hạng đánh giá các quỹ.
6
7
8
126
KẾT LUẬN
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Quỹ đầu tư chứng khoán đóng vai trò quan trọng trong thị trường tài chính, tạo
cơ hội cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ tiếp cận các cơ hội đầu tư chuyên nghiệp, đa dạng hóa
danh mục đầu tư bằng cách phân bổ vốn vào nhiều loại chứng khoán khác nhau giúp
giảm thiểu rủi ro, mang lại lợi nhuận ổn định cho các nhà đầu tư. Bên cạnh đó các quỹ
đầu tư thường đầu tư dài hạn giúp thị trường phát triển bền vững, tránh những biến động
đột ngột của thị trường cũng như phân bổ vốn hợp lý vào các doanh nghiệp hoạt động
tốt trên thị trường. Quỹ đầu tư hoạt động có hiệu quả là điều kiện để phát huy tốt vai trò
của mình trên thị trường chứng khoán.
10
11
12
13
14
15
Luận án đã tiến hành thu thập một cách công phu dữ liệu theo tháng của các quỹ
đầu tư trong khoảng thời gian phát triển mạnh mẽ của ngành quỹ từ tháng 01/2016 đến
tháng 12/2023 để đánh giá một cách thường xuyên nhất tình hình hoạt động của các quỹ
đầu tư chứng khoán, đo lường hiệu quả hoạt động của quỹ bao gồm tăng trưởng NAV,
hệ số Sharpe và hệ số JensenAlpha, vừa kế thừa những nghiên cứu trong nước trước
đây đồng thời áp dụng thêm chỉ tiêu đo lường JensenAlpha để xem xét toàn diện hơn
16
17
18
19
20
về hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán ở thị trường chứng khoán Việt
Nam. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động của quỹ
khi quỹ muốn theo đuổi mục tiêu lợi nhuận cao nhất với mức rủi ro chấp nhận được
hoặc lợi nhuận kỳ vọng đạt được với rủi ro thấp nhất có thể. Các dữ liệu quỹ hàng tháng
được đưa vào mô hình kinh tế lượng nhằm phát hiện mức độ tác động của các nhân tố
21
22
23
24
thuộc đặc điểm của quỹ và đặc điểm của nhà quản lý quỹ đến hiệu quả hoạt động của
quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Với việc kết hợp phương
pháp nghiên cứu phân tích tổng hợp và phương pháp nghiên cứu định lượng, luận án đã
chứng minh rằng quy mô quỹ, tỷ lệ chi phí hoạt động, tốc độ vòng quay danh mục có
25
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
tác động đáng kể đến hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường
chứng khoán Việt Nam. Bên cạnh đó luận án cũng đã thu thập dữ liệu về đặc điểm của
các nhà quản lý quỹ phản ánh thông qua giới tính, trình độ học vấn và xem xét liệu đặc
điểm của nhà quản lý quỹ có tác động gì đến hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng
khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam hay không, từ đây luận án có cơ sở khoa
học để đánh giá được rằng các nhà quản lý quỹ với các đặc điểm riêng có của mình cũng
có tác động nhất định đến hiệu quả hoạt động của quỹ. Những bằng chứng nghiên cứu
thực nghiệm của luận án làm cơ sở để tác giả đề xuất một số giải pháp quan trọng đối
với các chủ thể liên quan đến quỹ đầu tư, đặc biệt là các công ty quản lý quỹ nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt
Nam trong thời gian tới.
36
127
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
Bên cạnh những kết quả đạt được, luận án còn một số điểm hạn chế: Thứ nhất là
về số quan sát trong bộ dữ liệu: dữ liệu thu thập chỉ với 23 quỹ trong tổng số 56 quỹ đầu
tư chứng khoán dạng mở (số liệu tính đến 28/12/2023) trên TTCK Việt Nam, điều này
là do thông tin của một số quỹ khó có khả năng thu thập được trên trang công bố thông
tin chính thức của các công ty quản lý quỹ. Thứ hai là về phương pháp đo lường hiệu
quả hoạt động của quỹ: luận án hiện đang sử dụng mô hình đơn nhân tố để đo lường
hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán, mà chưa vận dụng được mô hình
đa nhân tố nào vào hoạt động của quỹ do dữ liệu phục vụ tính toán và nghiên cứu còn
hạn chế. Thứ ba là hạn chế về các biến được đưa vào mô hình nghiên cứu: mô hình
nghiên cứu trong luận án tập trung vào các nhân tố bên trong quỹ (bao gồm các nhân tố
thể hiện đặc điểm của quỹ và nhân tố thể hiện đặc điểm của nhà quản lý quỹ), chưa
nghiên cứu được các nhân tố khách quan như tăng trưởng kinh tế, ổn chính trị, môi
trường pháp lý, các sự kiện bất ngờ (như dịch bệnh, chiến tranh thương mại, chính sách
thuế quan của Mỹ...) nên chưa có kết luận tổng thể về các nhân tố nào có tác động đến
hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán cũng như mức độ tác động của các
nhân tố như thế nào, do hạn chế về dữ liệu thu thập theo tháng của nhiều nhân tố là
16
17
không có. Ở những nghiên cứu sau tác giả có thể khắc phục một phần những hạn chế
nêu trên.
