I HỌ QU GI H N I

TRƢỜN Ọ O Ọ V N N V N

--------------------------------

N T Ị U N NH

Ặ ỂM L ÊN ẾT V M CH L C

TRON V N BẢN KHOA HỌC

(QU Á B BÁO O Ọ V N N V N

TRÊN T P Í O ỌC - Q N)

LUẬN ÁN T ẾN SĨ N ÔN N Ữ HỌC

N I, 2019

I HỌ QU GI H N I

TRƢỜN Ọ O Ọ V N N V N

--------------------------------

N T Ị U N NH

Ặ ỂM L ÊN ẾT V M CH L C

TRON V N BẢN KHOA HỌC

(QU Á B BÁO O Ọ V N N V N

TRÊN T P Í O ỌC - Q N)

huyên ngành: Ngôn ngữ Việt Nam

Mã số:

62 22 01 02

LUẬN ÁN T ẾN SĨ N ÔN N Ữ HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS. NGUYỄN HÍ HÕ

N I, 2019

LỜ M O N

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. ác số liệu, kết

quả đƣợc trình bày trong luận án này là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố

trong bất kỳ công trình nào. Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận án.

Ngƣời cam đoan

MỤC LỤC

D N MỤ Á Ữ V ẾT TẮT....................................................................... 3

DANH MỤC BẢNG, BIỂU Ồ, SƠ Ồ ................................................................. 4

MỞ ẦU .................................................................................................................... 5

1. Lý do chọn đề tài ..................................................................................................... 5

2. ối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................... 6

3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................... 6

4. Câu hỏi và Giả thuyết nghiên cứu ........................................................................... 7

5. Phƣơng pháp nghiên cứu ......................................................................................... 7

6. óng góp của luận án .............................................................................................. 8

7. ấu trúc của luận án ................................................................................................ 8

ƢƠN 1. TỔN QU N TÌN ÌN N ÊN ỨU V Ơ SỞ LÝ LUẬN .... 9

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ...................................................................... 9

1.1.1. Tình hình nghiên cứu về liên kết và mạch lạc ................................................... 9

1.1.2. Tình hình nghiên cứu văn bản khoa học và các bài báo khoa học trên thế giới

và Việt Nam ............................................................................................................... 21

1.1.3. Những vấn đề còn bỏ ngỏ ................................................................................ 25

1.2. Cơ sở lý luận ..................................................................................................... 26

1.2.1. Liên kết và mạch lạc ........................................................................................ 26

1.2.2. Văn bản - văn bản khoa học và bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn ........ 31

ƢƠN 2. Ặ ỂM L ÊN ẾT TRON Á B BÁO O Ọ

V N N V N ....................................................................................... 42

2.1. ác phép liên kết đặc thù trong các bài báo hoa học ã hội và Nhân văn .... 42

2.1.1. Phép liên kết từ vựng ....................................................................................... 43

2.1.2. Phép nối .......................................................................................................... 51

2.1.3. Phép quy chiếu ................................................................................................ 66

2.1.4. Phép thế và phép tỉnh lược .............................................................................. 73

2.2. Một số đặc trƣng liên kết trong các bài báo hoa học ã hội và Nhân văn ..... 75

2.2.1. Sự phối hợp hiệu quả của các phép liên kết trong các bài báo KHXH&NV .. 75

2.2.2. Phương tiện liên kết đặc trưng trong các bài báo KHXH&NV ...................... 76

1

2.2.3. Liên kết trong các bài báo Khoa học Xã hội và liên kết trong các báo

Khoa học Nhân văn .................................................................................................. 82

2.2.4. Liên kết trong các bài báo khoa học và liên kết trong các văn bản thuộc

phong cách chức năng khác ...................................................................................... 87

ƢƠN 3. Ặ ỂM M L TRON Á B BÁO O Ọ

V N N V N ....................................................................................... 95

3.1. Mạch lạc trong quan hệ đề tài - chủ đề ........................................................... 95

3.2. Mạch lạc trong quan hệ lập luận .................................................................... 97

3.2.1. Cấu trúc lập luận trong phần Kết quả nghiên cứu và phần Kết luận của bài

báo Khoa học Xã hội và Nhân văn ........................................................................... 98

3.2.2. Quan hệ lập luận trong phần Dẫn nhập, phần Kết luận của các bài báo Khoa

học Xã hội và Nhân văn .......................................................................................... 106

3.3. Mạch lạc trong trật tự hợp lý giữa các câu, các đoạn và cấu trúc toàn

văn bản ................................................................................................................... 112

3.3.1. Mạch lạc trong trật tự hợp lý giữa các câu, các đoạn .................................. 112

3.3.2. Mạch lạc trong cấu trúc văn bản .................................................................. 116

KẾT LUẬN ............................................................................................................ 146

D N MỤ ÔN TRÌN O Ọ Ủ TÁ Ả L ÊN QU N ẾN

LUẬN ÁN ............................................................................................................... 151

T L ỆU T M ẢO .................................................................................... 152

P Ụ LỤ ............................................................................................................... 162

2

DANH MỤC Á Ữ VIẾT TẮT

ại học : H

ại học Quốc gia Hà Nội : HQGHN

Khoa học Xã hội và Nhân văn : KHXH&NV

Kết luận : R

Luận án : LA

Luận cứ : P

Phép liên kết : PLK

Phong cách khoa học : PCKH

Văn bản : VB

3

DANH MỤC BẢNG, BIỂU Ồ, SƠ Ồ

Bảng 1.1: ác phép liên kết theo quan niệm của Halliday .............................. 26

Sơ đồ 1.2: Những đặc trƣng của văn bản .................................................................. 34

Bảng 2.1: Tần số các phép liên kết đƣợc sử dụng trong các bài báo Khoa học

Xã hội và Nhân văn ....................................................................................... 43

Biểu đồ 2.2: ác loại liên kết từ vựng đƣợc sử dụng trong các bài báo KHXH&NV ....... 44

Biểu đồ 2.3: ác kiểu quan hệ nghĩa của phép nối đƣợc sử dụng trong các bài báo

KHXH&NV .............................................................................................................. 52

Biểu đồ 2.4: ác kiểu loại phép quy chiếu đƣợc sử dụng trong các bài báo

KHXH&NV .............................................................................................................. 67

Bảng 2.5: Bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn theo các lĩnh vực ............... 82

Biểu đồ 2.6: Tần số các phép liên kết đƣợc sử dụng trong 8 ngành Khoa học Xã hội

và Nhân văn ............................................................................................................... 83

Biểu đồ 2.7: Tần số các loại liên kết từ vựng xuất hiện trong các bài báo thuộc tám

ngành KHXH&NV .................................................................................................... 86

Bảng 3.1: Bảng các kiểu lập luận trong 240 bài báo thuộc tám ngành

KHXH&NV .................................................................................................. 97

Sơ đồ 3.2: ấu trúc lập luận của bài báo ................................................................. 101

Sơ đồ 3.3: Mạng lập luận của phần kết luận về hình thức cấu tạo của thuật ngữ (r1) ... 102

Sơ đồ 3.4: Mạng lập luận của phần kết luận về hình thức cấu tạo của thuật ngữ (r3) .......... 103

Sơ đồ 3.5: Mạng lập luận của phần kết luận về hình thức cấu tạo của thuật ngữ (r4) .......... 104

Sơ đồ 3.6: Quan hệ lập luận trong phần kết luận R ................................................ 105

Sơ đồ 3.7: ấu trúc của một bài báo KHXH&NV .................................................. 117

Bảng 3.8: ác yếu tố thành phần trong hai giai đoạn của bài báo KHXH&NV .... 119

Sơ đồ 3.9: ác yếu tố thành phần của bài báo KHXH&NV ................................... 121

Bảng 3.10: ác yếu tố thành phần trong các bài báo thuộc 8 ngành Khoa học

Xã hội và Nhân văn ..................................................................................... 122

Bảng 3.11: ấu tạo ngữ pháp tiêu đề các bài báo KHXH&NV ..................... 123

Bảng 3.12: Vai trò của tiêu đề các bài báo KHXH&NV ............................... 124

Bảng 3.13: Mối quan hệ giữa Tóm tắt và Nội dung bài báo .......................... 128

Bảng 3.14: ấu trúc nghĩa phần thảo luận của bài báo “Vấn đề lƣơng tâm trong

kịch Sêkhôp” .............................................................................................. 138

4

MỞ ẦU

1. Lý do chọn đề tài

1.1. Thuật ngữ “văn bản” ngay từ khi mới xuất hiện đã nhận đƣợc sự quan

tâm của nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ. Nhiều công trình đã nghiên cứu về liên kết

hoặc mạch lạc trong các văn bản (VB) nghệ thuật, VB báo chí, VB hành chính tiếng

Việt. iều này cho thấy giá trị cần thiết của hai yếu tố liên kết và mạch lạc trong

việc kết nối các đơn vị ngôn ngữ để tạo nên tính hoàn chỉnh cho VB. Tuy nhiên,

chƣa có công trình nào nghiên cứu kỹ về VB khoa học, cũng nhƣ làm rõ vai trò

quan trọng của liên kết bên cạnh phƣơng diện mạch lạc khi tạo lập và tiếp nhận các

VB khoa học tiếng Việt.

1.2. Khoa học và công nghệ hiện nay đang phát triển nhanh chóng và đạt rất

nhiều thành tựu to lớn, vì thế đòi hỏi VB khoa học cần thiết phải là phƣơng tiện hữu

ích để phổ biến thông tin. Theo nhận định của Unesco, hoạt động nghiên cứu khoa

học Xã hội và Nhân văn (KHXH&NV) đang càng ngày càng có giá trị, có tính chất

liên ngành, đóng góp hữu ích trong việc hoạch định các chính sách, giải quyết các

vấn đề xã hội và nâng cao phúc lợi của nhân dân [97]. Vì thế, nên có những nghiên

cứu chi tiết về loại VB này để đƣa ra những đề xuất (về việc cần đảm bảo tính liên

kết, mạch lạc, sự hoàn chỉnh của cấu trúc hình thức và nội dung) nhằm góp phần nâng

cao chất lƣợng các bài báo KHXH&NV, hƣớng tới đáp ứng các tiêu chuẩn quốc gia

và quốc tế, trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay.

1.3. VB khoa học sử dụng nhiều thuật ngữ mang tính chuyên ngành cao,

thƣờng khó khăn hơn đối với ngƣời tiếp nhận và tạo lập [114, tr.26]. Tuy có ý kiến

quan niệm, VB khoa học có tính chính xác và logic nên đòi hỏi sự xuất hiện nhiều

các phép liên kết (phƣơng thức liên kết), nhƣng chƣa có nghiên cứu nào tìm hiểu cụ

thể đặc điểm của liên kết và mạch lạc xuất hiện trong loại VB này. Mặt khác, trong

quá trình tiếp xúc với các bài báo KHXH&NV trên Tạp chí Khoa học - ại học

Quốc gia Hà Nội ( HQGHN), chúng tôi nhận thấy vẫn còn một số trƣờng hợp chƣa

đáp ứng đúng yêu cầu của văn phong và cấu trúc bài báo khoa học. Và việc đƣa ra

5

những yêu cầu mang tính bắt buộc đối với các sản phẩm khoa học là nhiệm vụ của

các nhà ngôn ngữ cũng nhƣ những ngƣời làm công việc biên tập.

Vì những lý do trên, chúng tôi đã nghiên cứu “Đặc điểm liên kết và mạch lạc

trong các văn bản khoa học - qua các bài báo KHXH&NV trên Tạp chí Khoa học,

ĐHQGHN” nhằm làm rõ hơn về lý thuyết VB và những yêu cầu thực tiễn trong việc

sử dụng các phép liên kết (PLK), phƣơng tiện liên kết, quan hệ đề tài – chủ đề, quan

hệ lập luận, cấu trúc hình thức của các bài báo khoa học tạo giá trị mạch lạc cho loại

VB này.

2. ối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

2.1. Đối tượng nghiên cứu

ối tƣợng nghiên cứu của đề tài là đặc điểm liên kết và mạch lạc trong 586

bài báo KHXH&NV đăng trên Tạp chí Khoa học - HQGHN từ năm 1985 đến năm

2013 (thuộc các lĩnh vực: Pháp luật, Giáo dục, Kinh tế, Xã hội học, Lịch sử, Ngôn

ngữ, Triết học, Văn học .v.v.).

2.2. Phạm vi nghiên cứu

Do khuôn khổ thời gian và dung lƣợng luận án, nên chúng tôi chỉ xem xét sự

xuất hiện của các PLK trong các bài báo KHXH&NV, sự mạch lạc trong quan hệ nội

chiếu bên trong VB (gồm mã tín hiệu ngôn ngữ, cấu trúc lập luận, kết cấu thể loại

VB). ác yếu tố khác liên quan đến mạch lạc bên ngoài VB (bao gồm: ngữ cảnh, kiến

thức nền, ngƣời viết/ ngƣời đọc) hy vọng sẽ đƣợc đề cập chi tiết hơn trong những

nghiên cứu tiếp theo.

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích

Mục đích của luận án là tìm hiểu và chỉ ra các đặc điểm liên kết và mạch

lạc xuất hiện phổ biến trong các bài báo KHXH&NV. Qua đó, khẳng định vai trò

quan trọng của liên kết và mạch lạc trong thể loại VB này. Từ kết quả nghiên cứu

này, L hy vọng có thể đƣa ra một số đề xuất nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng

các bài báo khoa học hƣớng tới đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của bài báo chuẩn

quốc gia và quốc tế.

6

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

- Một là, tìm hiểu và khái quát những vấn đề lý thuyết về VB, liên kết và

mạch lạc trong VB, cấu trúc của một bài báo khoa học.

- Hai là, khảo sát, thống kê, phân loại và xác định những PLK cơ bản đƣợc

sử dụng để tạo tính logic trong các bài báo KHXH&NV.

- Ba là, khảo sát, thống kê và xác định những biểu hiện đặc trƣng thể hiện sự

mạch lạc trong các bài báo KHXH&NV.

4. Câu hỏi và iả thuyết nghiên cứu

4.1. Câu hỏi nghiên cứu

- Những PLK nào đƣợc dùng phổ biến trong các bài báo KHXH&NV? Việc

sử dụng các phƣơng tiện liên kết trong VB khoa học có những đặc thù gì?

- ặc trƣng mạch lạc trong các văn bản KHXHNV là gì?

- Những đặc điểm liên kết và mạch lạc trong VB khoa học đƣợc xuất hiện

độc lập hay có sự ảnh hƣởng với nhau?

4.2. Giả thuyết nghiên cứu

- Liên kết và mạch lạc là hai đặc điểm bắt buộc trong VB khoa học nhằm

thể hiện các suy luận của tƣ duy logic, đó không chỉ thể hiện là liên kết hình thức

mà còn góp phần quan trọng đem lại sự tƣờng minh ngữ nghĩa nội dung cho VB

khoa học.

- ác bài báo KHXH&NV có cấu trúc riêng và cách thức tổ chức thể hiện

sự kết nối chặt chẽ, mạch lạc và thống nhất cao giữa các phần trong bài báo (tiêu

đề, tóm tắt, đặt vấn đề, phƣơng pháp nghiên cứu, kết quả nghiên cứu, thảo luận,

kết luận).

5. Phƣơng pháp nghiên cứu

Ngoài cách tiếp cận định tính và định lƣợng với các thủ pháp đƣợc sử dụng

là miêu tả, quy nạp, thống kê - phân loại, phân tích - tổng hợp, so sánh - cải biến,

luận án sử dụng hai phƣơng pháp nghiên cứu cơ bản là:

- Phƣơng pháp phân tích VB: Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng để tìm hiểu,

miêu tả, phân tích giá trị ngữ nghĩa của các PLK, những biểu hiện mạch lạc xuất

7

hiện đặc trƣng và đặc điểm cấu tạo cùng nội dung ngữ nghĩa của các yếu tố thành

phần trong các bài báo KHXH&NV.

- Phƣơng pháp phân tích diễn ngôn: Dựa trên lý thuyết ngữ vực (register) của

M. .K Halliday về trƣờng (field), thức (mode) và không khí (tenor) để tìm hiểu và

giải thích đề tài - chủ đề, phƣơng thức diễn ngôn (viết), chức năng các bài báo khoa

học, mục đích giao tiếp đã chi phối ra sao tới cách lựa chọn các PLK và cách tạo sự

mạch lạc trong các bài báo KHXH&NV. ồng thời, xem xét phân tích cấu trúc diễn

ngôn (các đơn vị ngôn ngữ tạo nên bài báo KHXH&NV và các qui luật chi phối tới

việc tổ chức những đơn vị ngôn ngữ đó).

6. óng góp của luận án

- Ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm rõ hơn, minh chứng

cho cơ sở lý thuyết của ngôn ngữ học VB trên hai phƣơng diện liên kết và mạch lạc.

Sự liên kết của các câu, các đoạn, các yếu tố thành phần đã tạo nên sự logic, mạch

lạc trong các mối quan hệ ngữ nghĩa. Và đặc điểm này đã góp phần tạo nên tính

hoàn chỉnh về hình thức cũng nhƣ cấu trúc nội dung cho các bài báo KHXH&NV.

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận án cho thấy các đặc điểm

liên kết (các phép liên kết, các phƣơng tiện liên kết đặc thù) và đặc điểm mạch lạc

nổi bật (trong quan hệ đề tài – chủ đề; quan hệ lập luận; quan hệ giữa các câu, đoạn,

cấu trúc toàn VB) trong các bài báo KHXH&NV trên Tạp chí Khoa học -

HQGHN. Trong quá trình tạo lập và phân tích các bài báo KHXH&NV cần lƣu ý

đến cấu trúc hình thức, tính hiệu quả của việc sử dụng các phƣơng tiện liên kết để

tạo giá trị mạch lạc cho VB. Ngoài ra, kết quả của luận án cùng những đề xuất có

thể đƣợc sử dụng để làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu ngôn ngữ và giảng

dạy ngôn ngữ trong nhà trƣờng.

7. ấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung luận án gồm 3 chƣơng:

hƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

hƣơng 2: ặc điểm liên kết trong các bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn

hƣơng 3: ặc điểm mạch lạc trong các bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn

8

ƢƠN 1. TỔN QU N TÌN ÌN N ÊN ỨU

V Ơ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1. Tình hình nghiên cứu về liên kết và mạch lạc

1.1.1.1. Nghiên cứu về liên kết và mạch lạc trong văn bản trên thế giới

(i) Nghiên cứu về liên kết và mạch lạc

Các công trình nghiên cứu về VB ngay từ giai đoạn đầu tiên (những năm

1950 của thế kỷ XX) đã có sự xuất hiện của thuật ngữ liên kết (các phƣơng tiện liên

kết hình thức). Và theo Moskalskaja, tính liên kết trong VB đƣợc thể hiện dƣới

dạng tính hoàn chỉnh về cấu trúc, nghĩa và giao tiếp do đó“những yếu tố này tương

ứng với nhau như hình thức, nội dung và chức năng” [66, tr.27].

Hai tác giả Halliday và Hasan trong công trình “Liên kết trong tiếng Anh”

(1976) [112] đã xây dựng hệ thống các PLK trong tiếng Anh, đồng thời khẳng định

ý nghĩa của các mệnh đề, các phát ngôn, đoạn văn sẽ trở nên rõ ràng hơn nhờ việc

sử dụng các phƣơng tiện liên kết. Bên cạnh đó, hai tác giả đã quan niệm “một văn

bản là một đoạn ngôn ngữ có mạch lạc ở hai mặt: nó mạch lạc đối với ngữ cảnh và

vì vậy mà nó nhất quán trong trường ngữ vực (register) và nó mạch lạc với bản

thân nó, vì thế mà nó có tính liên kết” [112, tr.23].

Năm 1977, tác giả Van Dijk đã đề cập đến liên kết, mạch lạc ngữ nghĩa và

lƣu ý, sự liên kết về hình thức không đủ để tạo ra sự mạch lạc cho VB, phải dựa trên

cả mặt ngữ nghĩa, sự liên kết chủ đề trong cả đoạn văn, VB cụ thể [130, tr.93].

De Beaugrande và Dressler (1981) đã quan niệm, liên kết và mạch lạc là hai

đặc điểm của VB cùng với năm đặc điểm khác là: tính chủ đích, chấp nhận, thông

tin, ngữ cảnh và tƣơng tác [104, tr.3]. Ngoài ra, vai trò của liên kết cũng đƣợc tác

giả I.Galperin nhấn mạnh là “một phạm trù không thể tách rời của văn bản, chính

sự liên kết làm cho thông tin nội dung sự việc được lý giải nhất quán” [31, tr.249].

Và theo tác giả, các phƣơng tiện thể hiện mạch lạc trong VB, ngoài những phƣơng

tiện ngữ pháp truyền thống (liên kết giữa các câu) còn gồm các phƣơng tiện logic,

9

liên tƣởng (thời gian, không gian, nhân – quả), hình tƣợng, bố cục – kết cấu, tu từ

và tiết tấu – cấu tạo [31, tr.157].

Năm 1983, Brown và Yule trong tác phẩm “Phân tích diễn ngôn” cũng đã

khẳng định, liên kết và mạch lạc đóng vai trò quan trọng trong các văn bản/ diễn

ngôn [8]. ồng thời, hai tác giả đồng ý với quan điểm của Halliday và Hasan về các

PLK và đồng ý với quan điểm của De Beaugrande và Dressler về sự mạch lạc khi

cho rằng, yếu tố mạch lạc phụ thuộc vào khả năng của ngƣời nghe/ ngƣời đọc để

giải thích ý định của ngƣời nói/ ngƣời viết trong việc hiểu nội dung thông tin của

VB [8, tr.348]. Tiếp theo, David Nunan (1993) cũng nhất trí với các PLK do

Halliday và Hasan đề xuất và quan niệm, mạch lạc là việc ngƣời đọc/ngƣời nghe sử

dụng kiến thức ngôn ngữ của họ để hiểu VB và liên hệ với thế giới bên ngoài [71].

Cụ thể hơn, Martin (2001) đã khẳng định, liên kết là một thuộc tính góp phần vào

việc tổ chức cấu trúc của diễn ngôn [118].

Nhìn chung, có thể thấy liên kết và mạch lạc đã đƣợc các nhà nghiên cứu

ngôn ngữ thống nhất rằng, liên kết là việc sử dụng các phƣơng tiện liên kết hình

thức, mạch lạc là sự nối kết về mặt ngữ nghĩa giữa các câu, các thành phần trong

VB và phù hợp với tình huống ngoài VB.

Quan điểm về liên kết của Halliday và Hasan đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu

ngôn ngữ ứng dụng trong các công trình của họ. Vì thế, liên kết và mạch lạc đã

đƣợc đề cập đến trong nhiều ngôn ngữ khác nhau [131], trong các nghiên cứu về

ngôn ngữ học máy tính, ngôn ngữ học khối liệu của các VB khoa học kỹ thuật

[125]. Bên cạnh đó, tầm quan trọng của liên kết, mạch lạc đã đƣợc khẳng định và

đƣợc nhiều tác giả đề cập trong các loại VB khác nhau [118, 127, 138]. Nhiều công

trình khác đã phân tích các ngữ liệu và chỉ ra, sự liên kết thay đổi theo phƣơng thức

diễn ngôn (nói hay viết) [110, 129] và theo thể loại [128]. Ngoài ra, nghiên cứu về

liên kết và mạch lạc là cần thiết để cung cấp những thông tin hữu ích cho ngôn ngữ

học ứng dụng, nghiên cứu dịch thuật [119]. ặc biệt là, trong giảng dạy ngôn ngữ

[138, tr.16], trong các tài liệu hƣớng dẫn ngƣời học cách sử dụng và tạo lập một VB

hoàn chỉnh, thống nhất, đảm bảo tính liên kết và mạch lạc [108, 111, 122].

10

(ii) Mối quan hệ của liên kết và mạch lạc

ác nhà nghiên cứu ngôn ngữ đều đồng ý có sự xuất hiện của yếu tố liên kết

và mạch lạc trong VB, tuy nhiên quan điểm về mối quan hệ của hai thuật ngữ này

có sự khác nhau.

Quan điểm thứ nhất cho rằng, liên kết và mạch lạc là hai hiện tƣợng riêng

biệt. Một VB có thể có mạch lạc mà không cần sự xuất hiện của các PLK. Liên kết

không liên quan đến mạch lạc (hai khái niệm này độc lập). Mạch lạc quyết định

một chuỗi câu là VB và không cần sử dụng các PLK. ó là quan điểm của các tác

giả: Enkvist (1978), Widdowson (1978), Ellis (1992), Hellman (1995), Sanford &

Moxey (1995) (theo Tanskanen [129, tr.16]). hi tiết hơn, theo ý kiến của hai tác

giả De Beaugrande và Dressler, liên kết và mạch lạc đại diện cho bảy tiêu chuẩn

của tính VB (textuality). ồng thời, đó là hai hiện tƣợng riêng biệt rõ ràng, không

ảnh hƣởng đến nhau [104, tr.3]. Tác giả Roger T. Bell (1991) cũng quan niệm, liên

kết và mạch lạc là hai thuộc tính không thể thiếu của VB nhƣng chúng có sự phân

biệt nhau [105, tr.163]. Tác giả I.Galperin cũng phân biệt mạch lạc và liên kết,

nhƣng cho rằng chúng qui định lẫn nhau [31, tr.250]. John Lyons đã nhấn mạnh

hơn, tính liên kết phân biệt với tính mạch lạc, là sự phân biệt giữa hình thức và nội

dung [63, tr.274].

Quan điểm thứ hai đề cao vai trò của liên kết và liên kết góp phần tạo ra sự

mạch lạc trong các VB. ó là quan niệm của các tác giả: Hoey (1991), Parsons

(1991), Hoover (1997), Martin (1992), Thompson (1994), Dahl năm 2000 (theo

Tanskanen [129, tr.20]). Tác giả Péter B. Furkó (2013) cũng cho rằng, dù liên kết

chỉ đóng vai trò là yếu tố nhỏ trong diễn ngôn/ văn bản, nhƣng nghiên cứu về chúng

có tầm quan trọng lớn nhất, bởi chúng đóng vai trò chủ chốt trong việc tạo ra các

mối quan hệ mạch lạc và ý nghĩa VB [134, tr.103].

Quan điểm thứ ba cho rằng, liên kết và mạch lạc có sự hòa quyện vào nhau.

ó là ý kiến của hai tác giả Halliday và Hasan, liên kết có nghĩa là sự mạch lạc

trong một VB, trong khi mạch lạc là sự mạch lạc của VB với ngữ cảnh tình huống

bên ngoài VB [112, tr.23]. Họ khẳng định “texture” (đƣợc hiểu là tính kết cấu, chất

11

VB hay mạng mạch) chính là thuộc tính để một chuỗi câu đƣợc gọi là VB [112,

tr.2]. ồng ý với quan niệm này, Wales đã cho rằng: “mạch lạc là liên kết ngữ

nghĩa (semantic cohesion) còn liên kết là mạch lạc văn bản (textual coherence)”

[102, tr.603-604]. Tác giả Tanskanen (2006) đã khẳng định, có sự hiện diện của các

PLK trong một VB mạch lạc, do đó chúng độc lập và phụ thuộc vào nhau [129,

tr.21]. ồng thời, tác giả cũng nhấn mạnh, giao tiếp thành công phụ thuộc vào cả sự

liên kết và mạch lạc của VB.

Tóm lại, tuy có những ý kiến khác nhau về mối quan hệ của hai yếu tố này

khi nghiên cứu VB nhƣng các nhà ngôn ngữ học bên cạnh việc chú trọng hình

thức đã quan tâm nhiều hơn tới quá trình sử dụng ngôn ngữ. Do đó, liên kết và

mạch lạc trong VB đƣợc tìm hiểu (bao gồm cả ngữ nghĩa học, ngữ dụng học) gắn

với chức năng giao tiếp. Và trong những công trình nghiên cứu gần đây đã có sự

chú trọng hơn tới các hoạt động xã hội của ngôn ngữ (VB đƣợc khảo sát trong các

hoạt động cụ thể, ứng dụng trong đời sống và có tính liên ngành với các ngành

khoa học khác).

Nhìn chung, các nghiên cứu về liên kết, mạch lạc đã xuất hiện trong cả phân

tích diễn ngôn lẫn ngôn ngữ học VB nhiều thập kỷ qua. ồng thời, hai đặc điểm

này đƣợc tìm hiểu cả trên bình diện lý thuyết và ứng dụng trong các thể loại VB cụ

thể thuộc nhiều phong cách (nghệ thuật, hành chính, chính luận). Tuy nhiên, vẫn

chƣa có sự thống nhất trong việc phân biệt hay không phân biệt đặc điểm liên kết,

đặc điểm mạch lạc trong VB và chƣa có công trình nghiên cứu nào tìm hiểu các đặc

điểm này trong bài báo khoa học.

1.1.1.2. Nghiên cứu liên kết và mạch lạc trong văn bản ở Việt Nam

Liên kết và mạch lạc là hai thuộc tính cơ bản của VB và xuất hiện trong

nhiều ngôn ngữ, trong đó có tiếng Việt. Nghiên cứu về liên kết và mạch lạc trong

VB tiếng Việt cả về lý thuyết và ứng dụng đƣợc đề cập nhiều, chúng tôi tạm chia ra

4 hƣớng nghiên cứu chính là: Lý thuyết về liên kết, mạch lạc và hệ thống các phép

liên kết; Nghiên cứu liên kết và mạch lạc ứng dụng trong giảng dạy; Nghiên cứu các

12

phép liên kết hoặc đặc điểm mạch lạc trong một số VB tiếng Việt; Nghiên cứu so

sánh liên kết và mạch lạc trong VB tiếng Việt với các VB thuộc ngôn ngữ khác.

(i). Lý thuyết về liên kết, mạch lạc và hệ thống các phép liên kết

Hiện nay, tại Việt Nam cùng xem xét sự liên kết trong VB tiếng Việt dựa

trên yếu tố nghĩa, đang tồn tại hai quan điểm về liên kết và do đó có hai hệ thống

các PLK. Quan điểm thứ nhất, coi liên kết VB thuộc mặt cấu trúc của hệ thống ngôn

ngữ và một chuỗi câu là một VB phải có đầy đủ liên kết hình thức và liên kết nội

dung [80]. Theo quan điểm này, trong VB tiếng Việt có 12 PLK hình thức (trong đó

phép lặp gồm ba kiểu: lặp ngữ âm, cú pháp và từ vựng) [81, tr.25]. Quan điểm thứ

hai, tách liên kết ngữ nghĩa khỏi liên kết hình thức (liên kết ngữ nghĩa thuộc về khái

niệm mạch lạc). Và liên kết không thuộc cấu trúc, điều làm cho chuỗi câu trở thành

VB, là yếu tố mạch lạc. Theo quan điểm thứ hai này, hệ thống liên kết trong VB

tiếng Việt gồm bốn PLK là: phép quy chiếu, phép nối, phép thế và phép tỉnh lƣợc,

phép liên kết từ vựng [5, tr.351].

Quan điểm thứ nhất về liên kết đã đƣợc tác giả Trần Ngọc Thêm đề cập

trong công trình “Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt” (1985) và mạch lạc đƣợc tác

giả quan niệm là sự liên kết nội dung trong VB [81]. ây là đóng góp rất lớn của tác

giả cho lĩnh vực nghiên cứu ngữ pháp VB tiếng Việt. Quan điểm này cũng nhận

đƣợc sự nhất trí của nhiều nhà nghiên cứu. Tác giả ỗ Hữu hâu đã cho rằng “liên

kết nội dung trong văn bản còn gọi là mạch lạc” và ông đã đề cập đến tính mạch lạc

của VB trong nhiều công trình nghiên cứu [12, 13]. Tác giả Nguyễn Thị Việt Thanh

(1999) đã nghiên cứu về đặc điểm liên kết của lời nói tiếng Việt, đồng thời dựa trên

phƣơng diện ngữ kết, ngữ nghĩa học và ngữ dụng - ngữ nghĩa học để phân chia các

phƣơng thức, phƣơng tiện đƣợc sử dụng. Và tác giả cho rằng, ngoài việc sử dụng 12

PLK giống nhƣ liên kết VB, liên kết lời nói còn có thêm 4 phép đặc thù (tiền giả

định, hàm ý, cử chỉ và tình huống) thành 16 PLK [76, tr.125].

Quan điểm thứ hai về liên kết đƣợc tác giả Diệp Quang Ban đề cập đến trong

công trình “Văn bản và liên kết trong tiếng Việt” (1998) và theo ông, mạch lạc trong

VB gồm 3 đặc điểm là: triển khai mệnh đề, chức năng, theo nguyên tắc cộng tác [3].

13

Trong công trình nghiên cứu năm 2009, tác giả đã bổ sung thêm, mạch lạc gồm 7

đặc điểm (mạch lạc thông qua quan hệ giữa các từ ngữ trong một câu, quan hệ đề tài

- chủ đề, cấu trúc tin trong VB, trật tự hợp lý giữa các câu, quan hệ thích hợp giữa

các hành động ngôn ngữ, từ ngữ trong VB với tình huống ngoài VB, quan hệ lập

luận) [5, tr.293]. Và ông khẳng định rằng, các quan hệ kết nối giữa các câu sử dụng

phƣơng tiện liên kết gọi là liên kết, những mối quan hệ đƣợc kết nối do ngữ nghĩa

giữa các câu gọi là mạch lạc. ác PLK nhƣ vậy, đƣợc sử dụng để hiển ngôn hóa

mạch lạc.

ồng thời, mạch lạc trong VB đã nhận đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà

nghiên cứu ngôn ngữ. Tác giả Nguyễn Thị Thìn quan niệm, mạch lạc là logic của sự

trình bày, kết quả chiến lƣợc giao tiếp của ngƣời tạo lập VB, lựa chọn thể loại và áp

dụng các qui tắc giao tiếp, đặc điểm phong cách, để sắp xếp và trình bày nội dung

VB [83, tr.46]. Tuy quan niệm này chƣa bao quát hết các dấu hiệu của mạch lạc nhƣ

tác giả Diệp Quang Ban đã đề cập, nhƣng kết quả nghiên cứu về đặc điểm mạch lạc

trong VB viết là những gợi ý quý báu để tìm hiểu về đặc điểm liên kết và mạch lạc

trong một thể loại VB nhất định. Tác giả Nguyễn Thiện Giáp đã phát biểu “một

diễn ngôn hoặc một văn bản gồm các câu có quan hệ nghĩa với nhau, cùng hướng

vào một chủ đề nhất định là một diễn ngôn hoặc một văn bản có mạch lạc” [36,

tr.253]. Ngoài ra, vai trò quan trọng của mạch lạc khi tạo lập VB (chú ý đến những

căn cứ ngoài ngôn ngữ nhƣ: ngữ cảnh, ngƣời nghe, ngƣời viết, ngữ dụng, cấu trúc

thông tin, diễn ngôn) đã đƣợc ông tiếp tục đề cập đến trong nhiều công trình nghiên

cứu khác [33, 34, 35]. Theo ý kiến của tác giả Nguyễn Hòa (2003) “mạch lạc được

tạo ra bởi không chỉ trên căn cứ ngôn ngữ mà còn trên cả những căn cứ ngoài ngôn

ngữ” [51, tr.51]. Những yếu tố ngoài ngôn ngữ gồm: ngƣời viết, ngƣời đọc, ngữ

cảnh, tính quan yếu, thông tin nền. ây cũng là những phát hiện hữu ích của tác giả

về mạch lạc trong diễn ngôn (một quá trình giao tiếp tƣơng tác và có ngoại diên

rộng hơn VB).

Cụ thể hơn, vai trò của đặc điểm liên kết và mạch lạc trong VB đƣợc tác giả

inh Văn ức nhấn mạnh, cùng với liên kết, mạch lạc là tất yếu cho mọi diễn ngôn

14

[29, tr.501]. Và đó là hai phƣơng thức lớn cùng nhau tạo ra VB là liên kết hình thức

(cohesion) và liên kết mạch lạc (coherence) [30, tr.488]. ồng thời, dù phân tích

diễn ngôn liên quan đến sản phẩm của ngôn ngữ nói hay viết thì chúng đều có liên

kết nhất định, mạch lạc nhất định [30, tr.489].

Ngoài ra, còn nhiều sách chuyên khảo, công trình nghiên cứu đã đề cập đến

hệ thống liên kết trong VB tiếng Việt [1, 7, 9, 11].

Nhƣ vậy, việc nghiên cứu về liên kết, mạch lạc và hệ thống các PLK trong

tiếng Việt đƣợc rất nhiều ngƣời quan tâm và chú ý. iều đó, chứng tỏ tầm quan

trọng của vấn đề này và cần đƣợc tiếp tục khảo sát kỹ lƣỡng trong giai đoạn tới.

(ii). Nghiên cứu liên kết và mạch lạc ứng dụng trong giảng dạy

Bắt đầu từ những năm 1980 của thế kỷ XX cho tới nay, liên kết và mạch lạc

đã nhận đƣợc sự quan tâm của nhiều tác giả nhƣ: ỗ Hữu hâu, Hoàng Phê,

Nguyễn ức Dân, Lê ông, ao Xuân Hạo, Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp,

Nguyễn Hòa cùng nhiều nhà nghiên cứu khác.

Vấn đề cần rèn luyện cho học sinh, sinh viên cách tạo lập VB đảm bảo tính

liên kết chặt chẽ cũng đƣợc đề cập trong hầu hết các sách giáo khoa, giáo trình về

Ngữ pháp tiếng Việt và Tiếng Việt thực hành của nhiều tác giả [1, 7, 54, 89, 92].

Tác giả Nguyễn Thị Ly Kha cho rằng, liên kết là điều kiện để chuỗi câu trở

thành VB [64, tr.162]. ặc biệt, tác giả đã nhấn mạnh, trong một VB có thể thiếu

một trong hai phƣơng diện của liên kết nội dung, nhƣng chắc chắn không thể thiếu

liên kết hình thức. Vì mọi sự liên kết nội dung đều phải thông qua liên kết hình

thức, nên nếu không có phƣơng tiện liên kết thể hiện thì mọi giá trị nội dung sẽ

không đƣợc hiện thực hóa. Tuy chƣa đề cập đến những trƣờng hợp không xuất hiện

liên kết hình thức (trong hội thoại, trong VB nghệ thuật) và có mạch lạc, nhƣng

nhận định này của tác giả sẽ phù hợp với những VB đòi hỏi tính chính xác cao nhƣ

VB hành chính, VB khoa học.

Theo tác giả Nguyễn hí Hòa, các câu trong VB đƣợc liên kết với nhau để

phát triển ngữ nghĩa, ngữ pháp và quan hệ giữa các câu (thể thống nhất trên câu)

chủ yếu đƣợc thể hiện bằng quan hệ cấu trúc của các câu, gồm một số quan hệ là:

15

cấu trúc chủ đề, cấu trúc tình huống, cấu trúc hỏi đáp và hai quan hệ cơ bản là móc

xích và song hành [48].

Trong cuốn “Rèn luyện kỹ năng đọc và soạn thảo văn bản” (2010), tác giả

Nguyễn hí Hòa đã nhấn mạnh: “Các câu được liên kết với nhau trong khổ văn

xuôi nhờ quan hệ móc xích, song song hoặc bằng sự kết hợp của hai loại quan hệ

này. Các phương tiện phản ánh những quan hệ này không chỉ là quan hệ một chiều

mà đồng thời theo nhiều chiều. Các quan hệ này bổ sung cho nhau tạo thành mạng

quan hệ dày đặc, đan cài vào nhau” [49]. ác quan hệ này không đơn giản để tạo

sự liên kết giữa các câu mà còn tạo ra sự gắn kết về ngữ nghĩa trong VB. Và các

câu, các đoạn trong một VB có mối quan hệ về mặt ngữ nghĩa với nhau để phản ánh

sự chuyển động, sự phát triển của chủ đề.

ông trình “Nhập môn ngôn ngữ học” của các tác giả Mai Ngọc Chừ,

Nguyễn Thị Ngân Hoa, ỗ Việt Hùng và Bùi Minh Toán không chỉ rõ các PLK

trong VB, nhƣng nội dung trong cuốn sách đề cập đến các phƣơng tiện và biện pháp

tu từ VB [16]. ó là việc có thể sắp xếp các đoạn theo những quan hệ nhất định, lặp

lại các phần trong VB để tạo các vị trí mạnh hoặc sử dụng tựa đề, chú thích để củng

cố quan hệ liên VB. ây cũng là những gợi ý quí báu của các tác giả về một giá trị

khác trong việc sử dụng các phƣơng tiện liên kết, nhằm đem lại tính hiệu quả, tính

thông báo tốt nhất cho VB.

Tác giả Nguyễn Văn Hiệp với tác phẩm “Cú pháp tiếng Việt” (2009) đã lƣu

ý, việc tìm hiểu câu phải gắn với ngữ cảnh giao tiếp, để xem xét cấu trúc, ngữ nghĩa

và chức năng của câu. Bởi vì, câu luôn luôn tồn tại trong mạng lƣới quan hệ với các

câu khác và tƣơng thích với ngữ cảnh, nên trong câu xuất hiện một số yếu tố đƣợc

tác giả gọi là chỉ tố liên kết VB. Khác với quan niệm của Halliday, khi phân loại các

PLK văn bản đều dựa trên cơ sở phần đề của câu (đề VB, đề liên nhân và đề kinh

nghiệm), tác giả Nguyễn Văn Hiệp cho rằng, yếu tố tham gia tạo liên kết cho VB

bao gồm tất cả các thành phần trong câu và đặc biệt tinh tế ở những vị từ tình thái

tính, tiểu từ tình thái cuối câu, những phó từ chỉ thời, thể [47, tr.382]. ây là một

phát hiện mới và lý thú của tác giả. Tuy nhiên, vì chú trọng phần nghiên cứu cú

16

pháp chứ không phải phân tích VB nên tác giả chỉ dừng lại ở việc khảo sát trong các

VB nghệ thuật và chƣa tìm hiểu trong các VB khác nhƣ hành chính, khoa học. Dù

sao, đây cũng là những gợi ý bổ ích cho nghiên cứu về chỉ tố liên kết trong các loại

VB khác ở giai đoạn tới, để làm rõ hơn về chức năng và ngữ nghĩa của các loại VB

tiếng Việt.

Ngoài ra, còn nhiều nghiên cứu của các tác giả Phan Thị i, Diệp Quang

Ban, ỗ Hữu hâu, Hữu ạt và nhiều tác giả khác nghiên cứu về vấn đề liên kết,

mạch lạc trong giảng dạy và tổ chức VB [2, 4, 20, 26, 45].

Tóm lại, để tạo nên tính hoàn chỉnh cho VB cần có sự liên kết chặt chẽ và có

sự mạch lạc của các đơn vị ngôn ngữ nhỏ hơn, nhƣ câu với câu trong đoạn văn và

đoạn văn với đoạn văn trong VB (phát ngôn với phát ngôn hay giữa các hành vi lời

nói, các hiệu lực ở lời trong hội thoại). Nghiên cứu tìm hiểu cách thức liên kết, các

mối quan hệ và phƣơng tiện liên kết giữa chúng cũng là đề tài nhận đƣợc nhiều sự

quan tâm của các nhà ngôn ngữ học. Tuy nhiên, các nghiên cứu mới chỉ khảo sát ngữ

liệu là VB nghệ thuật, báo chí, hành chính, chính luận, việc tìm hiểu đặc điểm liên kết

và mạch lạc trong các VB khoa học vẫn chƣa đƣợc công trình nào đề cập đến.

Nhìn chung, liên kết và mạch lạc trong VB tiếng Việt đã nhận đƣợc sự chú ý

của nhiều nhà ngôn ngữ học nên đƣợc nghiên cứu trên nhiều góc độ (kết học, nghĩa học

và dụng học). ồng thời, các nghiên cứu đã chú trọng hƣớng tới miêu tả, phân tích giá

trị của các PLK và yêu cầu đảm bảo tính mạch lạc, để rèn luyện kỹ năng soạn thảo và

phân tích VB cho học sinh, sinh viên Việt Nam và sinh viên nƣớc ngoài.

(iii). Nghiên cứu các phép liên kết hoặc đặc điểm mạch lạc trong một số văn

bản tiếng Việt

ể đảm bảo tính liên kết, tính mạch lạc cho VB cần thiết phải sử dụng các

phƣơng tiện liên kết, vì vậy đã có nhiều công trình nghiên cứu khảo sát về tần số,

giá trị nội dung sử dụng của một PLK cụ thể (phép tỉnh lƣợc, phép qui chiếu, phép

nối, phép lặp, phép liên kết từ vựng) trong các VB thuộc phong cách nghệ thuật,

báo chí và chính luận.

17

Phép liên kết tỉnh lƣợc đƣợc tác giả Phạm Văn Tình đề cập trong công trình

“Phép tỉnh lược và ngữ trực thuộc tỉnh lược trong văn bản liên kết tiếng Việt” [91].

Kết quả nghiên cứu công phu, tỉ mỉ và có giá trị cao khi chỉ ra sự có mặt của PLK

này trong hầu hết các phạm vi giao tiếp và đã góp phần làm tăng tính liên kết cho

các phát ngôn, đồng thời làm rõ nghĩa hơn cho các phát ngôn đó theo mục đích

thông báo của ngƣời tạo lập. Tuy nhiên, chƣa có ngữ liệu khảo sát các VB khoa học

trong công trình nghiên cứu này.

ặc điểm của phép nối và quan hệ nghĩa giữa các phát ngôn trong VB nghệ

thuật và chính luận đƣợc Lƣơng ình Khánh (2006) tìm hiểu [65]. Phép tỉnh lƣợc

đƣợc Hồ Mỹ Huyền (2007) nghiên cứu dựa trên ngữ liệu là VB khẩu ngữ và đã chỉ

ra hiệu quả liên kết chịu sự ảnh hƣởng bởi các yếu tố văn hóa, xã hội tác động tới

các tình huống sử dụng của PLK này [56]. Phép qui chiếu và phép lặp từ vựng đƣợc

tác giả Nguyễn Thị Hà (2010) xem xét trong VB hành chính qua nghiên cứu “Khảo

sát chức năng ngôn ngữ văn bản quản lý nhà nước qua phương pháp phân tích diễn

ngôn” [38].

Và đặc điểm liên kết, biểu hiện của mạch lạc đã đƣợc tác giả Nguyễn Thị

Hƣờng nghiên cứu gắn liền với đặc điểm ngôn ngữ trong công trình “Biểu hiện của

mạch lạc trong thể loại báo cáo và tờ trình thuộc văn bản hành chính - công vụ”

[57]. Nhiều luận án đã xem xét đặc điểm liên kết của các đơn vị ngôn ngữ trong quá

trình sử dụng, ví dụ xem xét đặc điểm liên kết của cặp thoại trong hội thoại, trong

lập luận. Phạm Văn Thấu (2000) với “Cấu trúc liên kết của cặp thoại, trên ngữ liệu

tiếng Việt” đã cho rằng, liên kết hội thoại là sự liên kết của các hành vi (sự liên kết

của các hiệu lực ở lời) gồm liên kết hƣớng nội và liên kết hƣớng ngoại [79]. Mai

Xuân Huy (2005) trong công trình “Ngôn ngữ quảng cáo dưới ánh sáng của lý

thuyết giao tiếp” đã kết luận, sự xuất hiện của hội thoại quảng cáo gồm một cuộc

hội thoại hồi chỉ và đa phần là một số cặp thoại liên kết với nhau [55]. Nguyễn Thị

Hồng Ngân (2012) cùng “Cặp thoại trong hội thoại dạy học” đã chỉ ra 8 mô hình

liên kết của tổ chức bƣớc thoại trong hội thoại dạy học trong liên kết hƣớng nội.

Liên kết hƣớng ngoại là liên kết của các cặp thoại, bằng các mối quan hệ là: liên kết

18

đối xứng, liên kết lồng và liên kết phẳng [69]. Tuy nhiên, chƣa có ngữ liệu khảo sát

là VB khoa học trong các công trình nghiên cứu này.

Bên cạnh đó, đề tài về liên kết, mạch lạc trong VB còn nhận đƣợc sự quan

tâm của hơn 60 đề tài luận văn cao học và hơn 50 bài báo của nhiều tác giả từ năm

1985 đến nay, đã khảo sát nghiên cứu về hiệu quả của việc sử dụng PLK trong các

VB tiếng Việt (chiếm 90% là trong các VB nghệ thuật) [18, 21, 23, 41, 44, 46, 58,

61, 62]. iều này đã cho thấy sức hấp dẫn của vấn đề liên kết, mạch lạc trong VB.

Ngoài ra, không chỉ bốn PLK của Halliday đƣợc tìm hiểu trong các VB tiếng

Việt (chủ yếu là trong VB nghệ thuật và báo chí), một số phƣơng tiện liên kết khác

cũng đƣợc quan tâm xem xét gồm: thay đổi trật tự các vế trong câu ghép để tạo giá

trị thông báo và liên kết cho VB [40]; phƣơng thức biểu thị quan hệ nghĩa giữa các

câu [77]; liên kết và liên kết phi hình thức trong VB [88].

Nhƣ vậy, song song với nghiên cứu về liên kết là nghiên cứu sự mạch lạc

trong VB. Liên kết là phƣơng tiện để góp phần tạo nên sự mạch lạc cho VB. ác thể

loại VB thuộc phong cách nghệ thuật, hành chính và báo chí đƣợc nghiên cứu tìm

hiểu, nhƣng ngữ liệu là các VB khoa học, cụ thể là bài báo khoa học thì chƣa có

công trình nào đề cập đến.

(iv). Nghiên cứu so sánh liên kết và mạch lạc trong văn bản tiếng Việt với các

văn bản thuộc ngôn ngữ khác

Việc nghiên cứu so sánh, đối chiếu tình hình sử dụng các PLK trong VB

tiếng Việt với các ngôn ngữ khác đã góp phần làm sáng rõ những điểm tƣơng đồng

và khác biệt của hai ngôn ngữ, để sử dụng và tạo lập các loại VB đạt hiệu quả hơn.

ó nhiều công trình đề cập đến lĩnh vực này là: “Phép thế trong tiếng Anh (trong sự

liên hệ với tiếng Việt) của Hồ Ngọc Trung [93]; “Phương tiện liên kết phát ngôn đối

chiếu Ngữ liệu Anh - Việt” của Phan Văn Hòa [53]; “Một số đặc điểm của ngôn ngữ

luật pháp tiếng Việt (có so sánh đối chiếu với tiếng Anh và ứng dụng trong dịch Anh

- Việt)” của Lê Hùng Tiến [90]; “Nghiên cứu diễn ngôn về chính trị xã hội (trên tư

liệu báo chí tiếng Anh và tiếng Việt hiện đại” của Nguyễn Hòa [50]; “So sánh

phương thức nối trong văn bản tiếng Việt và tiếng Anh” của Bùi Văn Năm [67];

19

“Mạch lạc trong văn bản hợp đồng kinh tế: So sánh đối chiếu tiếng Anh với tiếng

Việt” của Nguyễn Hƣơng Giang [32].

Tác giả Nguyễn Phú Thọ đã so sánh, đối chiếu những điểm tƣơng đồng và

khác biệt trong việc sử dụng các biện pháp liên kết từ vựng trong VB tiếng nh và

tiếng Việt. Kết quả cho thấy, cả hai ngôn ngữ đều sử dụng các PLK từ vựng nhƣ tác

giả Halliday đã liệt kê nhƣng do khác nhau về đặc điểm loại hình ngôn ngữ nên có

sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và mức độ cũng nhƣ

hiệu quả của việc sử dụng các PLK từ vựng [84].

Tác giả Lê Tấn Thi đã nghiên cứu về “Ngữ trực thuộc nối trong văn bản

tiếng Việt và tiếng Anh” và chỉ ra, cấu trúc ngữ trực thuộc nối trong tiếng nh và

tiếng Việt giống nhau. Bởi vì, trên bình diện ngữ pháp VB nói chung, liên kết VB

nói riêng, tất cả các PLK áp dụng cho ngữ trực thuộc nối trong tiếng Việt đều có thể

tìm thấy trong tiếng nh và ngƣợc lại. Nhƣng do sự khác nhau về đặc điểm loại

hình ngôn ngữ nên có sự khác nhau về cấu trúc sử dụng của ngữ trực thuộc nối

trong VB [82].

Tóm lại, các kết quả nghiên cứu và so sánh về việc sử dụng các PLK trong

VB tiếng Việt với tiếng Anh (hoặc các ngôn ngữ khác) đã nêu ra đƣợc những nét

tƣơng đồng và khác biệt trong hai ngôn ngữ. iều này rất hữu ích trong việc học

tiếng Anh, giảng dạy tiếng Việt cho ngƣời nƣớc ngoài và dịch thuật các loại VB.

Tuy nhiên, chƣa có công trình nào khảo sát và so sánh việc sử dụng của các PLK

trong một loại VB cụ thể của cả hai ngôn ngữ. Do đó, điều này cần đƣợc tiếp tục

thực hiện nghiên cứu trong giai đoạn tới.

Nhìn chung, kết quả nghiên cứu về liên kết và mạch lạc trong các VB cụ thể

đã đem lại nhiều giá trị về lý thuyết cho ngữ pháp tiếng Việt và có tính ứng dụng

cao. Quan niệm về liên kết của Halliday đƣợc nhiều nhà nghiên cứu trong nƣớc

quan tâm và ứng dụng trong việc phân tích các VB nghệ thuật, báo chí, chính luận

nhƣng vẫn chƣa bao quát hết các loại VB. ác nghiên cứu chủ yếu xem xét sự liên

kết giữa câu với câu, còn thiếu sự tìm hiểu về liên kết giữa đoạn văn với đoạn văn

hay giữa các phần (đặt vấn đề, giải quyết vấn đề, kết thúc vấn đề) trong VB. Bên

20

cạnh đó, mới chỉ một PLK đƣợc khảo sát và đối chiếu giữa ngôn ngữ tiếng Anh

(hay ngôn ngữ khác) với tiếng Việt mà chƣa có nghiên cứu nào đề cập đến tất cả

các đặc điểm liên kết và mạch lạc trong một thể loại VB cụ thể của phong cách

khoa học (PCKH).

1.1.2. Tình hình nghiên cứu văn bản khoa học và các bài báo khoa học trên thế

giới và Việt Nam

1.1.2.1. Tình hình nghiên cứu văn bản khoa học và các bài báo khoa học trên thế giới

Ngay từ những năm 1960 - 1970, khi nghiên cứu về các đối tƣợng lớn hơn

câu đƣợc gọi là “thể thống nhất trên câu”, “đoạn văn”, “văn bản” và bàn luận về

phƣơng hƣớng giao tiếp của VB, đã xuất hiện sự ra đời của bộ môn “phong cách

học văn bản” [28, tr.82]. Vai trò quan trọng của VB khoa học đã đƣợc nhiều tác giả

đề cập đến nhƣng bên cạnh đó là những khó khăn trong quá trình tạo lập và tiếp

nhận các VB khoa học. Halliday và Martin (1993) cùng nhiều tác giả khác nhƣ

Peacock (1995), Rosenthal (1996), O`Toole (1997) đã đề cập đến vai trò quan trọng

của ngôn ngữ khoa học và những khó khăn trong quá trình tiếp cận đối với ngƣời sử

dụng tiếng nh là tiếng mẹ đẻ và với ngƣời học ngoại ngữ tiếng Anh trong cả 4 cấp

độ: từ, câu, đoạn văn và toàn bộ VB khoa học (theo Monipha Gardner [120, tr.14]).

Tác giả .L. Pumpyanski cũng từng khẳng định tầm quan trọng của VB khoa

học khi cho rằng phạm vi sử dụng của ngôn ngữ khoa học và phong cách chức năng

của nó đƣợc mở rộng tỉ lệ với nhịp độ tăng trƣởng của tiến bộ khoa học - kĩ thuật.

Và “việc mô tả các hệ thống ngôn ngữ hiện đại không còn có ý nghĩa nếu không

tính đến ngôn ngữ khoa học và vai trò của nó trong cuộc sống xã hội hiện đại” do

vậy, cần quan tâm xem xét đến những chỉ báo ngôn ngữ đặc trƣng nhất của thời đại

phát triển loài ngƣời hiện nay, đó chính là ngôn ngữ khoa học và phong cách chức

năng trong VB khoa học (theo ào Hồng Thu [85, tr.12]).

Cụ thể hơn, đặc điểm ngôn ngữ, đặc điểm liên kết của thể loại bài báo khoa

học đã đƣợc một số tác giả tìm hiểu: Bhatia (1993) [106], Ashby (2005) [101],

Shahrokhi (2013) [124]. Cấu trúc bài báo khoa học đƣợc xem xét theo cấu trúc

IMRD hay IMRaD (giới thiệu, phƣơng pháp, kết quả và thảo luận), trong các

21

nghiên cứu của Robert Day (1998) [109], Murray (2005) [121]. Tác giả Chris Mack

trong bài báo “350 years of Scientific Journals” (2015) đã cho rằng, kể từ khi Tạp

chí khoa học đầu tiên xuất hiện năm 1665 đến nay đã có khoảng 30.000 tạp chí

chuyên ngành và xuất bản hơn 2 triệu bài báo mỗi năm. ác bài báo của giai đoạn

đầu thƣờng có cấu trúc đơn giản và chƣa có tiêu đề, tới nửa sau của thế kỷ 20, cấu

trúc IMRaD đã phổ biến hơn [135].

Tiếp theo, từng yếu tố trong một bài báo khoa học cũng đƣợc quan tâm, tìm

hiểu [108, 136]. Ví dụ, phần giới thiệu trong một bài báo khoa học, theo ý kiến của

Swales (1990), có cấu trúc thƣờng gồm ba phân đoạn là: thiết lập một lãnh thổ

(Establishing a territory), tạo một khoảng trống (Establishing a niche) và lấp khoảng

trống đó (Occupying the niche) [126].

Mohsen Shahrokhi và một số tác giả khác (2013) đã so sánh cách sử dụng

PLK từ vựng trong các bài báo khoa học tự nhiên và khoa học xã hội [124]. Kết

quả nghiên cứu trong công trình này góp phần khẳng định rõ hơn nhận định của

Hoey (1991) về việc liên kết từ vựng đƣợc sử dụng phổ biến trong tất cả các thể

loại VB. Tuy nhiên, kết quả phát hiện này cần đƣợc tiếp tục khảo sát chi tiết hơn

về giá trị của PLK từ vựng trong việc tạo sự thống nhất và hoàn chỉnh cho VB.

Năm 2002, các tác giả Alan Gross, Joseph Harmon và Michael Reidy đã xuất

bản cuốn sách mang tên "Communicating Science: the Scientific Article from the

17th Century to the Present". Kết quả của công trình nghiên cứu này đã chỉ rõ sự

thay đổi, phát triển của các bài báo khoa học bằng tiếng nh, ức và Pháp qua các

đặc điểm về phong cách học, cách lập luận và cách thức trình bày VB. ồng thời,

xu hƣớng phát triển cho thấy, cuối thế kỷ 20 các bài báo khoa học đã ổn định về

hình thức trình bày và giúp cho độc giả có thể tìm kiếm nhanh chóng, hiệu quả

những thông tin cần thiết. ác tác giả đã đề cập đến hai hình thức của một bài báo

khoa học hiện đại, hình thức thứ nhất là: Thử nghiệm, phƣơng pháp hoặc quan sát

(gồm các yếu tố: tóm tắt, giới thiệu, phƣơng pháp, kết quả, thảo luận, kết luận, lời

cảm ơn và tài liệu tham khảo) và hình thức thứ hai là: Lý thuyết (gồm các yếu tố:

tóm tắt, giới thiệu, định lý, chứng minh định lý, kết luận, lời cảm ơn và tài liệu tham

khảo) [100].

22

Liên quan đến phƣơng pháp nghiên cứu trong VB khoa học, tác giả Adrian

Holliday (2007) đã nhận xét, phƣơng pháp nghiên cứu định tính đƣợc sử dụng phổ biến

trong các nghiên cứu về khoa học xã hội tuy nhiên trong các nghiên cứu định tính sẽ

luôn luôn có yếu tố định lƣợng và ngƣợc lại trong các nghiên cứu định lƣợng cũng có

yếu tố của định tính [115, tr.12]. Bên cạnh đó, nhiều tài liệu hữu ích về nghiên cứu

khoa học và cách tạo lập các bài báo khoa học đã đƣợc xuất bản [107, 108, 111, 137].

Nhiều tác giả khác đã khảo sát các bài viết của sinh viên và đề xuất cần chú ý tới yếu tố

liên kết, mạch lạc để nâng cao chất lƣợng các bài viết cho sinh viên [122, 123, 138].

Tóm lại, các công trình nghiên cứu đã khẳng định vai trò quan trọng của

ngôn ngữ khoa học trong trƣờng học nói riêng và trong cuộc sống xã hội nói chung.

ồng thời, nhiều tác giả đã tìm hiểu sự phát triển của cấu trúc bài báo khoa học,

khảo sát chất lƣợng các bài viết của ngƣời học và sự xuất hiện của một PLK trong

bài báo. Tuy nhiên, nghiên cứu đặc điểm liên kết và mạch lạc trong các bài báo

khoa học trên một tạp chí hoặc một ngành cụ thể thì chƣa có công trình nghiên cứu

nào đề cập đến.

1.1.2.2. Tình hình nghiên cứu các văn bản khoa học và bài báo khoa học tại Việt Nam

Vai trò của ngôn ngữ nói chung, ngôn ngữ khoa học nói riêng và việc cần

giữ gìn sự trong sáng cho tiếng Việt từng đƣợc chủ tịch Hồ hí Minh rất quan

tâm. Cố Thủ tƣớng Phạm Văn ồng cũng rất lƣu tâm tới việc này [42], khi ông

cho rằng “một ngôn ngữ được đánh giá là phát triển khi mà càng ngày nó càng

mở rộng và phân biệt các phong cách ngôn ngữ khác nhau (như phong cách khoa

học, phong cách chính luận, phong cách hành chính sự vụ, phong cách nghệ

thuật)” [68, tr.1132]. Nhiều tác giả khác cũng khẳng định tầm quan trọng của

tiếng Việt trên các bình diện khác nhau, từ văn học - nghệ thuật, văn hóa - xã hội

đến khoa học kĩ thuật nhƣ: Ngụy Nhƣ Kon Tum, Lê Khả Kế, Phạm ồng iện

(theo ào Hồng Thu [85, tr.12]).

Tiếp theo, từ ý kiến của tác giả M. N. Kozƣna về việc “phong cách ngôn ngữ

được tạo thành bởi chính hệ thống các phương tiện liên kết” đƣợc sử dụng trong

VB, tác giả ào Hồng Thu đã nghiên cứu và phát hiện, so với các phong cách ngôn

23

ngữ khác, tính hệ thống đƣợc thể hiện rõ nét và nghiêm ngặt nhất trong phong cách

ngôn ngữ khoa học [86, tr.20]. ồng thời, tác giả cũng nhận xét rằng: “một văn bản

khoa học bất kỳ đều có thể hàm chứa các yếu tố mang tính hội thoại công khai và

tiềm ẩn” và qua khảo sát đã phát hiện trong VB khoa học có hiện tƣợng“số lượng

các phương tiện liên kết cú pháp tăng một cách đáng kể” [87, tr.66]. Tuy kết quả

nghiên cứu mới chỉ khảo sát tình hình sử dụng của sinh viên với các quy tắc hoạt

động của ngôn ngữ khoa học công nghệ tiếng Việt mà chƣa đề cập đến tình hình sử

dụng thuật ngữ KHXH&NV nhƣng phát hiện của tác giả rất hữu ích cho những

nghiên cứu kỹ lƣỡng hơn về loại VB này. ồng thời, đó là những gợi ý của tác giả

về việc cần có những giải pháp để phát triển giáo dục ngôn ngữ khoa học và tiếng

Việt khoa học trong trƣờng phổ thông, trƣờng đại học.

Bên cạnh đó, nhiều tài liệu khác đã đề cập đến phƣơng pháp nghiên cứu khoa

học [6, 94]. Tác giả Vũ ao àm lƣu ý, việc soạn thảo một bài báo khoa học (hoặc

báo cáo khoa học) cần đầy đủ các môđun (các yếu tố thành phần trong một bài báo)

[24, 25]. ây là những tài liệu hữu ích đối với những ngƣời làm nghiên cứu khoa

học nói chung và sinh viên trong trƣờng đại học nói riêng.

Vai trò quan trọng của VB khoa học tiếp tục đƣợc tác giả Võ Lý Hòa (2004)

đề cập đến khi lƣu ý việc cần biên soạn ra các tài liệu khoa học thứ cấp có giá trị và

dễ sử dụng đối với ngƣời đọc. Tác giả đã tìm hiểu các VB tóm tắt và phƣơng pháp

tóm tắt trên cơ sở dữ liệu là các VB khoa học tiếng Việt [52]. ông trình này đã có

ý nghĩa nhất định trong ứng dụng tóm tắt, tổng thuật các VB khoa học. Tuy nhiên,

ngữ liệu là các bài báo khoa học chƣa đƣợc tác giả đề cập đến.

Ngoài ra, dựa trên kết quả nghiên cứu của Swales (1990), Weissberg và

Buker (1990) tác giả Nguyễn Phƣớc Vĩnh ố đã có nhiều bài viết trên trang website

cá nhân về những gợi ý để viết bài báo nghiên cứu khoa học bằng tiếng Anh. ây là

những gợi ý hữu ích cho những ngƣời quan tâm tới việc tạo lập các bài báo khoa

học bằng tiếng nh trong quá trình nghiên cứu khoa học, tuy nhiên cần so sánh các

bài báo khoa học trên tạp chí trong nƣớc và nƣớc ngoài để có thể đƣa ra những

khuyến nghị cụ thể và chi tiết hơn [98].

24

Vấn đề nghiên cứu khoa học cũng đƣợc tác giả Nguyễn Văn Tuấn đề cập

trong các sách “Đi vào nghiên cứu khoa học” (2011) [94] và “Từ nghiên cứu đến

công bố, kỹ năng mềm cho nhà khoa học” (2013) [95]. Tuy ngữ liệu đƣợc tác giả

đƣa ra thuộc lĩnh vực y khoa và sinh học, nhƣng kết quả nghiên cứu đó rất có giá trị

cho việc soạn thảo các bài báo khoa học để đạt tiêu chuẩn quốc tế thuộc nhiều

ngành khác nhau và cần đƣợc phổ biến rộng rãi hơn.

Hơn nữa, nhiều công trình đã nghiên cứu về VB khoa học [19, 20] cách viết

một bài báo khoa học [6] tìm hiểu về phép liên kết nối và quy chiếu trong VB khoa

học [60], khảo sát các biểu thức cố định nhƣ một loại phƣơng tiện liên kết trong VB

khoa học tiếng nh và so sánh với tiếng Việt [74].

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về VB khoa học nói chung và các bài

báo khoa học nói riêng đã nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của ngôn ngữ khoa học

và việc cần sử dụng đúng văn phong của loại hình VB này. ó là những kết quả

nghiên cứu có giá trị và cần đƣợc phổ biến rộng rãi. Tuy nhiên, chƣa có công trình

nghiên cứu nào khảo sát các bài báo khoa học trên một tạp chí cụ thể để tìm hiểu và

chỉ ra vai trò quan trọng của tính liên kết và mạch lạc cùng những lƣu ý trong quá

trình tiếp nhận, tạo lập các VB khoa học nói chung và bài báo khoa học nói riêng.

1.1.3. Những vấn đề còn bỏ ngỏ

ác công trình nghiên cứu khoa học trên thế giới và tại Việt Nam đã đề cập

đến PLK, tính mạch lạc, VB khoa học và vai trò quan trọng của ngôn ngữ khoa học.

Tuy nhiên, nghiên cứu đặc điểm liên kết và mạch lạc trong các bài báo khoa học

trên một tạp chí hoặc một ngành cụ thể thì chƣa có công trình nghiên cứu nào đề

cập đến. Những vấn đề nghiên cứu còn bỏ ngỏ là:

Thứ nhất, mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu nhƣng chƣa có sự thống

nhất giữa các nhà nghiên cứu trong quan niệm về các PLK.

Thứ hai, chƣa có sự thống nhất trong việc phân biệt hay không phân biệt khái

niệm liên kết và mạch lạc.

Thứ ba, các bài báo KHXH&NV không phải là một công trình khoa học và

có cấu trúc sắp xếp tùy thuộc từng tác giả, mà đây là một loại VB có những quy

định chặt chẽ và khoa học.

25

Những vấn đề trên cần đƣợc tìm hiểu để có sự thống nhất khi nghiên cứu

ngôn ngữ. Và để giải đáp những vấn đề trên, chúng tôi đã dựa trên những cơ sở lý

luận sau để tìm hiểu đặc điểm liên kết và mạch lạc trong VB khoa học, qua các bài

báo KHXH&NV trên Tạp chí Khoa học - HQGHN.

1.2. Cơ sở lý luận

1.2.1. Liên kết và mạch lạc

1.2.1.1. Liên kết

Theo tác giả Diệp Quang Ban, “liên kết là kiểu quan hệ nghĩa giữa hai yếu tố

ngôn ngữ nằm trong hai câu mà muốn hiểu nghĩa cụ thể của yếu tố này thì phải

tham khảo nghĩa của yếu tố kia, và trên cơ sở đó hai câu (mệnh đề) chứa chúng liên

kết được với nhau” [5, tr.347].

Nghiên cứu của chúng tôi chỉ xem xét đặc điểm liên kết trong VB, tìm hiểu

đặc điểm liên kết giữa câu với câu, giữa các đoạn văn, giữa các thành phần trong

VB và không đề cập đến hiện tƣợng liên kết giữa các yếu tố trong một câu. Do đó,

liên kết trong VB là sự gắn kết và thể hiện các mối quan hệ nghĩa giữa các câu, các

đoạn văn, các yếu tố thành phần để góp phần tạo nên sự hoàn chỉnh cho VB đó.

Theo quan niệm của Halliday và Hasan, liên kết câu với câu trong VB đƣợc

thể hiện bằng bốn PLK (phƣơng thức liên kết) là: phép nối, phép quy chiếu, phép

tỉnh lƣợc và phép thế, phép liên kết từ vựng [112].

Bảng 1.1: ác phép liên kết theo quan niệm của Halliday

[113, tr.538]

ác kiểu loại Lĩnh vực ngữ pháp Lĩnh vực từ vựng

Sự chuyển đổi giữa các thông điệp Phép Nối

Trong ngữ Phép Quy chiếu Phạm trù của các Liên kết từ vựng

nghĩa yếu tố ( ồng nghĩa, quan Trong từ ngữ Phép Tỉnh lƣợc hệ bao nghĩa) và phép Thế

(Lặp, phối hợp

từ vựng)

26

+ Phép nối

Phép nối là việc tạo “các kiểu quan hệ nghĩa - logic giữa các câu có quan hệ

nghĩa với nhau bằng các phƣơng tiện từ ngữ có tác dụng nối” [113, tr.538].

+ Phép quy chiếu

Theo tác giả Halliday và Hasan, phép quy chiếu xuất hiện trong mọi ngôn

ngữ [112, tr.31]. Phép quy chiếu hoạt động theo nguyên tắc dựa trên cơ sở hai yếu

tố có mối quan hệ đồng nhất trong VB, từ yếu tố có nghĩa chƣa cụ thể ở một câu

nào đó, có thể quy chiếu đến yếu tố có nghĩa trong câu khác (có thể giải thích đƣợc

yếu tố chƣa rõ nghĩa). Do đó, hai câu có liên kết với nhau [5, tr.356].

ác tác giả Halliday và Hasan [112, tr.41], Nunan [71, tr.39] đều cho rằng,

có hai cách quy chiếu thể hiện sự liên kết trong VB là quy chiếu hồi chiếu và khứ

chiếu. Hồi chiếu là việc từ câu này hƣớng ngƣời đọc tới những gì đƣợc đề cập trong

câu trƣớc đó. Khứ chiếu hƣớng ngƣời đọc tới phần tiếp theo của VB và kéo ngƣời

đọc “đi sâu hơn vào văn bản” để nhận dạng các phần tử mà quy chiếu hƣớng đến.

Phép quy chiếu dựa trên các phƣơng tiện ngôn ngữ đƣợc dùng ở vị trí yếu tố

có nghĩa chƣa cụ thể đƣợc chia thành ba trƣờng hợp: quy chiếu chỉ ngôi, quy chiếu

chỉ định, quy chiếu so sánh.

+ Phép tỉnh lƣợc và phép thế

Phép tỉnh lƣợc đƣợc tác giả Halliday quan niệm “là một sự thay thế bằng

zero” [113, tr.142]. Phép liên kết tỉnh lƣợc góp phần vào việc cấu trúc nghĩa của

diễn ngôn bằng những quan hệ từ vựng - ngữ pháp “vì nó vừa liên quan đến yếu tố

từ vựng được lược bỏ vừa được phát hiện do vị trí bỏ trống trong cấu trúc cú pháp

của câu” [5, tr.105].

Phép thế là cách “sử dụng ở câu này các đại từ thay thế nhƣ đó, đây, kia .v.v.

thế cho danh từ (cụm danh từ), vậy, thế, đó .v.v. thế cho động từ (cụm động từ), tính

từ (cụm tính từ), mệnh đề (cấu trúc chủ - vị, hay cú) tƣơng ứng có mặt trong câu

khác, trên cơ sở đó hai câu đang xét liên kết đƣợc với nhau. Tất nhiên, các đại từ

thay thế là những từ có nghĩa không cụ thể và nghĩa cụ thể của chúng có thể tìm

đƣợc ở những từ, tổ hợp từ mà chúng thay thế” [5, tr.378].

27

+ Phép liên kết từ vựng

Theo Halliday và Hasan, PLK từ vựng là sự liên kết đƣợc thiết lập thông qua

việc sử dụng và lựa chọn những từ ngữ (có tính chất thực từ) có quan hệ với những từ

ngữ trong câu đứng trƣớc nó để tạo sự liên kết giữa hai câu [112, tr.274]. Trong công

trình nghiên cứu của Halliday và Hasan (1991), liên kết từ vựng gồm hai loại: lặp lại

(lặp hoàn toàn, đồng nghĩa - gần nghĩa, lặp bao hàm, lặp từ khái quát) và phối hợp từ

vựng [112, tr.288], nhƣng trong nghiên cứu về “Ngữ pháp chức năng” (2004),

Halliday chia liên kết từ vựng thành ba loại: lặp - đồng nghĩa, bộ phận chỉnh thể, phối

hợp từ vựng [113, tr.570]. Tác giả Diệp Quang Ban đã chia PLK từ vựng cho phù

hợp với đặc điểm của tiếng Việt thành ba loại nhỏ là: lặp từ ngữ; dùng từ ngữ đồng

nghĩa, gần nghĩa và trái nghĩa; phối hợp từ ngữ [5, tr.381].

Tóm lại, quan niệm về bốn PLK trên đã đƣợc chúng tôi lựa chọn tìm hiểu

trong các bài báo KHXH&NV. Bởi vì, cách phân loại các PLK phi cấu trúc này sẽ

tránh đƣợc một số trƣờng hợp nhầm lẫn cho ngƣời sử dụng so với cách phân loại

PLK theo cấu trúc (gồm liên kết hình thức và liên kết nội dung) và điều này sẽ đƣợc

chúng tôi phân tích cụ thể trong chƣơng 2 của luận án (LA).

1.2.1.2. Mạch lạc

Khái niệm mạch lạc xuất hiện muộn hơn khái niệm liên kết và đƣợc các

nhà nghiên cứu ngôn ngữ ở nƣớc ngoài và trong nƣớc đề cập đến với nhiều cách

hiểu khác nhau.

Halliday và Hassan (1976) cho rằng: “Mạch lạc đƣợc coi nhƣ phần còn lại

(sau khi trừ liên kết) thuộc về ngữ cảnh của tình huống (context of situation) với

những dấu nghĩa tiềm ẩn (registers). Mạch lạc đƣợc coi là phần bổ sung cần thiết

cho liên kết, là một trong những điều kiện tạo thành chất văn bản” (dẫn theo Diệp

Quang Ban [3, tr.82]).

Theo tác giả I.Galperin: “Mạch lạc - đó là những hình thức liên kết riêng

biệt, đảm bảo thể liên tục, nghĩa là sự liên tục logic (về thời gian hoặc không gian),

sự lệ thuộc lẫn nhau giữa các thông báo cụ thể, sự kiện, hành động cụ thể” [31,

tr.148]. Mạch lạc theo quan niệm của tác giả G.Brown và G.Yule phụ thuộc vào ba

28

bình diện gồm: giải thuật chức năng giao tiếp (tiếp nhận thông điệp nhƣ thế nào), sử

dụng kiến thức văn hóa xã hội (sự kiện về thế giới) và xác định luận suy cần thực

hiện [8, tr.349].

David Nunan cho rằng, mạch lạc là “tầm rộng mà ở đó diễn ngôn được tiếp

nhận như là có mắc vào nhau chứ không phải là một tập hợp câu và phát ngôn

không có liên quan với nhau” [71, tr.116].

Trong sách “Từ điển Tiếng Việt” của tác giả Hoàng Phê, mạch lạc là danh từ

chỉ “sự tiếp nối theo trật tự hợp lý giữa các ý, các phần trong nội dung diễn đạt” và

là tính từ chỉ sự mạch lạc của sự việc, hiện tƣợng [72, tr.606].

Tác giả Diệp Quang Ban cho rằng “mạch lạc là sự nối kết có tính chất hợp lý

về mặt nghĩa và về mặt chức năng, được trình bày trong quá trình triển khai một

văn bản (như một truyện kể, một cuộc thoại, một bài nói hay bài viết…), nhằm tạo

ra những sự kiện nối kết với nhau hơn là sự liên kết câu với câu” [5, tr.297]. Bởi vì,

đặc điểm liên kết về mặt hình thức là đặc điểm dễ nhận ra trong một VB, nhƣng

mạch lạc là một khái niệm còn tƣơng đối mơ hồ, nên tác giả đã lƣu ý “mạch lạc là

sợi dây nối các quan hệ nghĩa trong văn bản, trong đó có những quan hệ được diễn

đạt bằng phương tiện từ ngữ thuộc về liên kết” [5, tr.348]. Ngoài ra, ông quan niệm,

mạch lạc giúp tạo nên mạng lƣới các mối quan hệ nghĩa, quan hệ logic, quan hệ

chức năng, trên cơ sở đó tạo nên tính thống nhất về đề tài - chủ đề cho VB. Nhƣ thế,

yếu tố mạch lạc là yếu tố quyết định việc hình thành một VB, không phải là yếu tố

liên kết [5, tr.276].

Nhƣ vậy, có thể hiểu, mạch lạc là sự thống nhất nội dung nghĩa bên trong VB

và phù hợp với những yếu tố ngoài VB. Nhƣng hiện nay, vẫn chƣa có sự thống nhất

giữa các nhà nghiên cứu ngôn ngữ về các dấu hiệu mạch lạc này. Bởi vì, mạch lạc

không dễ dàng nhận ra trong VB một cách tƣờng minh nhƣ liên kết nên các nhà

nghiên cứu đã đề cập đến với nhiều quan niệm và những dấu hiệu khác nhau.

Tuy nhiên, chúng tôi lựa chọn quan điểm của tác giả Diệp Quang Ban để tìm

hiểu đặc điểm mạch lạc trong các bài báo KHXH&NV. Theo tác giả, biểu hiện của

mạch lạc trong VB gồm:

29

- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các từ ngữ trong một câu.

- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các đề tài - chủ đề của các câu.

- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các phần nêu đặc trƣng ở câu có quan hệ

nghĩa với nhau.

- Mạch lạc biểu hiện trong trật tự hợp lý giữa các câu hay các mệnh đề.

- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa từ ngữ trong VB với tình huống bên

ngoài VB.

- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ thích hợp giữa các hành động nói.

- Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ lập luận [5, tr.298].

1.2.1.3. Quan điểm của luận án về liên kết và mạch lạc

Theo tác giả inh Văn ức, cùng với liên kết, mạch lạc là tất yếu cho mọi

diễn ngôn. Mạch lạc đóng vai trò tổ chức ngầm ẩn các sự thể rồi cùng với PLK để

tạo lập diễn ngôn [29, tr.501]. Và chúng tôi cho rằng, liên kết trong VB là việc sử

dụng các phương tiện liên kết về mặt hình thức để chỉ ra các kiểu quan hệ giữa

các câu, các đoạn, các thành phần trong VB (liên kết theo nghĩa đen). ó là

những dấu hiệu hình thức đƣợc thể hiện bằng từ, ngữ, câu và đƣợc gọi là các PLK.

ây chính là những dấu hiệu quan trọng để hiện thực hóa mạch lạc trong VB, góp

phần làm cho VB trở nên tƣờng minh, chính xác hóa các quan hệ nghĩa (nội dung).

Mạch lạc trong VB là sự liên kết ngầm ẩn (liên kết theo nghĩa bóng). Đó là sự

thống nhất nội dung nghĩa bên trong VB (sự kết nối hợp lý về mặt nghĩa và chức

năng của những sự kiện, những yếu tố quan yếu trong quá trình triển khai một

VB) và có sự kết hợp logic với những yếu tố ngoài VB.

Vì thế, liên kết và mạch lạc là những bình diện khác nhau, những đặc tính

khác nhau của VB. Trong khi tính mạch lạc trong một VB là yếu tố quan trọng nhất,

xuất hiện trong tất cả các VB thì tính liên kết có thể không xuất hiện trong tất cả các

loại VB. Một số diễn ngôn thuộc phong cách khẩu ngữ tự nhiên đƣợc thực hiện bằng

phƣơng thức nói hay một số loại VB nghệ thuật (thơ, kịch), có thể xuất hiện hoặc

không xuất hiện dấu hiệu liên kết hình thức, nhƣng liên kết xuất hiện trong tất cả các

VB (phƣơng thức viết). Ngoài ra, trong mỗi loại VB thuộc phong cách chức năng

30

khác nhau, tần số sử dụng các PLK khác nhau, nhƣng không thể bỏ qua vai trò quan

trọng của đặc tính này trong những VB đòi hỏi tính chính xác và chặt chẽ cao. Bởi vì,

nếu không có các dấu hiệu liên kết hình thức, việc nhận ra mạch lạc trong VB sẽ trở

nên khó khăn hơn. Và có thể nhận thấy, những nghiên cứu về ngôn ngữ học VB đã

trải qua hai giai đoạn [5, tr.146-158]. Do đó, chúng tôi cho rằng, khái niệm liên kết

(liên kết hình thức và liên kết nội dung) đã xuất hiện từ giai đoạn nghiên cứu VB

theo đƣờng hƣớng của Ngữ pháp VB – những năm 1970 (chú trọng yếu tố hình

thức, coi liên kết thuộc mặt cấu trúc của ngôn ngữ). òn khái niệm mạch lạc (bao

gồm liên kết nội dung và có nghĩa rộng hơn so với khái niệm liên kết nội dung)

đƣợc sử dụng nhiều ở giai đoạn nghiên cứu VB theo đƣờng hƣớng của Phân tích

diễn ngôn – những năm 1980 đến nay (gồm cả liên kết, mạch lạc và các nội dung

chức năng, ngữ cảnh, ngữ vực).