18
128
1
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
2
3
4
1. Nguyễn Hồng Nga, Nguyễn Thị Thu Trang (2022), “Tác động của tỷ lệ chi phí
hoạt động tới hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư cổ phiếu dạng mở trên thị
5
trường chứng khoán Việt Nam”, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, Số 306 - Tháng
6
12/2022, Trang 41-50.
7
8
9
2. Nguyễn Hồng Nga, Nguyễn Thị Thu Trang (2023) “The performance of open-
ended funds on Vietnam stock market”, 6th International Conference on
Contemporary Issues in Economics, Management and Business - CIEMB 2023,
10
Trang 572-285.
11
12
3. Nguyễn Hồng Nga, Nguyễn Thị Thu Trang (2003), “Tác động của quy mô quỹ tới
hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứng khoán trên Thị trường chứng khoán
13
Việt Nam”, Hội nghị khoa học - Vận hội 35 năm Đào tạo và Nghiên cứu khoa học,
14
Đại học Thăng Long.
15
16
4. Nguyễn Hồng Nga (2023), “Tác động của cac nhân tô tới hiệu quả hoạt động của
các quỹ đầu tư chứng khoán trên Thị trường chứng khoán Việt Nam”, Đề tài cơ
17
sở, Đại học Thăng Long.
18
19
5. Nguyễn Hồng Nga, Nguyễn Thị Thu Trang (2024), “Các nhân tố tác động đến hiệu
quả hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam”,
20
Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, Số 2(549) 2-2022, Trang 88-100.
21
22
23
24
129
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
2
3
1. Aharoni, G., Grundy, B., & Zeng, Q. (2013), ‘Stock Returns and the Miller
4
Modigliani Valuation Formula Revisiting the Fama-French Analysise’, Journal of
5
Financial Economics, 110(2), 347-357.
6
2. Alqadhib, H., Kulendran, N., & Seelanatha, L. (2022), ‘Impact of COVID-19 on
7
mutual fund performance in Saudi Arabia’, Cogent Economics and Finance.
8
3. Atkinson, S. M., Baird, S. B., & Frye, M. B. (2003), ‘Do female mutual fund
9
managers manage differently?’, Journal of Financial Research.
10
4. Babalos, V., Kostakis, A., & Philippas, N. (2009), ‘Managing mutual funds or
11
managing expense ratios? Evidence from the Greek fund industry’, Journal of
12
Multinational Financial Management, 19(4), 256-272.
13
5. Banegas, A., Gillen, B., Timmermann, A., & Wermers, R. (2013), ‘The cross
14
section of conditional mutual fund performance in European stock markets’,
15
Journal of Financial Economics.
16
6. Barber, B. M., Huang, X., & Odean, T. (2016), ‘Which Factors Matter to
17
Investors? Evidence from Mutual Fund Flows’, Review of Financial Studies,
18
29(10), 2601-2642.
19
7. Bechmann, K. L., & Rangvid, J. (2007), ‘Rating mutual funds: Construction and
20
information content of an investor-cost based rating of Danish mutual funds’,
21
Journal of Empirical Finance, 14(5), 662-693.
22
8. Ben-David, I., Li, J., Rossi, A., & Song, Y. (2021), 'What Do Mutual Fund
23
Investors Really Care About? Fisher College of Business Working Paper No. 2019-
24
03-005', The Review of Financial Studies. https://doi.org/10.1093/rfs/hhab081
25
9. Berk, J. B., & Green, R. C. (2004), ‘Mutual Fund Flows and Performance in
26
Rational Markets’, Journal of Political Economy, 112(6), 1269-1295.
27
10. Berk, J. B., & Van Binsbergen, J. H. (2014), ‘Measuring Skill in the Mutual Fund
28
Industry’, Journal of Financial Economics, 118(1), 1-20.
29
11. Bialkowski, J. P., & Otten, R. (2011), ‘Emerging Market Mutual Fund
30
Performance: Evidence for Poland’, The North American Journal of Economics
31
and Finance, 22(2), 118-130.
32
12. Blake, D. P., Caulfield, T., Ioannidis, C., & Tonks, I. (2017), ‘New Evidence on
33
Mutual Fund Performance: A Comparison of Alternative Bootstrap Methods’,
34
Journal of Financial and Quantitative Analysis, 52(3), 1279-1299.
35
130
13. Bodie, Z., Kane, A., & Marcus, A. J. (2011), Investments, Nine Editi (McGraw-Hill).
1
14. Brown, S. J., & Goetzman, W. N. (1995), ‘Performance persistance’, The Journal
2
of Finance, 50(2), 679-698.