Mặc dù hiện nay, có quan điểm phân biệt liên kết VB (text cohesion) và

mạch lạc diễn ngôn (discourse coherence) nhƣng chúng tôi cho rằng, đặc tính liên

kết và mạch lạc là tất yếu trong mọi VB, là hai tiêu chí rõ ràng để đánh giá chất

lƣợng các VB viết. Hoặc có thể gọi đó là liên kết hình thức (cohesion) và liên kết

mạch lạc (coherence). Mặt liên kết hình thức là những dấu hiệu thuộc về lĩnh vực

vật chất và mặt liên kết mạch lạc là những biểu hiện thuộc về lĩnh vực tinh thần của

VB [45, tr.39]. Hai hiện tƣợng này tuy có ảnh hƣởng lẫn nhau nhƣng độc lập và là

những hiện tƣợng khác nhau trong nghiên cứu.

1.2.2. Văn bản - văn bản khoa học và bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn

1.2.2.1. Văn bản

(i). Các quan niệm về văn bản và diễn ngôn

Hiện nay, đang có ba quan niệm khác nhau (phân biệt hay không phân biệt)

thuật ngữ “văn bản” và “diễn ngôn”. Thứ nhất, coi “văn bản” và “diễn ngôn” là sản

phẩm ngôn ngữ (cả nói và viết) có mạch lạc và liên kết. Thứ hai, dùng thuật ngữ

“diễn ngôn” để chỉ ngôn ngữ nói, “văn bản” để chỉ ngôn ngữ viết. Thứ ba, quan

niệm coi “diễn ngôn” và “văn bản” là hai thuật ngữ tƣơng đƣơng [5, tr.212].

31

Quan niệm thứ ba đang đƣợc nhiều nhà nghiên cứu VB sử dụng, tức là thuật

ngữ diễn ngôn để chỉ một sản phẩm ngôn ngữ (nói hoặc viết), dài hay ngắn, tạo nên

một tổng thể hợp nhất, trong đó diễn ngôn bao hàm VB [34, tr.169].

(ii). Quan niệm của luận án về thuật ngữ “văn bản” và “diễn ngôn”

Trong nhiều công trình nghiên cứu hiện nay, hai thuật ngữ “văn bản”, “diễn

ngôn” đƣợc sử dụng song song và có sự tƣơng đồng cơ bản, nhƣng trong một số

trƣờng hợp nhất định, ngoại diên của thuật ngữ “diễn ngôn” có thể rộng hơn so với

thuật ngữ “văn bản”. Do đó, chúng tôi lựa chọn cách sử dụng thuật ngữ “ngôn bản”

cho các sản phẩm giao tiếp (sự kiện giao tiếp) bằng ngôn ngữ nói và sử dụng thuật

ngữ “văn bản” cho các sản phẩm giao tiếp bằng ngôn ngữ viết [30, tr.490].

Nhƣ vậy, cả hai thuật ngữ này đều nằm chung trong một khái niệm rộng là

diễn ngôn, nên không thể phân tích VB (chỉ chú ý tới mặt hình thức) hay phân tích

ngôn bản mà không quan tâm tới phân tích diễn ngôn (chú ý cả mặt hình thức và nội

dung chức năng), vì các sản phẩm ngôn ngữ này có chịu ảnh hƣởng bởi các “hoàn

cảnh giao tiếp xã hội” [51, tr.34]. Và đúng nhƣ nhận định của tác giả inh Văn ức

“các nhà văn bản học thường nhắc đến hai phương thức lớn cùng nhau tạo ra văn

bản đó là liên kết hình thức (cohesion) và liên kết mạch lạc (coherence)”, dù phân

tích diễn ngôn liên quan đến sản phẩm là ngôn ngữ nói hay viết thì chúng đều phải

có liên kết nhất định và mạch lạc nhất định [30, tr.488-489].

(iii). Đặc trưng của văn bản

Văn bản đã đƣợc nhiều nhà ngôn ngữ học đề cập đến trong các công trình

nghiên cứu của họ. Theo quan niệm của tác giả Halliday và Hasan, VB là một đơn

vị ngôn ngữ khi sử dụng và là một đơn vị ngữ nghĩa, thuộc về ngữ nghĩa [112,

tr.1-2]. Nhà nghiên cứu nữ Loseva (Liên Xô cũ) đã cho rằng: “Văn bản là một hợp

thể nhiều câu (ít khi là một câu) liên kết với nhau bởi ý và bằng các phương tiện

từ vựng - ngữ pháp” (theo Diệp Quang Ban [5, tr.197]). Năm 1983, G.Brown và

G.Yule cũng phát biểu “chúng ta sẽ sử dụng từ văn bản như một thuật ngữ khoa

học, để chỉ dữ liệu ngôn từ của một hành vi giao tiếp” [8, tr.22]. Nhƣng theo tác

giả I.Galperin, “văn bản - đó là tác phẩm của quá trình sáng tạo lời, mang tính

32

chất hoàn chỉnh, (...) hợp nhất lại bằng những những loại hình liên kết khác nhau

về từ vựng, ngữ pháp, logic, tu từ, có một hướng nhất định và một mục tiêu thực

dụng” [31, tr.38]. Nhƣ thế, I.Galperin đã đề cao đến tính liên kết và tính hoàn

chỉnh của VB.

Tại Việt Nam, tác giả Nguyễn Tài ẩn và Nona Stankevich (1973) cũng đề

xuất không nên coi câu là đơn vị ngữ pháp cao nhất [10, tr.11]. Tác giả Trần Ngọc

Thêm cho rằng, VB là chỉnh thể thống nhất và trọn vẹn về nội dung và hình thức

[80]. Theo ý kiến của tác giả Hữu ạt, VB là “một tập hợp các câu (hay các phát

ngôn) được kết hợp với nhau theo một phương thức nhất định đảm bảo cho việc

truyền đạt thông tin có hiệu quả và chính xác” [27, tr.189].

húng tôi cho rằng, văn bản là các sản phẩm giao tiếp bằng ngôn ngữ viết,

có sự hoàn chỉnh cả cấu trúc hình thức và nội dung (cấu trúc nghĩa), có đề tài-

chủ đề, liên kết - mạch lạc và thuộc một phong cách ngôn ngữ nhất định để đảm

bảo mục đích giao tiếp. Trong khi đó, diễn ngôn là quá trình giao tiếp, bao hàm VB

(sản phẩm giao tiếp bằng ngôn ngữ viết) và ngôn bản (sự kiện giao tiếp bằng ngôn

ngữ nói), đồng thời hƣớng tới các mục tiêu xã hội là chủ yếu.

Về quan niệm đặc trƣng của VB, theo tác giả De Beaugrande (1980) [103,

tr.17], De Beaugrande và Dressler (1981)[104, tr.3], VB gồm 7 đặc trƣng là: tính

liên kết (cohesion), tính mạch lạc (coherence), tính chủ đích (intentionality), tính

khả nhận (acceptability), tính thông tin (informativity), tính ngữ cảnh

(contextuallity), tính liên VB (intertextuallity).

Tác giả Diệp Quang Ban (1998) cho rằng, VB có 5 đặc trƣng là: có yếu

tố nội dung (có đề tài và chủ đề nhất định - tức là cả đề tài (cái được nói đến)

lẫn chủ đề (vấn đề chủ yếu) [5, tr. 300]); có yếu tố chức năng (chức năng giao

tiếp); có cấu trúc - hình thức (tính thống nhất của đề tài - chủ đề, tạo thành sự

mạch lạc cho VB); có yếu tố chỉ lƣợng (gồm một số câu, đoạn văn) và có yếu

tố định biên (tính trọn vẹn) [3, tr.22]. Sau đó, ông đã bổ sung thêm một đặc

trƣng của VB là mục đích sử dụng (phong cách chức năng) trong công trình

nghiên cứu năm 2009 [5, tr.219].

33

Theo chúng tôi, VB gồm 6 đặc trƣng sau: tồn tại ở dạng viết; có thể dài

hay ngắn; có một đề tài - chủ đề nhất định; phải thuộc một phong cách (một

kiểu loại) nhất định (thực hiện chức năng ngôn ngữ) và phù hợp với mục đích sử

dụng VB; có cấu trúc hình thức và cấu trúc nghĩa (trọn vẹn về nội dung và

hoàn chỉnh về hình thức), phù hợp với phong cách chức năng của nó; phải

đảm bảo yếu tố liên kết và mạch lạc.

Văn bản

ó liên kết và mạch lạc

Dạng tồn tại (viết)

Dài hoặc ngắn

ó đề tài và chủ đề nhất định

ó một phong cách nhất định

Cấu trúc hình thức và cấu trúc nghĩa

Sáu đặc trƣng của văn bản đƣợc diễn tả bằng sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.2: Những đặc trƣng của văn bản

(iv). Lập luận trong văn bản

Lập luận trong VB là “đưa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến

một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới”

[14, tr.155]. Hay nói theo cách khác, là việc sử dụng lý lẽ để thuyết phục ngƣời

đọc tin vào một hệ thống xác tín nào đó, rồi rút ra một hay một số kết luận [21],

[22, tr.165].

Cụ thể hơn, theo ý kiến của tác giả Nguyễn ức Dân, lập luận là việc một

hoạt động, một thao tác ngôn ngữ, qua đó ngƣời tạo VB đƣa ra một số luận cứ,

tạo thành một cấu trúc ngôn ngữ và là một chuỗi liên kết để dẫn tới một kết luận

[20, tr.34].

Nhà nghiên cứu ỗ Hữu hâu cho rằng, lập luận xuất hiện trong tất cả các

VB [12, tr.80] và tác giả Bùi Minh Toán đã nhấn mạnh, đặc trƣng cơ bản này xuất

hiện trong các VB khoa học “nó thuyết phục người đọc bằng những lập luận,

34

những luận điểm, luận cứ vững chắc, chính xác, có mạch lạc với những khái niệm

xác định” [92, tr.29].

1.2.2.2. Văn bản khoa học

Văn bản khoa học là loại VB sử dụng các phƣơng tiện của ngôn ngữ gọt

giũa, ngôn ngữ văn hóa để giao tiếp và truyền tải kiến thức khoa học và đƣợc thể

hiện trong các loại bài báo, bài nghiên cứu, báo cáo thực tập, khóa luận, luận văn,

sách giáo khoa, sách tham khảo .v.v.

(i). Đặc trưng của văn bản khoa học

ề cập đến chức năng cơ bản của các VB khoa học, tác giả inh Trọng Lạc

đã phát biểu “chức năng cơ bản của phong cách khoa học là chức năng giao tiếp lý

trí. Song ở đây giao tiếp lí trí không chỉ cần thông báo mà còn cần chứng minh tính

chân thực của thông báo‟‟ [59, tr.82].

Theo quan điểm này của tác giả inh Trọng Lạc, trong các VB khoa học, chức

năng thông báo bằng chứng minh là chức năng quan trọng, các tri thức mới, có giá trị

đƣợc cung cấp cho ngƣời đọc bằng những lập luận, những phán đoán logic để chứng

minh tính qui luật của những cái mới có giá trị đó. Tác giả Hữu ạt đã bổ sung thêm

chức năng diễn giải, tác động cho loại VB này, đồng thời ông cho rằng VB khoa học

gồm các đặc điểm: bình đẳng, phi hình tượng, khái quát trừu tượng, logic khoa học

và chính xác khách quan [28, tr.157].

Tóm lại, một VB khoa học có năm đặc trƣng cơ bản là: chính xác, khách

quan, bình đẳng, trừu tượng - khái quát, lý trí - logic khoa học.

(ii). Đặc điểm ngôn ngữ của văn bản khoa học

Giao tiếp là một hoạt động diễn ra trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội.

ó nhiều lĩnh vực giao tiếp nhƣ: quản lý hành chính, văn hóa nghệ thuật, báo chí -

chính luận, sinh hoạt thƣờng ngày, lĩnh vực khoa học. Mỗi lĩnh vực hoạt động lại có

những yêu cầu về mục đích, nội dung, chức năng và đặc điểm ngôn ngữ khác nhau,

vì thế cần hiểu rõ những yêu cầu, đặc điểm riêng trong từng lĩnh vực để tạo lập và

hiểu rõ VB đang sử dụng [96].

35

Về từ ngữ, các VB khoa học sử dụng nhiều các từ đơn nghĩa, chính xác, các

thuật ngữ khoa học và các từ ngữ trừu tƣợng, khách quan, trung hòa về sắc thái

biểu cảm.

Về câu, các VB khoa học sử dụng kiểu câu đầy đủ các thành phần để giải

thích, chứng minh, bên cạnh đó là việc dùng nhiều câu phức, câu ghép (trƣờng

cú) và các liên từ để chỉ quan hệ logic (nhân quả, điều kiện, kết quả, nhƣợng bộ,

tăng tiến…) nhƣ: vì… nên, nếu… thì, càng….càng, không những…. mà còn. ác

cặp liên từ hô ứng, từ ngữ biểu thị các phƣơng diện của sự nhận thức đƣợc sử

dụng nhiều và đóng vai trò quan trọng: tóm lại, nói chung, mặt khác, nói riêng,

như vậy [28, tr.163].

ó là cách để thể hiện các hình thức phán đoán và suy luận trong VB và chất

lƣợng logic của các VB khoa học tùy thuộc phần lớn vào việc sử dụng hợp lý các từ

ngữ này.

(iii). Các thể loại của văn bản khoa học

ác VB khoa học chuyên sâu gồm: chuyên luận, luận văn, luận án, các công

trình khoa học (đề tài, dự án) .v.v. Những VB này hƣớng đến độc giả là các nhà

nghiên cứu chuyên ngành, nên bên cạnh những đặc điểm của văn phong khoa học

còn yêu cầu cao về tính chính xác của thông tin, sự logic trong lập luận và những lý

lẽ dẫn chứng để kiến giải thông tin khoa học.

ác VB khoa học giáo khoa gồm: sách giáo khoa, giáo trình, bài giảng, sách

tham khảo .v.v. Những VB này hƣớng đến đối tƣợng độc giả là ngƣời học ở các cấp

học nên ngoài đáp ứng đúng chuẩn mực của văn phong khoa học còn yêu cầu cần

trình bày đảm bảo tính sƣ phạm, các nội dung thông tin từ dễ đến khó, từ thấp đến

cao và tính định lƣợng kiến thức cụ thể trong từng bài, từng chƣơng.

ác VB phổ cập khoa học gồm: bài báo khoa học, bài phê bình, điểm sách,

sách phổ biến khoa học .v.v. Những VB này bên cạnh việc yêu cầu đáp ứng đúng đặc

điểm của văn phong khoa học còn cần trình bày một cách đơn giản, dễ hiểu và thuyết

phục để nhằm phổ biến kiến thức khoa học đến đông đảo ngƣời đọc [92, tr.28].

36

1.2.2.3. Bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn

(i). Bài báo khoa học

Tác giả Robert Day (1998) đã cho rằng, bài báo khoa học là một báo cáo,

một công trình khoa học có nội dung là những kết quả nghiên cứu mới [109, tr.8].

ồng thời, bài báo khoa học đó phải đƣợc công bố trên một tập san khoa học, đã

trải qua cơ chế bình duyệt và thẩm định [100, tr.13].

(ii). Bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn

Thuật ngữ “khoa học” đƣợc định nghĩa trong sách “Từ điển tiếng Việt” là:

(1) Hệ thống các tri thức tích lũy trong quá trình lịch sử và đƣợc thực tiễn chứng

minh, phản ánh những qui luật khách quan của thế giới bên ngoài cũng nhƣ của hoạt

động tinh thần của con ngƣời, giúp con ngƣời có khả năng cải tạo thế giới hiện thực.

(2) Ngành của hệ thống tri thức nói trên.

Khoa học tự nhiên là khoa học nghiên cứu các qui luật của thế giới vật chất

nhƣ toán học, vật lý, hóa học, sinh học. Khoa học Xã hội Nhân văn là khoa học

nghiên cứu về con ngƣời, những cách xử sự, hoạt động cá nhân và tập thể nhƣ văn

học, sử học, tâm lý học, đạo đức học [72, tr.503].

Nhƣ vậy, các bài báo KHXH&NV là các bài báo nghiên cứu về con ngƣời,

xã hội thuộc các lĩnh vực chuyên ngành của văn học, lịch sử, triết học, tâm lý, luật

học, giáo dục học, ngôn ngữ học, triết học và một số chuyên ngành khác. ồng thời,

tác giả Trần Ngọc Thêm cho rằng, các bài báo KHXH&NV thƣờng sử dụng phƣơng

pháp định tính để nghiên cứu về con ngƣời và xã hội [99].

Tác giả Hữu ạt quan niệm, các bài báo khoa học tự nhiên (thiên về thí

nghiệm, phát minh) đƣợc coi là một công trình khoa học, còn các bài báo

KHXH&NV (thiên về các nghiên cứu hẹp, thƣờng chỉ sử dụng một đến hai phƣơng

pháp nghiên cứu), không đƣợc coi là một công trình khoa học [28, tr.170]. ây

chính là lƣu ý của tác giả về việc cần nâng cao hơn chất lƣợng các bài báo

KHXH&NV trong bối cảnh toàn cầu hóa (hội nhập quốc tế) hiện nay. Và chúng tôi

cho rằng, các bài báo KHXH&NV đã đƣợc kiểm duyệt và công bố trên tạp chí là

công trình khoa học, vì giá trị của các kết quả nghiên cứu KHXH&NV đã và đang

đƣợc khẳng định. Những tri thức, kết quả nghiên cứu đó góp phần quan trọng nâng

37

cao nhận thức, ứng dụng trong cuộc sống và phục vụ sự phát triển xã hội (theo

Phạm Thị Ly [61, tr.207]).

(iii). Đặc điểm ngôn ngữ của bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn

ác bài báo thuộc PCKH nên ngôn ngữ của các bài báo KHXH&NV cũng

phải đáp ứng đúng văn phong của loại hình VB này (cụ thể tại điểm 1.2.2.2). ó là

yêu cầu của việc dùng từ chính xác, trung hòa về nghĩa và sử dụng các thuật ngữ

khoa học. ồng thời, yêu cầu của việc dùng các câu đầy đủ cấu trúc, câu phức hợp

hoặc khuyết chủ ngữ để trình bày những nội dung nhiều mặt của các khái niệm, các

phán đoán, những suy lý khoa học.

Ngoài ra, theo quan điểm của tác giả Bùi Minh Toán, các bài báo khoa học

thuộc kiểu loại VB phổ cập khoa học, nên cách trình bày và sử dụng từ ngữ, câu văn

dễ hiểu, dễ tiếp nhận, để hƣớng đến đối tƣợng là đông đảo ngƣời dân [92, tr.28].

(iv). Cấu trúc của một bài báo Khoa học Xã hội và Nhân văn

* Cấu trúc văn bản

ể khẳng định vị trí quan trọng của cấu trúc trong việc tạo ra giá trị VB cho

một chuỗi câu, tác giả Halliday và Hasan (1976) sử dụng thuật ngữ “cấu trúc vĩ mô”

và khẳng định có các quan hệ tạo VB, đóng vai trò định hình VB, đồng thời thiết

lập mối liên kết VB [112, tr.324]. Tác giả Moskalskja (1981) gọi là “kết cấu vĩ mô”

và quan niệm rằng, đó là tính định hình kết cấu của một VB hoàn chỉnh [66, tr.113].

ặc điểm này của VB đƣợc Ross gọi là “cấu trúc định trước”, còn Rosalind

Horowitz sử dụng cụm từ là “cấu trúc hùng biện” (theo Nguyễn Hòa [51, tr.56]).

Việc hiểu kỹ đặc điểm cấu trúc của từng loại VB này đóng vai trò quan trọng

để tạo lập và sử dụng đúng trong quá trình giao tiếp. Nhƣ Martin từng khẳng định:

“Có lẽ rất đúng khi nói rằng, ta không thể viết nếu trước hết không biết ngôn ngữ.

Nhưng nếu nói rằng ta không thể viết nếu không nắm được cấu trúc thể loại phù

hợp cũng đúng không kém” (theo Lê Hùng Tiến [90, tr.162]).

Hai tác giả William . Mann và Sandra . Thompson đã nhấn mạnh rằng:

một số VB nghệ thuật (truyện ngắn, thơ ca) hay VB hành chính (luật, hợp đồng,

báo cáo) không đƣợc đặc trƣng bởi cấu trúc hùng biện (có đầy đủ ba thành phần

38

và cấu trúc hệ thống cấp bậc), nhƣng các VB khoa học nói chung và các bài báo

khoa học nói riêng, yêu cầu xuất hiện của ba thành phần này trong bố cục của một

bài báo là một yêu cầu bắt buộc bởi cấu trúc có thứ bậc và các phần đó đƣợc tổ

chức có qui tắc để thực hiện chức năng hùng biện [117, tr.20].

Bên cạnh đó, Garrot và Sanford cũng đã nhận định, ngƣời viết có kinh nghiệm

là có thể làm cho các yếu tố khác nhau trong một VB có sự gắn kết với nhau để tạo

thành một chỉnh thể thống nhất, đó chính là mạch lạc VB [102, tr.600-602].

Ngoài ra, theo tác giả ỗ Hữu hâu, kết cấu của VB phải đảm bảo tính liên

kết, tính thống nhất và tính hoàn chỉnh cho nội dung của VB [13, tr.104]. Và theo

Hoàng Phê, ngữ nghĩa là mặt quan trọng nhất của ngôn ngữ học, do đó khi phân tích

ngữ nghĩa cần gắn với bình diện hệ thống - cấu trúc và bình diện chức năng - sử

dụng [73, tr.2]. Tôn Nữ Mỹ Nhật cũng cho rằng, mỗi VB đều có cấu trúc chức năng

riêng, đảm bảo giá trị giao tiếp cho VB đó [70].

Nhƣ vậy, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ đều thống nhất ý kiến cho rằng, mỗi

loại VB đều có một cấu trúc riêng. ó chính là cách thức tổ chức các yếu tố nội

dung của VB, các kiểu loại tổ chức VB. Cấu trúc đó bao gồm cách thức tổ chức để

tạo sự mạch lạc và liên kết trong VB. Và sự mạch lạc, liên kết cũng có quan hệ chặt

chẽ với nhau để tạo nên cấu trúc cho VB.

* Cấu trúc các bài báo khoa học

Cấu trúc của một bài báo theo quan niệm của tác giả Robert Day (1998)

[109], Murray (2005) [121] theo định dạng IMRaD gồm 4 phần là: Giới thiệu,

phƣơng pháp, kết quả và thảo luận hoặc AIMRaD gồm 5 phần là: Tóm tắt, giới

thiệu, phƣơng pháp, kết quả và thảo luận [135, tr.4]. Tuy nhiên, các tác giả Alan G.

Gross, Joseph E. Harmon và Michael Reidy cho rằng, cấu trúc của một bài báo khoa

học hiện đại gồm hai hình thức là: Hình thức 1 (các bài báo về lý thuyết, có các định

lý, định luật) gồm 7 yếu tố là: Tiêu đề, tóm tắt, dẫn nhập, phƣơng pháp, kết quả, lời

cảm ơn và tài liệu tham khảo; Hình thức 2 (các bài báo có các thử nghiệm, quan

sát), cần phải đảm bảo gồm 8 yếu tố là: Tiêu đề, tóm tắt, dẫn nhập, phƣơng pháp,

kết quả, thảo luận, lời cảm ơn và tài liệu tham khảo [100].

39

Mặc dù tác giả Vũ ao àm quan niệm, một bài báo khoa học có cấu trúc sắp

xếp tùy thuộc vào mỗi tác giả [24, tr.106], nhƣng tác giả Hữu ạt cho rằng, cấu trúc

của các bài báo khoa học là một cái khung chặt chẽ, không thể tỉnh lƣợc hay tùy

tiện thay đổi trật tự của ba phần quan trọng [28, tr.171]. Ngoài ra, nhà nghiên cứu

Nguyễn Văn Tuấn đã nhấn mạnh tới sáu yếu tố tiêu chuẩn của một bài báo khoa học

là: có mục đích và chủ đề cụ thể; cách sử dụng từ ngữ chính xác và nhất quán; các dữ

liệu, bảng biểu có chất lƣợng; có hình thức theo đúng những qui định của tập san; cấu

trúc đầy đủ các phần và trình bày logic, khúc chiết [94, tr.399].

Bên cạnh đó, theo quy định của Tạp chí Khoa học và ông nghệ Việt Nam -

Bộ Khoa học và ông nghệ (thuộc các lĩnh vực khoa học: tự nhiên, kỹ thuật và

công nghệ, y - dƣợc, nông nghiệp, xã hội và nhân văn) một bài báo khoa học gồm 8

yếu tố cấu thành là: tiêu đề, tóm tắt, đặt vấn đề (dẫn nhập), đối tƣợng và phƣơng

pháp, kết quả nghiên cứu, bàn luận, kết luận, chú thích và tài liệu tham khảo. ó

chính là các yếu tố bắt buộc phải có và mang tính cố định cao cho các bài báo khoa

học để đủ điều kiện đƣợc xét duyệt có đăng tạp chí hay không trƣớc các yếu tố khác

tiếp theo. Ngoài ra, còn một số lƣu ý cụ thể cho việc trình bày từng yếu tố của một

bài báo khoa học và cần đáp ứng đúng những quy định này trong quá trình tạo lập

một bài báo khoa học (Phụ lục 2 của L ).

Nhƣ vậy, cấu trúc các bài báo nói chung và các bài báo KHXH&NV nói

riêng, là loại VB có cấu trúc qui định, cần tổ chức sắp xếp các yếu tố thành phần

một cách chặt chẽ (gồm 8 yếu tố thành phần và không nên tỉnh lƣợc hay thay đổi

trật tự bất cứ bộ phận nào của khung cấu trúc). ây là điểm khác biệt cơ bản về mặt

cấu trúc nội dung của các bài báo khoa học so với các VB thuộc phong cách nghệ

thuật hay báo chí (có thể thay đổi linh hoạt trật tự các yếu tố nội dung).

40

Tiểu kết chƣơng 1

Phần tổng quan đã khái quát tình hình nghiên cứu về liên kết và mạch lạc

trong VB, tình hình nghiên cứu VB khoa học và các bài báo khoa học trên thế giới

và tại Việt Nam. Ngoài ra, phần cơ sở lý luận đã nhấn mạnh tới những đặc trƣng

cơ bản của VB và VB khoa học, quan hệ lập luận, cấu trúc các bài báo khoa học

và đặc điểm của các bài báo KHXH&NV. ồng thời, xác định VB là các sản

phẩm giao tiếp bằng ngôn ngữ viết, dài hoặc ngắn, có sự hoàn chỉnh cả cấu trúc

hình thức và nội dung (cấu trúc nghĩa), có đề tài - chủ đề, liên kết - mạch lạc và

thuộc một phong cách ngôn ngữ nhất định để đảm bảo mục đích giao tiếp. Trong

khi đó, diễn ngôn là quá trình giao tiếp, bao hàm VB (sản phẩm giao tiếp bằng

ngôn ngữ viết) và ngôn bản (sự kiện giao tiếp bằng ngôn ngữ nói), nhƣng hƣớng

tới các mục tiêu xã hội là chủ yếu.

Vấn đề liên kết, mạch lạc đã và đang càng ngày càng đƣợc quan tâm nghiên

cứu trong các loại VB nghệ thuật, hành chính, báo chí và chính luận. Tuy nhiên, vấn

đề này trong các VB khoa học vẫn chƣa đƣợc tìm hiểu kỹ lƣỡng và phạm trù mạch

lạc vẫn chƣa có sự đồng thuận từ tất cả các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học trong các

tài liệu ngôn ngữ. Do đó, dựa trên việc hệ thống hóa lại các quan điểm về liên kết và

mạch lạc, chúng tôi theo quan niệm, đặc tính liên kết và mạch lạc là hai đặc điểm cơ

bản để tạo ra VB và đánh giá chất lƣợng các VB viết.

Tóm lại, các quan điểm về VB, liên kết, mạch lạc, quan hệ lập luận, cấu trúc

VB nói chung và cấu trúc các bài báo khoa học nói riêng đƣợc chúng tôi sử dụng để

nghiên cứu đối tƣợng cụ thể là các bài báo KHXH&NV. ồng thời, xem xét các đặc

điểm liên kết và mạch lạc xuất hiện phổ biến trong thể loại VB này. Qua đó tìm hiểu

giá trị của chúng trong việc tạo ra màu sắc phong cách và cấu trúc nội dung cho VB.

41

ƢƠN 2. Ặ ỂM L ÊN ẾT TRONG

Á B BÁO O Ọ V N N V N

Nội dung trong cuốn sách “World Social Science Report” của Unesco đã phủ

nhận quan niệm đề cao khoa học tự nhiên là khoa học cứng (sciences dures) và coi

khoa học xã hội là khoa học mềm (sciences molles) - tức là khoa học xã hội chỉ dựa

trên từ ngữ, chứ không phải dựa trên dữ liệu nhƣ khoa học tự nhiên [97, tr.10]. iều

đó chứng tỏ, nghiên cứu khoa học xã hội càng ngày càng đƣợc đề cao. Vì thế, cùng

với việc khẳng định các bài báo KHXH&NV chính là những công trình khoa học,

chúng tôi tiến hành tìm hiểu đặc điểm liên kết đặc trƣng trong thể loại VB này để

góp phần làm sáng rõ hơn vai trò đặc thù của các phƣơng tiện liên kết. ồng thời,

xem xét sự khác biệt của các PLK trong các bài báo thuộc các ngành khác nhau và

sự khác biệt so với các loại VB thuộc phong cách khác.

Do đó, chƣơng này tập trung vào hai nội dung cụ thể sau đây:

- Các phép liên kết đặc thù trong các bài báo KHXH&NV.

- Một số đặc trƣng liên kết trong các bài báo KHXH&NV.

2.1. Các phép liên kết đặc thù trong các bài báo hoa học ã hội và Nhân văn

Theo ý kiến của tác giả Halliday và Hasan, đối tƣợng khảo sát về liên kết là

giữa câu với câu, các phƣơng tiện liên kết đƣợc dùng đều nằm trong các câu có sự

nối kết về nghĩa với nhau và không cần đề cập đến sự liên kết giữa đoạn văn với

đoạn văn hay giữa các phần trong một VB. Bởi vì, hai tác giả chủ yếu nghiên cứu

các VB khẩu ngữ nên cho rằng đoạn văn khó xác định. Nhƣng nghiên cứu này xem

xét sự xuất hiện của các PLK đặc thù trong các bài báo KHXH&NV, do đó tìm hiểu

sự liên kết giữa các câu, các đoạn và các yếu tố thành phần trong VB. Kết quả khảo

sát 586 bài báo KHXH&NV cho thấy, các bài báo đều sử dụng bốn PLK giống nhƣ

các loại VB khác (nghệ thuật, báo chí, chính luận, hành chính), tuy nhiên khác biệt

về tần số sử dụng. Phép liên kết từ vựng xuất hiện nhiều nhất, tiếp theo là phép nối

và quy chiếu, phép thế và phép tỉnh lƣợc chỉ xuất hiện rất ít trong thể loại VB này.

Kết quả khảo sát là:

42

Bảng 2.1: Tần số các phép liên kết đƣợc sử dụng trong các bài báo

Khoa học Xã hội và Nhân văn

Số trƣờng hợp Tỷ lệ ác phép liên kết

sử dụng

64% 1. Phép liên kết từ vựng 3409

8923 17% 2. Phép nối

16% 3. Phép quy chiếu 8558

3% 4. Phép thế và phép tỉnh lƣợc 1426

53.005 100% Tổng cộng

Bảng thống kê số liệu 2.1 cho thấy, chiếm tỷ lệ cao nhất là PLK từ vựng

(64%), tiếp theo là phép nối (17%) và phép quy chiếu (16%). Phép thế và phép

tỉnh lƣợc chiếm một tỷ lệ rất nhỏ so với các phép liên kết khác (3%).

ặc điểm các PLK xuất hiện trong các bài báo KHXH&NV sẽ đƣợc tìm

hiểu cụ thể lần lƣợt theo mức độ quan trọng giảm dần trong các khảo sát tiếp theo.

2.1.1. Phép liên kết từ vựng

Liên kết từ vựng là sự liên kết trên cơ sở mối quan hệ giữa các từ ngữ có

quan hệ với nhau trong hai câu để tạo sự liên kết giữa hai câu đó [112, tr.274].

Kết quả thống kê cho thấy, PLK từ vựng đƣợc sử dụng trong các bài báo

KHXH&NV chiếm tỷ lệ cao nhất (64%). ồng thời, trong các ngữ liệu đƣợc khảo

sát xuất hiện cả ba trƣờng hợp là lặp từ ngữ, dùng từ đồng nghĩa - gần nghĩa - trái

nghĩa và phối hợp từ ngữ.

ác kiểu loại liên kết từ vựng đƣợc khảo sát xuất hiện trong 586 bài báo

KHXH&NV với tần số nhƣ sau:

43

ác kiểu loại liên kết từ vựng

Phối hợp từ ngữ 14%

Dùng từ đồng nghĩa, gần nghĩa và trái nghĩa 2%

Lặp từ ngữ 84%

Biểu đồ 2.2: ác loại liên kết từ vựng đƣợc sử dụng

trong các bài báo &NV

Biểu đồ 2.2 cho thấy, phép lặp từ vựng đƣợc sử dụng chiếm tỷ lệ cao (84%)

trong tất cả các bài báo KHXH&NV và tiếp theo là việc sử dụng phối hợp từ ngữ

(các từ cùng trƣờng nghĩa) chiếm 14% và sử dụng không phổ biến là các từ đồng

nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa (2%).

Tiếp theo, các kiểu loại liên kết từ vựng xuất hiện trong các bài báo

KHXH&NV đƣợc tìm hiểu cụ thể là:

2.1.1.1. Phép lặp từ ngữ

Phép lặp từ ngữ là việc sử dụng từ, cụm từ ở câu trƣớc và đƣợc lặp lại ở câu

sau, đoạn văn sau. Hiện tƣợng phép lặp xuất hiện trong các bài báo KHXH&NV có

những đặc thù riêng nhƣ sau.

Ngữ liệu 1: “Các báo cáo tài chính được định nghĩa là phương tiện trình

bày tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và những thay đổi về tình

hình tài chính của một doanh nghiệp cho những người quan tâm đến nó.

Những thông tin do các báo cáo tài chính cung cấp có ý nghĩa quan trọng

cho quyết định quản lý, bởi vì nó mang tính chiến lược, bao quát mọi lĩnh vực quản

lý sản xuất kinh doanh như: lĩnh vực cung cấp và dự trữ các yếu tố đầu vào cho sản

xuất, điều tiết sự mất cân đối tài chính theo hướng có lợi nhất.” [Tạp chí

KHXH&NV, tập 21, số 1, 2005, tr.49].

44

Trong hai đoạn văn trên, cụm danh từ “các báo cáo tài chính” đƣợc lặp lại 2

lần để tạo sự liên kết giữa hai câu, hai đoạn văn. ây là hiện tƣợng lặp cùng từ loại

(danh từ - cụm danh từ) và có tác dụng rõ rệt trong việc duy trì đề tài - chủ đề xuất

hiện tại tiêu đề “phân tích báo cáo tài chính phục vụ nhu cầu sử dụng thông tin kế

toán của các đối tượng” trong bài báo này.

Ngữ liệu 2: “Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng, tự chủ là “tự mình làm

chủ, không để bị phụ thuộc hoặc bị chi phối”. Lý thuyết về tính tự quyết của Deci và

Ryan cho rằng người tự chủ hành động một cách tự nguyện và là chủ thể hoạt động

của mình. Những hoạt động mang tính tự chủ khởi nguồn từ chính bản thân chủ thể

và nguyên nhân thực hiện hành động đó nằm bên trong.” [Tạp chí KHXH&NV, tập

25, số 1s, 2009, tr.49].

Từ “tự chủ” trong đoạn văn trên đƣợc lặp lại đã tạo sự liên kết cho các câu

và toàn bộ bài báo thống nhất theo đề tài đã nêu tại tiêu đề “Ý thức về tính tự chủ

đối với việc học tập ở trẻ em, nghiên cứu so sánh trên học sinh Pháp và Việt Nam”.

Hiện tƣợng lặp từ “tự chủ” trong đoạn này là hiện tƣợng lặp không đồng nhất trong

quy chiếu, vì “tự chủ” trong câu (1) là danh từ, để gọi tên một hiện tƣợng của việc

“tự mình làm chủ, không để phụ thuộc hoặc chi phối”, còn từ “tự chủ” trong câu (2)

và (3) là tính từ, chỉ đặc điểm, tính chất của một con ngƣời. ây là hiện tƣợng lặp

không cùng từ loại và đƣợc xếp vào nhóm lặp không đồng chiếu, nhƣng việc lặp lại

từ “tự chủ” vẫn có tác dụng tạo sự liên kết giữa các câu với nhau và thống nhất về

đề tài - chủ đề đƣợc đề cập trong đoạn văn, trong VB.

Ngữ liệu 3:“Khái niệm “các ngôn ngữ cộng đồng” (community languages)

xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1974, được dùng để chỉ tất cả các ngôn ngữ không phải

là tiếng Anh, bao gồm cả ngôn ngữ thổ dân, là biểu hiện cho sự thừa nhận mà chính

phủ đã dành cho các ngôn ngữ này. Có khoảng 100 ngôn ngữ cộng đồng đang sử

dụng thường xuyên ở Australia.” [Tạp chí KHXH&NV, tập 23, số 2, 2007, tr.101].

Cụm danh từ “ngôn ngữ cộng đồng” đã đƣợc lặp lại để liên kết hai câu. ây

là hiện tƣợng lặp đồng quy chiếu (cùng chỉ một hiện tƣợng, một khái niệm) để duy

trì đề tài - chủ đề trong cả đoạn văn và hƣớng tới đề tài - chủ đề chung toàn VB

“chính sách ngôn ngữ ở Australia”.

45

Ngoài ra, danh từ “ngôn ngữ” lặp đi lặp lại trong toàn bộ bài báo, đã có tác

dụng tạo sự kết nối các đoạn và các thành phần trong VB (hiện tƣợng lặp bắc cầu).

ó là dấu hiệu xuất hiện từ chủ chốt này trong các đề mục của VB (“1. Vài nét về

lịch sử ngôn ngữ (…) 2. Các giai đoạn trong chính sách ngôn ngữ ở Australia (…)

3. Động lực thúc đẩy chính sách ngôn ngữ dân tộc (…) 4. Các văn kiện quan trọng

về chính sách ngôn ngữ ở Australia (…) 5. Việc áp dụng chính sách ngôn ngữ ở các

bang của Australia (…) 6. Những tranh luận xoay quanh chính sách ngôn ngữ ở

Australia hiện nay”). Sự xuất hiện lặp đi lặp lại của từ “ngôn ngữ” và cụm danh từ

“chính sách ngôn ngữ” trong toàn bài nhƣ vậy đã có tác dụng nhất định trong việc

tạo sự thống nhất đề tài - chủ đề về mặt hình thức và nội dung ngữ nghĩa cho bài

báo có tiêu đề “Những kinh nghiệm về chính sách ngôn ngữ ở Australia”.

Nhìn chung, từ ngữ liệu 1, 2, 3 nói riêng và các ngữ liệu đƣợc khảo sát nói

chung cho thấy, phép lặp đã có tác dụng tạo sự liên kết cho các câu, các đoạn văn,

các nội dung nhỏ (các đề mục trong VB). ặc biệt là, phép lặp đã đóng vai trò quan

trọng để lặp lại những từ (cụm từ) chủ chốt của bài báo đó. iều này đã có tác dụng

tạo tính chính xác cho thông tin đang truyền đạt, tránh hiện tƣợng nhầm lẫn hay tạo

sự khó hiểu đối với ngƣời đọc khi bài báo sử dụng những từ khác nhau để gọi tên

một hiện tƣợng, một khái niệm. Việc lặp lại các từ (cụm từ) này có tác dụng tạo cho

VB tính rõ ràng, nhất quán trong việc giải thích và triển khai trình bày các thông tin

khoa học chính (đề tài - chủ đề của VB) đã đƣợc đề cập tại tiêu đề. iều này minh

chứng rõ ràng hơn cho quan điểm đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu lƣu ý, về việc

ngƣời tạo lập VB có xu hƣớng đặt thông tin chính tại tiêu đề của VB khoa học.

Hơn nữa, kết quả thống kê trong Biểu đồ 2.2 cho thấy, tần số xuất hiện cao

nhất của phép lặp so với các PLK khác của liên kết từ vựng, chứng tỏ đây là PLK

đã chiếm vị trí cơ bản và xuất hiện đặc thù trong các bài báo KHXH&NV. Hiện

tƣợng lặp đã xuất hiện cả lặp đồng nhất và không đồng nhất trong quy chiếu. ác từ

loại (danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ) đều đƣợc sử dụng để thực hiện phép lặp

trong các bài báo KHXH&NV, tuy nhiên hiện tƣợng lặp danh từ (cụm danh từ) -

46

các thuật ngữ khoa học chuyên ngành trong các lĩnh vực khoa học cụ thể - xuất hiện

phổ biến nhất trong ngữ liệu đƣợc thu thập.

Ngoài ra, kết quả khảo sát các bài báo KHXH&NV cho thấy, xuất hiện một

số trƣờng hợp lặp ngữ âm, lặp cú pháp, song hiện tƣợng lặp từ ngữ luôn luôn xuất

hiện cùng, do đó ngữ liệu đƣợc trích dẫn chỉ đề cập tới hiệu quả và vai trò của phép

lặp từ ngữ trong việc tạo sự liên kết giữa các câu, các đoạn trong VB. Và kết quả

khảo sát cho thấy, phép lặp từ ngữ xuất hiện với tần số cao trong các bài báo

KHXH&NV, đồng thời chiếm ƣu thế là PLK cơ bản của thể loại VB này.

2.1.1.2. Sử dụng từ ngữ đồng nghĩa, từ ngữ gần nghĩa và trái nghĩa

Dùng từ ngữ đồng nghĩa hay gần nghĩa là việc sử dụng các từ ngữ mang nét

nghĩa ngang nhau hoặc gần gũi nhau trong các câu khác nhau để tạo sự liên kết giữa

các câu. Khác với cách hiểu từ đồng nghĩa thông thƣờng (là đồng sở chỉ), các từ

đồng nghĩa trong liên kết bao gồm cả các từ đồng nghĩa - theo cách hiểu hẹp của Từ

điển đồng nghĩa và cách hiểu rộng - tùy theo trƣờng hợp sử dụng. Và PLK này đã

xuất hiện trong các bài báo KHXH&NV nhƣ sau.

Ngữ liệu 4: “Nhu cầu được đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ của giảng

viên là lớn. Nhiều cán bộ không tham gia được vì lý do thời gian. Đối với những

khóa học dài hạn, hay với những môn học cụ thể thì các đơn vị cũng cần có những

ưu đãi phù hợp để không những cán bộ có thể tham gia mà còn nâng cao hiệu quả

đào tạo bồi dưỡng.” [Tạp chí KHXH&NV, tập 28, số 2, 2012, tr.83].

Từ “giảng viên” và “cán bộ” mang nét nghĩa tƣơng đồng, cùng chỉ những

ngƣời công tác trong trƣờng đại học (đồng sở chỉ), nên đã đƣợc tác giả sử dụng

trong trƣờng hợp này và tạo đƣợc sự liên kết về mặt ngữ nghĩa giữa câu thứ nhất

với câu thứ hai, câu thứ ba, giúp cho ngƣời đọc hiểu đƣợc sự thống nhất về đối

tƣợng đang đề cập đến và đã tránh hiện tƣợng lặp lại quá nhiều lần một danh từ

trong các câu văn, đoạn văn.

Tuy nhiên, từ cán bộ mang nghĩa rộng hơn, để chỉ chung những ngƣời làm

công tác nghiệp vụ chuyên môn trong các cơ quan nhà nƣớc và từ giảng viên chỉ cụ

thể những ngƣời làm công tác giảng dạy trong các trƣờng cao đẳng, đại học. ây

47

chính là quan hệ đồng nghĩa trên bậc (thƣợng danh) của các từ ngữ và là quan hệ

đồng nhất trong quy chiếu.

Ngữ liệu 5: “Các nước thuộc nhóm G20 vốn cam kết thúc đẩy tự do thương

mại thế giới cũng áp dụng các biện pháp bảo hộ mậu dịch dưới nhiều hình thức

khác nhau. Trong chương trình cứu trợ kinh tế của Mỹ cũng có điều khoản “chỉ

mua hàng Mỹ” hay việc tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy cho rằng các công ty sản

xuất ô tô chỉ sản xuất ở trong nước Pháp mà thôi.” [Tạp chí KHXH&NV, tập 26,

số 2, 2010, tr.97].

Cụm từ “bảo hộ mậu dịch” có nghĩa là chính sách bảo vệ sản xuất trong nƣớc

chống lại sự cạnh tranh của hàng hóa nƣớc ngoài trên thị trƣờng nƣớc đó (các biện

pháp thƣơng mại nhằm hỗ trợ sản xuất trong nƣớc). Cụm từ “cứu trợ kinh tế” và “chỉ

sản xuất ở trong nước” để chỉ các hoạt động cụ thể cứu giúp nền kinh tế ở trong nƣớc

của nƣớc Mỹ và Pháp (những nƣớc trong nhóm G20). ụm từ “bảo hộ mậu dịch” đã

mang nghĩa khái quát hơn so với cụm từ “cứu trợ kinh tế” và “chỉ sản xuất ở trong

nước”, nhƣng tất cả những cụm từ này có sự đồng nhất trong quy chiếu, do vậy đây

là những từ đồng nghĩa hiểu rộng và chúng đã tạo sự liên kết giữa hai câu trên.

Cần lƣu ý rằng, từ đồng nghĩa là những “từ có nghĩa giống nhau, nhưng có

vỏ ngữ âm khác nhau” [72, tr.1072], song một số nhà nghiên cứu ngữ dụng học, từ

vựng học cho rằng, các từ chỉ con ngƣời, sự vật (hoặc hoạt động, tính chất) tƣơng

ứng với một biểu thức chiếu vật là nghĩa chiếu vật (nghĩa sở chỉ) và các từ cùng quy

chiếu vào một sự vật, đối tƣợng cụ thể gọi là “đồng sở chỉ” [13, tr.63], [36, tr.450].

Tuy nhiên, dựa trên lĩnh vực ngữ nghĩa, tác giả Trần Ngọc Thêm [81, tr.118] và tác

giả Diệp Quang Ban [5, tr.383] đã quan niệm về từ đồng nghĩa rộng hơn. Từ đồng

nghĩa dùng để liên kết các câu gồm cả hai nhóm, từ đồng nghĩa hiểu hẹp (nhƣ trong

sách “Từ điển tiếng Việt” [72, tr.1072] và từ đồng nghĩa hiểu rộng (bao gồm cả các

từ đồng nghĩa trên bậc, đồng nghĩa miêu tả - tức đồng sở chỉ - và từ đồng nghĩa là

dạng phủ định của từ trái nghĩa) [5, 383-386]. Ngoài ra, ngữ liệu đƣợc khảo sát đã

cho thấy sự phong phú, hiệu quả của việc sử dụng những từ ngữ này để liên kết các

câu, đồng thời tạo sự chặt chẽ, logic về mặt ngữ nghĩa cho các bài báo KHXH&NV.

48

Nhƣ vậy, từ ngữ liệu đƣợc thu thập có thể nhận thấy, sự xuất hiện của các từ

đồng nghĩa, gần nghĩa đã đem lại hiệu quả nhất định cho nội dung thông tin của

đoạn văn, VB. Và trong một số trƣờng hợp nhất định, để tránh hiện tƣợng lặp lại

quá nhiều lần các từ trong một VB, việc sử dụng từ đồng nghĩa, gần nghĩa (cả sự

đồng nhất và không đồng nhất trong qui chiếu) đã tạo đƣợc hiệu quả liên kết giữa

các câu bằng việc tập trung vào đề tài - chủ đề đang đƣợc đề cập, giúp cho nội dung

diễn đạt đƣợc uyển chuyển, linh hoạt. ồng thơi, nội dung thông tin trong các bài

báo KHXH&NV thêm chặt chẽ, logic.

2.1.1.3. Sử dụng phối hợp từ ngữ

Việc sử dụng phối hợp từ ngữ để tạo sự liên kết giữa các câu là việc dùng các

từ ngữ khác nhau và có mối quan hệ ngữ nghĩa hay thuộc về một trƣờng nghĩa nào

đó giữa các câu để tạo sự gắn kết. Ví dụ, quan hệ về loại (đồng loại), về đặc trƣng,

về định vị hay quan hệ nhân - quả. Phép liên kết này đã xuất hiện trong các bài báo

KHXH&NV với những đặc điểm riêng của thể loại VB này nhƣ sau.

Ngữ liệu 6: “Cùng với năng lực thuyết trình của giáo viên, công nghệ thông

tin đã có khả năng minh họa kiến thức của Giáo dục quốc phòng - An ninh một

cách chân thực, bản chất, lôi cuốn người học cùng khám phá, hòa nhập vào nội

dung của từng phần trong mỗi bài giảng. Hạn chế tối đa những nhược điểm của

phương pháp giảng dạy truyền thống. Chất lượng đào tạo được từng bước nâng

cao.” [Tạp chí KHXH&NV, tập 28, số 2, 2012, tr.120].

Từ “bài giảng” và cụm từ “phương pháp giảng dạy” là những từ cùng

trƣờng nghĩa, có quan hệ về loại, chỉ các sự việc, hoạt động trong trƣờng học, do đó

đã có tác dụng tạo sự liên kết giữa câu thứ nhất với câu thứ hai và cùng thống nhất

về đề tài - chủ đề đang đƣợc đề cập đến, cũng nhƣ đã đƣợc nhắc tới ở tiêu đề của

bài viết là: “Một số biện pháp nâng cao năng lực giảng dạy và nghiên cứu khoa học

cho đội ngũ giảng viên ở Trung tâm Giáo dục Quốc phòng Hà Nội 2”. Ngoài ra,

cụm từ “chất lượng đào tạo” mang nghĩa khái quát cao hơn, bao gồm nhiều hoạt

động trong trƣờng học (ví dụ: chất lƣợng của giảng dạy, nhân lực (giáo viên),

49

nghiên cứu khoa học, cơ sở vật chất), do vậy đã tạo sự liên kết với hai câu trƣớc đó

bằng quan hệ cấp loại.

Ngữ liệu 7: “Nếu so sánh các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng của vùng

Đông Bắc Hoa Kỳ với Châu Âu và với Đông Nam Á, có thể thấy số lượng các tiêu

chuẩn khác nhau, nhưng tất cả đều tập trung đánh giá chất lượng đầu vào, quá

trình đào tạo và chất lương đầu ra của trường đại học. Nếu đi sâu vào những yêu

cầu trong mỗi tiêu chí, chúng ta sẽ thấy yêu cầu của mỗi quốc gia, mỗi châu lục sẽ

có những điểm khác nhau, phản ánh đặc thù văn hóa và sự phát triển xã hội của

nước đó, cũng như những đòi hỏi của thị trường lao động địa phương và quốc tế.”

[Tạp chí KHXH&NV, tập 27, số 1, 2011, tr.62].

Hai câu trên có sự liên kết với nhau bằng việc xuất hiện phối hợp của các từ

ngữ. Từ “tiêu chuẩn” trong câu thứ nhất có quan hệ cấp loại với từ “tiêu chí” trong

câu thứ hai (một tiêu chuẩn kiểm định chất lƣợng bao gồm nhiều tiêu chí) và từ

“châu Âu” có quan hệ về loại với từ “châu lục” trong câu thứ hai (quan hệ đồng (hạ)

cấp với nhau), do đó đã tạo sự liên kết cho hai câu.

Ngoài ra, cần lƣu ý thêm rằng, sự phối hợp từ ngữ theo quan niệm của liên

kết cấu trúc là phép liên tƣởng theo nghĩa hẹp [81, tr.122]. Nhƣng việc sử dụng tên

gọi “sự phối hợp từ ngữ” sẽ hợp lý hơn vì sẽ tránh hiện tƣợng trùng lặp với việc sử

dụng từ đồng nghĩa, trái nghĩa. Bởi nếu sử dụng phép liên tƣởng theo nghĩa rộng sẽ

bao gồm cả quan hệ trái nghĩa và quan hệ đồng nghĩa.

Nhìn chung, kết quả khảo sát các bài báo KHXH&NV cho thấy, tuy việc sử

dụng phối hợp từ ngữ không xuất hiện trong việc tạo sự liên kết giữa các đoạn văn

hoặc các yếu tố thành phần trong bài báo KHXH&NV, nhƣng PLK này đƣợc sử

dụng đã chiếm vị trí thứ hai (14%) trong PLK từ vựng và đã có tác dụng nhất định

tạo sự liên kết cho các câu trong một đoạn văn của VB. ồng thời, đã có hiệu quả

tạo giá trị mạch lạc cho các bài báo KHXH&NV. Bởi vì, sự phối hợp từ ngữ (hiện

tƣợng lặp lại các từ thuộc cùng một lĩnh vực nghĩa) trong một VB đã góp phần quan

trọng tạo ra tính tƣơng hợp, chính là công cụ đem lại giá trị liên kết và mạch lạc cho

VB đó [37, tr.521].

50

ặc biệt, sự phối hợp từ ngữ trong các bài báo KHXH&NV đƣợc khảo sát

cho thấy tính khoa học và chính xác trong việc sử dụng các từ ngữ chuyên ngành

(các từ ngữ thuộc trƣờng từ vựng, tri thức khoa học của các ngành cụ thể nhƣ: Giáo

dục, Ngôn ngữ, Pháp luật, Xã hội học hay Kinh tế). Và các từ ngữ đó xuất hiện

trong một bài báo khoa học cụ thể (ngữ cảnh cụ thể) đã hƣớng tới đề tài - chủ đề về

giáo dục, ngôn ngữ, pháp luật, xã hội học hay kinh tế của lĩnh vực chuyên ngành

trong VB, thể hiện sự tƣơng tác xã hội, là một phần của yếu tố Trƣờng (field) nhƣ

tác giả Halliday đã đề cập. hính vì thế, trong ngữ cảnh cụ thể này (có tính chuyên

ngành), các từ ngữ đó có mối liên hệ và tạo sự kết nối giữa các câu khác nhau trong

VB (nhƣ mối quan hệ đồng nghĩa hiểu rộng trong Ngữ liệu 5 và phối hợp từ ngữ

trong Ngữ liệu 7 đã phân tích ở trên). Nhƣng, nếu xét trong cuộc sống xã hội

thông thƣờng, thì những từ này hoàn toàn không có mối quan hệ nghĩa với nhau

hoặc chúng có nghĩa tƣơng đƣơng. Bởi vì, nếu ngƣời đọc không thuộc lĩnh vực

nghiên cứu đó hoặc không quan tâm tìm hiểu thì sẽ không dễ dàng hiểu mối quan

hệ giữa những từ ngữ này. Do đó, có thể nhận ra mối quan hệ liên kết đặc thù của

những từ ngữ này trong ngữ cảnh cụ thể (các bài báo khoa học cụ thể có tính

chuyên ngành) đã có nội dung ngữ nghĩa hẹp hơn so với các từ ngữ này nếu xuất

hiện trong cuộc sống bình thƣờng.

Trên đây là những đặc điểm riêng biệt của PLK từ vựng đã xuất hiện trong

các bài báo KHXH&NV đƣợc khảo sát, tiếp theo chúng tôi đề cập đến phép nối -

PLK xuất hiện nhiều thứ hai trong ngữ liệu và có những đặc thù riêng nhƣ sau.

2.1.2. Phép nối

Phép nối (conjunction) là việc sử dụng các từ, liên từ nối để tạo ra các kiểu

quan hệ ngữ nghĩa, logic giữa hai câu, hai đoạn trong VB. Phép nối có tác dụng chỉ

ra tính liên tục từ toàn bộ mệnh đề trong câu này sang toàn bộ mệnh đề trong câu

khác để kết nối hai câu, hai đoạn, hai phần của VB.

Qua số liệu khảo sát trong Bảng 2.1 có thể thấy, ngoài PLK từ vựng, phép

nối đƣợc sử dụng chiếm tỷ lệ cao (17%) so với các PLK quy chiếu, phép thế và

phép tỉnh lƣợc trong các bài báo (8923 lƣợt trƣờng hợp trên tổng số 53005 trƣờng

51

hợp PLK đƣợc sử dụng). Tần số cụ thể các kiểu quan hệ nghĩa của phép nối xuất

120

100

80

72

74

78

60

81

100

100

85

40

20

28

26

22

19

0

Quan hệ bổ trợ

0 Quan hệ điều kiện

0 Quan hệ mục đích

5 Quan hệ chuyển đổi

Quan hệ nghịch đối

Quan hệ không gian - thời gian

Quan hệ nguyên nhân - hệ quả

Tỷ lệ % không xuất hiện

81

74

85

78

72

100

100

Tỷ lệ % xuất hiện

19

26

5

22

28

0

0

hiện trong các bài báo KHXH&NV là:

Biểu đồ 2.3: ác kiểu quan hệ nghĩa của phép nối đƣợc sử dụng

trong các bài báo &NV

Kết quả khảo sát trong Biểu đồ 2.3 đã chỉ ra, tần số các kiểu thể hiện quan hệ

nghĩa của phép nối xuất hiện trong các bài báo KHXH&NV có sự khác nhau.

Chiếm tỷ lệ cao nhất là quan hệ nguyên nhân – hệ quả (28%), tiếp theo là quan hệ

bổ trợ (26%), quan hệ không gian - thời gian (22%), quan hệ nghịch đối (19%) và

quan hệ chuyển đổi (5%). Kiểu quan hệ nghĩa chỉ điều kiện và mục đích xuất hiện

rất ít trong các bài báo KHXH&NV (0%). ặc biệt là, kiểu quan hệ nghĩa chỉ

nguyên nhân - hệ quả, quan hệ bổ trợ đã xuất hiện rất phổ biến. Bởi vì, đặc trƣng

của VB khoa học là thông báo các thông tin bằng chứng minh, giải thích, lập luận,

do đó các kết từ (quan hệ từ) của quan hệ nghĩa này đƣợc sử dụng nhiều để kết nối

các phán đoán, các luận điểm, luận cứ và kết luận trong các bài báo KHXH&NV

đƣợc khảo sát.

Tuy nhiên, các loại quan hệ nghĩa trong phép nối đƣợc khảo sát là sự liên kết

giữa các câu, các đoạn trong VB, không tính đến những từ nối đƣợc sử dụng để nối

các mệnh đề trong câu (các thành phần trong câu ghép chính phụ). Và bẩy quan hệ

52

nghĩa cụ thể của phép nối xuất hiện trong các bài báo KHXH&NV theo thứ tự xuất

hiện từ nhiều đến ít đƣợc trích dẫn điển hình nhƣ sau.

2.1.2.1. Quan hệ nguyên nhân - hệ quả

Ngữ liệu đƣợc khảo sát cho thấy, đây là kiểu quan hệ nghĩa xuất hiện nhiều

và phổ biến nhất (28%) trong các bài báo KHXH&NV. ác quan hệ từ đƣợc sử

dụng để thể hiện kiểu quan hệ này gồm các từ chỉ nguyên nhân là: vì, do, bởi, bởi vì,

với lý do là, vì lẽ đó…; và các từ chỉ hệ quả là: vì vậy, bởi vậy, vì thế, bởi thế, do đó,

do vậy, như vậy, nên, cho nên, kết quả là, hóa ra là .v.v..

Ngữ liệu 8: “Quan niệm phổ biến hiện nay thường theo nghĩa rộng khi coi

khu vực gồm các quốc gia không chỉ liền kề mà còn ở gần nhau. Bởi thế, Philipines

được coi là thuộc Đông Nam Á, còn Iceland thuộc về Tây Âu.” [Tạp chí

KHXH&NV, tập 23, số 2, 2007, tr.79]

Từ “bởi thế” không phải là một bộ phận của sự việc đƣợc diễn đạt bằng một

mệnh đề, quan hệ từ này đứng đầu câu thứ hai để biểu thị điều sắp đƣợc nêu ra có lý

do hoặc nguyên nhân là điều đã đƣợc nhắc đến ở câu đứng trƣớc đó. ho nên, câu

thứ nhất là nguyên nhân và câu thứ hai là hệ quả, đồng thời từ nối kết “bởi thế” đã

có tác dụng nối kết hai câu với nhau.

Ngữ liệu 9: “Với logic mọi quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân

nên trong thành phần Quốc hội đầu tiên nước ta có đủ mọi thành phần giai cấp

tầng lớp, đảng phái chính trị. Chính quan điểm này đã tạo nên sức mạnh đoàn kết

của toàn dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược sau này.

Như vậy, ngay từ đây đã chính thức hình thành, xác lập một quan điểm mới

về quyền lực nhân dân trong lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam.” [Tạp chí

KHXH&NV, tập 25, số 1, 2000, tr.2].

Từ “như vậy” trong câu chứa kết luận của đoạn văn sau đã đóng vai trò kết

nối với những câu có chứa nguyên nhân của đoạn văn đứng trƣớc nó, nên đã tạo sự

liên kết chặt chẽ giữa hai câu, hai đoạn văn và giúp cho nội dung ngữ nghĩa đƣợc

trình bày thêm tƣờng minh và mạch lạc.

53

Ngữ liệu 10: “Chủ nghĩa Reagan (với tên gọi thông dụng Reaganomic) đã đi

theo kinh tế học về Cung (1). Những người này nhìn kinh tế học chính trị như một

khoa học đạo lý: họ cho rằng cái nhà nước Thiên hựu muốn ban phát hạnh phúc

cho con người bằng phân phối lại càng làm đắm chìm số phận của người nghèo cho

nên Cung mới là chìa khóa của sự giàu có (2). Một xã hội mà sự cạnh tranh diễn ra

yếu ớt thì phát triển chỉ là điều mong chờ (3).” [Tạp chí KHXH&NV, tập 16, số 1,

2000, tr.34].

âu số (1) và câu số (2) trong đoạn văn trên xuất hiện sự liên kết bằng cách

lặp từ “Cung” và phép qui chiếu chỉ định của cụm từ “những người này”. Nhƣng

giữa câu số (2) và câu số (3) đã tạo sự khó hiểu cho ngƣời đọc bởi không xuất hiện

các phƣơng tiện liên kết để kết nối nghĩa giữa hai câu. ần thêm từ chỉ quan hệ

nguyên nhân “bởi vì” trƣớc câu số (3) để giải thích rõ hơn cho quan niệm về Cung

của chủ nghĩa Reagan (với chủ trƣơng giảm thuế, thúc đẩy sự cạnh tranh trong xã

hội và phát triển kinh tế để tạo ra sự giàu có cho doanh nghiệp, chính phủ, ngƣời

lao động).

Ngoài ra, cần lƣu ý rằng các đại từ thay thế nhƣ: vậy, thế là, do đó, bởi

vậy… đƣợc xếp vào phép nối, bởi vì nội dung các đại từ thay thế đó có liên quan

với nội dung trong câu đứng gần nó và có tác dụng giải thích cho nội dung này.

Về vị trí, các đại từ thay thế này đứng ở đầu câu chứa chúng (hiếm khi đứng sau

chủ ngữ và trƣớc động từ vị ngữ). Sự phân biệt rõ ràng nhƣ vậy sẽ tiện lợi cho

ngƣời sử dụng trong quá trình tạo lập và phân tích VB (khác với việc một từ có

hình thức giống nhau nhƣng tùy vào trƣờng hợp sử dụng, đƣợc gọi là phép thế

đại từ hay phép nối lỏng [81, tr.173]).

Nhìn chung, sự liên kết giữa các câu, các đoạn để chỉ quan hệ nghĩa nguyên

nhân - hệ quả đã xuất hiện trong các bài báo KHXH&NV đƣợc khảo sát với tần số

cao nhất (28%) so với các quan hệ nghĩa khác của phép nối. ó thể nhận thấy, phạm

trù nhân - quả, cùng với phạm trù thời gian trƣớc sau, cũng là những phạm trù cơ

bản trong nhận thức của con ngƣời. Do đó, việc xuất hiện hình thức của các PLK

này, đã đảm bảo tính khách quan của sự việc, hiện tƣợng, đồng thời giúp cho nội

54

dung nghĩa trong VB khoa học trở nên chính xác và chặt chẽ hơn. Tuy nhiên, còn

xuất hiện một vài trƣờng hợp không sử dụng phƣơng tiện liên kết giữa hai câu trong

ngữ liệu đƣợc thu thập, do vậy sẽ ảnh hƣởng tới việc tƣờng minh ngữ nghĩa và cần

lƣu ý trong quá trình tạo lập thể loại VB này.

2.1.2.2. Quan hệ bổ trợ

Kiểu quan hệ nghĩa bổ trợ đã xuất hiện nhiều trong các bài báo KHXH&NVb

đƣợc khảo sát. ây là kiểu quan hệ sử dụng các quan hệ từ và từ ngữ nối kết mang

nghĩa “cộng thêm” để tăng thêm ý nghĩa cho hai câu, hai đoạn văn đứng gần nhau.

Và các từ thƣờng dùng là: và, vả lại, hơn nữa, thêm vào đó, .v.v. Nhƣng trong các

bài báo KHXH&NV, các từ ngữ nối mang nghĩa bổ trợ đƣợc sử dụng rất phong

phú, còn có thêm các từ: ví dụ, đặc biệt, ngoài ra, rõ ràng là, bên cạnh đó, bằng

chứng là, thực tế là, chẳng hạn, thậm chí, .v.v.

ác ngữ liệu thu thập đƣợc cho thấy, kiểu quan hệ bổ sung đƣợc sử dụng

trong các bài báo khoa học chiếm tỷ lệ cao thứ hai so với các kiểu quan hệ nghĩa

khác (1827/6934 trƣờng hợp). Tỷ lệ này chiếm 26% trong tổng số các quan hệ

nghĩa của phép nối xuất hiện trong các bài báo KHXH&NV.

Ngữ liệu 11: “Sự can thiệp của các chính phủ sẽ luôn luôn có ảnh hưởng đến

thương mại và các dòng tư bản quốc tế, đồng thời các biện pháp can thiệp này cũng

luôn luôn có sự tính toán về mặt chính trị (1). Ví dụ, một quốc gia có thể áp dụng

thuế nhập khẩu đối với mặt hàng của quốc gia này nhưng lại không áp dụng đối với

quốc gia khác mặc dù đó có thể là cùng một mặt hàng (2). Hơn nữa, một số chính

phủ có thể yêu cầu các thể chế tài chính quốc tế của mình chỉ thực hiện việc cho vay

đối với các đối tác trong nước, không thực hiện cho vay đối với các nước khác, đặc

biệt là các nước đang phát triển, có nhu cầu cao về tài chính (3).” [Tạp chí

KHXH&NV, tập 26, số 2, 2010, tr.97].

Trong đoạn văn này, từ nối kết “ví dụ” đã đƣợc sử dụng để liên kết câu số

(1) với câu số (2) và từ nối kết “hơn nữa” liên kết câu số (2) và câu số (3). húng

đều mang ý nghĩa bổ trợ cho nội dung thông tin đang đƣợc đề cập - về việc các hoạt

động khác nhau của chính phủ để can thiệp, bảo vệ sản xuất trong nƣớc, hạn chế

55

nhập khẩu và cạnh tranh từ bên ngoài. Và các từ “ví dụ”, “hơn nữa” đƣợc sử dụng

ngoài chức năng gắn kết các câu về mặt hình thức, còn thêm chức năng mở rộng,

phát triển ý cho đoạn văn, để minh họa cụ thể cho những việc làm mà một số chính

phủ đã áp dụng nhằm bảo hộ mậu dịch trong nƣớc, nhƣng sẽ có những tác động

nhất định tới kinh tế chính trị quốc tế. Việc sử dụng các từ nối kết này, do đó đã

giúp cho nội dung nghĩa của đoạn văn đƣợc tƣờng minh và sáng rõ.

ặc biệt là, trong tất cả ngữ liệu đƣợc khảo sát có sự xuất hiện đa dạng của

các từ ngữ nối kết (tóm lại, như vậy, nhìn chung…) để thể hiện quan hệ nghĩa bổ trợ

- đánh giá khái quát.

Ngữ liệu 12: “…Trong Con tim mách bảo, sau khi tên giết người giết ông

già và phi tang dưới sàn nhà thì nhịp tim oan ức của ông già (hay chính là nhịp tim

tội lỗi của y?) vẫn cứ dội lên khiến y không thể chịu đựng nổi và đã phải tự vạch

trần tội ác của chính mình trước pháp luật. Như vậy, giá trị truyện ngắn Edgar Poe

không chỉ dừng lại ở bề ngoài của vấn đề nỗi hoang mang sợ hãi, tội ác rùng rợn,

mà còn là vấn đề “tội ác và hình phạt”, là những vấn đề đạo đức cơ bản nhất của

con người. Con tim mách bảo cũng liên quan đến một khía cạnh khác - ảo giác của

người điên – một trong những thành tố làm nên các kì ảo ảo giác hư thực trong

truyện ngắn Edgar Poe.

Tóm lại, kiểu nhân vật song trùng hay motif cái song trùng là motif tồn tại

xuyên suốt trong nhiều truyện ngắn của Poe. Phải thừa nhận rằng, vận dụng một

motif, một tư tưởng đã tồn tại từ lâu trong văn hóa truyền thống, với kỹ thuật tinh tế

trong việc cấp cho nó một sự mơ hồ, từ đó tạo nên một cái kì ảo ảo giác hư thực,

Poe đã đề cập được nhiều vấn đề, trong đó có không ít vấn đề có tính dự báo: vấn

đề tội ác và hình phạt, vấn đề người hùng (siêu nhân), vấn đề vô thức, vấn đề sự rạn

nứt nhân cách…” [Tạp chí KHXH&NV, tập 22, số 3, 2006, tr.47].

Trong ngữ liệu trên, bên cạnh từ Poe đƣợc lặp lại, từ nối kết “tóm lại” đã tạo

sự liên kết đoạn sau (đoạn kết thúc bài viết) với đoạn trƣớc để bổ sung, tăng thêm

nghĩa cho cả hai đoạn và mang thêm nghĩa khái quát lại những nội dung đã đƣợc đề

cập trong các đoạn trên.

56

Nhƣ vậy, từ các ngữ liệu 11, 12 đã phân tích ở trên và số liệu trong Biểu đồ

2.3 cho thấy, trong các bài báo KHXH&NV đƣợc thu thập đã xuất hiện kiểu quan

hệ nghĩa bổ trợ chiếm tỷ lệ cao thứ hai sau quan hệ chỉ nguyên nhân - hệ quả (26%

trên tổng số các quan hệ nghĩa đƣợc sử dụng của phép nối) để tạo sự liên kết giữa

hai câu, hai đoạn bằng mối quan hệ nghĩa “cộng thêm”. Ngoài ra, kết quả khảo sát

đã chỉ ra, các quan hệ từ, từ ngữ nối kết có sự xuất hiện phong phú trong các bài

báo KHXH&NV để thể hiện năm sắc thái nghĩa của quan hệ bổ trợ. ó là, các từ

ngữ nối kết: nghĩa là, cụ thể là, có nghĩa là…. (quan hệ nghĩa bổ trợ - giải thích);

ác từ ngữ: thật vậy, thật ra là, ví dụ là, đặc biệt là … (quan hệ nghĩa bổ trợ -

chứng minh); ác quan hệ từ: và, còn, cũng .v.v. (quan hệ nghĩa bổ trợ - liệt kê);

ác từ quán ngữ: hơn nữa, bên cạnh đó, ngoài ra, rõ ràng là, thậm chí là, thêm

vào đó … (quan hệ nghĩa bổ trợ - nhấn mạnh); ác từ: tóm lại, như vậy, nhìn

chung, kết luận là … (quan hệ nghĩa bổ trợ - đánh giá khái quát). Tuy nhiên, xuất

hiện nhiều lần, đặc trƣng nhất trong ngữ liệu đƣợc khảo sát là những từ ngữ chỉ

nghĩa bổ trợ - chứng minh (chứng minh bằng giải thích, phân tích, nhấn mạnh)

gồm: nghĩa là, cụ thể là, ví dụ, đặc biệt là, ngoài ra, hơn nữa .v.v. và nghĩa bổ trợ

- khái quát (tóm lại, như vậy, kết luận là, nhìn chung là .v.v. ). ặc biệt là, sự xuất

hiện đặc thù của các từ nối kết chỉ nghĩa bổ trợ - khái quát đã cho thấy đặc điểm

trừu tƣợng – khái quát của thể loại VB này thuộc P KH có sự khác biệt so với các

VB thuộc phong cách khác.

Bên cạnh đó, ngữ liệu đƣợc khảo sát đã chỉ ra, câu văn trong các bài báo

KHXH&NV thƣờng chứa nhiều mệnh đề (đƣợc gọi là trƣờng cú). ó là các phán

đoán, suy luận, diễn giải bao chứa lƣợng thông tin khoa học cao. Do vậy, các từ

ngữ nối kết đã có tác dụng giúp cho việc triển khai ý, trình tự diễn đạt nội dung

thông tin của các câu, các mối quan hệ nghĩa bổ trợ đƣợc chính xác, tƣờng minh

và chặt chẽ hơn.

2.1.2.3. Quan hệ thời gian – không gian

Kiểu chỉ quan hệ thời gian - không gian sử dụng những từ chỉ thời điểm,

quan hệ đồng thời, trƣớc sau, liên tục hay gián đoạn, tần số, thời hạn nhƣ: đồng

57

thời, thứ nhất, thứ hai, thứ ba, bây giờ, trước tiên, sau đây, cuối cùng, .v.v. Ngữ

liệu đƣợc khảo sát cho thấy, các từ nối kết đã xuất hiện tạo sự liên kết giữa các câu,

các đoạn văn bằng mối quan hệ chỉ thời gian và chủ yếu để chỉ các trình tự diễn đạt.

Ngữ liệu 13: “Ngày 26 tháng 1 năm 2009, Thủ tướng Ai-xơ-len, Geir Haard

và nội các của ông đã phải từ chức chỉ ba tháng sau sự sụp đổ của đồng tiền nước

này cũng như của thị trường chứng khoán và một số ngân hàng lớn. Đồng thời,

hàng loạt các cuộc biểu tình lớn đã diễn ra tại Ai-xơ-len.” [Tạp chí KHXH&NV,

tập 26, số 2, 2010, tr.96]

Từ “đồng thời” đƣợc sử dụng trong Ngữ liệu 13 đã chỉ ra tính chất cùng

lúc diễn ra tại một thời điểm của cả hai sự việc trong hai câu. ùng trong ngày

26 tháng 1 năm 2009, thủ tƣớng Ai-xơ-len từ chức và hàng loạt các cuộc biểu

tình đã diễn ra tại Ai-xơ-len. Bên cạnh việc tạo sự liên kết, quan hệ từ “đồng

thời” đã tạo ra sự gắn bó khi nêu ra ý nghĩa chỉ thời gian của cả hai sự việc trong

hai câu.

Nếu thử thay đổi cách diễn đạt trong trƣờng hợp này thành “Ngày 26 tháng 1

năm 2009, Thủ tướng Ai-xơ-len, Geir Haard và nội các của ông đã phải từ chức chỉ

ba tháng sau sự sụp đổ của đồng tiền nước này cũng như của thị trường chứng

khoán và một số ngân hàng lớn. Hàng loạt các cuộc biểu tình lớn đã diễn ra tại Ai-

xơ-len”. Giữa hai câu vẫn có sự liên kết nhờ sử dụng việc lặp từ “Ai-xơ-len” nhƣng

quan hệ ngữ nghĩa giữa hai câu trở nên khó khăn hơn và cần phải suy đoán mối

quan hệ của chúng. Nghĩa là, sẽ xuất hiện hai nội dung ngữ nghĩa trong trƣờng hợp

không xuất hiện từ nối kết “đồng thời”. Một là, sự kiện “các cuộc biểu tình diễn ra”

trong câu thứ hai là kết quả của câu thứ nhất phản đối việc “Thủ tướng Ai-xơ-len và

nội các của ông đã phải từ chức”. Hai là, hai sự kiện này diễn ra cùng một thời

điểm. Nhƣ vậy, việc không sử dụng từ nối “đồng thời” nhƣ trên đã không mang lại

tính chính xác và rõ ràng về nghĩa nhƣ hiện tƣợng xuất hiện từ nối “đồng thời” mà

tác giả bài báo nghiên cứu đã lựa chọn trong VB.

Ngữ liệu 14: “Có ít nhất hai cơ sở tâm lý cho việc chuyển trọng tâm từ người

dạy sang người học. Cơ sở thứ nhất liên quan đến các kiểu nhận thức và các kiểu

58

học của người học. […]. Hơn nữa, thực tế này cũng gợi ra rằng hoạt động dạy học

theo truyền thống - theo hình thức “thông báo đồng loạt” trong đó người dạy đóng

vai trò trung tâm và chỉ quan tâm đến việc truyền đạt kiến thức và nội dung dung

giảng dạy cho người học còn người học chỉ thuần túy là người thu nhận thụ động

nội dung giảng dạy - tỏ ra không có hiệu quả nếu như không nói là đã lỗi thời.

Cơ sở tâm lý thứ hai cho việc chuyển trọng tâm từ người dạy sang người

học liên quan đến các khía cạnh tình cảm trong tâm lý học con người hay tâm lý

học nhân đạo.” [Tạp chí KHXH&NV, tập 16, số 2, 2000, tr.38].

Mối quan hệ giữa đoạn thứ nhất và đoạn thứ hai đƣợc liệt kê bằng từ nối kết

chỉ quan hệ thời gian theo trật tự (trƣớc sau) của trình tự diễn đạt bằng cụm từ “cơ

sở thứ nhất” trong câu thứ hai ở đoạn thứ nhất và lặp lại trong câu đầu tiên của đoạn

thứ hai “cơ sở tâm lý thứ hai”. iều này đã có tác dụng tạo sự liên kết giữa hai đoạn

văn và đề cập đến hai ý lớn, hai cơ sở tâm lý của việc chuyển trọng tâm từ ngƣời

dạy sang ngƣời học. Bởi vì, ba câu trong phần […] chỉ giải thích thêm cho ý lớn (cơ

sở tâm lý thứ nhất) của các kiểu nhận thức và sự phong phú trong cách học của

ngƣời học.

Tóm lại, các từ ngữ nối kết (hay các cặp sóng đôi: một là, hai là, thứ nhất là,

thứ hai là…) là kiểu quan hệ nghĩa chỉ thời gian, trật tự trƣớc sau của sự việc, hiện

tƣợng (hay trình tự phân tích, chứng minh) đã xuất hiện phổ biến trong các bài báo

KHXH&NV đƣợc khảo sát, đồng thời có tác dụng để liên kết các câu, các đoạn

trong VB. Tần số sử dụng kiểu quan hệ nghĩa này đã xuất hiện chiếm tỷ lệ khá cao

(22%). ây là kiểu quan hệ nghĩa xuất hiện phổ biến nhiều thứ ba (trên tổng số bẩy

kiểu quan hệ nghĩa) của phép nối. Ngoài ra, phạm trù trƣớc sau là phạm trù cơ bản

trong nhận thức của con ngƣời về sự việc, hiện tƣợng. Do đó, sự xuất hiện phổ biến

của hình thức liên kết này ngoài tác dụng tạo sự liên kết các câu, các luận điểm theo

trật tự logic (trình tự phát triển của tƣ tƣởng), đồng thời đã đảm bảo tính khách quan

và logic chặt chẽ cho nội dung thông tin khoa học trong các bài báo KHXH&NV.

2.1.2.4. Quan hệ nghịch đối

Kiểu quan hệ nghịch đối là kiểu quan hệ sử dụng các quan hệ từ và từ ngữ

chỉ nghĩa trái ngƣợc, tƣơng phản nhƣ: nhưng, song, thế nhưng, tuy thế, tuy thế

59

nhưng mà, tuy, dù, mặc dầu, trái lại, ngược lại, dù sao, tuy nhiên, trong khi đó …

Ngữ liệu đƣợc khảo sát cho thấy, tất cả các từ chỉ nghĩa tƣơng phản này đều xuất

hiện trong các bài báo KHXH&NV.

Ngữ liệu 15: “Những luận điểm của đường hướng lấy người học làm trung

tâm không phải bắt đầu từ chân không. Trái lại, chúng được dựa trên những cơ sở

tâm lý và xã hội vững chắc.” [Tạp chí KHXH&NV, tập 16, số 2, 2000, tr.37].

Từ “chúng” trong câu thứ hai là quy chiếu chỉ ngôi, có tác dụng liên kết với

cả mệnh đề trong câu đứng trƣớc. Nhƣng trong đoạn văn trên, việc sử dụng từ “trái

lại” đứng đầu câu thứ hai đã thể hiện sự liên kết chặt chẽ giữa hai câu, đồng thời

nhấn mạnh tới quan hệ nghĩa tƣơng phản (nghịch đối) với điều vừa đƣợc phủ định ở

câu trƣớc. Nếu bỏ đi từ “trái lại” trong câu thứ hai thì giữa hai câu vẫn có dấu hiệu

liên kết của phép quy chiếu chỉ ngôi, nhƣng quan hệ ngữ nghĩa và sự nhấn mạnh

vào nội dung thông tin mới, thông tin chính sẽ bị giảm đi rõ rệt. Và sẽ gây khó khăn

hơn cho ngƣời đọc trong việc tiếp nhận nội dung thông tin chính của VB.

Ngữ liệu 16: “Trường Đại học Giáo dục là nơi đầu tiên thử nghiệm mô hình

đào tạo giáo viên chất lượng cao, chú trọng năng lực đầu vào của giáo viên và tận

dụng những nguồn lực đã có sẵn để phát triển đội ngũ giáo viên có trình độ cao và

giỏi về chuyên môn.

Tuy nhiên với qui mô đào tạo hiện nay và với các bất cập trong chế độ

chính sách đối với giáo viên, nhất là giáo viên giỏi thì số lượng giáo viên tài năng

mà trường Đại học Giáo dục đào tạo không thể đáp ứng nhu cầu về giáo viên giỏi

trong cả nước.” [Tạp chí KHXH&NV, tập 25, số 1s, 2009, tr.9].