3
15. Bunnenberg, S., Rohleder, M., Scholz, H., & Wilkens, M. (2019), ‘Jensen’s alpha
4
and the market-timing puzzle’, Review of Financial Economics, 37(2), 234-255.
5
16. Busse, J. A., Chordia, T., Jiang, L., & Tang, Y. (2021), ‘Transaction Costs,
6
Portfolio Characteristics, and Mutual Fund Performance’, Management Science,
7
67(2), 661-1328.
8
17. Cameron, A. C., & Trivedi, P. K. (2010), Microeconometrics Using Stata Stata Press.
9
18. Carhart, M. M. (1997) ,‘On persistence in mutual fund performance’, Journal of
10
Finance, 52(1), 57-82.
11
19. Chen, J., Harrison, H., & Kubik, J. D. (2004), ‘Does fund size erode mutual fund
12
performance? The role of liquidity and organization’, American Economic Review,
13
94(5), 1276-1302.
14
20. Cheng, L., & Dewi, K. (2020), ‘The Effects of Inflation, Risk, and Money Supply
15
on Mutual Funds Performance’, Journal of Applied Finance & Accounting, 7(2),
16
29-34.
17
21. Chevalier, J., & Ellison, G. (1997), ‘Risk taking by mutual funds as a response to
18
incentives’, Journal of Political Economy, 105(6), 1167-1200.
19
22. Choi, J. J., & Robertson, A. Z. (2020), ‘What Matters to Individual Investors?
20
Evidence from the Horse’s Mouth’, The Journal of Finance, 75(4), 1965-2020.
21
23. Cremers, M., Petajisto, A., & Zitzewitz, E. (2013), ‘Should Benchmark Indices
22
Have Alpha? Revisiting Performance Evaluation’, Critical Finance Review,
23
2(1), 1-48.
24
24. Cuthbertson, K., Nitzsche, D., & O’Sullivan, N. (2022), ‘Mutual fund performance
25
persistence: Factor models and portfolio size’, International Review of Financial
26
Analysis, 81.
27
25. Dahlquist, M., Engstrom, S., & Soderlind, P. (2000), ‘Performance and
28
Characteristics of Swedish Mutual Funds’, The Journal of Financial and
29
Quantitative Analysis, 35(3), 409-423.
30
26. Deb, S. G. (2019), ‘Persistence in performance of actively managed equity mutual
31
funds: New Indian evidence’, IIMB Management Review, 31(2), 145-156.
32
131
27. Dellva, W. L., & Olson, G. T. (1998), ‘The relationship between mutual fund fees
1
and expenses and their effects on performance’, Financial Review, 33(1), 85-104.
2
28. Droms, W. G., & Walker, D. A. (1996), ‘Mutual Fund Investment Performance’,
3
The Quarterly Review of Economics and Finance, 36(3), 347-363.
4
29. Dương Hùng Sơn (2012), Giải pháp hình thành và phát triển quỹ đầu tư chỉ số tại
5
Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ
6
Chí Minh.
7
30. Elton, E. J., Gruber, M. J., Das, S., & Hlavka, M. (1993), ‘Efficiency with Costly
8
Information: A Reinterpretation of Evidence from Managed Portfolios’, Review of
9
Financial Studies, 6(1), 1-22.
10
31. Fama, E. F. (1980), ‘Agency Problems and the Theory of the Firm’, Journal of
11
Political Economy, 88(2), 288-307.
12
32. Fama, E. F., & French, K. R. (1992), ‘The Cross-Section of Expected Stock
13
Returns’, The Journal of Finance, 47(2), 427-465.
14
33. Fama, E. F., & French, K. R. (2015), ‘A Five-Factor Asset Pricing Model’, Journal
15
of Financial Economics, 116(1), 1-22.
16
34. Fama, & French (1993), ‘Common risk factors in the returns on stocks and bonds’,
17
Journal of Financial Economics, 33(1), 3-56.
18
35. Fang, F., & Parida, S. (2022), ‘Sustainable mutual fund performance and flow in
19
the recent years through the COVID-19 pandemic’, International Review of
20
Financial Analysis, 84, 102387.
21
36. Fang, Y., & Wang, H. (2015), ‘Fund manager characteristics and performance’,
22
Investment Analysts Journal, 44(1), 102-116.
23
37. Farid, S., & Wahba, H. (2022), ‘The effect of fund size on mutual funds
24
performance in Egypt’, Future Business Journal, 8(1), https://doi.org/10.1186/
25
s43093-022-00135-7.
26
38. Ferreira, M. A., Keswani, A., Miguel, A. F., & SofiaB.Ramo (2013), ‘The
27
Determinants of Mutual Fund Performance: A Cross-Country Study’, Review of
28
Finance, 17(2), 483-525.