Trong ngữ liệu trên, quan hệ từ “tuy nhiên” không nằm trong cấu trúc cú

pháp của mệnh đề chứa nó, nhƣng đã có tác dụng nêu lên sự nghịch đối mạnh giữa

việc đào tạo đội ngũ giáo viên giỏi có trình độ cao về chuyên môn với chế độ, chính

sách hiện nay của Nhà nƣớc. Ngoài tác dụng tạo sự liên kết giữa hai câu, hai đoạn

trong VB, từ “tuy nhiên” còn góp phần chuyển ý giữa hai đoạn và nhấn mạnh nội

dung cần đề cập của đoạn sau một cách hợp lý và logic.

60

Ngữ liệu 17: “Gần đây nhất, đã có một khái niệm mới về quan hệ pháp luật,

gợi lên nhiều điều để các nhà nghiên cứu suy nghĩ: “Quan hệ pháp luật là quan hệ

xã hội đặc biệt nảy sinh do sự tác động hữu cơ giữa qui phạm pháp luật và sự kiện

pháp lý giữa các chủ thể”. Trước hết, trong khái niệm này đã khắc phục được quan

điểm về việc xem quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội được qui phạm pháp luật điều

chỉnh. Điều này có tính thuyết phục và phù hợp với thực tiễn. Song, đồng thời khái

niệm nêu trên cũng gợi lên một số điểm “gay cấn”.” [Tạp chí KHXH&NV, tập 16,

số 2, 2000, tr.37].

Trong ngữ liệu trên, liên tục xuất hiện các dấu hiệu liên kết giữa các câu.

Không có cặp câu nào không có dấu hiệu liên kết và phải sử dụng sự suy đoán để

tìm hiểu nghĩa giữa các cặp câu. âu thứ hai sử dụng phép quy chiếu chỉ định để

liên kết “khái niệm này” với câu thứ nhất. âu thứ ba cũng sử dụng phép quy chiếu

chỉ định để liên kết “điều này” với nội dung trong câu thứ hai. Và câu thứ tƣ sử

dụng đồng thời cả PLK nối và quy chiếu chỉ định để thể hiện quan hệ nghĩa tƣơng

phản với câu thứ ba. Trong trƣờng hợp này, cụm từ “khái niệm nêu trên” trong phép

quy chiếu chỉ định là sự đồng nhất với yếu tố có nghĩa cụ thể trong câu thứ nhất của

đoạn văn - là một cụm chủ vị “quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội đặc biệt nảy

sinh do sự tác động hữu cơ giữa qui phạm pháp luật và sự kiện pháp lý giữa các

chủ thể”.

Từ “song” đƣợc sử dụng ngoài ý nghĩa tƣơng phản với câu đứng trƣớc còn

mang sắc thái nghĩa nhấn mạnh hơn so với việc sử dụng từ “nhưng” [72, tr.862]. Và

sự xuất hiện của từ này để lƣu ý ngƣời đọc tới thông tin mới chuẩn bị cung cấp và

mang nghĩa trái ngƣợc. iều này cho thấy, bên cạnh việc sử dụng chặt chẽ các PLK

để nối các câu, thể hiện chính xác các quan hệ ngữ nghĩa giữa các câu, các đoạn

trong VB, dấu hiệu của cú là một sự trao đổi và là một thông điệp cùng lúc xuất

hiện trong cấu trúc ngữ pháp của câu thứ tƣ này. Phần đề ngữ trong câu này đồng

thời cũng là thông tin cần đƣợc lƣu ý và nhấn mạnh bên cạnh trật tự thông thƣờng

của thông tin mới là phần thuyết ngữ trong câu.

61

Tóm lại, kiểu quan hệ nghịch đối xuất hiện tƣơng đối phổ biến (19%) và là

kiểu quan hệ nghĩa chiếm tần số nhiều thứ tƣ trong bẩy kiểu loại quan hệ nghĩa của

phép nối. Kiểu quan hệ nghĩa này thể hiện các phán đoán, nhận định tƣơng phản

xuất hiện phổ biến trong các lập luận, nhằm chứng minh tính đúng, sai của giả

thuyết khoa học (các phƣơng diện khác nhau của sự việc, hiện tƣợng) đã góp phần

cùng các PLK khác để tạo sự liên kết giữa các câu, các đoạn và đảm bảo tính chính

xác, khách quan cho thông tin trong các bài báo KHXH&NV đƣợc khảo sát.

2.1.2.5. Quan hệ chuyển đổi

Những từ ngữ để chỉ quan hệ chuyển đổi (lựa chọn) là: hay, hoặc, hay là,

hoặc là, nói cách khác, hay nói cách khác, nói một cách khác .v.v. ác từ này đã

xuất hiện trong các bài báo KHXH&NV để tạo sự liên kết giữa hai câu, thể hiện các

nội dung diễn đạt khác nhau và làm rõ thông tin cần truyền đạt.

Ngữ liệu 18: “Về nguyên tắc, bất kỳ người nào thực hiện hành vi nguy hiểm

cho xã hội có đầy đủ dấu hiệu của tội phạm được qui định trong Bộ Luật Hình sự

thì đều phải chịu trách nhiệm hình sự. Hay nói cách khác, trách nhiệm hình sự là

hậu quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp

dụng một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự qui định

đối với người phạm tội.” [Tạp chí KHXH&NV, tập 26, số 2, 2010, tr.130].

Cụm từ “hay nói cách khác” đã đóng vai trò kết nối hai câu và đồng thời thể

hiện rõ quan hệ nghĩa của sự lựa chọn, một cách hiểu khác về nội dung nghĩa của

thông tin chính cần thông báo. Và cách diễn đạt trong câu thứ hai sẽ là cách diễn đạt

khác có tính chất giải thích cụ thể hơn cho nội dung thông tin trong câu thứ nhất.

ó thể thấy, trong ngữ liệu đƣợc thu thập, tuy quan hệ nghĩa liên kết chuyển

đổi xuất hiện không phổ biến trong các bài báo KHXH&NV (5%) nhƣng câu đứng

trƣớc nêu một nhận định, câu tiếp theo đƣa ra một trƣờng hợp, một khả năng hay

biểu hiện khác đã góp phần làm sinh động và dễ hiểu hơn cho nội dung thông tin

đang đƣợc đề cập trong VB.

62

2.1.2.6. Quan hệ điều kiện

ây là kiểu quan hệ ý nghĩa sử dụng những từ ngữ và quan hệ từ chỉ ý “điều

kiện” nhƣ: nếu, giá mà, hễ, hễ mà, với điều kiện, muốn vậy, trong điều kiện, điều

kiện là, .v.v.

Ngữ liệu 19: “Bộ trưởng Bộ Giáo dục Mĩ Margaret Spelling trong báo cáo

năm 2005 về chất lượng giáo viên nhấn mạnh: Tất cả các trường đại học phải học

các nguyên tắc cần thiết để xây dựng các chương trình đào tạo giáo viên giỏi cho

thế kỷ 21 với các kỹ năng dạy học quan trọng. Những kiến thức và kỹ năng này bao

gồm các năng lực sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp với nội dung của

môn học mà giáo viên giảng dạy cho các đối tượng người học đa dạng, đưa ra các

quyết định dạy học dựa trên thông tin. Muốn vậy, cần gắn đào tạo giáo viên ở

trường đại học với thực tế, các hoạt động thực tập, có các chương trình tư vấn giám

sát có chất lượng.” [Tạp chí KHXH&NV, tập 25, số 1s, 2009, tr.7].

Tổ hợp từ “muốn vậy” trong đoạn văn này để chỉ điều kiện, gắn kết với hai

câu đứng trƣớc, cụ thể là “các trường cần xây dựng các chương trình đào tạo giáo

viên giỏi với các kỹ năng quan trọng”, giáo viên có “năng lực sử dụng các phương

pháp nghiên cứu phù hợp với nội dung môn học” với điều kiện là “cần gắn đào tạo

giáo viên ở trường đại học với thực tế, các hoạt động thực tập, có các chương trình

tư vấn giám sát có chất lượng”.

Tóm lại, quan hệ nghĩa điều kiện đã xuất hiện rất ít trong các bài báo

KHXH&NV đƣợc (20 trƣờng hợp trên tổng số 53005 trƣờng hợp PLK đƣợc sử

dụng). Xuất hiện đặc điểm này do các bài báo khoa học chịu sự chi phối của văn

phong khoa học. Bởi vì, các câu trong loại VB này thƣờng chính xác, đầy đủ cấu

trúc thành phần, do đó kiểu liên kết để chỉ nghĩa điều kiện giữa hai câu đã xuất hiện

rất hạn chế trong các bài báo KHXH&NV.

2.1.2.7. Quan hệ mục đích

Là kiểu quan hệ xuất hiện quan hệ từ chỉ ý “mục đích” đứng đầu câu thứ hai

để liên kết với câu đứng trƣớc và sử dụng các từ: để, để mà, để cho, nhằm, khiến

cho, với mục đích, .v.v.

63

Ngữ liệu 20: “Trong khi dịch Dante, tôi phải lược bỏ đi một số chỗ. Có phải nó

là vần thơ đẹp nở rộ trên toàn bộ dòng thơ giống như một cây kim ngân ở ngoài bờ rậu

không. Để giữ lại một cái gì đó quí giá hơn vần điệu, như sự thật, độ chính xác - cuộc

sống của chính bờ rậu đó…” [Tạp chí KHXH&NV, tập 16, số 2, 2000, tr.38].

âu thứ nhất và câu thứ hai có sự liên kết với nhau bằng phép quy chiếu chỉ

định, từ “nó” đƣợc thay thế cho cụm từ “một số chỗ” ở câu thứ nhất. âu thứ ba

liên kết với câu thứ hai bằng phép quy chiếu , cụm từ “bờ rậu đó” và bắt đầu bằng

từ “để” trả lời cho câu hỏi thứ hai, làm rõ mối quan hệ mục đích, ý nghĩa thêm cho

câu thứ hai và câu thứ nhất. Một số chỗ đƣợc tác giả dịch thuật lƣợc bỏ, không làm

mất đi ý nghĩa, nội dung cơ bản trong câu chuyện gốc (hay một cuốn sách) của tác

giả Dante, “một số chỗ” đó chỉ nhƣ “cây kim ngân ở ngoài bờ rậu”, góp phần tạo

thêm „vần điệu” nhịp nhàng uyển chuyển hơn cho nội dung chính (sự thật, độ chính

xác - cuộc sống) của câu chuyện đó. ây là quan điểm của tác giả Longfellow về

vai trò của thông dịch viên, khi dịch thuật cần đảm bảo đúng nguyên văn nhƣ một

VB văn xuôi ngữ nguồn, không đƣợc thêm bớt ý kiến của thông dịch viên hoặc

chuyển VB nguồn sang một nền văn hóa mới của VB ngữ đích.

Tuy nhiên, từ “bờ rậu” trong Ngữ liệu 20 sai ngữ pháp chính tả và nên đƣợc

viết là “bờ giậu” để đảm bảo tính chính xác cho văn phong khoa học hơn.

Tóm lại, ngữ liệu đƣợc khảo sát cho thấy, giống với kiểu quan hệ nghĩa chỉ

điều kiện, quan hệ nghĩa chỉ mục đích đã xuất hiện rất ít trong các bài báo

KHXH&NV (chỉ xuất hiện 18 trƣờng hợp trên tổng số 53005 trƣờng hợp PLK đƣợc

sử dụng). ặc điểm này xuất hiện do các câu văn trong bài báo khoa học thƣờng đủ

cấu trúc thành phần và đúng trật tự ngữ pháp, nên không xuất hiện phổ biến kiểu

quan hệ nghĩa này để liên kết hai câu giống các VB nghệ thuật [40].

Nhƣ vậy, kết quả khảo sát 586 bài báo KHXH&NV (trong Bảng 2.1) đã chỉ

ra, phép nối xuất hiện nhiều thứ hai sau PLK từ vựng và đã góp phần giúp thông tin

trong các VB đƣợc truyền đạt chính xác hơn. ồng thời, Biểu đồ 2.3 đã cho thấy,

xuất hiện phổ biến 5 kiểu quan hệ nghĩa trong phép nối: bổ trợ, nghịch đối, lựa

chọn, không gian - thời gian, nguyên nhân - hệ quả, nhƣng không xuất hiện phổ

64

biến kiểu quan hệ nghĩa chỉ điều kiện và mục đích trong ngữ liệu đƣợc khảo sát.

ặc điểm này đã minh chứng rõ hơn cho đặc trƣng ngôn ngữ của PCKH, phải sử

dụng những câu chuẩn xác, lý trí và logic, không sử dụng những câu đặc biệt,

những câu tạo sự khó hiểu về nghĩa cho ngƣời đọc (do đảo trật tự vị trí ngữ pháp).

Bên cạnh đó, kết quả khảo sát 586 bài báo KHXH&NV cho thấy, các từ

ngữ nối kết: bởi vì, do vậy, như vậy … chỉ quan hệ nguyên nhân – hệ quả, các từ

nối kết: ngoài ra, hơn nữa, ví dụ, bên cạnh đó … chỉ quan hệ nghĩa bổ trợ - chứng

minh và các quán từ: tóm lại, nhìn chung, nói chung, tổng quát là, từ những điểm

trên, kết luận là … thể hiện quan hệ đánh giá - khái quát đƣợc sử dụng phổ biến

trong các ngữ liệu đƣợc thu thập. Ba kiểu quan hệ nghĩa này xuất hiện trong 92%

ngữ liệu đƣợc khảo sát đã giúp cho nội dung thông tin đƣợc truyền tải trở nên

chính xác, hiển ngôn và mạch lạc hơn. Bởi vì, sự xuất hiện của các từ trên đứng

đầu câu văn, đoạn văn sau đã báo hiệu sự liên kết với đoạn văn trƣớc đó, ngoài ra

còn giúp ngƣời đọc hiểu nhanh hơn, dễ dàng hơn về nội dung thông tin đang đƣợc

đề cập. Do các từ nối kết đó đã góp phần báo hiệu một cách rõ ràng về mối quan

hệ ngữ nghĩa giữa hai đoạn văn hoặc hai thành phần của VB. ây chính là cách

thể hiện của phƣơng pháp tƣ duy diễn dịch và qui nạp phổ biến (xuất phát từ các

sự việc, hiện tƣợng) trong nghiên cứu khoa học nói chung và trong các VB khoa

học nói riêng.

Ngoài ra, quan niệm về phép nối của Halliday đƣợc trích dẫn trong Bảng 1.1

của L đã chỉ ra, phép nối thuộc lĩnh vực ngữ pháp, nó báo hiệu các mối quan hệ và

những quan hệ này chỉ có thể hiểu đƣợc khi tham khảo các phần khác của VB.

Nhƣng các từ ngữ trong phƣơng tiện nối không phải là thành phần cú pháp trong

mệnh đề chứa nó [5, tr.353]. iều này sẽ thuận lợi hơn khi tạo lập và phân tích VB,

so với quan niệm của liên kết theo cấu trúc (một từ có hình thức giống nhau, nhƣng

tùy theo trƣờng hợp sử dụng sẽ gọi là phép thế đại từ hay phép nối lỏng) [81,

tr.173]. Và Ngữ liệu 8 trong mục 2.1.2.1 sẽ đƣợc gọi là phép thế đại từ, bởi tính

thay thế của đại từ chứ không phải là phép nối lỏng. Việc thay đổi tên gọi nhƣ vậy,

sẽ gây khó khăn hoặc nhầm lẫn cho ngƣời sử dụng phƣơng tiện để liên kết này.

65

Nhìn chung, ngữ liệu đƣợc khảo sát và Biểu đồ 2.2 cho thấy, bên cạnh phép

lặp, phép nối là một trong những PLK đƣợc sử dụng phổ biến và điển hình trong

các bài báo KHXH&NV, đồng thời đã đem lại giá trị mạch lạc cho loại VB này. Bởi

vì, ngoài việc thiết lập sự liên kết trong VB (giúp cho ngƣời viết thuận lợi trong quá

trình triển khai và kết nối các luận điểm, luận cứ trong lập luận), phép nối đã giúp

cho ngƣời đọc hiểu chính xác kết luận cũng nhƣ giá trị của thông tin khoa học (nội

dung những thông điệp) đã đƣợc ngƣời viết đƣa ra và chứng minh. ồng thời, sự

xuất hiện của phép nối đã góp phần thiết lập và duy trì sự mạch lạc cho VB, ở đây

đƣợc hiểu là “kết quả của quá trình diễn giải” [129, tr.20]. ụ thể là, các quan hệ

nghĩa của phép nối đã xuất hiện phổ biến để thể hiện những phán đoán, những suy

luận của tƣ duy khoa học, đồng thời đảm bảo tính khách quan, logic của sự việc,

hiện tƣợng. Hơn nữa, PLK này đã góp phần giúp cho nội dung ngữ nghĩa của những

lập luận, chứng minh, phân tích đƣợc thêm sáng rõ. Và nội dung thông tin trong các

câu, các đoạn đƣợc bổ sung, nhấn mạnh hoặc khẳng định thêm về mặt ngữ nghĩa

nhờ sự xuất hiện, chỉ dẫn của những từ nối kết này. Do đó, có thể nhận định rằng,

phép nối đã đóng vai trò rất quan trọng trong các bài báo KHXH&NV đƣợc khảo

sát, để thực hiện chức năng giao tiếp lí trí bằng chứng minh của loại VB này.

Bên cạnh sự xuất hiện đặc thù của phép lặp và phép nối (đã đƣợc đề cập ở

trên), phép quy chiếu đã xuất hiện nhiều thứ ba trong ngữ liệu đƣợc thu thập và có

những đặc điểm riêng biệt so với các loại VB khác nhƣ sau.

2.1.3. Phép quy chiếu

Hiện tƣợng quy chiếu là hiện tƣợng tiết kiệm từ ngữ, đƣợc xảy ra trong tất cả

các loại VB và tất cả các ngôn ngữ trên thế giới. Phép qui chiếu là việc tìm hiểu mối

quan hệ của từ ngữ chỉ vật với vật đƣợc định danh bằng từ ngữ đó (danh từ, đại từ

hoặc cả cụm từ). Tức là yếu tố ngôn ngữ có nghĩa chƣa cụ thể ở câu này có thể đƣợc

giải thích bằng yếu tố ngôn ngữ cụ thể ở câu khác hoặc ngoài VB để tạo sự liên kết.

Hiện tƣợng quy chiếu có thể là quy chiếu hồi chiếu hoặc quy chiếu khứ chiếu và

diễn ra trong một VB hay hƣớng tới ngoài VB. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên

cứu của đề tài này, phép quy chiếu chỉ đƣợc xem xét trong việc thiết lập mối quan

66

hệ về nghĩa giữa yếu tố này với yếu tố khác của các câu, các đoạn để liên kết trong

một bài báo khoa học.

Ngoài ra, PLK quy chiếu dựa trên các phƣơng tiện ngôn ngữ đƣợc dùng ở vị

trí yếu tố có nghĩa chƣa cụ thể đƣợc chia thành: quy chiếu chỉ định, quy chiếu chỉ

ngôi và quy chiếu so sánh. Cả ba kiểu loại quy chiếu này đã xuất hiện trong các bài

Quy chiếu so sánh (2%)

Quy chiếu chỉ ngôi (19%)

Quy chiếu chỉ định (78%)

báo KHXH&NV đƣợc khảo sát với tần số là:

Biểu đồ 2.4: ác kiểu loại phép quy chiếu đƣợc sử dụng

trong các bài báo &NV

Kết quả thống kê trong Biểu đồ 2.4 đã cho thấy, phép quy chiếu chỉ định

đƣợc sử dụng nhiều nhất trong các bài báo KHXH&NV so với hai loại quy chiếu

còn lại. Hiệu quả của các PLK này trong các bài báo KHXH&NV đƣợc tiếp tục tìm

hiểu nhƣ sau.

2.1.3.1. Quy chiếu chỉ định

Quy chiếu chỉ định là việc sử dụng cụm danh từ có sự kết hợp của danh từ

với các từ chỉ định để tạo sự liên kết giữa câu này với câu khác. Phép quy chiếu chỉ

định đã xuất hiện hiệu quả để tạo sự liên kết giữa các câu, các đoạn trong ngữ liệu

đƣợc khảo sát nhƣ sau.

67

Ngữ liệu 21: “Chúng ta đều đã biết về hai kiểu tư duy: một dựa trên những thao

tác logic chính xác và một kiểu khác dựa trên những hình tượng cụ thể, cảm tính, một

của nhà khoa học và một của nhà nghệ sĩ. Ở Hoài Thanh, dường như có sự kết hợp hài

hòa cả hai kiểu tư duy này.” [Tạp chí KHXH&NV, tập 16, số 1, 2000, tr.27].

âu thứ hai trong ngữ liệu trên đã xuất hiện cụm từ là “hai kiểu tư duy này”

có nghĩa chƣa cụ thể và cần phải quy chiếu đến yếu tố trong câu trƣớc đó, mới có

thể hiểu là hai kiểu tƣ duy gì. Những từ ngữ (cụm danh từ) này đã tạo nên sự liên

kết với câu đứng trƣớc nó và làm tăng tính chặt chẽ, liên kết đề tài - chủ đề cho

đoạn văn, VB trên.

Ngữ liệu 22: “Đề cương môn học là kết quả nghiên cứu nghiêm túc của

người giảng viên đối với 3 đối tượng sau:

1) Vị trí môn học trong toàn bộ chương trình khóa học (…)

2) Sinh viên, người trực tiếp học môn học là đối tượng nghiên cứu của

giảng viên trước khi dạy môn học (…)

3) Cơ sở vật chất kỹ thuật có trong trường, điều kiện tự nhiên của môi

trường dạy học có thể hỗ trợ việc dạy học môn học cũng là đối tượng

nghiên cứu của giảng viên trước khi dạy môn học.

Ba vấn đề trên sau khi nghiên cứu sẽ hình thành cơ sở để người giảng

viên xác định mục tiêu dạy học, tức là cái đích mà thầy – trò cùng hướng tới và

phải đạt được sau khi học xong môn học.” [Tạp chí KHXH&NV, tập 25, số 1s,

2009, tr.55-56].

Trong Ngữ liệu 22, cụm từ “ba vấn đề trên” có nghĩa chƣa cụ thể, cần phải

tìm hiểu ở những câu đứng trƣớc, những đoạn văn đứng trƣớc là vấn đề gì, vấn đề

nhƣ thế nào. Ba đối tƣợng, ba vấn đề cụ thể trong các tiểu mục 1, 2, 3 là những yếu

tố có nghĩa cụ thể, yếu tố giải thích đã hỗ trợ cho yếu tố chƣa cụ thể của câu này,

qua đó tạo sự liên kết đề tài - chủ đề giữa các câu, các đoạn văn. hỉ định từ “trên”

đƣợc sử dụng trong trƣờng hợp này mang tính “khứ chiếu” và tạo sự liên kết chặt

chẽ giữa đoạn văn chứa nó với những đoạn văn đứng trƣớc, có thể thay thế bằng chỉ

68

định từ đó, ấy, vẫn thực hiện đƣợc chức năng liên kết, nhƣng giảm đi hiệu quả rõ

nghĩa và chính xác của hai đoạn văn.

Ngoài ra, từ chỉ định “trên”, “này” xuất hiện để liên kết khá phổ biến trong

các bài báo KHXH&NV. Và các từ chỉ định này thƣờng quy chiếu về một yếu tố

giải thích gần với cụm từ chứa nó hơn so với chỉ định từ “đó”, “kia”, “ấy” (yếu tố

giải thích thƣờng xa với cụm từ chứa nó).

Nhìn chung, các từ chỉ định trong phép quy chiếu chỉ định đƣợc sử dụng

trong các bài báo KHXH&NV đƣợc khảo sát rất chính xác, hiệu quả. Phép quy

chiếu chỉ định thƣờng đƣợc sử dụng đồng thời với phép lặp để kết nối các câu, các

đoạn nhằm mục đích tƣờng minh ngữ nghĩa và tạo sự mạch lạc cho VB. Ngoài ra,

quy chiếu chỉ định đƣợc sử dụng chiếm tỷ lệ cao (78%) so với quy chiếu chỉ ngôi và

quy chiếu so sánh trong các bài báo KHXH&NV. ó thể nhận thấy vai trò quan

trọng của PLK này để tăng cƣờng tính liên tục và thống nhất nội dung ngữ nghĩa

đang đƣợc đề cập trong các bài báo cụ thể đã đƣợc khảo sát. ó chính là tác dụng

nhấn mạnh vấn đề, sự việc đang đƣợc đề cập, bàn luận và tạo sự liên kết duy trì đề

tài - chủ đề trong các bài báo KHXH&NV.

Bên cạnh đó, nếu các từ ngữ trong phép quy chiếu chỉ ngôi chỉ thay thế cho

danh từ (cụm danh từ) thì các từ ngữ thuộc phép quy chiếu chỉ định đƣợc sử dụng

trong các bài báo rất đa dạng và phong phú (có thể thay thế cho cả cụm danh từ, câu

hoặc một đoạn văn, một thành phần của VB hay đề cập đến cả nội dung chính trong

bài báo nghiên cứu). iều này cho thấy, từ ngữ và PLK quy chiếu chỉ định trong

các bài báo KHXH&NV đã góp phần giúp cho VB trở nên ngắn gọn, chính xác,

đảm bảo tính lý trí và logic cao.

2.1.3.2. Quy chiếu chỉ ngôi

Quy chiếu chỉ ngôi là việc dùng các yếu tố chỉ ngôi (ngôi thứ nhất, thứ hai,

thứ ba) là những yếu tố có nghĩa chƣa cụ thể ở câu này đƣợc xem xét trong mối

quan hệ với yếu tố có nghĩa cụ thể tƣơng ứng ở câu khác, trên cơ sở nhƣ vậy hai câu

chứa chúng liên kết với nhau.

69

ác yếu tố chỉ ngôi đƣợc phân thành hai lớp: Lớp thứ nhất, gồm từ chỉ ngôi

thứ nhất (ngƣời nói/ ngƣời viết) và từ chỉ ngôi thứ hai (ngƣời nghe/ ngƣời đọc); Lớp

thứ hai, gồm những từ chỉ ngôi thứ ba (chỉ ngƣời hoặc chỉ vật).

Lớp thứ nhất là những từ chỉ ngôi đóng vai trò là đại từ nhân xƣng ngôi thứ

nhất và thứ hai có tác dụng liên kết quy chiếu nội hƣớng trong VB.

Ngữ liệu 23: “Trên Tạp chí Xã hội học số 4 năm 2004 chúng tôi đã có dịp

trình bày về “Đối tượng tác động của báo chí” như một vấn đề quan trọng về

phương diện lý luận cũng như ý nghĩa thực tiễn của nó trong hoạt động nghề nghiệp

báo chí - truyền thông. Trong bài viết này, tác giả xin góp bàn về cơ chế tác động của

báo chí vào đời sống xã hội.’’ [Tạp chí KHXH&NV, tập 23, số 2, 2007, tr.116].

“Tác giả” là đại từ xƣng hô ngôi thứ nhất số ít, đƣợc hiểu là ngƣời viết bài và có

sự liên kết quy chiếu với “chúng tôi” ở câu đứng trƣớc nó. Giữa hai câu còn sử dụng

lặp từ “báo chí”. Nhƣ vậy, đã có hiện tƣợng sử dụng đồng thời hai PLK để tạo nên mối

quan hệ ngữ nghĩa có sự gắn kết và thống nhất đề tài - chủ đề trong hai câu này.

Nhìn chung, ngữ liệu đƣợc khảo sát cho thấy, các bài báo khoa học có đặc

điểm là khách quan khoa học, nên các đại từ nhân xƣng ngôi thứ nhất số ít hiếm khi

đƣợc đề cập, chủ yếu xuất hiện đại từ nhân xƣng ngôi thứ nhất số nhiều (chúng tôi)

và chiếm tỷ lệ nhỏ (18%) trên tổng số 586 bài báo đƣợc khảo sát. ại từ chỉ ngôi

thứ hai, không xuất hiện phổ biến trong các bài báo KHXH&NV (ngoại trừ một số

bài báo có tính chất ghi chép lại VB phát biểu tại Hội thảo, Hội nghị (diễn văn khai

mạc hoặc bế mạc) nên có dấu vết của hình thức khẩu ngữ, ví dụ: Kính thưa các đại

biểu. Cảm ơn các đại biểu .v.v. ).

Lớp thứ hai: Những từ chỉ ngôi đóng vai trò là đại từ chỉ ngôi thứ ba (chỉ

ngƣời và chỉ vật) có tác dụng liên kết quy chiếu nội hƣớng trong VB.

Ngữ liệu 24: “Sau khi cơ sở hạ tầng được xây dựng, người Pháp đã nhanh

chóng đổ xô đến Đà Lạt kinh doanh “(1). Họ đã biết tận dụng các điều kiện tốt về

khí hậu và đất đai để xây dựng các trang trại trồng rau, cây ăn quả (mỗi năm Đà

Lạt xuất hơn 1.200 tấn rau cho các địa phương khác), đồn điền trồng chè, trồng cà

phê, trại chăn nuôi (2).” [Tạp chí KHXH&NV, tập 26, số 3, 2010, tr.164-173].

70

âu thứ (2) nếu xuất hiện riêng một mình sẽ không hiểu nghĩa từ “họ” là chỉ

ai, nên phải nhờ nghĩa của câu đứng trƣớc, câu (1) mới hiểu nghĩa để chỉ là “người

Pháp”. ể tránh lặp lại từ “người Pháp”, tác giả đã sử dụng từ “họ” là từ quy chiếu

chỉ ngôi thứ ba để thay thế. hính vì vậy, muốn hiểu nghĩa của từ “họ” phải nhờ

vào nghĩa của các từ đứng trƣớc nó nên hai câu đã có sự liên kết chặt chẽ với nhau.

Ngữ liệu 25: “Theo tài liệu của Ngân hàng Thế giới, tri thức được coi như

nguồn sáng (1). Nó không có trọng lượng và không sờ mó được (2). Nó có thể du

hành khắp thế giới rọi sáng cuộc sống của nhân dân ở khắp mọi nơi (3). Tri thức

tồn tại trên vật mang nó (sách, tạp chí, đĩa mềm, dòng tín hiệu…) (4).” [Tạp chí

KHXH&NV, tập 23, số 2, 2007, tr.136].

Trong đoạn văn trên, phép lặp đã xuất hiện để liên kết câu thứ hai với câu

thứ ba và sử dụng từ “nó”, là từ chỉ ngôi thứ ba số ít để liên kết giữa câu thứ hai và

thứ ba với câu thứ nhất. Từ “nó” nếu xuất hiện độc lập khỏi câu thứ nhất sẽ chƣa rõ

nghĩa đề cập tới vật, việc, hiện tƣợng gì, phải quy chiếu về câu trƣớc mới rõ nghĩa

cụ thể là “tri thức được coi như nguồn sáng”. Trong trƣờng hợp này, đây là hiện

tƣợng hồi chiếu và từ “nó” đã có tác dụng quy chiếu đến cả cụm chủ vị “tri thức

được coi như nguồn sáng”. ó thể nhận thấy, ngoài việc tạo sự liên kết giữa các câu

trong đoạn, phép quy chiếu chỉ ngôi này đã đem lại sự ngắn gọn, chính xác nghĩa và

logic cho VB. Bởi nếu không sử dụng phép quy chiếu này, câu sẽ đƣợc diễn đạt là:

“Theo tài liệu của Ngân hàng Thế giới, tri thức được coi như nguồn sáng.

Tri thức không có trọng lượng và không sờ mó được. Tri thức có thể du hành khắp

thế giới rọi sáng cuộc sống của nhân dân ở khắp mọi nơi. Tri thức tồn tại trên vật

mang nó (sách, tạp chí, đĩa mềm, dòng tín hiệu…).

Nội dung nghĩa của từng câu và cả đoạn không thay đổi, nhƣng từ “tri thức”

đƣợc lặp nhiều trong đoạn sẽ gây cảm giác đơn điệu và nhàm chán cho cả ngƣời tạo

lập VB và ngƣời đọc. hính vì thế, phép quy chiếu chỉ ngôi đƣợc sử dụng nhƣ trong

bài báo đã đem lại hiệu quả liên kết và ngắn gọn, chặt chẽ cho VB.

Nhƣ vậy, từ ngữ liệu 23, 24, 25 đã đề cập ở trên có thể nhận thấy, phép

quy chiếu chỉ ngôi xuất hiện đã có tác dụng tạo sự liên kết hiệu quả cho các câu

trong VB.

71

Tóm lại, kết quả khảo sát các bài báo KHXH&NV cho thấy, phép quy chiếu

chỉ ngôi xuất hiện ít trong thể loại VB này để tạo sự liên kết giữa các câu. Và trong

Biểu đồ 2.4, tuy phép quy chiếu chỉ ngôi xuất hiện không phổ biến (19% trên tổng

số phép quy chiếu đƣợc sử dụng) so với phép quy chiếu chỉ định (78%), nhƣng việc

sử dụng các từ ngữ chỉ ngôi đã có vai trò nhất định về mặt ngữ nghĩa trong việc tạo

sự liên kết, mạch lạc và tránh hiện tƣợng mắc lỗi lặp từ, cụm từ quá nhiều trong VB.

2.1.3.3. Quy chiếu so sánh

Quy chiếu so sánh là trƣờng hợp sử dụng so sánh để thực hiện sự quy

chiếu. Yếu tố quy chiếu là yếu tố có tính không cụ thể, không xác định và yếu tố

đƣợc quy chiếu là yếu tố có nghĩa (yêu cầu phải thuộc một câu khác). ác từ mang

ý nghĩa so sánh đƣợc sử dụng nhƣ: hơn, bằng, khác, kém, cái tương tự … trong

câu và đƣợc đặt trong mối quan hệ để tạo ý nghĩa giữa hai câu. Ý nghĩa so sánh

này có thể có quan hệ đồng nhất, tƣơng tự hoặc đối với nhau. Phép liên kết này

tuy không xuất hiện nhiều trong các bài báo KHXH&NV nhƣng đã có giá trị để

tạo sự kết nối giữa hai câu, hai đoạn văn.

Ngữ liệu 26: “Về thể tài văn trường thi, theo quy định năm Gia Long thứ sáu

(1807) thì thi bốn trường như nội dung khoa cử thời Lê: Trường thứ nhất dùng kinh

nghĩa, năm bài kinh, một bài truyện. Trường thứ hai dùng văn tứ lục chiếu, chế,

biểu mỗi thứ một bài. Trường thứ ba thi thơ phú, một bài thơ Đương luật tám vần,

một bài phú. Trường thứ tư thi một bài văn sách.

Nội dung thi Hội cũng tương tự như vậy.” [Tạp chí KHXH&NV, tập 29, số

2, 2013, tr.36].

Tổ hợp “tương tự như vậy”, mang yếu tố chƣa rõ nghĩa cần phải so sánh với

các nội dung thi của bốn trƣờng thi trong câu đứng trƣớc đó mới hiểu nghĩa trong

nội dung câu mở đầu của đoạn thứ hai này. Biện pháp quy chiếu so sánh giống nhau

đã đƣợc sử dụng trong trƣờng hợp này để liên kết hai câu, hai đoạn văn với nhau.

Và đây là hiện tƣợng liên kết hồi chiếu trong VB.

Nhƣ vậy, kết quả thống kê đã chỉ ra, phép quy chiếu so sánh trong các bài

báo KHXH&NV đƣợc sử dụng chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ (2%) so với quy chiếu chỉ định

72

và quy chiếu chỉ ngôi. Tuy không phải là ƣu thế khi sử dụng để liên kết các câu, các

đoạn nhƣng PLK so sánh đã đem lại giá trị nhất định trong ngữ cảnh của các bài báo

đó góp phần tạo thêm sự liên kết chặt chẽ và tƣờng minh nghĩa cho đoạn văn, VB.

Nhìn chung, ba kiểu loại của phép quy chiếu đƣợc sử dụng trong các bài báo

KHXH&NV đã xuất hiện góp phần tạo sự liên kết chặt chẽ giữa các câu, các đoạn

văn, đồng thời có tác dụng duy trì đề tài - chủ đề của các bài báo và tránh đƣợc hiện

tƣợng sử dụng phép lặp quá nhiều lần. Và cùng với phép lặp, phép nối, phép quy

chiếu chỉ định đã xuất hiện phổ biến, đặc thù – vừa tạo sự liên kết trong VB vừa

đóng vai trò là phƣơng tiện chỉ báo sự mạch lạc trong các bài báo KHXH&NV.

Ngoài ba PLK xuất hiện phổ biến trong các bài báo KHXH&NV (đã đƣợc đề

cập ở trên), phép thế và phép tỉnh lƣợc tuy xuất hiện rất ít trong ngữ liệu đƣợc thu

thập nhƣng cũng có đặc điểm riêng nhƣ sau.

2.1.4. Phép thế và phép tỉnh lược

Phép thế là việc sử dụng các đại từ thay thế đó, đây, kia … thế cho danh từ

(cụm danh từ), vậy, thế, đó … thế cho động từ (cụm động từ), tính từ (cụm tính từ),

mệnh đề (cấu trúc chủ - vị) tƣơng ứng có mặt trong câu đứng sau, trên cơ sở đó tạo

sự liên kết giữa hai câu.

Phép tỉnh lƣợc là việc lƣợc bỏ một yếu tố trong câu đứng sau (danh từ, động

từ, tính từ hoặc cụm chủ vị) và cần tìm yếu tố tƣơng đƣơng với câu đứng trƣớc

(thực hiện sự hồi chiếu để hiểu rõ nghĩa đã bị lƣợc bỏ).

Tuy phép thế và phép tỉnh lƣợc không đƣợc sử dụng phổ biến trong các bài

báo KHXH&NV nhƣng trong một số trƣờng hợp nhất định sự xuất hiện của chúng

đã tạo giá trị liên kết cho hai câu, hai đoạn văn trong VB.

Ngữ liệu 27: “Quan trọng nhất là chương trình đã giúp nâng cao được hiệu

quả làm việc của giảng viên, cả về mặt chuyên môn lẫn nghiệp vụ.

Đây là khía cạnh người nghiên cứu chỉ khai thác thông tin từ một phía là

giảng viên hướng dẫn bởi họ là người trong cuộc nên sẽ hiểu hơn về vấn đề tìm

hiểu.” [Tạp chí KHXH&NV, tập 28, số 3, 2012, tr.176].

73

oạn thứ hai đã đƣợc mở đầu bằng từ “đây là” đóng vai trò thay thế cho cả

cụm chủ vị của câu đứng trƣớc đó (trong đoạn văn trƣớc) “chương trình đã giúp

nâng cao được hiệu quả làm việc của giảng viên, cả về mặt chuyên môn lẫn nghiệp

vụ” đã tạo sự liên kết giữa hai câu, hai đoạn văn với nhau. Phép liên kết này đƣợc

sử dụng đã tạo sự chặt chẽ về mặt nghĩa giữa hai câu, đồng thời tránh việc nhắc lại

cả câu văn đứng trƣớc sẽ gây sự dài dòng và thừa từ ngữ, không cần thiết.

Ngữ liệu 28: “Hình thức độc thoại nội tâm trong truyện ngắn hôm nay cũng

đa dạng hơn.

(O) Dạng tự vấn, tự thú, tự bạch (Phiên chợ Giát, Bức tranh).” [Tạp chí

KHXH&NV, tập 15, số 3, 1999, tr.25].

ơn vị bị tỉnh lƣợc trong ví dụ trên là (O), tại vị trí này có thể thêm cụm danh

từ “Hình thức độc thoại nội tâm là (thể hiện ở)” trong câu đứng trƣớc. ây chính là

cách liên kết của hai câu với nhau và tránh đƣợc hiện tƣợng dƣ thừa khi lặp lại nhiều

lần một từ trong VB.

Nếu viết đầy đủ thì câu trên sẽ xuất hiện thêm chủ ngữ và đƣợc trình bày là:

“Hình thức độc thoại nội tâm thể hiện ở các dạng tự vấn, tự thú, tự bạch”. Việc

trình bày đầy đủ nhƣ vậy sẽ khiến nội dung bị nhắc lại và trở nên thừa thãi, do đó

tác giả đã rút gọn, có sử dụng phép tỉnh lƣợc để tránh sự lặp lại không cần thiết và

nội dung ý nghĩa của câu văn, đoạn văn hoàn toàn không bị thay đổi.

ó thể nhận thấy, qua ngữ liệu trên và các ngữ liệu đƣợc khảo sát, hiện

tƣợng tỉnh lƣợc chính là một hình thức khác của phép thế và phần lớn các trƣờng

hợp, yếu tố tỉnh lƣợc trong câu thƣờng là phần ề [43, tr.39].

Hơn nữa, ngữ liệu 27 và 28 đã phân tích ở trên cùng với các trƣờng hợp khác

xuất hiện trong ngữ liệu đƣợc thu thập đã chỉ ra, phép thế và tỉnh lƣợc đƣợc sử dụng

trong các bài báo KHXH&NV có đặc điểm giống với phép quy chiếu. ó là sự

tham chiếu đến các yếu tố (sự việc, hiện tƣợng) có nghĩa trong câu đứng trƣớc để

hiểu đƣợc nội dung đƣợc đề cập trong câu đứng sau. Do vậy, tạo sự liên kết giữa hai

câu, hai đoạn văn.