29
39. Friis, L. B., & Smit, E. V. D. M. (2004), ‘Are some fund managers better than
30
others? Manager characteristics and fund performance’, South African Journal of
31
Business Management, 35(3), 31-40.
32
132
40. Garyn-Tal, S. (2015), ‘Mutual fund fees and performance: new insights’, Journal
1
of Economics and Finance, 39, 454-477.
2
41. Gil-Bazo, J., & Ruiz-VerdÚ, P. (2009), ‘The relation between price and
3
performance in the mutual fund industry’, Journal of Finance, 64(5), 2153-2183.
4
42. Golec, J. (1996) ,‘The effects of mutual fund managers’ characteristics on their
5
portfolio performance, risk and fees’, Financial Services Review, 5(2), 133-147.
6
43. Grinblatt, M., & Titman, S. (1992), ‘The persistence of mutual fund performance’,
7
The Journal of Finance, 47(5), 1977-1984.
8
44. Grinblatt, M., & Titman, S. (1994), ‘A Study of Monthly Mutual Fund Returns and
9
Performance Evaluation Techniques’, The Journal of Financial and Quantitative
10
Analysis, 29(3), 419-444.
11
45. Gruber, M. J. (1996), ‘Another Puzzle: The Growth in Actively Managed Mutual
12
Funds’, The Journal of Finance, 51, 783-810.
13
46. Guercio, D. Del, & Tkac, P. A. (2008), ‘Star power: The effect of morningstar
14
ratings on mutual fund flow’, Journal of Financial and Quantitative Analysis,
15
43(4), 907-936.
16
47. Gyamfi Gyimah, A., Addai, B., & Asamoah, G. K. (2021), ‘Macroeconomic
17
determinants of mutual funds performance in Ghana’, Cogent Economics and
18
Finance, 9(1).
19
48. Hasnaoui, J. A., Rizvi, S. K. A., Reddy, K., Mirza, N., & Naqvi, B. (2021), ‘Human
20
capital efficiency, performance, market, and volatility timing of asian equity funds
21
during COVID‑19 outbreak’, Journal of Asset Management, 22(360-375).
22
49. Hendricks, D., Patel, J., & Zeckhauser, R. (1993), ‘Hot Hands in Mutual Funds:
23
Short-Run Persistence of Relative’, The Journal of Finance, 48(1), 93-130.
24
50. Henriksson, R. D., & Merton, R. C. (1981), ‘On market timing and investment
25
performance. II. Statistical procedures for evaluating forecasting skills’, The
26
Journal of Business, 54(4), 513-533.
27
51. Hooks, J. A. (1996), ‘The effect of loads and expenses on open-end mutual fund
28
returns’, Journal of Business Research, 36(2), 199-202.
29
52. Hsiao, C. (2022), Analysis of Panel Data. Cambridge University Press.
30
53. Hu, J.-L., Yu, H.-E., & Wang, Y.-T. (2012), ‘Manager Attributes and Fund
31
Performance: Evidence from Taiwan’, Journal of Applied Finance & Banking,
32
2(4), 1-6.
33
133
54. Huang, W., Liu, Q., Rhee, S. G., & Wu, F. (2012), ‘Extreme downside risk and
1
expected stock returns’, Journal of Banking and Finance, 36(5), 1492-1502.
2
55. Indro, D. C., Jiang, C. X., Hu, M. Y., & Lee, W. Y. (1999), ‘Mutual Fund
3
Performance: Does Fund Size Matter?’, Financial Analysts Journal, 55(3), 74-87.
4
56. Ippolito, R. A. (1989), ‘Efficiency with costly information: A study of mutual fund
5
performance, 1965-1984’, Quarterly Journal of Economics, 104(1), 1-23.
6
57. Ishak, N., Shari, A., Japang, M., & Ab Rahim, F. (2022), ‘Performance of islamic
7
equity and fixed-income funds during the covid-19 pandemic in Malaysia’, Cogent
8
Economics and Finance, 10(1), https://doi.org/10.1080/23322039.2022.2122184.
9
58. J. Edward Graham, C. L. & B. R. N., & To (2020), ‘Influences on mutual fund
10
performance: comparing US and Europe using qualitative comparative analysis’,
11
Economic Research-Ekonomska Istraživanja, 33(1), 3049-3070.
12
59. Jagadeesh, N., & Titman, S. (1993), ‘Returns To Buying Winners and selling
13
losers: Implications for stock market efficiency’, The Journal of Finance, 48(1),
14
65-91.
15
60. Jan, Y.-C., & Hung, M.-W. (2003), ‘Mutual fund attributes and performance’,
16
Financial Services Review, 12(2), 165-178.
17
61. Jensen, M. C. (1969), ‘Risk, The Pricing of Capital Assets, and The Evaluation of
18
Investment Portfolios’, The Journal of Business, 42(2), 167-247.
19
62. Jensen, M. C., & Meckling, W. H. (1976), ‘Theory of the Firm: Managerial
20
Behavior, Agency Costs and Ownership Structure’, Journal of Financial
21
Economics, 3(4), 305-360.
22
63. Jordan, B. D., & Riley, T. B. (2015), ‘Volatility and mutual fund manager skill’,
23
Journal of Financial Economics, 118(2), 289-298.
24
64. Kaniel, R., & Parham, R. (2017), ‘WSJ Category Kings - The impact of media
25
attention on consumer and mutual fund investment decisions’, Journal of
26
Financial Economics, 123(2), 337-356.
27
65. Kaur, I. (2018), ‘Effect of mutual funds characteristics on their performance and
28
trading strategy: A dynamic panel approach’, Cogent Economics and Finance,
29
6(1), 1-17.
30
66. Kenchington, D., Wan, C., & Yüksel, H. Z. (2019), ‘Gross profitability and mutual
31
fund performance’, Journal of Banking and Finance, 104, 31-49.
32
134
67. Kiymaz, H. (2015), ‘A performance evaluation of Chinese mutual funds’,
1
International Journal of Emerging Markets, 10(4), 820-836.
2
68. Lee, J.-S., Yen, P., & Chen, Y.-J. (n.d.), ‘Longer tenure, greater seniority, or both?
3
Evidence from open-end equity mutual fund managers in Taiwan’, Asian Academy
4
of Management Journal of Accounting and Finance, 4(2), 1-20.
5
69. Lintner, J. (1965), ‘The valuation of risk assets and the selection of risky
6
investments in stock portfolios and capital budgets’, The Review of Economics and
7
Statistics, 47(1), 13-37.
8
70. Liu, Y., Miletkov, M. K., Wei, Z., & Yang, T. (2015), ‘Board independence and
9
firm performance in China’, Journal of Corporate Finance, 30, 223-244.
10
71. Lucas, N. A., Manurung, J. C., Manurung, A. H., & Usman, B. (2019), ‘The
11
analysis of market timing, exchange rate of us dollar, and inflation to equity fund
12
performance during 2011-2017’, Journal of Applied Finance and Banking, 9(5), 1-7.
13
72. Malkiel, B. G. (1995), ‘Returns from Investing in Equity Mutual Funds 1971 to
14
1991’, The Journal of Finance, 50(2), 549-572.
15
73. Markowitz, H. (1952), ‘Portfolio selection’, The Journal of Finance, 7(1), 77-91.
16
74. Michael C. Jensen (1968), ‘The Performance of Mutual Funds in the Period 1945-
17
1965’, The Journal of Finance, 23(2), 389-416.
18
75. Michelson, S., Philipova, E., & Srotova, P. (2008), ‘The Case For Emerging
19
Market Funds’, Journal of Business & Economics Research (JBER), 6(11).
20
76. Moreno, D., & Rodríguez, R. (2009), ‘The value of coskewness in mutual fund
21
performance evaluation’, Journal of Banking and Finance, 33(9), 1664-1676.
22
77. Mossin, J. (1966), ‘Equilibrium in a Capital Asset Market’, Econometrica,
23
34(4), 768.
24
78. Muhammad Sali Maheen (2021), ‘Impact of COVID-19 on the performance of
25
emerging market mutual funds: evidence from India’, Future Business Journal,
26
7(1), https://doi.org/10.1186/s43093-021-00081-w.
27
79. Nazir, M. S., & Nawaz, M. M. (2010), ‘The determinants of mutual fund growth
28
in Pakistan’, International Research Journal of Finance and Economics, 10(54),
29
1051-1060.
30
80. Nguyễn Hồng Nga, & Nguyễn Thị Thu Trang (2022), ‘Tác động của tỷ lệ chi phí
31
hoạt động tới hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư cổ phiếu dạng mở trên thị
32
trường chứng khoán Việt Nam’, Tạp chí Kinh tế & Phát triển, 306, 41-50.
33
135
81. Nguyễn Ngọc Linh (2022), Nâng cao hiệu quả hoạt động của các quỹ đầu tư chứng
1
khoán tại Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Học viện Ngân hàng, Hà Nội.
2
82. Nguyễn Thị Hoa & Nguyễn Thị Nguyệt Dung (2019), ‘The impact of country-
3
level and fund-level factors on mutual fund performance in Vietnam’, Journal of
4
Economics and Development, 21(1), 42-56.
5
83. Nguyễn Thu Thủy (2011), Kinh nghiệm phát triển quỹ đầu tư chứng khoán ở một
6
số nước và bài học đối với Việt Nam, p. https://www.sbv.gov.vn.
7
84. Nguyễn Quang Minh Nhi (2022), ‘Insights from fund management companies in
8
Vietnam: Evidence from financial reports’, Journal of Science and Technology
9
Issue on Information and Communications Technology, 86-91.