74

Cần lƣu ý rằng, tác giả Hoàng ao ƣơng từng nhấn mạnh “trong một văn

bản, mạng lưới ngữ nghĩa sâu chính là cơ sở quan trọng cho những liên kết hình

thức ở bề mặt văn bản” và gọi là “ngữ nghĩa tầng nền” tất yếu và cần yếu duy nhất

cho mạch lạc của bất kì VB (ngôn bản) nào [17]. Những gợi ý đó của tác giả rất quý

báu và hữu ích trong việc tiếp nhận và tạo lập các loại VB nghệ thuật, nhƣng đặc

điểm phong cách của các VB khoa học phải đảm bảo tính bình đẳng, khách quan,

phi cá nhân, do đó tác giả cần che giấu phong cách cá nhân - để đảm bảo cho nội

dung thông tin đƣợc truyền đi một cách khách quan và chính xác, không bị áp đặt

cách hiểu của ngƣời thực hiện nghiên cứu đối với ngƣời đọc. Vì nếu thể hiện rõ

phong cách và vai trò của ngƣời tạo lập VB, thì thông tin khoa học sẽ mang yếu tố

định tính nhiều và giảm bớt độ tin cậy, chính xác, tính định lƣợng của văn phong

khoa học. Do đó, yếu tố bề mặt (đặc điểm sử dụng các PLK của các bài báo

KHXH&NV) đã đƣợc chúng tôi nghiên cứu gắn với chức năng và dụng học để tìm

hiểu lớp nghĩa tầng nền (các đặc điểm mạch lạc) của thể loại VB này.

Kết quả là, bằng một số thủ pháp cải biên so sánh cho thấy các PLK xuất

hiện trong các bài báo KHXH&NV đã có sự lựa chọn kỹ lƣỡng của tác giả bài báo

nghiên cứu (cách sử dụng các phƣơng tiện liên kết để giúp ngƣời đọc dễ dàng hiểu

nội dung thông tin truyền đạt trong VB), do đó đã phát huy hiệu quả trong việc tạo

sự liên kết chặt chẽ cho các câu, các đoạn và tạo các mạng quan hệ ngữ nghĩa tầng

nền cho VB. Ngoài ra, không phải số lƣợng nhiều các PLK xuất hiện trong VB sẽ

đảm bảo tính mạch lạc cho VB đó, mà quan trọng hơn là chiến lƣợc của tác giả bài

báo nghiên cứu trong việc lựa chọn các PLK hiệu quả để diễn đạt nội dung ngữ

nghĩa phù hợp ngữ cảnh và mục đích giao tiếp.

2.2. Một số đặc trƣng liên kết trong các bài báo hoa học ã hội và Nhân văn

2.2.1. Sự phối hợp hiệu quả của các phép liên kết trong các bài báo KHXH&NV

Ngữ liệu đƣợc khảo sát cho thấy, sự xuất hiện PLK trong các bài báo

KHXH&NV một cách chính xác và hợp lý đã tạo sự kết nối chặt chẽ và hiệu quả cho

các đơn vị trong VB. Bên cạnh đó, các PLK đƣợc sử dụng trong các bài báo

KHXH&NV đã góp phần quan trọng trong việc thể hiện cấu trúc nghĩa “những

75

phương tiện liên kết giúp làm rõ các tuyến nghĩa trong văn bản và cho thấy cách

chúng phối hợp với nhau, tạo nên tính hoàn chỉnh về nội dung cho văn bản” [5, tr.

395]. Ngoài ra, sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của các PLK trong các bài báo khoa

học đã chỉ ra giá trị về phong cách chức năng (phân biệt các bài báo khoa học với các

VB thuộc phong cách khác).

ặc biệt, không chỉ một PLK mà trong nhiều trƣờng hợp hai PLK đã xuất

hiện phối hợp hiệu quả giữa hai câu (các ngữ liệu 12, 13, 14, 16, 17, 22, 24 trong

mục 2.1), xảy ra tƣơng đối phổ biến trong tất cả các bài báo KHXH&NV đƣợc khảo

sát. Sự xuất hiện của các PLK này đã giúp cho các câu, các đoạn có sự liên kết chặt

chẽ và đạt hiệu quả cao trong việc làm sáng rõ các mối quan hệ nghĩa nội dung. ặc

điểm này rất quan trọng đã góp phần làm tăng thêm tính tƣờng minh và tạo sự logic

chặt chẽ về ngữ nghĩa cho thông tin khoa học đƣợc cung cấp trong các bài báo

KHXH&NV. ây chính là một đặc thù liên kết của riêng loại VB này so với các

loại VB khác.

2.2.2. Phương tiện liên kết đặc trưng trong các bài báo KHXH&NV

2.2.2.1. Liên kết bằng “từ khóa” trong các bài báo KHXH&NV

Ngoài việc sử dụng PLK từ vựng bằng cách lặp từ, sử dụng từ đồng nghĩa,

cùng trƣờng nghĩa, trong VB còn có sự xuất hiện của những từ chung (từ chủ

chốt, từ khóa) và đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với ý nghĩa của toàn VB

[39, tr.494], [112, tr.279].

“Từ khóa” (keyworks) đƣợc hiểu là: (1) Từ đặc trƣng cho nội dung của

một đoạn văn. (2) Từ có nghĩa đặc biệt trong một ngôn ngữ lập trình của máy

tính [72, tr.1072]. ịnh nghĩa (1) có thể hiểu là những từ mang nghĩa đề tài - chủ

đề chính trong một đoạn văn, một VB. ịnh nghĩa (2) là nghĩa riêng của những

từ trong ngôn ngữ lập trình máy tính. Ngoài ra, đó là “loại từ thường dùng theo

công thức nhằm tạo sự thuận lợi cho người soạn thảo văn bản” [78, tr.146].

Kết quả khảo sát đã chỉ ra, các từ khóa thƣờng xuất hiện trong tiêu đề bài

báo KHXH&NV và lặp lại nhiều lần (qua tên của các mục, tiểu mục, nội dung

các kết quả nghiên cứu trong bài báo).

76

Ngữ liệu 29: Bài báo “Diễn ngôn trong giao tiếp văn học” có các từ khóa là:

Giao tiếp văn học, diễn ngôn văn học. [Tạp chí KHXH&NV, tập 28, số 4,

2012, tr.209].

Việc sử dụng hình thức liên kết bằng các từ khóa đã có tác dụng nhất định

tạo sự thống nhất và mạch lạc trong toàn bộ bài báo khoa học. Từ khóa “giao

tiếp văn học” có trong tiêu đề và đƣợc lặp lại 11 lần trong bài báo và từ “diễn

ngôn văn học” đƣợc lặp lại 23 lần trong toàn bài. hính việc lặp lại nhiều lần

những từ khóa nhƣ vậy đã có tác dụng tạo sự liên kết liền mạch và thống nhất về

đối tƣợng đang đƣợc toàn bộ VB đề cập và bàn luận (đề tài - chủ đề).

Ngữ liệu 30: Bài báo “Nghiên cứu về hòa nhập xã hội: Một số định hướng

ở Việt Nam” có các từ khóa là: Hòa nhập xã hội, Chính sách xã hội, Công tác xã

hội, Dịch vụ xã hội. [Tạp chí KHXH&NV, tập 27, số 4, 2011, tr.237]

Trong bài báo này, cụm từ “hòa nhập xã hội”đã đƣợc đề cập tại tiêu đề và

tiếp tục đƣợc tác giả sử dụng lặp lại 48 lần, cụm từ “chính sách xã hội” 16 lần,

“công tác xã hội” 10 lần và“dịch vụ xã hội” đƣợc lặp 9 lần. Những từ khóa này

đều cùng trong một trƣờng nghĩa và cùng hƣớng đến đề tài - chủ đề đã đƣợc đề

cập trong phần tiêu đề “nghiên cứu về hòa nhập xã hội” và những định hƣớng,

gợi ý cho việc xây dựng chính sách xã hội, dịch vụ xã hội và phát triển các hoạt

động chuyên môn về công tác xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. ác

từ khóa đƣợc lặp lại nhiều lần đã có tác dụng tạo sự liên kết các đoạn, các phần

và tạo sự tập trung chú ý cho ngƣời đọc về những từ then chốt, mang nội dung

chính cần truyền đạt của cả bài báo.

Ngữ liệu 31: Bài báo “Giới từ chỉ vị trí trong tiếng Pháp - Cách tiếp cận

liên ngôn ngữ Pháp-Việt” có các từ khóa là: Giới từ chỉ vị trí, định vị kép, danh

từ chỉ bộ phận không gian, cách tiếp cận liên ngôn ngữ. [Tạp chí KHXH&NV,

tập 27, số 4, 2011, tr.229]

Cụm từ “giới từ chỉ vị trí”, đƣợc nhắc đến tại tiêu đề và đƣợc lặp lại 5

lần, cụm từ “định vị kép” đƣợc lặp lại 7 lần, cụm từ “danh từ chỉ bộ phận không

gian” lặp 3 lần và cụm từ “cách tiếp cận liên ngôn ngữ” đƣợc lặp lại 3 lần trong

77

toàn bộ bài báo đã có tác dụng nhấn mạnh đến đề tài - chủ đề chính đang đƣợc

đề cập, nghiên cứu và so sánh sự khác nhau (có chịu ảnh hƣởng chi phối bởi các

qui tắc ngữ nghĩa và các yếu tố ngoài ngôn ngữ nhƣ: văn hóa, dân tộc và yếu tố

cá nhân) trong cách sử dụng “giới từ chỉ vị trí “của tiếng Pháp và tiếng Việt. Sự

xuất hiện lặp đi lặp lại của những từ khóa này đã tạo sự liên kết cho toàn bộ VB

và qua đó có tác dụng tạo ấn tƣợng nhất định về sự mạch lạc (đề tài - chủ đề) và

sự đặc sắc trí tuệ của những thuật ngữ chuyên ngành này trong bài báo.

Từ ngữ liệu 29, 30, 31 nói riêng và ngữ liệu đƣợc khảo sát nói chung cho

thấy, các từ khóa đƣợc sử dụng đã có tác dụng liên kết các câu, các đoạn và các

phần trong VB. Do đó, sự xuất hiện của các từ khóa đã đem lại hiệu quả rõ rệt

trong việc thể hiện sự liên kết và mạch lạc về đề tài - chủ đề trong toàn bài báo

khoa học. ây chính là một hình thức liên kết xuất hiện phổ biến trong các bài

báo KHXH&NV, là chỉ báo đánh dấu mạch lạc đặc thù trong thể loại VB này.

Ngoài ra, các từ khóa trong bài báo khoa học thƣờng là các danh từ (cụm danh

từ) hoặc danh động từ, các thuật ngữ khoa học (mang tính đơn nghĩa và chính

xác cao). iều này đã góp phần thể hiện rõ đặc điểm ngôn ngữ, tính trí tuệ khoa

học cho các bài báo KHXH&NV.

ó thể thấy, các từ khóa là những từ, cụm từ quan trọng đƣợc lặp đi lặp lại

trong một bài báo và thể hiện đặc trƣng đề tài - chủ đề của bài viết. Bên cạnh

việc góp phần thuận tiện khi tra cứu trong cơ sở dữ liệu của các cơ quan, tạp chí,

đây còn là những từ quan trọng để tạo thuận lợi cho ngƣời viết và ngƣời tiếp

nhận hiểu đúng về tính thống nhất của đề tài - chủ đề trong VB. Những từ khóa

này mang đặc điểm riêng do ngƣời tạo lập lựa chọn để tránh trùng lặp với cách

sử dụng từ khóa của ngƣời viết khác. Bên cạnh đó, các từ khóa này có tần số lặp

lại nhiều lần trong một bài báo khoa học để nhấn mạnh đề tài - chủ đề (nội dung

chính quan trọng của từng bài báo). ặc điểm này chính là một dấu hiệu liên kết

đặc thù trong các bài báo KHXH&NV nói riêng và các VB khoa học nói chung.

Tuy nhiên, vẫn còn một số bài báo chƣa xuất hiện các từ khóa, do đó cần

lƣu ý khi tạo lập VB, đảm bảo sự xuất hiện của yếu tố này trong tất cả các bài

78

báo KHXH&NV để đáp ứng các tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế. Bởi vì, các từ

khóa đƣợc liệt kê trƣớc phần nội dung chính của toàn bài sẽ có tác dụng gây sự

chú ý và quan tâm của ngƣời đọc tới những vấn đề của thực tiễn cuộc sống hay

có tính chất “liên văn bản” khi tạo sự liên kết với những VB khác (cùng chuyên

ngành hoặc khác chuyên ngành). ặc điểm này tạo điều kiện thuận lợi cho việc

tra cứu và tìm kiếm những thông tin, nội dung liên quan tới các từ khóa này cho

cả ngƣời viết và ngƣời đọc. Nếu bài báo thiếu những từ khóa sẽ thiếu đi sự dẫn

dắt cần thiết đối với ngƣời tiếp nhận VB.

Ngoài ra, xuất hiện đặc thù trong các bài báo KHXH&NV hiện tƣợng

sử dụng câu nối làm phƣơng tiện liên kết hai đoạn văn, hai thành phần của

VB nhƣ sau.

2.2.2.2. Câu nối liên kết hai đoạn văn (hai thành phần của văn bản)

Trong các VB nghệ thuật có hiện tƣợng sử dụng nhiều biện pháp tu từ từ

vựng (ngữ âm và ngữ nghĩa), tu từ cú pháp và tu từ VB để thể hiện giá trị thẩm

mĩ (hình thức diễn đạt ngôn ngữ mới mẻ, đặc sắc) và qua đó thể hiện nội dung

VB. Nhƣng trong các bài báo KHXH&NV đƣợc khảo sát có sự phù hợp giữa

hình thức và nội dung VB. ó là việc xuất hiện câu nối chuyển tiếp đƣợc sử

dụng nhƣ một PLK để tạo sự gắn kết giữa hai đoạn văn, hai thành phần của VB.

Ngữ liệu 32: “Khoảng cách giữa nhân vật quản lý và nhân vật bị quản lý

có thể rút ngắn đi nhờ sự phát triển của mạng lưới nhưng không hề biến mất mà

thể hiện dưới hình thức tinh vi hơn, phức tạp hơn tạo thành những hệ thống của

các mối quan hệ giữa con người và xã hội.

Để nắm bắt rõ hơn về ý nghĩa lý luận và phương pháp luận hệ thống,

dưới đây tìm hiểu một số khái niệm cơ bản của xã hội học quản lý hiện đại

theo thuyết hệ thống.

Khái niệm tiểu hệ thống dùng để chỉ những bộ phận, yếu tố tạo thành hệ

thống. Dù thuộc bất kỳ loại hình nào cơ, lý, hóa, sinh hay xã hội, hệ thống luôn

có cấu tạo gồm ít nhất hai tiểu hệ thống có mối liên hệ qua lại với nhau…” [Tạp

chí KHXH&NV, tập 16, số 1, 2000, tr.19].

79

âu “Để nắm bắt rõ hơn về ý nghĩa lý luận và phương pháp luận hệ

thống, dưới đây tìm hiểu một số khái niệm cơ bản của xã hội học quản lý hiện

đại theo thuyết hệ thống” xuất hiện với dấu hiệu hình thức là một đoạn văn đã

đóng vai trò là phƣơng tiện liên kết để tạo sự kết dính giữa đoạn văn đứng trƣớc

và đoạn văn sau, đồng thời tiếp nối chủ đề đang bàn luận về “xã hội học quản lý”.

Ngữ liệu 33: “Đó cũng là một minh họa cho thấy những vấn đề mà các

nhà phân tích có thể gặp phải khi lý giải những số liệu tài chính của các công ty

ở các quốc gia khác nhau.

Dưới đây là một số những vấn đề chính mà người phân tích cần phải

biết khi sử dụng các báo cáo tài chính của công ty nước ngoài.

Về các khoản dự trữ (…)” [Tạp chí KHXH&NV, tập 21, số 1, 2005, tr.56].

âu “dưới đây là một số vấn đề chính mà người phân tích cần phải biết

khi sử dụng các báo cáo tài chính của công ty nước ngoài” đã tạo sự liên kết hồi

chiếu với câu đứng trƣớc nó bằng việc lặp từ “tài chính”. Và bằng sự xuất hiện

đồng thời của từ khứ chiếu “dưới đây” trong câu văn này đã tạo sự liên kết với

các câu tiếp theo và đoạn văn tiếp theo đó.

Ngữ liệu 34: “4. Chú trọng yêu cầu phát triển năng lực hành nghề, giảm

bớt các tri thức hàn lâm, tăng cường năng lực hành động và thích ứng nhanh với

những biến đổi trong lao động nghề nghiệp (định hướng, nghiên cứu và thực

hiện hành động).

Việc phát triển chương trình đào tạo theo năng lực (theo môđun và kết

hợp môn học - môđun) được thực hiện theo quy trình các bước sau:

Bước 1: Phân tích, đánh giá bối cảnh/ nhu cầu đào tạo

Bước 2: Khảo sát/ phân tích đặc điểm chuyên môn ngành/ nghề (…)”

[Tạp chí KHXH&NV, tập 27, số 2, 2011, tr.95].

âu “việc phát triển chương trình đào tạo theo năng lực (theo môđun và

kết hợp môn học - môđun) được thực hiện theo quy trình các bước sau” đã đóng

vai trò kết nối câu trƣớc đó với các câu đứng sau nó. Và đồng thời sử dụng cụm

từ đóng vai trò khứ chiếu “các bước sau” để tạo sự liên kết, báo hiệu sự xuất

80

hiện của những câu tiếp theo (đoạn văn tiếp theo), cần tìm hiểu kỹ hơn nội dung

chi tiết của các bƣớc này để hiểu rõ hơn thông tin mà tác giả đề cập (thống nhất

với tiêu đề của bài báo “Chuẩn đầu ra và phát triển chương trình đạo tạo theo

năng lực ở bậc đại học”).

Nhƣ vậy, từ ngữ liệu 32, 33, 34 đã phân tích ở trên và tất cả ngữ liệu đƣợc

thu thập cho thấy, hiện tƣợng sử dụng những câu nối hợp nghĩa (chuyển tiếp) để

liên kết các đoạn văn đã xuất hiện tƣơng đối nhiều. Những câu nối chuyển tiếp

này đồng thời xuất hiện về mặt hình thức là một đoạn văn, có vai trò dự báo

trƣớc phần VB tiếp theo hoặc vừa nhắc lại thông tin của đoạn trƣớc vừa báo hiệu

nội dung của đoạn sắp tới. ây chính là một trong những phƣơng tiện liên kết

đặc thù của các bài báo KHXH&NV.

Ngoài ra, tuy có quan niệm gọi hiện tƣợng trên là đoạn văn chuyển tiếp và

không coi đây là một PLK (vì chỉ có một số từ ngữ nào đó trong đoạn văn mới

có chức năng liên kết) [5, tr.412], nhƣng ngữ liệu đƣợc khảo sát cho thấy, những

câu nối chuyển tiếp đã góp phần hiệu quả trong việc tạo sự logic và mạch lạc cho

VB. ặc điểm liên kết đặc thù này đã xuất hiện phổ biến trong các VB khoa học.

Bên cạnh đó, đặc điểm liên kết này xuất hiện trong các bài báo KHXH&NV phù

hợp với nhận định về việc, liên kết dự báo là phạm trù ngữ pháp VB đã thống

nhất giữa hình thức ngôn ngữ với nội dung thông tin, về những điều sẽ đƣợc

trình bày trong phần tiếp theo hoặc chƣơng tiếp theo của VB [31, tr.223]. Sự

xuất hiện câu nối chuyển tiếp trong các bài báo KHXH&NV bên cạnh các PLK

cơ bản đã đƣợc đề cập ở trên cho thấy đây là một hiện tƣợng đặc trƣng, giúp ta

khu biệt đƣợc đặc điểm liên kết riêng của thể loại VB này [37, tr.522].

Nhìn chung, kết quả khảo sát đã chỉ ra, ngoài sự xuất hiện đa dạng và

phong phú của các từ ngữ nối kết (hoặc quan hệ từ) của phép nối, câu nối đã

đƣợc sử dụng để liên kết hai câu, hai đoạn văn trong các ngữ liệu đƣợc khảo sát.

Và hiện tƣợng liên kết nội chiếu (mang tính khứ chiếu, dự báo) bằng các cụm từ

“dưới đây”, “sau đây”, “như sau” … đã đóng vai trò rất quan trọng trong việc

tạo sự liên kết giữa các câu, các đoạn văn trong bài báo KHXH&NV và rất cần

lƣu ý trong việc tạo lập, giải thích các VB khoa học nói chung.

81

Tóm lại, có thể nhận thấy “từ khóa” và câu nối đã xuất hiện là phƣơng

tiện liên kết đặc thù, có giá trị nhất định trong việc tạo sự kết nối và tổ chức các

bài báo KHXH&NV.

2.2.3. Liên kết trong các bài báo Khoa học Xã hội và liên kết trong các

báo Khoa học Nhân văn

ể tìm hiểu và so sánh đặc điểm liên kết qua các chuyên ngành khác nhau,

việc phân loại theo lĩnh vực của các bài báo KHXH&NV đã cho kết quả nhƣ sau:

Bảng 2.5: Bài báo hoa học ã hội và Nhân văn theo các lĩnh vực

Lĩnh vực Khoa học xã hội Khoa học nhân văn ác bài Tổng

khoa học báo Pháp Giáo Kinh Xã hội Lịch Ngôn Văn Triết

khác luật dục tế học sử ngữ học học

(*)

Số lƣợng 56 58 34 38 97 78 97 53 586 75

bài

Tỷ lệ 10% 10% 6% 6% 17% 13% 17% 9% 13% 100

%

(*) Các bài báo khác thuộc các ngành: Báo chí, Du lịch, Đông phương, Khoa học

Chính trị, Khoa học Quản lý, Lưu trữ, Quốc tế, Tâm lý, Thông tin thư viện.

ác ngữ liệu khảo sát trên đƣợc chia theo lĩnh vực khoa học xã hội và

lĩnh vực khoa học nhân văn theo Quyết định số 12/2008/Q -BKHCN của Bộ

Khoa học và ông nghệ ngày 04/9/2008 (Phụ lục 1 của LA).

ác bài báo thuộc 8 ngành đã đƣợc nghiên cứu chi tiết là: Pháp luật,

Giáo dục, Kinh tế, Xã hội học, Lịch sử, Ngôn ngữ, Văn học và Triết học, vì

chúng chiếm tỷ lệ cao so với các ngành khác (87% trong tổng số ngữ liệu đƣợc

khảo sát). Sau đó, sự xuất hiện của các PLK (liên kết từ vựng, nối, quy chiếu,

thế và tỉnh lƣợc) đƣợc tìm hiểu qua 240 VB của tám ngành (mỗi ngành 30 bài

báo khoa học), đồng thời xem xét tần số phân bố của các PLK và những điểm

tƣơng đồng, khác biệt về sự xuất hiện của chúng trong các bài báo

KHXH&NV. Kết quả thu thập là:

82

80

74

68

70

66

63

61

57

60

54

53

50

Phép liên kết từ vựng

40

Phép nối

28

Phép quy chiếu

30

23

22

Phép thế và phép tỉnh lược

21 19

22 21

18

17

20

16 14

14

13

12

13 9

10

4

3

3

3

3

2

2

2

0

Kinh tế Xã hội

Văn học

Pháp luật

Giáo dục

Lịch sử Ngôn ngữ

Triết học

học

Biểu đồ 2.6: Tần số các phép liên kết đƣợc sử dụng

trong 8 ngành hoa học ã hội và Nhân văn

Từ số liệu đƣợc thống kê trong Biểu đồ 2.6 có thể rút ra một số nhận xét là,

các bài báo trong cả tám ngành KHXH&NV, tuy PLK từ vựng xuất hiện có tần số

khác nhau nhƣng luôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong số bốn PLK. Phép thế và phép tỉnh

lƣợc cùng xuất hiện ít nhất. Phép nối đƣợc sử dụng nhiều thứ hai trong các ngành:

Pháp luật, Giáo dục, Kinh tế, Xã hội học và Ngôn ngữ. Nhƣng phép quy chiếu đƣợc

sử dụng nhiều thứ hai trong các ngành: Lịch sử, Văn học và Triết học. Phép nối

xuất hiện trong các bài báo của ngành Ngôn ngữ chiếm tỷ lệ cao nhất (28%) và xuất

hiện thấp nhất trong ngành Văn học (9%). Phép quy chiếu xuất hiện trong các bài

báo của ngành Lịch sử chiếm tỷ lệ cao nhất (22%), xuất hiện thấp nhất trong ngành

Giáo dục và Văn học (13%).

Tám ngành KHXH&NV trên có năm tiêu chí khác nhau là: đối tƣợng nghiên

cứu, hệ thống lý thuyết, hệ thống phƣơng pháp luận, mục đích ứng dụng và lịch sử

nghiên cứu riêng. ác khía cạnh trên đã ảnh hƣởng tới đặc điểm liên kết khác nhau

trong các bài báo khoa học thuộc các ngành khác nhau. Tuy nhiên, sự xuất hiện đặc

điểm khác nhau trong việc sử dụng các PLK trên ngoài ảnh hƣởng của phong cách

cá nhân tác giả nghiên cứu, có thể do hai nguyên nhân cơ bản sau.

83

Nguyên nhân thứ nhất, đối tƣợng nghiên cứu của các ngành khác nhau. Ví

dụ, Ngành Ngôn ngữ nghiên cứu các ngôn ngữ, các qui luật của ngôn ngữ; Ngành

Văn học có đối tƣợng nghiên cứu là nghệ thuật ngôn từ, nghiên cứu phản ánh con

ngƣời trên phƣơng diện thẩm mĩ, con ngƣời trong các mối quan hệ xã hội, hiện thực

cuộc sống, tính cách và số phận con ngƣời; Ngành Kinh tế tìm hiểu các phƣơng

cách mà con ngƣời, các tổ chức và xã hội tiến hành sản xuất, phân bố và tiêu dùng

hàng hóa, dịch vụ.

Nguyên nhân thứ hai, vì mỗi lĩnh vực có phƣơng pháp nghiên cứu chuyên

ngành riêng, nên cách thức triển khai nội dung nghiên cứu và cách sử dụng các

phƣơng tiện liên kết cũng khác nhau. hẳng hạn, Ngôn ngữ đƣợc nghiên cứu chủ

yếu bằng phƣơng pháp miêu tả, so sánh và đối chiếu; Văn học đƣợc nghiên cứu

bằng nhiều phƣơng pháp gồm: thực chứng, hiện tƣợng, cấu trúc, tâm lý học, xã hội

học, so sánh, mĩ học, loại hình, hệ thống; Kinh tế học đƣợc nghiên cứu bằng

phƣơng pháp mô tả các mô hình kinh tế, kiểm chứng giả thuyết kinh tế, so sánh

tĩnh. hính các phƣơng pháp nghiên cứu khác nhau trong các ngành cụ thể, nên tần

số các PLK xuất hiện khác nhau trong các bài báo thuộc các lĩnh vực KHXH&NV.

Bởi vì, phƣơng pháp nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong quá trình cung cấp

thông tin (trình tự các ý tƣởng), trình bày kết quả nghiên cứu của bài báo đó, do đó

các phƣơng pháp nghiên cứu đƣợc thực hiện khác nhau sẽ dẫn tới việc trình bày kết

quả nghiên cứu có sự khác nhau. Ví dụ, sự xuất hiện của phép nối nhiều thứ hai

trong các ngành khoa học (sử dụng nhiều phƣơng pháp nghiên cứu định lƣợng

nhiều hơn các ngành KHXH&NV khác) là: Pháp luật (23%), Xã hội học (22%) và

Ngôn ngữ (28%) trong khảo sát (Biểu đồ 2.6) đã cho thấy có điểm tƣơng đồng với

kết quả thống kê sự xuất hiện của phép nối nhiều thứ hai trong các bài báo khoa học tự nhiên1. Nhƣng phép quy chiếu đƣợc sử dụng nhiều thứ hai trong các ngành: Lịch

sử, Văn học và Triết học (những ngành thuộc khoa học nhân văn sử dụng chủ yếu là

1 Xem thêm số liệu trong bài viết “Khảo sát các phép liên kết trong các bài báo khoa học tự nhiên và khoa học xã hội nhân văn”. Tạp chí Ngôn ngữ (1), 2018, tr.65-80.

phƣơng pháp nghiên cứu định tính).

84

ặc biệt, việc sử dụng các PLK xuất hiện giữa các ngành nghiên cứu

KHXH&NV tuy khác biệt nhƣng cơ bản có sự tƣơng đồng. Và sự tƣơng đồng này,

cũng xuất phát từ hai nguyên nhân. Thứ nhất, các đối tƣợng nghiên cứu của một

ngành cụ thể nhƣng có liên quan đến các ngành khác (mang tính liên ngành). hẳng

hạn, lịch sử liên quan đến các ngành khác khi nghiên cứu về lịch sử triết học, lịch sử

văn học, lịch sử ngôn ngữ học và các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. ối tƣợng

nghiên cứu của giáo dục cũng có mối quan hệ với nhiều ngành khoa học khác (ví

dụ: triết học, sinh lý học, tâm lý học, văn học). Vì tính liên ngành này nên đối tƣợng

nghiên cứu trong các bài báo KHXH&NV có những đặc điểm chung liên quan đến

các ngành khác nhau.

Thứ hai, các phƣơng pháp nghiên cứu do đó cũng mang tính liên ngành cao

(vì sử dụng đồng thời từ hai phƣơng pháp phƣơng pháp nghiên cứu chuyên ngành

trở lên) [116]. Hơn nữa, theo Luật Khoa học và ông nghệ (năm 2013), nghiên

cứu cơ bản là hoạt động nhằm khám phá bản chất, qui luật của sự vật, hiện tƣợng

tự nhiên, xã hội và tƣ duy. òn nghiên cứu ứng dụng, là hoạt động nghiên cứu

vận dụng kết quả nghiên cứu khoa học nhằm tạo ra sản phẩm, công nghệ mới, để

đổi mới công nghệ phục vụ xã hội và con ngƣời. Tuy nhiên, các bài báo

KHXH&NV là các công trình vừa nghiên cứu cơ bản, vừa mang tính ứng dụng,

do sản phẩm nghiên cứu của lĩnh vực này mang tính dự báo cao và góp phần

định hƣớng, xây dựng chính sách nhằm phát triển xã hội và phục vụ con ngƣời.

Bởi vì, xã hội càng phát triển thì vai trò của KHXH&NV càng ngày càng đƣợc

khẳng định, nhƣ Unesco đã từng nhận định “KHXH&NV là một công cụ vô giá

để thúc đẩy sự đồng thuận quốc tế về những mục tiêu phát triển, nhằm đáp ứng

những thách thức có tính chất toàn cầu và nâng cao chất lượng sống của con

người.” (dẫn theo [61, tr.207]).

Tóm lại, kết quả khảo sát các bài báo KHXH&NV trong tám ngành cụ thể

cho thấy, cùng đối tƣợng nghiên cứu về con ngƣời, xã hội, các bài báo đã đề cập

đến các khía cạnh khác nhau, gắn với các mối quan hệ xã hội thuộc các lĩnh vực cụ

thể và đồng thời có tính liên ngành cao. Do đó, có sự tƣơng đồng và khác biệt trong

sự xuất hiện của các PLK trong tám ngành nghiên cứu của các bài báo KHXH&NV.

85

Ngoài ra, ngữ liệu đƣợc khảo sát đã chỉ ra, có sự tƣơng đồng và khác biệt về

sự xuất hiện ba kiểu loại PLK từ vựng trong các bài báo KHXH&NV của tám

100

93

92

90

90

87

90

83

81

78

80

70

Phép lặp

60

50

Dùng từ đồng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa

40

Phối hợp từ ngữ

30

17

16

16

20

11

9

8

6

10

5

5

3

3

2

2

1

1

1

0

Kinh tế Xã hội

Pháp luật

Giáo dục

Lịch sử Ngôn ngữ

Văn học

Triết học

học

ngành cụ thể là:

Biểu đồ 2.7: Tần số các loại liên kết từ vựng xuất hiện trong

các bài báo thuộc tám ngành &NV

Kết quả khảo sát trong Biểu đồ 2.7 đã cho thấy, có sự tƣơng đồng trong việc

phép lặp xuất hiện nhiều nhất và việc dùng từ đồng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa để

liên kết hai câu xuất hiện ít nhất trong các bài báo thuộc tám ngành KHXH&NV.

Nhƣng tỷ lệ phép lặp xuất hiện khác nhau trong các bài báo, tần số từ nhiều đến ít

trong các bài báo là: Kinh tế (93%), Lịch sử (92%), Giáo dục (90%), Ngôn ngữ

(90%), Xã hội học (87%), Pháp luật (83%), Triết học (81%), Văn học (78%). Việc

dùng từ đồng nghĩa, gần nghĩa, trái nghĩa xuất hiện nhiều nhất trong các bài báo của

ngành Văn học (5%), Lịch sử (3%) và Triết học (3%), nhƣng xuất hiện ít trong các

ngành Xã hội học (2%), Ngôn ngữ (2%) và Pháp luật, Giáo dục, Kinh tế (1%). Phép

phối hợp từ vựng xuất hiện nhiều hơn trong các bài báo thuộc các ngành: Văn học

(17%), Pháp luật (16%) và Triết học (16%) so với các bài báo thuộc các ngành:

Ngôn ngữ (8%), Kinh tế (6%) và Lịch sử (5%).

86

Tiếp theo, ngữ liệu đƣợc khảo sát cho thấy, phép lặp đã xuất hiện phổ biến

trong tất cả các bài báo KHXH&NV và xuất hiện nhiều trong các ngành Giáo dục,

Kinh tế, Lịch sử và Ngôn ngữ so với các ngành khác. ặc điểm này có thể xuất phát

từ đòi hỏi tính chính xác cao hơn của các ngành Giáo dục, Kinh tế, Lịch sử và Ngôn

ngữ so với ngành Văn học (phép lặp xuất hiện ít nhất là 78%).

Ngoài ra, việc sử dụng các từ ngữ đồng nghĩa, gần nghĩa cũng là phƣơng tiện

để liên kết các câu trong các bài báo KHXH&NV. Và PLK này xuất hiện nhiều nhất

trong các bài báo ngành Văn học so với các bài báo thuộc các ngành khác.

Bên cạnh đó, kết quả khảo sát trong Biểu đồ 2.7 đã chỉ ra, sự phối hợp từ

ngữ xuất hiện để liên kết các câu có tỷ lệ cao trong các bài báo khoa học thuộc

ngành Pháp luật, Xã hội học, Văn học, Triết học và tỷ lệ thấp trong các ngành

Giáo dục, Kinh tế, Lịch sử, Ngôn ngữ. ặc điểm liên kết này trái ngƣợc với hiện

tƣợng phép lặp xuất hiện ít trong các bài báo thuộc ngành Pháp luật, Xã hội học,

Văn học, Triết học và xuất hiện nhiều trong các bài báo thuộc ngành Giáo dục,

Kinh tế, Lịch sử, Ngôn ngữ. Vì vậy, qua số liệu đƣợc khảo sát có thể nhận thấy,

xu hƣớng xuất hiện các PLK để thể hiện tính rõ ràng, chính xác cao hơn trong các

bài báo thuộc ngành Giáo dục, Kinh tế, Lịch sử, Ngôn ngữ so với các bài báo

thuộc ngành Văn học.

Hơn nữa, Biểu đồ 2.6 cho thấy, phép nối xuất hiện trong các bài báo khoa

học thuộc ngành Ngôn ngữ (28%), Xã hội học (22%), cao hơn trong các bài báo

thuộc các ngành Lịch sử (12%), Văn học (9%). Kết quả thống kê này đã góp phần

chỉ ra sự kết nối chặt chẽ và chính xác hơn xuất hiện nhiều trong các bài báo khoa

học sử dụng phƣơng pháp định lƣợng kết hợp định tính so với các bài báo khoa học

chỉ sử dụng phƣơng pháp định tính.

2.2.4. Liên kết trong các bài báo khoa học và liên kết trong các văn bản thuộc

phong cách chức năng khác

Kết quả khảo sát trong Bảng 2.1 đã chỉ ra, bốn PLK đều xuất hiện trong các

bài báo KHXH&NV giống các loại VB thuộc phong cách khác. Thứ tự xuất hiện từ

nhiều đến ít của các PLK trong các bài báo KHXH&NV (nhiều nhất là PLK từ

87

vựng, ít nhất là phép thế và phép tỉnh lƣợc) có sự tƣơng đồng với thứ tự xuất hiện

các PLK trong VB hành chính và nghệ thuật. Tuy nhiên, có sự khác biệt rõ ràng

trong tần số và giá trị sử dụng của các PLK cụ thể trong các bài báo KHXH&NV so với VB hành chính và nghệ thuật2.

Thứ nhất là, nếu trong VB nghệ thuật, phép lặp không chiếm vị trí ƣu thế, thì

phép lặp xuất hiện chiếm tỷ lệ cao và đóng vai trò quan trọng trong các bài báo

KHXH&NV. Hiện tƣợng chủ yếu là lặp các danh từ (cụm danh từ), các từ khóa, các

thuật ngữ khoa học chuyên ngành đã góp phần nhấn mạnh nội dung đề tài - chủ đề

(thông tin khoa học xuất hiện tại tiêu đề của VB) và tô đậm thêm màu sắc phong cách

nổi bật cho ngôn ngữ khoa học là tính trí tuệ [15, tr.202]. ây chính là điểm khác biệt

của phép lặp trong VB khoa học, so với sự xuất hiện của phép lặp trong VB nghệ

thuật (hiện tƣợng lặp xuất hiện rất đa dạng và phong phú: lặp danh từ, đại từ, động từ,

tính từ và lặp cú pháp).

Thứ hai là, trong ngữ liệu đƣợc khảo sát không xuất hiện các từ trái nghĩa để

liên kết các câu giống VB nghệ thuật. Và việc sử dụng các từ đồng nghĩa, gần nghĩa

trong các bài báo KHXH&NV cũng không phổ biến nhƣ trong VB nghệ thuật, bởi

vì đặc trƣng của văn phong khoa học yêu cầu tính rõ ràng và chính xác cao, nên

phép PLK này đã xuất hiện ít nhất (2%) so với kiểu lặp và phối hợp từ ngữ của PLK

từ vựng.

Thứ ba là, sự phối hợp từ ngữ trong ngữ liệu đƣợc khảo sát chỉ xuất hiện

trƣờng hợp các từ ngữ đƣợc dùng để liên kết hai câu bằng quan hệ về loại và quan

hệ đặc trƣng, không xuất hiện những quan hệ liên tƣởng về nghĩa bằng định vị hay

nhân quả. Và sự xuất hiện không phổ biến của PLK này trong các bài báo khoa học

minh chứng cho sự khác biệt rõ ràng so với việc phối hợp từ ngữ đƣợc sử dụng

trong các loại VB khác thuộc phong cách nghệ thuật. ặc điểm liên kết này xuất

2 Thống kê do chúng tôi đã thực hiện trong bài báo “Tình hình sử dụng các phép liên kết trong một số văn bản tiếng Việt thuộc ba phong cách chức năng: nghệ thuật, hành chính, khoa học”. Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn 4(1), 2018, tr.103-116.

hiện do các bài báo KHXH&NV chịu sự chi phối của văn phong khoa học (tính

88

chính xác, đơn nghĩa và logic, khách quan). Nhƣng phong cách nghệ thuật có đặc

điểm là tính hình tƣợng (biểu tƣợng hóa các tín hiệu ngôn ngữ), tính thẩm mĩ (trong

việc sử dụng ngôn ngữ), tính sinh động, biểu cảm (bằng việc sử dụng từ ngữ, các

kiểu câu than gọi, câu hỏi tu từ nghệ thuật) [28], nên kiểu quan hệ nghĩa phối hợp từ

ngữ xuất hiện rất đa dạng và phong phú, để tạo ra những giá trị tu từ, những ấn

tƣợng nhất định đối với ngƣời đọc (về hình tƣợng nghệ thuật ngôn từ).

Thứ tƣ là, phép nối xuất hiện chiếm tỷ lệ cao thứ hai và đóng vai trò quan

trọng trong các bài báo KHXH&NV. Xuất hiện phổ biến các kiểu quan hệ nghĩa chỉ

quan hệ bổ trợ, nghịch đối, thời gian (trật tự diễn đạt), nguyên nhân – hệ quả, nhƣng

không xuất hiện phổ biến kiểu quan hệ nghĩa điều kiện và mục đích để liên kết hai câu giống các VB nghệ thuật3. Ngoài ra, kết quả khảo sát 586 bài báo KHXH&NV

cho thấy, các từ ngữ nối kết: ngoài ra, hơn nữa, ví dụ, bên cạnh đó… chỉ quan hệ

nghĩa bổ trợ - chứng minh và các quán từ: tóm lại, nhìn chung, nói chung, tổng quát

là, từ những điểm trên, kết luận là… thể hiện quan hệ đánh giá - khái quát đƣợc sử

dụng phổ biến trong các bài báo. ặc điểm liên kết này cho thấy có sự khác biệt rõ

ràng so với các VB nghệ thuật (không sử dụng phổ biến phƣơng tiện liên kết này).

Bên cạnh đó, sự xuất hiện của phép nối trong các bài báo KHXH&NV có tần số cao

hơn và đóng vai trò quan trọng hơn so với các loại VB thuộc phong cách chức năng

nghệ thuật hay báo chí. Hơn nữa, hiện tƣợng phép nối xuất hiện phổ biến trong các

bài báo KHXH&NV đã có sự khác biệt so với các VB luật pháp. Vì phép quy chiếu

và phép lặp từ vựng đƣợc sử dụng nhiều trong VB luật pháp tiếng Việt [90, tr.127].