10
85. Nguyễn Thị Minh Huệ (2023), Giáo trình quản lý danh mục đầu tư, Nhà xuất bản
11
Lao động, Hà Nội.
12
86. Nguyễn Thu Thủy (2011), Phát triển các quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam hiện
13
nay, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Thương mại, Hà Nội.
14
87. Nguyễn Văn Định (2001), Giải pháp phát triển và tăng cường hoạt động của quỹ
15
đầu tư trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học
16
Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
17
88. Novy-Marx, R. (2013), ‘The other side of value: The gross profitability premium’,
18
Journal of Financial Economics, 108(1), 1-28.
19
89. Otten, R., & Bams, D. (2002), ‘European mutual fund performance’, European
20
Financial Management, 8(1), 75-101.
21
90. Panigrahi, A., Karwa, P., & Joshi, P. (2019), ‘Impact of macroeconomic variables
22
on the performance of mutual funds: A selective study’, Journal of Economic
23
Policy & Research, 15(1), 29-43.
24
91. Powell, M., & Ansic, D. (1997), ‘Gender differences in risk behaviour in financial
25
decision-making: An experimental analysis’, Journal of Economic Psychology,
26
18(6), 605-628.
27
92. Prather, L., Bertin, W. J., & Henker, T. (2004), ‘Mutual fund characteristics,
28
managerial attributes, and fund performance’, Review of Financial Economics,
29
13(4), 305-326.
30
93. Qureshi, F., Ismail, I., & Chan, S. G. (2017), ‘Mutual funds and market
31
performance: New evidence from ASEAN markets’, Investment Analysts Journal,
32
46(1), 61-79.
33
136
94. Qureshi, F., Khan, H. H., Rehman, I. ur, Qureshi, S., & Ghafoor, A. (2019), ‘The
1
Effect of Monetary and Fiscal Policy on Bond Mutual Funds and Stock Market:
2
An International Comparison’, Emerging Markets Finance and Trade, 55(13),
3
3112-3130.
4
95. Quốc hội (2019), Luật chứng khoán, ban hành ngày 26/11/2019
5
96. Rao, Z. U. R., Tauni, M. Z., & Iqbal, A. (2017), ‘Emerging market mutual fund
6
performance: Evidence for China’, Journal of Asia Business Studies, 11(2), 167-187.
7
97. Rehman, A., & Baloch, Q. (2016), ‘Factors Affecting Mutual Fund Performance
8
In Pakistan: Evidence From Open Ended Mutual Funds’, Abasyn Journal of Social
9
Sciences, 11(2), 419-438.
10
98. Reuter, J., & Zitzewitz, E. (2021), ‘How Much Does Size Erode Mutual Fund
11
Performance? A Regression Discontinuity Approach’, Review of Finance, 25(5),
12
1395-1432.
13
99. Ross, S. (1973), ‘The economic theory of agency’, The American Economic
14
Review, 63(2), 134-139.
15
100. Ross, S. A. (1973), Return, Risk and Arbitrage Risk and Return in Finance, The
16
Wharton School, University of Pennyslvania.
17
101. Rouwenhorst, K. G. (2004), The Origins of Mutual Funds.
18
102. Sha, Y., & Gao, R. (2019), ‘Which is the best: A comparison of asset pricing factor
19
models in Chinese mutual fund industry’, Economic Modelling, 83, 8-16.
20
103. Sharpe, W. F. (1964), ‘Capital Asset Prices: A Theory of Market Equilibrium
21
Under Conditions of Risk’, The Journal of Finance.
22
104. Sharpe, W. F. (1966), ‘Mutual fund performance’, The Journal of Business, 39(1),
23
119-138.
24
105. Shukla, R., & Singh, S. (1994), ‘Are CFA Charterholders Better Managers?’,
25
Financial Analysts Journal, 50(6), 68-74.
26
106. Sirri, E. R., & Tufano, P. (1998), ‘Costly Search and Mutual Fund Flows’, The
27
Journal of Finance, 47(5), 1661-1699.
28
107. Steen, M., Moussawi, J. T., & Gjolberg, O. (2020), ‘Is there a relationship between
29
Morningstar’s ESG ratings and mutual fund performance?’, Journal of Sustainable
30
Finance and Investment.
31
108. Tang, K., Wang, W., & Xu, R. (2012), ‘Size and performance of Chinese mutual
32
funds: The role of economy of scale and liquidity’, Pacific-Basin Finance Journal,
33
20(2), 228-246.
34
137
109. Trần Thị Thu Hương., & Trần Thị Xuân Anh (2021), ‘Đánh giá hiệu quả đầu tư
1
của các quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn Covid-
2
19’, Tạp chí Quản lý và Kinh tế Quốc tế, 141.
3
110. Trung tâm nghiên cứu khoa học và đào tạo chứng khoán (2022), Vai trò của quỹ
4
đầu tư chứn khoán, truy cập ngày 14/10/2023, [https://nhadautu.srtc.org.vn/p/vai-
5
tro-cua-quy-dau-tu-chung-khoan].
6
111. U.S. Securities and Exchange Commission (2016), ‘Mutual Funds and ETFs: A
7
Guide for Investors’, SEC Publications.
8
112. Volkman, D. A., & Wohar, M. E. (1995), ‘Determinants of Persistence in Relative
9
Performance of Mutual Funds’, Journal of Financial Research, 18(4), 415-430.
10
113. Wermers, R. (2000), ‘Mutual fund performance: An empirical decomposition into
11
stock-picking talent, style, transactions costs, and expenses’, Journal of Finance,
12
55(4), 1655-1703.
13
114. Wooldridge, J. M. (2010), Econometric analysis of cross section and panel data
14
The MIT Press.
15
115. Xuemin, Y. (2008), ‘Liquidity, Investment Style, and the Relation between Fund
16
Size and Fund Performance’, Journal of Financial and Quantitative Analysis.
17
116. Yarovaya, L., Mirza, N., Abaidi, J., & Hasnaoui, A. (2021), ‘Human Capital
18
efficiency and equity funds’ performance during the COVID-19 pandemic’,
19
International Review of Economics and Finance, 71, 584-591.
20
117. https://ssc.gov.vn/webcenter/portal/ubck/pages_r/l/chitit?dDocName=APPSSCG
21
OVVN162142758. Truy cập ngày 14/10/2023
22
118. https://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/vclvcstc/pages_r/l/chi-tiet-
23
tin?dDocName=MOFUCM268942. Truy cập ngày 03/01/2024
24
119. https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/rm/apph/tbnh/tbnh_chitiet?cen
25
terWidth=80%25&dDocName=SBV572512&leftWidth=20%25&rightWidth=0
26
%25&showFooter=false&showHeader=false&_adf.ctrl-
27
state=3ba0c5xhq_9&_afrLoop=48704743088035023. Truy cập ngày 20/03/2024
28
120. https://www.statista.com/statistics/278303/number-of-mutual-funds-
29
worldwide/#:~:text=The%20number%20of%20mutual%20funds,to%20approxim
30
ately%20140%2C000%20in%202023. Truy cập ngày 20/11/2024
31
32
33
138
PHỤ LỤC
1
2
PHỤ LỤC 1: DANH SÁCH CÁC QUỸ MỞ TRONG BỘ DỮ LIỆU NGHIÊN
CỨU ĐỊNH LƯỢNG
3
STT TÊN QUỸ
TÊN ĐẦY ĐỦ
CÔNG TY
QUẢN LÝ QUỸ
THỜI GIAN
THÀNH LẬP
QUỸ CỔ PHIẾU
1 BVFED
BaoVietFund
01/2014
QĐT cổ phiếu năng
động Bảo Việt
2 BVPF
QĐT cổ phiếu triển vọng
BaoVietFund
12/2016
Bảo Việt
3 DCBC
DCVFM
12/2013
QĐT doanh nghiệp hàng
đầu DC
4 MBVF
QĐT giá trị MB Capital MB Capital
04/2014
5
SSI-SCA
SSIAM
09/2014
QĐT lợi thế cạnh tranh
bền vững SSI
6 VCBF-BCF QĐT cổ phiếu hàng đầu
VCBF
08/2014
VCBF
VinaCapital
07/2014
7 VEOF
QĐT cổ phiếu Hưng
Thịnh
8 VESAF
QĐT cổ phiếu tiếp cận
VinaCapital
04/2017
thị trường Việt Nam
QUỸ CÂN BẰNG
1 DCDS
DCVFM
04/2004
QĐT chứng khoán năng
động DC
2
ENF
03/2014
Eastspring
Investments
QĐT năng động
Eastspring Investments
Việt Nam
3 VCAMBF
QĐT cân bằng Bản Việt VCAM
05/2014
4
139
STT TÊN QUỸ
TÊN ĐẦY ĐỦ
CÔNG TY
QUẢN LÝ QUỸ
THỜI GIAN
THÀNH LẬP
4 VCBF-TBF QĐT cân bằng chiến
VCBF
12/2013
lược VCBF
QUỸ TRÁI PHIẾU
1 BVBF
QĐT trái phiếu Bảo Việt BaoVietFund
04/2016
2 DCBF
QĐT trái phiếu DC
DCVFM
02/2013
3
SSIBF
QĐT trái phiếu SSI
SSIAM
08/2017
4 VFF
QĐT trái phiếu Bảo
VinaCapital
04/2013
Thịnh
1
2
3
4
5
140
PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH
1
2
1. Mô hình biến phụ thuộc G_NAV
3
Kiểm định Hausman
4
5
6
Kiểm định đa cộng tuyến
7
8
9
141