Thứ năm là, Biểu đồ khảo sát 2.4 đã chỉ ra, xuất hiện chiếm ƣu thế trong các

bài báo KHXH&NV là phép qui chiếu chỉ định (78%), phép qui chiếu so sánh đƣợc

sử dụng ít nhất (2%). Phép quy chiếu chỉ ngôi xuất hiện ít trong ngữ liệu đƣợc khảo

sát (19% trên tổng số 3 loại của phép quy chiếu) đã cho thấy sự ảnh hƣởng của văn

phong khoa học tác động nên đặc điểm này [126]. Và sự xuất hiện của phép quy

3 Vấn đề này có thể xem thêm tại bài viết “Một số hiệu quả của việc sắp xếp trật tự vế chính đứng trước vế phụ trong câu ghép chính phụ”. Tạp chí Ngôn ngữ (9), 2012, tr.59-70 [40].

chiếu chỉ ngôi trong các bài báo KHXH&NV cũng có sự khác biệt so với sự xuất

89

hiện của PLK này trong các VB nghệ thuật. Bởi vì, đại từ chỉ ngôi thứ nhất của

phép quy chiếu chỉ ngôi đƣợc sử dụng trong các bài báo KHXH&NV, chỉ xuất hiện

trong vị trí của phần tóm tắt, giới thiệu hoặc phần kết luận, không xuất hiện phổ

biến và phong phú trong toàn VB nhƣ các VB nghệ thuật. Ngoài ra, tuy ý nghĩa tình

thái của PLK qui chiếu không xuất hiện nhiều nhƣ trong các VB nghệ thuật (truyện

ngắn, tiểu thuyết) hay VB chính luận nhƣng việc sử dụng từ ngữ của PLK quy chiếu

trong các bài báo KHXH&NV đã cho thấy sự trang trọng, bình đẳng và khách quan

của PCKH. ặc điểm này xuất hiện do các bài báo thuộc P KH, đòi hỏi tƣ duy

logic chặt chẽ nên các thông tin đƣa ra chủ yếu là tƣờng minh và chính xác, tránh

hiện tƣợng phải suy luận dài dòng và phức tạp.

Thứ sáu là, phép lặp nhằm đem lại sự liên kết, tính logic và chính xác cho

VB nhƣng nếu lạm dụng quá sẽ đem lại cảm giác nhàm chán và đơn điệu cho ngƣời

đọc. hính vì thế, trong các VB nghệ thuật, báo chí có thể đan xen phép thế và phép

tỉnh lƣợc để tránh việc lặp lại từ quá nhiều. Tuy nhiên, trong các bài báo

KHXH&NV, phép thế và phép tỉnh lƣợc xuất hiện với tỷ lệ thấp (3%), vì VB khoa

học đòi hỏi tính chính xác và logic cao, nên các câu văn trong các bài báo

KHXH&NV luôn đầy đủ thành phần nòng cốt câu. Và do vậy, không xuất hiện cách

trình bày thông tin cần phải suy luận hàm ẩn. iều này đã tạo nên sự khác biệt rõ

ràng trong việc sử dụng PLK này giữa VB khoa học và các VB nghệ thuật. Ngoài

ra, yếu tố tỉnh lƣợc xuất hiện trong các bài báo KHXH&NV thƣờng là phần ề

trong câu, đặc điểm này có sự khác biệt so với các VB nghệ thuật. Vì trong các VB

nghệ thuật có sự xuất hiện đa dạng hơn của phép tỉnh lƣợc (tỉnh lƣợc chủ ngữ, vị

ngữ hay cả chủ ngữ - vị ngữ [91].

Thứ bẩy là, sự xuất hiện của các PLK đặc thù, các phƣơng tiện liên kết đặc

trƣng trong các bài báo KHXH&NV đã góp phần quan trọng làm hiển ngôn các thông

tin nghĩa (mối quan hệ ngữ nghĩa), tạo nên cấu trúc nghĩa hoàn chỉnh cho VB và tạo

ra những ấn tƣợng nhất định về tính chính xác, trừu tƣợng – khái quát cho loại VB

này. Bởi vì, thông qua việc sử dụng từ ngữ, sự phân bố của các PLK, ngƣời tiếp nhận

VB sẽ đƣợc gợi ý để nhận ra các đặc điểm khu biệt của một loại VB nhất định (ví dụ,

90

một bài thơ khác một bài quảng cáo trên truyền hình, một truyện kể trên báo khác

một bài báo khoa học) [37, tr.522]. Và sáu đặc điểm của các PLK trên xuất hiện trong

các bài báo KHXH&NV đã cho thấy đặc trƣng riêng của thể loại VB này có sự khác

biệt so với các VB nghệ thuật. Vì trong VB nghệ thuật có hiện tƣợng các phƣơng tiện

liên kết thể hiện sự tƣờng minh hoặc không tƣờng minh nghĩa (hàm ngôn) - phải cần

đến lý thuyết hành vi ngôn ngữ để tìm hiểu sắc thái ý nghĩa - nhƣng trong VB khoa

học nói chung, các bài báo KHXH&NV đƣợc khảo sát nói riêng, việc sử dụng các

PLK có mục đích chính để hiển ngôn nghĩa, tạo sự logic, chính xác và tăng ý nghĩa

mạch lạc cho thể loại VB này.

91

Tiểu kết chƣơng 2

Qua việc tìm hiểu các đặc điểm liên kết đặc trƣng trong các bài báo

KHXH&NV trên Tạp chí Khoa học – HQGHN, chúng tôi đã rút ra một số kết

luận sau:

Thứ nhất, thông qua 53005 lƣợt xuất hiện phép liên kết/ 92568 câu đƣợc

khảo sát và sự liên kết chặt chẽ, hiệu quả của chúng trong VB (đã phân tích từ Ngữ

liệu 1 đến Ngữ liệu 34) có thể khẳng định rằng, liên kết đóng vai trò quan trọng

trong các bài báo KHXH&NV, là phƣơng tiện hữu hiệu nhất làm tƣờng minh nghĩa

các thông tin khoa học, đem lại tính logic và mạch lạc cho các VB khoa học. Và

dựa trên thủ pháp cải biên so sánh, không sử dụng PLK trong một số câu, một số

đoạn đã cho thấy, nếu thiếu đi sự xuất hiện của PLK (có tính chất chỉ dẫn nội dung

ngữ nghĩa – là các tín hiệu ngôn ngữ đánh dấu mạch lạc) sẽ giảm nhiều tính chính

xác, chặt chẽ nội dung thông tin trong các bài báo KHXH&NV.

Thứ hai, kết quả thống kê đã chỉ ra, PLK từ vựng (64%) chiếm tần số cao

nhất (cụ thể là phép lặp 84% trong tổng số ba PLK từ vựng) đƣợc sử dụng đóng vai

trò là PLK cơ bản trong các bài báo KHXH&NV đã tạo lập các mối quan hệ ngữ

nghĩa và hƣớng đến đề tài - chủ đề chung của VB đó. Tiếp theo, phép nối đƣợc sử

dụng nhiều thứ hai (17%) trong các bài báo khoa học đã góp phần tƣờng minh nội

dung ngữ nghĩa và giúp cho VB thêm chặt chẽ, mạch lạc. Phép quy chiếu đƣợc sử

dụng nhiều thứ ba (16%), cụ thể là sự xuất hiện phép quy chiếu chỉ định trong các

bài báo KHXH&NV đã giúp cho nội dung diễn đạt đƣợc cô đọng, liền mạch và súc

tích hơn. Ngoài ra, tuy xuất hiện không phổ biến nhƣng các từ đồng nghĩa, gần

nghĩa, phối hợp từ ngữ (của PLK từ vựng) và phép thế, phép tỉnh lƣợc đã giúp cho

nội dung diễn đạt đƣợc phong phú, tránh hiện tƣợng lặp từ và thừa từ, đồng thời

đảm bảo sự liên kết chặt chẽ giữa các câu, các đoạn trong bài báo. Nhìn chung, phép

lặp, phép nối, phép quy chiếu chỉ định xuất hiện với tần số cao và đã đóng vai trò

quan trọng trong các bài báo KHXH&NV. ây chính là ba PLK đặc thù xuất hiện

trong thể loại VB này.

92

Thứ ba, ngữ liệu đƣợc khảo sát cho thấy có sự phối hợp hiệu quả, chặt chẽ của

các PLK và xuất hiện hai phƣơng tiện liên kết đặc thù (từ khóa, câu nối chuyển tiếp).

Hai đặc điểm này đã giúp cho nội dung thông tin trong các bài báo KHXH&NV thêm

sáng rõ, chính xác và chỉ ra giá trị về phong cách chức năng (phân biệt các bài báo

thuộc phong cách khoa học so với các VB thuộc phong cách khác).

Thứ tƣ, đặc điểm xuất hiện các PLK trong các bài báo KHXH&NV thuộc

lĩnh vực Khoa học Nhân văn (Lịch sử, Ngôn ngữ, Văn học, Triết học) và Khoa học

Xã hội (Pháp luật, Giáo dục, Kinh tế, Xã hội học) có sự tƣơng đồng và khác biệt.

ó là, tuy PLK từ vựng xuất hiện có tần số khác nhau nhƣng luôn chiếm tỷ lệ cao

nhất trong số bốn PLK; Phép thế và phép tỉnh lƣợc cùng xuất hiện ít nhất; Phép nối

xuất hiện nhiều hơn trong các bài báo khoa học sử dụng kết hợp phƣơng pháp định

lƣợng và định tính so với các bài báo chỉ sử dụng phƣơng pháp định tính là chủ yếu.

Thứ năm, các PLK xuất hiện trong các bài báo KHXH&NV có sự khác biệt

so với các loại VB khác. Phép lặp chiếm vị trí cơ bản và chủ yếu là hiện tƣợng lặp

danh từ (cụm danh từ) - các từ khóa (các thuật ngữ chuyên ngành) - đã tạo đƣợc sự

chính xác, nhất quán cho thông tin cần nhấn mạnh (đề tài - chủ đề của VB) và tô

đậm thêm tính trí tuệ (màu sắc phong cách cho ngôn ngữ khoa học). Sự phối hợp từ

ngữ (các từ ngữ thuộc trƣờng từ vựng - tri thức khoa học - gắn với ngữ cảnh cụ thể

của các bài báo khoa học có tính chuyên ngành) để tạo sự liên kết giữa các câu

trong các bài báo đã cho thấy tính chính xác và khoa học trong việc sử dụng từ ngữ

của loại VB này. Phép nối xuất hiện phổ biến để tạo sự logic, mạch lạc, tƣờng minh

ngữ nghĩa giữa các câu, các đoạn (các luận điểm, luận cứ trong lập luận) và sự xuất

hiện với tần số cao của các từ nối kết chỉ quan hệ nguyên nhân - hệ quả (bởi vì, do

đó, như vậy, cho nên), chỉ nghĩa bổ trợ - chứng minh (ví dụ, đặc biệt là, hơn nữa,

ngoài ra), chỉ nghĩa bổ trợ - khái quát (tóm lại, kết quả là, nhìn chung là) đã cho

thấy đặc trƣng khác biệt của phép nối so các VB nghệ thuật, báo chí, luật pháp.

Phép quy chiếu chỉ định đƣợc sử dụng nhiều hơn so với quy chiếu chỉ ngôi và quy

chiếu so sánh đã tạo sự liên kết và tăng tính chính xác, khách quan, mạch lạc cho

các bài báo KHXH&NV, đồng thời có sự khác biệt so với phép quy chiếu xuất hiện

trong các VB nghệ thuật. Sự xuất hiện hạn chế của phép thế và phép tỉnh lƣợc (hay

93

yếu tố tỉnh lƣợc) trong các bài báo khoa học cũng cho thấy đặc điểm khác biệt so

với sự xuất hiện phong phú của PLK này trong các VB nghệ thuật.

Nhìn chung, từ những dấu hiệu liên kết đặc trƣng xuất hiện trong các bài báo

KHXH&NV đƣợc khảo sát, có thể khẳng định vai trò của phép lặp, phép nối và

phép quy chiếu chỉ định, cùng hiệu quả của việc sử dụng các phƣơng tiện liên kết

đặc thù trên đã góp phần quan trọng đảm bảo tính chính xác, logic và mạch lạc cho

loại VB này.

94

ƢƠN 3. Ặ ỂM M CH L C

TRONG Á B BÁO KHOA HỌ V N N V N

Mạch lạc là một đặc điểm quan trọng của VB. Nhƣng đây là một khái niệm

phức tạp, gồm nhiều yếu tố trừu tƣợng và không dễ dàng xác định (tùy theo trình độ,

cảm nhận và kiến thức nền của ngƣời đọc). Bởi vậy, có VB với ngƣời này là mạch lạc

và với ngƣời khác là phi mạch lạc (đó là kết quả của cuộc đối thoại giữa VB và ngƣời

đọc [129, tr. 7]). Tuy nhiên, một VB mạch lạc khi ngƣời đọc có thể hiểu đƣợc đề tài –

chủ đề của VB đó một cách chính xác và dễ dàng. iều này đòi hỏi ngƣời tạo lập VB

phải xây dựng đƣợc các câu văn, đoạn văn, các yếu tố thành phần một cách mạch lạc

và giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ cùng hƣớng tới đề tài – chủ đề chung của VB,

để tạo thành một cấu trúc nghĩa hoàn chỉnh [133]. Và kết quả nghiên cứu 586 bài báo

KHXH&NV cho thấy, bẩy biểu hiện của mạch lạc đã xuất hiện phong phú trong ngữ

liệu đƣợc khảo sát. ó là, mạch lạc trong quan hệ giữa các từ ngữ trong một câu,

mạch lạc trong quan hệ đề tài - chủ đề giữa các câu, mạch lạc biểu hiện trong quan hệ

ngoại chiếu, mạch lạc trong quan hệ lập luận, mạch lạc trong trật tự hợp lý giữa các

câu và các đoạn, mạch lạc biểu hiện trong quan hệ thích hợp giữa các hành động

ngôn ngữ (câu hỏi nghiên cứu – kết quả nghiên cứu), mạch lạc biểu hiện trong quan

hệ giữa các phần nêu đặc trƣng ở câu có quan hệ nghĩa với nhau.

Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu của đề tài nên chúng tôi chỉ đề cập trong

chƣơng này ba dấu hiệu đặc trƣng mạch lạc xuất hiện rất phổ biến và nổi trội trong

các bài báo KHXH&NV là:

- Mạch lạc trong quan hệ đề tài – chủ đề.

- Mạch lạc trong quan hệ lập luận.

- Mạch lạc trong trật tự hợp lý giữa các câu, các đoạn và kết cấu toàn văn bản.

3.1. Mạch lạc trong quan hệ đề tài - chủ đề

ác nhà phân tích diễn ngôn đã đề cập đến hai mối quan hệ đề tài – chủ đề

trong VB là: duy trì và phát triển đề tài – chủ đề. Kết quả khảo sát đã cho thấy, giữa

các câu, các đoạn trong các bài báo KHXH&NV luôn đảm bảo sự liên kết mạch lạc

về đề tài - chủ đề.

95

Ngoài ra, kết quả khảo sát 586 bài báo KHXH&NV chỉ ra, cách duy trì đề tài

– chủ đề giữa các câu chiếm số lƣợng nhiều hơn cách phát triển đề tài – chủ đề.

Trong các bài báo KHXH&NV, sự mạch lạc trong quan hệ đề tài – chủ đề

giữa các câu và thống nhất trong triển khai đề tài – chủ đề toàn VB đã xuất hiện đậm

nét qua hình thức biểu hiện là các PLK. Hiện tƣợng duy trì đề tài - chủ đề bằng

phép lặp (xuất hiện chủ yếu là lặp danh từ - cụm danh từ) đã đƣợc phân tích tại mục

2.1.1.1 (các ngữ liệu 1, 2, 3), sử dụng phép quy chiếu chỉ định tại mục 2.1.3.1 (các

ngữ liệu 21, 22), phép quy chiếu chỉ ngôi tại mục 2.1.3.2 (các ngữ liệu 23, 24) và

bằng việc sử dụng các từ đồng nghĩa trong mục 2.1.1.2 (ngữ liệu 4, 5), phép thế và

tỉnh lƣợc trong ngữ liệu (27, 28) của mục 2.1.4. Và hiện tƣợng phát triển đề tài - chủ

đề trong các bài báo KHXH&NV đƣợc đề cập bằng sự liên kết giữa các câu trong

việc phối hợp từ ngữ (ngữ liệu 6 và 7 trong mục 2.1.1.3).

Nhƣ vậy, đề tài - chủ đề trong 100% các bài báo KHXH&NV đƣợc khảo sát

(thuộc các lĩnh vực: Pháp luật, Văn học, Lịch sử, Ngôn ngữ, Giáo dục, Triết học và các

lĩnh vực khác) đều đảm bảo tính thống nhất, chặt chẽ và logic. ặc điểm mạch lạc này đã

đƣợc thể hiện bằng hình thức duy trì đề tài - chủ đề của phép lặp, sử dụng từ đồng nghĩa,

phép quy chiếu, phép tỉnh lƣợc và xen kẽ là hình thức phát triển chủ đề (có sử dụng phép

quy chiếu, phép nối, phối hợp từ ngữ), đồng thời thêm dấu hiệu hình thức bằng cách

phân cấp thành các mục, các tiểu mục, các phần nhỏ (có số thứ tự và tiêu đề cụ thể) trong

nội dung bài báo. Ngoài ra, tuy tính mạch lạc trong quan hệ đề tài – chủ đề giữa các câu

và thống nhất trong triển khai đề tài – chủ đề xuất hiện phổ biến trong tất cả các loại VB,

nhƣng đặc biệt rõ nét và đóng vai trò quan trọng trong các VB khoa học để đảm bảo tính

chính xác, logic cho loại VB này.

Nhìn chung, các PLK đƣợc sử dụng chặt chẽ, hiệu quả xuất hiện giữa tất cả

các câu trong đoạn văn đã góp phần quan trọng làm sáng rõ nội dung thông báo,

tƣờng minh hóa đề tài - chủ đề chính của cả đoạn và hƣớng tới đề tài - chủ đề chung

của toàn bộ VB. Việc sử dụng hiệu quả các PLK để diễn đạt các quan hệ ngữ nghĩa

giữa các câu trong đoạn văn, giữa các đoạn văn đã giúp cho VB đảm bảo tính

chính xác và đơn nghĩa, tránh hiểu sai nghĩa của các thông tin khoa học. ây là

yêu cầu quan trọng cho các VB khoa học nói chung và bài báo KHXH&NV nói

riêng, vì nội dung chính của các bài báo là truyền đạt lƣợng thông tin cao mang

96

tính tƣ duy trí tuệ, là những lập luận suy lý để lý giải về các sự vật, hiện tƣợng

mang tính qui luật trong xã hội. Do đó, có thể thấy đặc điểm mạch lạc trong quan

hệ đề tài – chủ đề giữa các câu và thống nhất logic trong toàn bộ VB xuất hiện

đậm nét trong các bài báo KHXH&NV đƣợc khảo sát đã trở nên chính xác, sáng

rõ nhờ những chỉ báo hiệu quả của các PLK.

3.2. Mạch lạc trong quan hệ lập luận

Kết quả khảo sát 586 bài báo KHXH&NV đã cho thấy, quan hệ lập luận xuất

hiện trong 100% ngữ liệu đƣợc nghiên cứu và đóng vai trò quan trọng gia tăng tính

thuyết phục, chặt chẽ, mạch lạc cho các VB đó.

Ngoài ra, việc khảo sát các kiểu lập luận cụ thể trong các bài báo thuộc tám

ngành KHXH&NV (mỗi ngành 30 bài báo khoa học) đã thu đƣợc kết quả là:

Bảng 3.1: Bảng các kiểu lập luận trong 240 bài báo thuộc tám ngành

KHXH&NV

Kiểu lập luận ác bài báo Kiểu đơn giản Kiểu Mạng Tổng số thuộc phứctạp lập lập KL KL KL KL ngành luận luận trƣớc sau giữa hàm ẩn khoa học LC LC các L

3 48 0 0 1 3 55 Pháp luật

3 33 0 0 6 0 42 Giáo dục

3 36 0 0 15 3 57 Kinh tế

3 63 0 0 10 6 82 Xã hội học

0 48 0 0 03 0 51 Lịch sử

0 39 0 0 20 9 68 Ngôn ngữ học

0 33 0 0 0 0 33 Văn học

0 36 0 0 0 0 36 Triết học

Kết quả khảo sát trong Bảng 3.1 cho thấy, các bài báo sử dụng lập luận đơn

giản là chủ yếu, tiếp theo là lập luận phức tạp (tam đoạn luận), mạng lập luận xuất

hiện ít nhất. Và xuất hiện kiểu lập luận có kết luận đứng sau các luận cứ phổ biến

97

hơn kiểu lập luận có kết luận đứng trƣớc các luận cứ. Không xuất hiện kết luận giữa

các luận cứ và kết luận hàm ẩn trong ngữ liệu đƣợc khảo sát.

Cụ thể hơn, ngữ liệu đƣợc khảo sát đã chỉ ra, sự xuất hiện của các quan hệ

lập luận nhiều hơn trong các bài báo thuộc ngành Pháp luật, Kinh tế, Xã hội học,

Ngôn ngữ so với các bài báo thuộc ngành Lịch sử, Triết học, Văn học.

Tiếp theo, kết quả thống kê cho thấy, tuy số lƣợng quan hệ lập luận xuất hiện

trong các bài báo của tám ngành khoa học có sự khác biệt, nhƣng quan hệ lập luận

đã xuất hiện trong cả 586 bài báo KHXH&NV đƣợc khảo sát, đồng thời xuất hiện

nhiều lần trong các câu, các đoạn hoặc tổng thể bài báo để phục vụ đề tài - chủ đề

toàn VB. iều này đã góp phần làm gia tăng tính logic chặt chẽ và tính thuyết phục

cho các bài báo KHXH&NV. Nhƣ vậy, có thể nhận xét rằng, đặc điểm mạch lạc này

trong các bài báo KHXH&NV nói riêng và trong các VB khoa học nói chung đƣợc

thể hiện nổi bật qua sự xuất hiện của quan hệ lập luận.

Bên cạnh đó, kết quả khảo sát 586 bài báo KHXH&NV đã chỉ ra, các quan

hệ lập luận xuất hiện nhiều trong phần trình bày Kết quả nghiên cứu (73%), trong

phần Kết luận (25%) và chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong phần Dẫn nhập (2%). Lập luận

trong các bài báo KHXH&NV chủ yếu là những lập luận đơn giản (80%), lập luận

phức tạp (13%) và mạng lập luận (7%). Chiếm đa số (87%) là các lập luận có kết

luận đứng sau các luận cứ (trình bày theo kiểu qui nạp), chỉ có 3% quan hệ lập luận

xuất hiện kết luận đứng trƣớc luận cứ (trình bày theo kiểu diễn dịch), 10% theo kiểu

tổng phân hợp. Các kết luận đều đƣợc trình bày tƣờng minh, không có trƣờng hợp

nào là kết luận hàm ẩn.

ể chỉ rõ đặc trƣng của quan hệ lập luận trong việc tạo sự mạch lạc cho các

bài báo KHXH&NV, một số ngữ liệu tiêu biểu sẽ đƣợc phân tích về quan hệ lập

luận xuất hiện trong phần Kết quả nghiên cứu và Kết luận, phần Dẫn nhập, phần

Kết luận nhƣ sau.

3.2.1. Cấu trúc lập luận trong phần Kết quả nghiên cứu và phần Kết luận của bài

báo Khoa học Xã hội và Nhân văn

Cấu trúc lập luận đã xuất hiện phổ biến trong phần Kết quả nghiên cứu và

phần Kết luận của các bài báo KHXH&NV. Và điển hình nhƣ sau.

98

Ngữ liệu 35: Bài báo khoa học “Mấy ý kiến về việc chuẩn hóa thuật ngữ

thương mại tiếng Việt” [Tạp chí KHXH&NV, 2000, tập 16, số 1, tr.8-16].

Trƣớc khi tìm hiểu cấu trúc lập luận, cấu trúc nội dung của bài báo này theo

quy định của Bộ Khoa học và ông nghệ Việt Nam (đã đề cập trong phần (iv) mục

1.2.2.3) đƣợc xem xét gồm các yếu tố là:

* Yếu tố thứ nhất: Tiêu đề: “Mấy ý kiến về việc chuẩn hóa thuật ngữ thương

mại tiếng Việt”. ây là một cụm danh từ ngắn gọn và nêu đƣợc nội dung đề tài -

chủ đề chính của bài viết.

* Yếu tố thứ hai: Phần Dẫn nhập (mục 1): Nội dung gồm 4 ý:

- Nêu lý do và tác dụng của việc cần chuẩn hóa thuật ngữ thƣơng mại tiếng

Việt (vì còn hiện tƣợng một số thuật ngữ thƣơng mại đang sử dụng có vấn đề cần

đƣợc chuẩn hóa và việc chuẩn hóa sẽ góp phần vào công cụ xây dựng và chuẩn hóa

các thuật ngữ nói chung).

- ề cập đến lịch sử nghiên cứu về việc chuẩn hóa thuật ngữ thƣơng mại

(chƣa tiến hành).

- Mục đích và nội dung (phân tích, đánh giá thực trạng và nêu ý kiến đề xuất).

- Giới hạn phạm vi nghiên cứu (trong 3 quyển từ điển).

* Yếu tố thứ ba: Phƣơng pháp nghiên cứu (trong phần Dẫn nhập) là, thống

kê, phân tích và qui nạp.

* Yếu tố thứ tƣ: Phần Kết quả nghiên cứu (gồm các mục 2 (2.1, 2.2, 2.3), 3

và 4): Phần này nêu kết quả nghiên cứu và phân tích. ồng thời, phần kết quả

nghiên cứu bao gồm 5 nội dung nhỏ là:

- Hình thức, cấu tạo thuật ngữ

- Phƣơng pháp cấu tạo

- Nguồn gốc thuật ngữ

- Hiện tƣợng đồng nghĩa của thuật ngữ

- ộ dài quá lớn của thuật ngữ.

* Yếu tố thứ năm: Phần Kết luận (mục 5): Tóm tắt những kết quả nghiên

cứu và cần lƣu ý chuẩn hóa thuật ngữ thƣơng mại.

* Yếu tố thứ sáu: Tài liệu tham khảo

* Yếu tố thứ bẩy: Tóm tắt

99

Bẩy yếu tố thành phần trên đã xuất hiện trong bài báo khoa học “Mấy ý

kiến về việc chuẩn hóa thuật ngữ thương mại tiếng Việt” và ngoài yếu tố tiêu

đề, dẫn nhập, phƣơng pháp nghiên cứu, tài liệu tham khảo, tóm tắt, cấu trúc lập

luận lớn đã xuất hiện trong phần Kết quả nghiên cứu và phần Kết luận của bài

báo. Ngoài ra, nhiều quan hệ lập luận nhỏ đã xuất hiện trong phần Kết quả

nghiên cứu và phần Kết luận của bài báo này.

Phần Kết quả nghiên cứu gồm 5 quan hệ lập luận (5 luận cứ và 5 kết

luận), góp phần bổ sung ý nghĩa cho kết luận lớn của toàn bài báo. Chi tiết 5

quan hệ lập luận là:

+ Luận cứ p1: Hình thức cấu tạo thuật ngữ gồm từ và ngữ định danh, trong đó

2,3% là từ và 97,65% là ngữ định danh (quan hệ đẳng lập là 2,05%, quan hệ

chính phụ 97,95%).

- Kết luận r1: a số thuật ngữ thƣơng mại tiếng Việt (TV) là ngữ định danh có

cấu tạo là quan hệ chính phụ (gồm nhiều âm tiết và có quan hệ cấu trúc lỏng lẻo,

chủ yếu là tiếng do dịch thuật từ tiếng nƣớc ngoài), nên cần đƣợc xây dựng,

chuẩn hóa thành thuật ngữ tiếng Việt.

+ Luận cứ p2: Phƣơng pháp cấu tạo thuật ngữ thƣơng mại là sử dụng các từ đời

sống, tạo ngữ định danh, sao phỏng thuật ngữ nƣớc ngoài và phiên âm, chuyển

tự từ tiếng nƣớc ngoài.

- Kết luận r2: Vì vậy, khi chuyển hóa thuật ngữ thƣơng mại cần chú ý sử dụng

các từ đời sống hoặc dịch nghĩa chúng.

+ Luận cứ p3: Nguồn gốc thuật ngữ (từ thuần Việt 8,30%, từ Hán Việt 46,73%,

từ vay mƣợn 0,5% và từ hỗn hợp 44,47%).

- Kết luận r3: Nhƣ vậy, các thuật ngữ thƣơng mại đƣợc tạo ra bằng cách kết hợp

các yếu tố cùng một nguồn gốc chiếm tỷ lệ cao nhất (55,53%)… Do vậy, khi đặt

mới, chỉnh lý và chuẩn hóa thuật ngữ kinh tế thƣơng mại, chúng ta cần lƣu ý và

tập trung vào lớp từ ngữ Hán - Việt.

+ Luận cứ p4: Hiện tƣợng đồng nghĩa thuật ngữ xuất hiện phổ biến (3,37%).

- Kết luận r4: Cần thống nhất chuẩn hóa các thuật ngữ đồng nghĩa đó.

+ Luận cứ p5: ác thuật ngữ có độ dài khá lớn (phổ biến là 4 - 5 âm tiết).

- Kết luận r5: Vì vậy, để rút gọn các thuật ngữ quá dài, chúng ta cắt bỏ chỉ giữ

lại những yếu tố có sức khu biệt trong thành phần của thuật ngữ.

100

Và cấu trúc lập luận trong bài báo trên đƣợc sơ đồ hóa (các luận cứ đƣợc

p3 (Nguồn gốc các thuật ngữ)

p2 (Phiên âm, sao phỏng tiếng nước ngoài)

p4 (Đồng nghĩa thuật ngữ xuất hiện phổ biến)

p5 (Độ dài thuật ngữ lớn)

p1(Cấu tạo thuật ngữ là ngữ định danh – 97,65%)

trình bày in nghiêng, kết luận in nghiêng, đậm) nhƣ sau:

r3 (Cần lưu ý tới lớp từ ngữ Hán Việt)

r2 (Cần dịch nghĩa chúng)

r1 (Cần chú ý khi chuẩn hóa thuật ngữ thương mại)

r4 (Cần thống nhất chuẩn hóa các thuật ngữ đồng nghĩa đó)

r5 (Cần rút gọn các thuật ngữ quá dài)

R: Kết luận (cần chuẩn hóa thuật ngữ

thương mại tiếng Việt trong giai đoạn hiện nay)

Sơ đồ 3.2: Cấu trúc lập luận của bài báo

“Mấy ý kiến về việc chuẩn hóa thuật ngữ thƣơng mại tiếng Việt”

ác kết luận nhỏ r1, r2, r3, r4, r5 trong Sơ đồ 3.2 trên đã trở thành luận

cứ lớn (P) cho kết luận R cuối cùng của bài báo. ồng thời, những dẫn chứng

(bằng số liệu, bảng biểu) đã làm tăng tính chính xác cho các nhận xét, kết luận

bộ phận (r1, r2, r3, r4, r5) và góp phần làm rõ tính hiệu lực cho kết luận cuối

cùng (R). Nhƣ vậy, các quan hệ lập luận chặt chẽ trên đã góp phần nhất định

tạo sự logic, mạch lạc cho toàn bộ bài báo.

Ngoài ra, các đoạn văn r1, r3, r4 đã liên tiếp xuất hiện các quan hệ lập

luận nhỏ hơn. hẳng hạn, trong đoạn văn của phần kết luận r1 đã xuất hiện bốn

lập luận nhỏ là:

“Chính đặc điểm cấu tạo có nhiều âm tiết trong thành phần khiến cho

thuật ngữ thương mại tiếng Việt lỏng lẻo về cấu trúc và gần với đoản ngữ miêu

tả nhiều hơn. Điều này chính là hệ quả của việc sao phỏng thuật ngữ thương

mại từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt. Chính vì sao phỏng nên người ta chỉ

mới chú ý dịch thuật ngữ nước ngoài sang tiếng Việt chứ chưa có ý thức đặt ra

101

thuật ngữ của riêng tiếng Việt có hình thức ngắn gọn và chặt chẽ về cấu trúc

tương đương với thuật ngữ nước ngoài. Chẳng hạn: depression of trade - “tiêu

điều thương nghiệp”, description of the goods - “mô tả hàng hóa” (... ). Đặc

điểm thực tế này cần phải được chú ý tới khi chỉnh lý, xây dựng và chuẩn hóa

thuật ngữ thương mại”. [Tạp chí KHXH&NV, 2000, tập 16, số 1, tr.10]

Bốn lập luận nhỏ trên đã nối tiếp nhau theo quan hệ chuyển tiếp (kết

luận của lập luận thứ nhất thành luận cứ cho lập luận thứ 2 và kết luận thứ 2

thành luận cứ cho kết luận thứ 3, kết luận thứ 3 thành luận cứ cho kết luận thứ

4, là kết luận cuối cùng) và tạo thành mạng lập luận trong cả đoạn văn. Mạng

lập luận đó đƣợc thể hiện nhƣ sau (các lập luận đƣợc đánh số thứ tự và mũi tên

để chỉ sự chuyển tiếp từ kết luận sang luận cứ):

(khiến) thuật ngữ thương mại TV lỏng lẻo về cấu trúc và gần với đoản ngữ miêu tả

1. Đặc điểm cấu tạo nhiều âm tiết trong thành phần thuật ngữ thương mại TV

2. Điều này

là hệ quả của việc sao phỏng thuật ngữ thương mại từ tiếng nước ngoài sang TV

3. Vì sao phỏng (tiếng nước ngoài sang TV)

(nên) người ta chỉ chú ý dịch thuật ngữ nước ngoài sang TV

4. Đặc điểm thực tế này

cần được chú ý khi chỉnh lý, xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ thương mại TV

Sơ đồ 3.3: Mạng lập luận của phần kết luận về hình thức cấu tạo của thuật ngữ (r1)

102

ác kết luận nhỏ của mạng lập luận trong Sơ đồ 3.3 đã giải thích, chứng

minh và đồng thời làm rõ nghĩa hơn, tăng thêm sức mạnh cho kết luận cuối cùng.

“Đặc điểm thực tế này” tuy trực tiếp chỉ kết luận thứ 3 “dịch thuật ngữ nước ngoài

sang tiếng Việt (TV)”, nhƣng đã tạo sự liên kết với những câu trƣớc (những đặc

điểm đã đƣợc nêu từ các luận cứ 1, 2, 3 ở các câu trên) và kết nối chặt chẽ với kết

luận đƣợc đƣa ra cuối cùng (r1) là “cần được chú ý tới khi chỉnh lý, xây dựng và

chuẩn hóa thuật ngữ thương mại”.

Tiếp theo, quan hệ lập luận theo kiểu tổng phân hợp đã xuất hiện trong đoạn

Số thuật ngữ là từ thuần Việt chiếm tỷ lệ nhỏ

kết luận r3 nhƣ sau:

là những từ Hán Việt

2. Các từ Hán Việt

1. Đa số thuật ngữ thương mại tiếng Việt

có tính trừu tượng, khái quát và có tính trang trọng nên thích hợp đối với việc cấu tạo thuật ngữ thương mại

3. Điều này

(khiến) chúng được sử dụng với tỷ lệ áp đảo để xây dựng loại thuật ngữ này

khi đặt mới, chỉnh lý và chuẩn hóa các thuật ngữ thương mại TV

4. Do vậy, (cần lưu ý và tập trung vào lớp từ ngữ Hán Việt)

Sơ đồ 3.4: Mạng lập luận của phần kết luận về hình thức cấu tạo

của thuật ngữ (r3)

103

Mối quan hệ lập luận tổng phân hợp nhƣ trên đã làm tăng thêm sự chặt chẽ,

logic và hiệu lực lập luận cho kết luận cuối cùng, về việc cần lƣu ý và tập trung vào

lớp từ ngữ Hán - Việt này “khi đặt mới, chỉnh lý và chuẩn hóa thuật ngữ kinh tế

thương mại”.

Tiếp sau đó, quan hệ lập luận theo kiểu tổng phân hợp xuất hiện lặp lại trong

đoạn kết luận r4 nhƣ sau:

khá phổ biến

1. Hiện tượng đồng nghĩa thuật ngữ Tiếng Việt

2. (Hiện tượng phổ biến này) Qua thống kê

thuật ngữ đồng nghĩa chiếm tỷ lệ 3,37%

3. Điều này chứng tỏ

nhiều thuật ngữ thương mại chưa được dùng thống nhất giữa các tác giả, giữa các cuốn từ điển

4. Do vậy,

cần phải thống nhất hóa các thuật ngữ đồng nghĩa ấy

Sơ đồ 3.5: Mạng lập luận của phần kết luận về hình thức cấu tạo

của thuật ngữ (r4)

Từ nối “do vậy” đã gắn kết câu 4 với tất cả những điều đã đƣợc đề cập đến ở

câu 1, 2, 3 và trực tiếp hơn đối với luận cứ 3 “nhiều thuật ngữ thương mại chưa

được dùng thống nhất giữa các tác giả, giữa các cuốn từ điển”. Nhƣ vậy, mạng lập

luận trong đoạn văn này đã làm tăng thêm hiệu quả, tính logic và mạch lạc cho cả

104

đoạn văn và kết luận r4 rút ra (cần thống nhất chuẩn hóa các thuật ngữ đồng nghĩa

tiếng Việt).

p1: Thuật ngữ thương mại tiếng Việt chủ yếu được tạo ra bằng cách thuật ngữ hóa các từ đời sống và sao phỏng từ tiếng nước ngoài

Cuối cùng, đoạn kết luận (R) của bài báo gồm hai lập luận nhỏ là:

r1: Do vậy, đặc điểm cần chỉnh lý là số lượng âm tiết nhiều và có yếu tố thừa

R: Cần chuẩn hóa thuật ngữ thương mại tiếng Việt và mỗi vấn đề có cách giải quyết riêng như bài viết đã chỉ ra

p2: (Ngoài ra) Hiện tượng đồng nghĩa thuật ngữ phổ biến

r2: Cần lưu ý khi chuẩn hóa thuật ngữ thương mại

Sơ đồ 3.6: Quan hệ lập luận trong phần kết luận R

Trong phần luận cứ p1, có sử dụng từ nối chỉ nguyên nhân - kết quả, “do

vậy” để nối luận cứ p1 với kết luận r1 về việc cần chỉnh lý hiện tƣợng thuật ngữ

thƣơng mại có số lƣợng âm tiết nhiều và có yếu tố dƣ thừa (hay rƣờm). Từ nối

“ngoài ra” tiếp tục đƣợc sử dụng để bổ sung thêm nét nghĩa mới, thêm luận cứ mới

(p2) - sự xuất hiện phổ biến của hiện tƣợng đồng nghĩa trong các thuật ngữ thƣơng

mại. Do đó, hai luận cứ p1 và p2 đã làm tăng tính thuyết phục cho kết luận, cần lƣu

ý trong công tác chuẩn hóa thuật ngữ thƣơng mại tiếng Việt hiện nay.

Tóm lại, những dẫn chứng (số liệu, bảng biểu) đã làm tăng tính chính xác

cho các nhận xét, kết luận bộ phận (r1, r2, r3, r4, r5) và góp phần làm rõ tính

hiệu lực cho kết luận cuối cùng (R). Năm kết luận bộ phận này trở thành luận cứ

cho kết luận cuối cùng của bài báo và đã trở thành cấu trúc lập luận cho phần

Kết quả nghiên cứu và Kết luận của bài báo “Mấy ý kiến về việc chuẩn hóa thuật

ngữ thương mại tiếng Việt”.

Nhìn chung, cấu trúc lập luận đã xuất hiện trong phần Kết quả nghiên cứu và

phần Kết luận của các bài báo KHXH&NV trong 70% ngữ liệu đƣợc khảo sát và

góp phần quan trọng gia tăng tính thuyết phục, mạch lạc cho thể loại VB này.

105

3.2.2. Quan hệ lập luận trong phần Dẫn nhập, phần Kết luận của các bài báo

Khoa học Xã hội và Nhân văn

Phần Dẫn nhập ( ặt vấn đề) trong các bài báo KHXH&NV thƣờng nêu lý

do, mục đích hoặc tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu. Sau đó trình bày lịch sử

vấn đề và phƣơng pháp nghiên cứu. Phần này đóng vai trò quan trọng để thuyết

phục ngƣời đọc quan tâm tới nội dung, kết quả nghiên cứu sắp đƣợc xuất hiện trong

phần sau. Ngoài ra, tuy các quan hệ lập luận xuất hiện trong phần Dẫn nhập các bài

báo KHXH&NV chiếm tỷ lệ không nhiều (2%), nhƣng có hiệu quả nhất định tạo sự

rõ ràng, mạch lạc cho nội dung ngữ nghĩa của VB.

Ngữ liệu 36: Phần Dẫn nhập của bài báo “Bước đầu tìm hiểu về hiệu quả báo

chí” [Tạp chí KHXH&NV, tập 25, số 1s, 2009, tr.40].