Kiểm định phương sai sai số thay đổi
1
2
3
Kiểm định tự tương quan
4
5
6
Kết quả hồi qui mô hình sau khi khắc phục
Estimated covariances = 1 Number of obs = 1,104
Estimated autocorrelations = 1 Number of groups = 16
Estimated coefficients = 25 Time periods = 69
Wald chi2(24) = 49.21
Prob > chi2 = 0.0018
G_NAV Coefficient Std. err. z P>|z| [95% conf. interval]
Size .0327736 .0094599 3.46 0.001 .0142326 .0513146
Turnover .0052198 .0057721 0.90 0.366 -.0060934 .0165329
Expense .4247213 1.077276 0.39 0.693 -1.686701 2.536144
Load -.000012 .0000456 -0.26 0.792 -.0001013 .0000773
Inflation -7.131163 2.055244 -3.47 0.001 -11.15937 -3.102958
Gender1
Nữ -.0300053 .0135933 -2.21 0.027 -.0566477 -.0033628
OVER
Trong nước -.0188691 .0169044 -1.12 0.264 -.052001 .0142628
CFA
Không -.0391475 .0136741 -2.86 0.004 -.0659482 -.0123468
AGE -.0003238 .0002622 -1.23 0.217 -.0008377 .0001902
Fund
BVFED .0154669 .0305087 0.51 0.612 -.0443291 .0752629
BVPF .0068246 .0254205 0.27 0.788 -.0429986 .0566478
DCBC -.093173 .0377679 -2.47 0.014 -.1671968 -.0191493
DCBF -.0650179 .0329855 -1.97 0.049 -.1296682 -.0003676
DCDS -.0508544 .047519 -1.07 0.285 -.14399 .0422813
ENF -.0277993 .0318748 -0.87 0.383 -.0902728 .0346743
MBVF -.030741 .0333819 -0.92 0.357 -.0961684 .0346863
SSI-BF -.0180299 .0308221 -0.58 0.559 -.0784401 .0423802
SSI-SCA -.0554474 .034595 -1.60 0.109 -.1232524 .0123575
VCAMBF .0080709 .0297424 0.27 0.786 -.0502231 .0663648
VCBF-BCF -.0687212 .0356534 -1.93 0.054 -.1386005 .0011581
VCBF-TBF -.0493277 .0319429 -1.54 0.123 -.1119347 .0132793
VEOF -.070329 .0362605 -1.94 0.052 -.1413982 .0007402
VESAF -.033844 .035678 -0.95 0.343 -.1037716 .0360837
VFF -.0603092 .0292549 -2.06 0.039 -.1176477 -.0029706
_cons -.7473141 .2411352 -3.10 0.002 -1.21993 -.2746978
7
8
9
10
142
2. Mô hình biến phụ thuộc Sharperatio
1
Kiểm định Hausman
2
3
4
Kiểm định đa cộng tuyến
5
6
7
Kiểm định phương sai sai số thay đổi
8
9
143
Kiểm định tự tương quan
1
2
3
Kết quả hồi qui sau khắc phục khuyết tật
4
5
144
3. Mô hình biến phụ thuộc JensenAlpha
1
Kiểm định Hausman
2
3
Kiểm định đa cộng tuyến
4
5
6
Kiểm định phương sai sai số thay đổi
7
8
Kiểm định tự tương quan
9
10
11
145
1
2
Kết quả hồi qui mô hình sau khắc phục khuyết tật
Random-effects GLS regression Number of obs = 1,104
Group variable: Fund Number of groups = 16
R-squared: Obs per group:
Within = 0.0442 min = 69
Between = 0.2300 avg = 69.0
Overall = 0.0431 max = 69
Wald chi2(9) = 49.73
corr(u_i, X) = 0 (assumed) Prob > chi2 = 0.0000
(Std. err. adjusted for 16 clusters in Fund)
Robust
JensenAlpha Coefficient std. err. z P>|z| [95% conf. interval]
Size .0121449 .0053563 2.27 0.023 .0016468 .0226429
Turnover .0096124 .005288 1.82 0.069 -.000752 .0199768
Expense -1.096593 .627833 -1.75 0.081 -2.327124 .1339366
Load .0000323 .0000229 1.41 0.158 -.0000125 .0000772
Inflation -4.64522 1.516284 -3.06 0.002 -7.617082 -1.673358
Gender1
Nữ -.0314153 .0134851 -2.33 0.020 -.0578456 -.004985
OVER
Trong nước -.0109216 .0117922 -0.93 0.354 -.0340339 .0121907
CFA
Không -.0261826 .0126293 -2.07 0.038 -.0509355 -.0014297
AGE -.0003282 .0001466 -2.24 0.025 -.0006156 -.0000408
_cons -.2323754 .1249821 -1.86 0.063 -.4773357 .012585
sigma_u .01361511
sigma_e .10541789
rho .016407 (fraction of variance due to u_i)
3
4
5