“Mục đích cao nhất của báo chí là cung cấp những thông tin mới nhất về các

hoạt động của đời sống xã hội, kinh tế, văn hóa, khoa học và công nghệ… trong nước

cũng như quốc tế, có tác dụng thuyết phục đối với quần chúng trên nhiều mặt. Nếu

nhìn tổng quát thì sau một quá trình nhất định, hiệu quả hoạt động báo chí thế nào

cũng sẽ được biểu hiện cụ thể, qua sự tác động vào nhận thức và ứng xử của con

người, vào tâm lý xã hội đưa đến hành động thực tiễn có tác dụng cổ vũ phong trào

quần chúng. Trên cơ sở đó, hoạt động của quần chúng ở các lĩnh vực kinh tế, chính

trị, xã hội có thể được chuyển đổi nhờ sự nhận thức cái mới và nhờ đó đạt được hiệu

quả lao động sản xuất cao hơn. Như vậy, có thể nói, để đạt được hiệu quả, báo chí

phải vận dụng các quy luật, nguyên tắc, phương thức hoạt động, đảm bảo cho báo

chí thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình và đạt mục đích đã định.”

Quan hệ lập luận trong Ngữ liệu 36 trên xuất hiện nhƣ sau:

STT Tiền đề Kết luận

Luận Mục đích cao nhất của báo chí là cung cấp những Nhƣ vậy, để đạt

cứ 1 thông tin mới nhất về các hoạt động của đời sống xã đƣợc hiệu quả, báo

hội, kinh tế, văn hóa, khoa học và công nghệ… có chí phải vận dụng

tác dụng thuyết phục đối với quần chúng trên nhiều các quy luật,

mặt nguyên tắc,

106

STT Tiền đề Kết luận

Luận Hiệu quả hoạt động báo chí sẽ đƣợc biểu hiện cụ phƣơng thức hoạt

cứ 2 thể… bằng hành động thực tiễn có tác dụng cổ vũ động, đảm bảo cho

phong trào quần chúng báo chí thực hiện

tốt chức năng, Luận Hoạt động của quần chúng ở các lĩnh vực kinh tế,

nhiệm vụ của mình cứ 3 chính trị, xã hội có thể đƣợc chuyển đổi nhờ sự

và đạt mục đích đã nhận thức cái mới và nhờ đó đạt đƣợc hiệu quả lao

định động sản xuất cao hơn

Ba luận cứ trên đều đồng hƣớng dẫn đến kết luận và góp phần giúp cho kết

luận trở nên rõ ràng, chính xác hơn.

Ngữ liệu 37: Phần Dẫn nhập của bài báo “Phát triển khả năng khái quát hóa

cho trẻ mẫu giáo trong hoạt động làm quen với toán” [Tạp chí KHXH&NV, tập 26,

số 2, 2010, tr.85].

“Phát triển năng lực tư duy cho trẻ mẫu giáo là một trong những nhiệm vụ

trọng tâm của giáo dục mầm non. Khái quát hóa là một năng lực đặc thù của tư duy

con người, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển trí tuệ, trong quá trình học

tập, nghiên cứu của mỗi người sau này. Do đó, việc hình thành và phát triển năng

lực khái quát hóa cho trẻ là việc cần thực hiện khi tổ chức các hoạt động nhận biết

cho trẻ ở trường mầm non”.

oạn văn bắt đầu bài báo trên đã sử dụng lập luận phức tạp (tam đoạn luận)

để thuyết phục ngƣời đọc đồng ý với luận điểm “cần phát triển khả năng khái quát

hóa cho trẻ” nhƣ sau:

ại tiền đề Phát triển năng lực tư duy cho trẻ mẫu giáo là một trong những

nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non

Tiểu tiền đề Khái quát hóa là một năng lực đặc thù của tư duy con người

Kết luận Việc hình thành và phát triển năng lực khái quát hóa cho trẻ là việc

cần thực hiện khi tổ chức các hoạt động nhận biết cho trẻ ở trường

mầm non

107

Trong tam đoạn luận trên, mối quan hệ giữa hai luận cứ là đại tiền đề (điểm

chung, khái quát) và tiểu tiền đề (đặc điểm riêng, cụ thể) với kết luận rất chặt chẽ

logic. iều này đã đem lại giá trị mạch lạc cho đoạn văn, VB. Ngoài ra, ngữ liệu

đƣợc thu thập cho thấy, kiểu lập luận phức tạp này xuất hiện phổ biến thứ hai (sau

lập luận đơn giản) trong các bài báo KHXH&NV.

Tiếp theo, các quan hệ lập luận xuất hiện trong phần Kết luận của các bài báo

KHXH&NV đã góp phần tăng tính logic, thuyết phục cho các thông tin khoa học.

Ngoài ra, đây là phần đóng vai trò quan trọng trong tổng thể bài viết bởi tính cô

đọng, nhấn mạnh tới những phát hiện độc đáo của kết quả nghiên cứu, do đó các

quan hệ lập luận đƣợc sử dụng đã giúp cho VB chính xác và mạch lạc hơn.

Ngữ liệu 38: Quan hệ lập luận trong phần Kết luận của bài báo “Rèn luyện kĩ

năng dạy học thí nghiệm cho sinh viên sư phạm thuộc khối ngành khoa học tự

nhiên” [Tạp chí KHXH&NV, tập 25, số 1s, 2009, tr.40].

“Dạy học thí nghiệm đóng vai trò quan trọng trong chương trình đào tạo

cử nhân sư phạm các ngành khoa học tự nhiên (1). Tuy nhiên, việc rèn luyện và

phát triển kĩ năng sử dụng/ dạy học thí nghiệm trong các trường đào tạo giáo viên

hiện nay nhiều hạn chế (về nhận thức và điều kiện cơ sở vật chất) (2). Hệ thống lí

luận về phương pháp dạy học thí nghiệm còn được hiểu một cách chưa đầy đủ,

nặng về dạy cho sinh viên cách làm thí nghiệm hơn là cách dạy học thí nghiệm,

nặng về cách trình bày, biểu diễn thí nghiệm hơn là tìm tòi khám phá kiến thức

thông qua thí nghiệm (3).

Để nâng cao chất lượng dạy học thí nghiệm cho sinh viên sư phạm các

ngành khoa học tự nhiên, cần xây dựng, cụ thể hóa hệ thống các kĩ năng dạy học thí

nghiệm, áp dụng đồng bộ các giải pháp đổi mới mục tiêu, nội dung, hình thức tổ

chức, phương pháp triển khai và đánh giá kết quả học tập của sinh viên (4). Trong

đó nhấn mạnh việc áp dụng mô hình phòng thí nghiệm “khám phá sáng tạo’(5)”.

Phần Kết luận trên của bài báo gồm 5 câu và xuất hiện các quan hệ lập luận

giản đơn gồm các luận cứ (tiền đề) để dẫn tới kết luận là:

108

STT Tiền đề Kết luận

Luận cứ 1 Dạy học thí nghiệm đóng vai trò Cần xây dựng, cụ thể hóa các kỹ quan trọng trong chƣơng trình đào năng dạy học thí nghiệm, áp dụng tạo cử nhân sƣ phạm các ngành khoa đồng bộ các giải pháp đổi mới học tự nhiên mục tiêu, nội dung, hình thức tổ

Luận cứ 2 Việc rèn luyện và phát triển kĩ năng chức, phƣơng pháp triển khai và

sử dụng/ dạy học thí nghiệm trong đánh giá kết quả học tập của sinh

các trƣờng đào tạo giáo viên hiện nay viên - trong đó nhấn mạnh áp

nhiều hạn chế (về nhận thức và điều dụng mô hình phòng thí nghiệm

kiện cơ sở vật chất) “khám phá sáng tạo” (để nâng

cao chất lƣợng dạy học thí Luận cứ 3 Hệ thống lí luận về phƣơng pháp dạy nghiệm cho sinh viên sƣ phạm học thí nghiệm còn đƣợc hiểu một các ngành khoa học tự nhiên) cách chƣa đầy đủ

Lập luận đơn giản trên đƣợc tạo thành bởi mối quan hệ của các luận cứ 1

(câu 1), luận cứ 2 (câu 2), luận cứ 3 (câu 3) hƣớng tới kết luận (câu 4 và câu 5).

Trong đó, luận cứ 1 đồng hƣớng với kết luận. Và có thể trình bày luận cứ 1 hƣớng

tới kết luận (luận cứ in nghiêng, kết luận in nghiêng đậm) là:

(Vì) dạy học thí nghiệm đóng vai trò quan trọng trong chương trình đào tạo

cử nhân sư phạm các ngành khoa học tự nhiên (nên) cần xây dựng, cụ thể hóa hệ

thống các kĩ năng dạy học thí nghiệm, áp dụng đồng bộ các giải pháp đổi mới

mục tiêu, nội dung, hình thức tổ chức, phương pháp triển khai và đánh giá kết

quả học tập của sinh viên .

Nhƣng, luận cứ 1 có quan hệ nghịch hƣớng với luận cứ 2 và luận cứ 3. Và

luận cứ 2, luận cứ 3 có “lực lập luận” vì xuất hiện kết tử lập luận “tuy nhiên”. ó

thể mô hình hóa lập luận này bằng hình vuông lập luận nhƣ sau:

109

Dạy học thí nghiệm đóng vai trò TUY NHIÊN Việc rèn luyện và phát triển kĩ

quan trọng trong chương trình đào năng sử dụng/ dạy học thí

tạo cử nhân sư phạm các ngành nghiệm trong các trường đào

khoa học tự nhiên tạo giáo viên hiện nay nhiều

hạn chế

(Và) (Nên việc rèn luyện kĩ năng dạy

Hệ thống lí luận về phương học thí nghiệm cho sinh viên sư

pháp dạy học thí nghiệm còn phạm thuộc khối ngành tự nhiên

được hiểu một cách chưa được áp dụng hiệu quả trong các

đầy đủ trường sư phạm)

Cần xây dựng, cụ thể hóa các

kỹ năng dạy học thí nghiệm,

áp dụng đồng bộ các giải pháp

đổi mới mục tiêu, nội dung,

hình thức tổ chức, phương

pháp triển khai và đánh giá

kết quả học tập của sinh viên

Quan hệ lập luận trong phần kết luận trên đã cho thấy tính mạch lạc, chặt chẽ

của việc đƣa ra nhiều các luận cứ thuyết phục để chứng minh cho luận đề và làm

tăng tính chính xác của luận đề. ách chứng minh bằng lập luận này đã xuất hiện

trong phần kết luận trên không chỉ của riêng Ngữ liệu 38 mà còn xuất hiện phổ biến

trong các bài báo KHXH&NV đƣợc khảo sát.

Nhìn chung, ngữ liệu đƣợc thu thập cho thấy, quan hệ lập luận xuất hiện

trong các bài báo KHXH&NV rất đa dạng và phong phú. Tất cả kiểu lập luận đều

xuất hiện trong phần Kết quả nghiên cứu và phần Kết luận. Mỗi kiểu loại lập luận

xuất hiện trong bài báo đều góp phần gia tăng tính thuyết phục cho các luận điểm

đƣợc đề cập đến theo các cách khác nhau. ặc biệt là, sự xuất hiện phổ biến của lập

luận đơn giản và tam đoạn luận đã giúp cho nội dung thông tin trong các bài báo

khoa học rất logic, chặt chẽ và mạch lạc.

110

Nhƣ vậy, so với các VB nghệ thuật hay VB báo chí, quan hệ lập luận xuất

hiện dày đặc trong các bài báo KHXH&NV đã giúp cho các luận đề, luận điểm

đƣợc tăng tính thuyết phục và tác động tới tƣ duy lý trí của ngƣời tiếp nhận VB.

Bởi vì, khác với các VB nghệ thuật hay báo chí, tác giả có thể thay đổi hình thức

của hành vi ngôn ngữ (đối thoại, miêu tả hay bình luận thêm ý kiến cá nhân), có

thể dẫn dắt các sự kiện và thêm lời bình luận để kết nối các sự việc và định

hƣớng giúp ngƣời đọc hiểu rõ về nội dung các thông tin trong bài viết, nhƣng

trong các bài báo KHXH&NV không có sự xuất hiện lời dẫn mang tính chủ quan

của tác giả nghiên cứu. Do đó, để đảm bảo tính khách quan, bình đẳng và tạo sự

tin cậy, chính xác cho các thông tin khoa học, ngƣời tạo lập VB đã sử dụng

những con số (bảng biểu, sơ đồ), cách lập luận chặt chẽ, trình tự diễn đạt logic

của các ý tƣởng khoa học khi tổ chức các bài báo khoa học nói riêng và các VB

khoa học nói chung.

hính vì thế, các liên từ và các từ ngữ biểu hiện các phƣơng diện nhận thức

đã đƣợc chú ý đặc biệt khi sử dụng trong các bài báo KHXH&NV, vì đây là công cụ

của các hình thức phán đoán và suy lý khoa học. Và các quan hệ lập luận, mạng lập

luận đƣợc sử dụng hiệu quả để lý giải về các sự vật, hiện tƣợng mang tính qui luật

trong xã hội và cuộc sống, đồng thời đã giúp cho các bài báo KHXH&NV truyền

đạt đƣợc lƣợng thông tin cao, đảm bảo đƣợc tính tƣ duy trí tuệ của VB khoa học.

Bên cạnh đó, các quan hệ lập luận cũng góp phần quan trọng đảm bảo thông tin

truyền tải đƣợc chặt chẽ, mạch lạc và tăng tính thuyết phục cho VB.

Ngoài ra, các quan hệ lập luận xuất hiện hiệu quả trong tất cả các bài báo

KHXH&NV đã cho thấy hai đặc điểm ngữ cảnh tình huống xuất hiện. Thứ nhất, đây

chính là dấu vết của yếu tố thức (mode) theo quan niệm về ngữ vực (register) của tác

giả Halliday - vai trò của ngôn ngữ trong tình huống sử dụng, chức năng của thể loại

VB (bài báo khoa học) đƣợc thực hiện theo phƣơng thức viết đã chi phối tới cách tạo

sự mạch lạc phổ biến và đặc thù này của các bài báo KHXH&NV nói riêng và các

VB thuộc P KH nói chung. Bởi vì, tác giả bài báo nghiên cứu đã dự báo trƣớc hồi

đáp của ngƣời nhận và sử dụng các chiến lƣợc để giao tiếp đạt hiệu quả. Thứ hai, tố

111

không khí (tenor) chỉ mối quan hệ xã hội giữa ngƣời tạo lập VB và ngƣời tiếp nhận

VB, có thể nhận thấy dấu vết của sự bình đẳng, khách quan trong các bài báo

KHXH&NV thông qua cách sử dụng các PLK (trong mục 2.1), của mạch lạc trong

quan hệ đề tài – chủ đề giữa các câu (mục 3.1) và sự xuất hiện đậm nét của các quan

hệ lập luận (trong mục 3.2) đã phân tích ở trên.

3.3. Mạch lạc trong trật tự hợp lý giữa các câu, các đoạn và cấu trúc toàn văn bản

Kết quả khảo sát cho thấy, các bài báo KHXH&NV thuộc các lĩnh vực khác

nhau: Văn học, Ngôn ngữ, Lịch sử, Giáo dục, Triết học, Luật học, Quốc tế học…

bên cạnh những đặc trƣng chung, đều có những cách tƣ duy khoa học, những

phƣơng tiện ngôn ngữ chuyên ngành cụ thể riêng, tạo nên sự phong phú về bức

tranh khoa học của lĩnh vực đó. Nhƣng dù thuộc lĩnh vực khoa học nào, đề tài - chủ

đề khác nhau, phƣơng pháp nghiên cứu khác nhau, song tất cả các bài báo khoa học

đều có sự xuất hiện các mối quan hệ logic, các quan hệ nghĩa của tƣ duy khoa học

và đã tạo đƣợc sự mạch lạc, tính chính xác cao cho các bài báo đó.

Và các quan hệ logic trong VB là việc tổ chức nghĩa dựa trên mạng lƣới các

mối quan hệ logic giữa các yếu tố nội dung [12, tr.81]. Tức là, nghĩa đƣợc thể hiện

bằng hình thức, bằng sự mạch lạc và các mối quan hệ logic trong việc triển khai các

nội dung của VB.

Trong phần tiếp theo, việc phân tích một số ngữ liệu đã thể hiện đặc điểm

mạch lạc qua trật tự hợp lý giữa các câu, các đoạn và cấu trúc toàn VB xuất hiện

trong các bài báo KHXH&NV nhƣ sau.

3.3.1. Mạch lạc trong trật tự hợp lý giữa các câu, các đoạn

Trật tự hợp lý giữa các câu, các đoạn trong VB là trật tự theo quan hệ nghĩa

logic nhất định. Quan hệ ngữ nghĩa bậc một gồm: quan hệ thứ tự, quan hệ bao hàm,

quan hệ tƣơng tự, quan hệ đồng nhất, quan hệ mâu thuẫn.. Quan hệ ngữ nghĩa bậc

hai gồm: Quan hệ thứ tự (theo trình tự thời gian, không gian, nhân quả, trình tự diễn

đạt), quan hệ bao hàm (giống loài, chung riêng, sở hữu, đặc trƣng), quan hệ tƣơng

tự (đồng loại, đẳng lập, tuyển chọn), quan hệ mâu thuẫn (tƣơng phản, đối lập)…

(dẫn theo [81, tr. 266]).

112

Kết quả khảo sát 586 bài báo KHXH&NV đã cho thấy, quan hệ thứ tự đã

xuất hiện phổ biến giữa các câu, các đoạn để thể hiện sự mạch lạc là: quan hệ

nguyên nhân - hệ quả, quan hệ thời gian, quan hệ bổ trợ, quan hệ trình tự diễn đạt.

ặc biệt, xuất hiện nhiều trong ngữ liệu đƣợc khảo sát là sự logic theo trình tự của

các thông báo khoa học (trình tự diễn đạt). iều này đƣợc thể hiện trong các bài báo

bằng sự logic của trình bày (sự tách bạch rành mạch của các phần qua các ký hiệu

chữ số đi kèm, ví dụ: I, II, III, 1, 2, 3…) và sự logic của tƣ duy (trình tự các ý

tƣởng, thông tin khoa học phù hợp với các quy luật so sánh, diễn dịch, quy nạp).

Bên cạnh đó, trật tự giữa các câu, các đoạn trong VB đƣợc khảo sát đã đảm bảo

đúng trật tự logic khách quan (quy luật của sự việc, hiện tƣợng) và logic nhận thức

(chủ quan) của con ngƣời.

Ngoài ra, dấu vết mạch lạc trong các bài báo KHXH&NV chỉ rất ít trƣờng

hợp không đƣợc đánh dấu bằng các phƣơng tiện liên kết (nội dung ngữ nghĩa xuất

hiện bằng trật tự câu, trật tự đoạn văn hợp lý trong VB), chiếm đa số (97%) đã

đƣợc thể hiện bằng các quan hệ logic có đánh dấu (bằng các phƣơng tiện liên kết).

Cụ thể là, quan hệ nghĩa logic chỉ mối quan hệ đề tài – chủ đề giữa các câu, các

đoạn văn bằng sự xuất hiện của phép lặp các danh từ (cụm danh từ), từ khóa (mục

2.1.1.1 và mục 2.2.2.1), sử dụng từ đồng nghĩa, gần nghĩa (mục 2.1.1.2), sự phối

hợp các từ ngữ khoa học chuyên ngành (mục 2.1.1.3). Tiếp theo là sự xuất hiện phổ

biến của các quan hệ nghĩa logic giữa các câu, các đoạn văn bằng quan hệ nguyên

nhân - hệ quả trong ngữ liệu đƣợc thu thập (mục 2.1.2.1), quan hệ bổ trợ (đặc biệt là

bổ trợ - chứng minh và bổ trợ - khái quát trong mục 2.1.2.2), quan hệ thời gian -

không gian (mục 2.1.2.3), quan hệ nghịch đối (mục 2.1.2.4) và sử dụng câu nối hợp

nghĩa (chuyển tiếp) để kết nối ngữ nghĩa giữa các đoạn văn. Quan hệ nghĩa quy

chiếu (hồi chiếu và khứ chiếu) giữa các yếu tố trong các câu, các đoạn văn bằng

phép quy chiếu chỉ định (mục 2.1.3.1).

Nhìn chung, những mối quan hệ nghĩa logic này đã đảm bảo sự logic trình

bày và logic tƣ duy, đồng thời là minh chứng rõ ràng cho tính mạch lạc xuất hiện

113

bởi trật tự hợp lý giữa các câu, các đoạn trong VB. Và có thể nhận thấy, đặc điểm

mạch lạc trên xuất hiện rất phổ biến trong các bài báo KHXH&NV đƣợc khảo sát.

Ngữ liệu 39: “Ngoài đạo Từ Bi, người Việt còn chịu ảnh hưởng sâu sắc của

một đạo lý nữa trong giáo lý nhà Phật là đạo lý Tứ Ân, gồm ân cha mẹ, ân sư

trưởng, ân quốc gia và ân chúng sinh. Trong đạo lý Tứ Ân, ân cha mẹ được coi là

quan trọng nhất và có ảnh hưởng rất sâu đậm trong tình cảm và đạo lý của người

Việt Nam, điều này phù hợp với nếp sống, đạo lý truyền thống của người Việt Nam.

Nhìn chung, trong lịch sử, khác với Nho giáo hay Thiên Chúa Giáo, Phật

giáo vào nước ta một cách hòa bình, không đi kèm sự xâm lăng của quân xâm lược

nước ngoài.” [Tạp chí KHXH&NV, tập 25, số 4, 2009, tr.308].

Giữa câu thứ nhất và câu thứ hai trong ngữ liệu trên có sự nối tiếp mạch lạc

bằng việc nhắc lại cụm từ “đạo lý Tứ Ân”, “ân cha mẹ”. iều này cho thấy sự mạch

lạc trong triển khai đề tài - chủ đề của đoạn văn, VB. Ngoài ra, từ nối kết “nhìn

chung” đƣợc sử dụng đầu đoạn văn thứ hai đã có tác dụng nối đoạn văn này với các

đoạn văn trƣớc đó (cụ thể là các sắc thái khác nhau trong hòa bình, từ bi bác ái của

ạo Phật và gần gũi với đạo lý truyền thống của ngƣời Việt) bằng quan hệ nối bổ

trợ - tổng hợp (đánh giá khái quát).

Ngữ liệu 40: “Đây là một thành tựu văn hóa lớn của thời kỳ phát triển bước

đầu của một nhà nước phong kiến dân tộc đang ở giai đoạn đi lên, trong những thế

kỷ đầu tiên sau khi nước nhà giành độc lập: thành tựu của giai đoạn từ đầu thế kỷ X

đến đầu thế kỷ XIV.

Tóm lại, thời Trần là một triều đại thể hiện sự nghiệp giáo dục và thi cử hết

sức nghiêm minh…” [Tạp chí KHXH&NV, tập 22, số 3, 2006, tr.69].

Quán từ “tóm lại” đã đóng vai trò liên kết đoạn văn cuối của bài báo nghiên

cứu này với những đoạn văn đứng trƣớc đó bằng quan hệ nghĩa bổ trợ - khái quát.

oạn cuối này đã thực hiện chức năng kết luận lại tất cả các nội dung nghiên cứu

của các tiểu mục và các đoạn văn về kết quả nghiên cứu xuất hiện trƣớc nó. Nếu

không xuất hiện từ đóng vai trò nối kết “tóm lại” này thì sẽ không tạo sự liên kết về

mặt hình thức giữa hai đoạn văn và có sự đứt mạch ý trong nội dung ngữ nghĩa giữa

114

đoạn trƣớc đó và đoạn này. iều này sẽ khiến cho nội dung nghĩa trong đoạn văn

trƣớc trở nên khó hiểu và rời rạc ý so với đoạn kết luận của VB này.

Nhƣ thế, từ ngữ liệu 39, 40 và tất cả ngữ liệu đƣợc khảo sát cho thấy, quan

hệ nghĩa bổ trợ - khái quát đã xuất hiện rất phổ biến trong phần cuối các tiểu kết, kết

luận của các bài báo KHXH&NV. ây là đặc điểm mạch lạc đặc biệt về nội dung

ngữ nghĩa đã xuất hiện giữa các câu, các đoạn của thể loại VB này cho thấy có sự

khác biệt so với đặc điểm mạch lạc xuất hiện trong các VB nghệ thuật.

Ngoài ra, ngữ liệu đƣợc khảo sát đã chỉ ra, mạng lƣới các mối quan hệ logic

xuất hiện giữa các câu, các đoạn trong các bài báo KHXH&NV là sự logic về

khách quan (thời gian, không gian, nội dung sự việc), logic của tƣ duy (quan hệ

nhân - quả, khái quát, giải thích, bổ trợ, chứng minh, trình tự diễn đạt các ý tƣởng

khoa học…). ặc biệt là, quan hệ nguyên nhân - hệ quả xuất hiện phổ biến nhất

trong các bài báo KHXH&NV để tạo sự kết nối logic, mạch lạc giữa các câu, các

đoạn trong VB. ồng thời, quan hệ logic này xuất hiện phổ biến theo trình tự thời

gian là nguyên nhân đƣợc trình bày trƣớc và kết quả đƣợc trình bày sau. Ngoài ra,

các quan hệ logic đƣợc đánh dấu bằng các phƣơng tiện nối kết (xuất hiện kèm

quan hệ nghĩa logic này là các quan hệ từ: vì, do, tại vì, bởi vì … các từ nối kết: vì

vậy, như vậy, do vậy, cho nên, do đó …). Và không xuất hiện phổ biến các quan hệ

nghĩa logic không đƣợc đánh dấu bằng các phƣơng tiện liên kết (phải suy luận dựa

trên ngữ cảnh, kiến thức nền, phông văn hóa) nhƣ các VB nghệ thuật. ây chính

là một đặc điểm khác biệt tạo sự mạch lạc của VB khoa học so với các VB nghệ

thuật. Do vậy, cần lƣu ý việc sử dụng các phƣơng tiện liên kết để thể hiện chính

xác, mạch lạc các mối quan hệ nghĩa logic cho các bài báo KHXH&NV nói riêng,

các VB khoa học nói chung (tránh đƣợc những suy luận khác nhau và hiểu sai các

thông tin khoa học).

Nhƣ vậy, nội dung ngữ nghĩa trong các câu, các đoạn có sự kết nối chặt chẽ,

trôi chảy trong việc triển khai đề tài - chủ đề của bài báo khoa học đó (bằng các

quan hệ nghĩa logic), đồng thời tuân theo một trình tự hợp lý thống nhất của nội

dung thông tin khoa học (vấn đề nghiên cứu đƣợc triển khai qua trình tự các lớp ý

115

nghĩa, các lớp thông tin). Do vậy, giá trị mạch lạc đã đƣợc thể hiện rất rõ trong các

bài báo KHXH&NV đƣợc khảo sát.

Và sự thống nhất trôi chảy của đề tài - chủ đề nghiên cứu đƣợc thể hiện mạch

lạc rõ rệt và phổ biến qua cấu trúc tổng thể một bài báo khoa học IMRD - trình tự

xuất hiện theo quy định về các yếu tố thành phần trong một bài báo khoa học là: dẫn

nhập (lý do, mục đích, lịch sử nghiên cứu), phƣơng pháp nghiên cứu, kết quả

nghiên cứu (kết quả 1, kết quả 2, kết quả 3…), kết luận, thảo luận - đƣợc phân tích

nhƣ sau.

3.3.2. Mạch lạc trong cấu trúc văn bản

Cấu trúc (bố cục) của các bài báo khoa học là hình thức của bài báo xuất hiện

bằng tên các mục, tiểu mục đánh dấu các yếu tố thành phần (hoặc các yếu tố nghĩa)

và sự tổ chức của các yếu tố đó theo một trình tự nhất định để thể hiện cấu trúc

nghĩa hoàn chỉnh của VB. ồng thời, tƣờng minh hóa cấu trúc nghĩa của VB bằng

mối quan hệ nghĩa giữa các yếu tố. Mạch lạc sẽ đƣợc tạo ra bởi cấu trúc của VB. ó

là cách thức để các bộ phận hợp thành một thể thống nhất, góp phần thể hiện chủ đề

và nội dung [5, tr.470].

Ngữ liệu đƣợc thống kê cho thấy, rất ít các bài báo KHXH&NV (3%) giống

các bài báo Khoa học Tự nhiên có dấu hiệu hình thức thể hiện mạch lạc bằng sự

xuất hiện theo trình tự và tên gọi các đề mục (các yếu tố thành phần). Phần lớn các

bài báo KHXH&NV (97%) biểu hiện đặc trƣng tính mạch lạc theo trình tự logic

ngữ nghĩa bậc một (quan hệ trình tự diễn đạt) [81, tr.266] bằng cấu trúc chặt chẽ

toàn VB (các câu, các đoạn, các yếu tố nghĩa đƣợc sắp xếp theo trình tự logic chủ

quan và khách quan). ó là, sự logic của lập luận (các ý tƣởng khoa học trong bài

viết) và sự logic theo trình tự trƣớc sau của các thông tin khoa học.

Bên cạnh đó, cấu trúc các bài báo đƣợc tổ chức hợp lý, đảm bảo đầy đủ các

yếu tố quan yếu (các yếu tố nội dung - thành phần quan trọng) [51, tr.73], đồng thời

đóng góp vào việc duy trì, triển khai đề tài - chủ đề theo những mối quan hệ nghĩa

logic nhất định và đảm bảo sự liên kết, thống nhất giữa các yếu tố đó sẽ tạo nên sự

mạch lạc cho VB. Bởi vì, “các nhà phân tích diễn ngôn đều thừa nhận rằng cấu

116

trúc hay còn gọi là cách thức tổ chức các yếu tố quan yếu có một vai trò quan trọng

trong việc tạo nên mạch lạc” [51, tr.55].

Do đó, từ yêu cầu cần đảm bảo kết cấu hình thức của một bài báo khoa học

và tính mạch lạc cho thể loại VB này, việc tìm hiểu các yếu tố quan yếu và xem xét

tính mạch lạc của chúng trong ngữ liệu đƣợc thu thập là một việc cần thiết.

Tám yếu tố thành phần trong một bài báo khoa học đƣợc qui định bởi Tạp

chí Khoa học và ông nghệ Việt Nam (đã đề cập trong phần iv, mục 1.2.2.3). ây

chính là 8 yếu tố bắt buộc và những nguyên tắc cụ thể của từng yếu tố này cần phải

thực hiện đúng để đảm bảo cấu trúc nghĩa cho một bài báo khoa học (phụ lục 2 của

L ). Do đó, việc nghiên cứu các bài báo KHXH&NV trên Tạp chí Khoa học -

HQGHN, đƣợc tìm hiểu từ bố cục hình thức (xem xét sự xuất hiện của các yếu tố

thành phần trong một bài báo) và tiếp theo là mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các yếu tố

này hƣớng tới đề tài - chủ đề chung của VB. Dựa trên nhiều tài liệu chỉ dẫn về cấu

trúc đặc thù một bài báo khoa học trong nƣớc và nƣớc ngoài, qua thống kê ngữ liệu,

chúng tôi sơ đồ hóa cấu trúc các bài báo KHXH&NV trên Tạp chí Khoa học -

Tiêu đề

Lý do, mục đích nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu

Tóm tắt

Lịch sử vấn đề nghiên cứu

HQGHN nhƣ sau:

Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu 1

Bài báo KHXH&NV

Kết quả nghiên cứu 2

Phƣơng pháp, phạm vi vấn đề nghiên cứu Dẫn nhập

Kết quả nghiên cứu 3

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Thảo luận

Sơ đồ 3.7: Cấu trúc của một bài báo &NV

Theo sơ đồ 3.7, cấu trúc của một bài báo KHXH&NV, ngoài tiêu đề thƣờng

gồm các yếu tố là: tóm tắt, dẫn nhập (lịch sử vấn đề, mục đích nghiên cứu, phƣơng

117

pháp nghiên cứu), kết quả, thảo luận, kết luận, tài liệu tham khảo. Ngoài phần tiêu

đề, tóm tắt và tài liệu tham khảo là bắt buộc, các yếu tố khác trong một bài báo khoa

học có thể xem xét trong cấu trúc (bố cục) gồm ba phần là: đặt vấn đề (vấn đề

nghiên cứu, lịch sử nghiên cứu, phƣơng pháp và phạm vi nghiên cứu), giải quyết

vấn đề (kết quả nghiên cứu, thảo luận) và kết luận [28, tr.171].

Ngoài ra, cấu trúc hình thức đặc thù (bố cục bài viết) và mối quan hệ chặt chẽ

của các yếu tố nội dung trong các bài báo khoa học nói chung và các bài báo

KHXH&NV nói riêng sẽ đảm bảo tính mạch lạc cho thông tin khoa học đƣợc truyền

tải. Nếu thiếu một yếu tố thành phần (yếu tố quan yếu) trong bài báo khoa học hoặc

xuất hiện sự không thống nhất (không logic) giữa các đơn vị trong một yếu tố hay

giữa các yếu tố quan yếu đó sẽ làm ảnh hƣởng đến tính mạch lạc của VB.

Ngữ liệu 41: Bài báo khoa học “Đường hướng lấy người học làm trung tâm

trong dạy-học ngoại ngữ” [Tạp chí KHXH&NV, tập 16, số 2, 2000, tr.37-47], gồm

8 yếu tố thành phần là:

1. Tiêu đề;

2. Tóm tắt;

3. Dẫn nhập (gồm Lịch sử vấn đề (các quan điểm khác nhau về vai trò của ngƣời

dạy hay ngƣời học) và Mục đích nghiên cứu (trình bày quan niệm của tác giả về

“đƣờng hƣớng lấy ngƣời học làm trung tâm trong dạy-học ngoại ngữ)”;

4. Phƣơng pháp nghiên cứu (định tính);

5. Kết quả nghiên cứu (cơ sở lý luận của việc chuyển trọng tâm từ ngƣời dạy sang

ngƣời học, đƣờng hƣớng lấy ngƣời học làm trung tâm và vai trò, nhiệm vụ của

ngƣời dạy và ngƣời học);

6. Kết luận (đƣờng hƣớng lấy ngƣời học làm trung tâm là một chủ trƣơng giáo dục

đúng đắn);

7. Thảo luận (giải đáp những băn khoăn, lo ngại về sự chuyển đổi trọng tâm từ

ngƣời dạy sang ngƣời học và gợi ý bốn hƣớng nghiên cứu tiếp trong tƣơng lai);

8. Tài liệu tham khảo.

118

ác yếu tố thành phần trên của bài báo đã có sự gắn kết chặt chẽ với nhau

và cùng hƣớng tới đề tài - chủ đề chung là “đường hướng lấy người học làm trung

tâm trong dạy - học ngoại ngữ”.

Nhƣ vậy, mối quan hệ gắn kết giữa các nội dung đƣợc triển khai trong từng

phần của bài báo và mối quan hệ giữa các phần này cùng hƣớng tới đề tài - chủ đề

chung là “đường hướng lấy người học làm trung tâm trong dạy - học ngoại ngữ” đã

tạo nên sự mạch lạc cho bài báo này. ó là mạng lƣới quan hệ gắn kết một cách hợp

lý theo trật tự logic tƣ duy (nhân - quả, cơ sở lý thuyết - áp dụng thực tiễn - kết luận,

bổ trợ - chứng minh).

Ngoài ra, kết quả khảo sát 586 bài báo KHXH&NV đã cho thấy, cấu trúc đầy

đủ các yếu tố thành phần trên (xuất hiện nhiều hơn trong giai đoạn từ năm 1996 đến

năm 2013). hỉ một số bài báo thiếu một hoặc hai yếu tố thành phần (chủ yếu trong

giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1995). ụ thể là:

Bảng 3.8: ác yếu tố thành phần trong hai giai đoạn

của bài báo &NV

ác yếu tố thành phần Từ năm 1985 Từ năm 1996

đến năm 1995 đến năm 2013

ó (%) Không (%) ó (%) Không (%)

19% 81% 88% 12% ác tiêu đề nhỏ (tiểu mục)

80% 20% 100% 0% Tóm tắt

85% 15% 97% 3% Dẫn nhập

20% 80% 96% 4% Lịch sử vấn đề

9% 81% 94% 6% Phƣơng pháp nghiên cứu

100% 0% 100% 0% Kết quả nghiên cứu

94% 6% 98% 2% Thảo luận

100% 0% 100% 0% Kết luận

Bảng khảo sát trên cho thấy, việc thiếu các tiêu đề nhỏ trong một bài báo

khoa học ở giai đoạn đầu chiếm tỷ lệ cao (81%) và sang giai đoạn sau đã chiếm tỷ

119

lệ thấp hơn (12%). Phần Dẫn nhập không xuất hiện trong các bài báo ở giai đoạn

đầu là 15%, sang giai đoạn sau đã xuất hiện gần đầy đủ (97%). ác phần khác cũng

có xu hƣớng xuất hiện nhiều và đầy đủ hơn ở giai đoạn sau: phần Lịch sử vấn đề

20% tăng thành 96%; Phƣơng pháp nghiên cứu từ 9% tăng lên 94%; Thảo luận tăng

từ 94% thành 98%; phần Tóm tắt, Kết quả nghiên cứu và Kết luận đã xuất hiện đầy

đủ (100%).

Kết quả thu đƣợc đã chỉ ra sự xuất hiện tăng dần và có xu hƣớng đầy đủ hơn

các yếu tố thành phần của bài báo ở giai đoạn sau. iều này cho thấy sự phát triển

ngày càng hoàn thiện hơn, hƣớng tới đáp ứng đúng các quy định của chuẩn quốc gia

và quốc tế của các bài báo KHXH&NV (có sự tác động bởi yếu tố xã hội, sự giao

lƣu hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa của các giai đoạn xuất bản bài báo khoa

học). Và quá trình phát triển theo xu hƣớng đầy đủ các yếu tố thành phần hơn của

các bài báo KHXH&NV trong giai đoạn 2 đã cho thấy đặc điểm phù hợp với sự

phát triển chung của các bài báo khoa học trên thế giới (theo kết quả nghiên cứu của

Chris Mack [135]).

Bên cạnh đó, cấu trúc nghĩa (hay còn gọi là cấu trúc vĩ mô) trong toàn bộ bài

báo do sự xuất hiện bởi các phƣơng tiện liên kết, đã giúp cho nghĩa của các câu, các

đoạn văn, các thành phần (các yếu tố thành phần) đƣợc kết nối với nhau và trở nên

chặt chẽ, dễ hiểu hơn.

Ngoài ra, cấu trúc diễn ngôn là sự tổ chức các yếu tố nội dung/ quan yếu theo

những cách thức, trật tự nhất định để tạo mạch lạc [51, tr.59]. Và tính chất quan yếu

sẽ tạo nên sự mạch lạc cho VB, đó là sự phù hợp về nội dung của các đóng góp

(contributions) trong quá trình giao tiếp. ối với các bài báo KHXH&NV, 8 yếu tố

thành phần (yếu tố quan yếu) trong một bài báo cùng đóng góp vào đề tài - chủ đề

chung và bằng các mối quan hệ nghĩa logic nhất định, sẽ đảm bảo tính quan yếu cho

VB đó.

Một VB có cấu trúc ngữ nghĩa càng tƣờng minh thì tính mạch lạc càng cao

và sự gắn kết chặt chẽ của các yếu tố trong VB để duy trì, triển khai đề tài - chủ đề

một cách logic, hợp lý thì sẽ tạo nên sự chính xác và thống nhất cho chỉnh thể đó.

120

Do vậy, bức tranh chung về các yếu tố thành phần xuất hiện trong các bài báo

KHXH&NV trên Tạp chí Khoa học - HQGHN và sự kết nối nghĩa (các mạng

quan hệ nghĩa) của các yếu tố thành phần đó trong việc tạo ra cấu trúc nghĩa cho

toàn bộ VB đã đƣợc tìm hiểu và phân tích.

Tuy nhiên, bức tranh tổng thể trong cả hai giai đoạn về sự xuất hiện đầy đủ

các yếu tố thành phần (các yếu tố nội dung quan yếu) của các bài báo KHXH&NV

93

93

100

100

96

63

69

67

27

31

33

7

7

0

4

100 80 60 40 20 0

0

Có xuất hiện

Không xuất hiện

đƣợc thể hiện qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 3.9: ác yếu tố thành phần của bài báo &NV

Qua sơ đồ trên, có thể thấy ngoại trừ yếu tố Kết quả nghiên cứu và Kết luận

xuất hiện đầy đủ, các yếu tố khác vẫn còn thiếu trong một số bài báo KHXH&NV.

Tên các mục trong bài báo (các tiêu đề nhỏ) chỉ xuất hiện trong 63% tổng số ngữ

liệu đƣợc khảo sát, 27% các bài báo thiếu dấu hiệu nhận biết các đơn vị nhỏ này và

nhƣ vậy cả bài báo là một dòng thông tin dài liền mạch (từ 3 đến 5 trang) sẽ khiến

cho các nội dung khoa học khó theo dõi hơn đối với độc giả. Phần Dẫn nhập xuất

hiện trong các bài báo (93%) là phần quan trọng cung cấp các thông tin mở đầu (lý

do, mục đích nghiên cứu, phƣơng pháp và câu hỏi nghiên cứu), nhƣng vẫn còn 7%

các bài báo thiếu yếu tố này và đề cập trực tiếp tới nội dung nghiên cứu. Sự xuất

hiện của các phần khác là: Tóm tắt (93%), Lịch sử vấn đề (69%), Phƣơng pháp

nghiên cứu (67%) và Thảo luận (96%).

121

Ngoài ra, các bài báo KHXH&NV thuộc 8 ngành khoa học xã hội và khoa

học nhân văn đƣợc tìm hiểu chi tiết đặc điểm mạch lạc xuất hiện qua cấu trúc VB

(sự xuất hiện đầy đủ của các yếu tố thành phần) là:

Bảng 3.10: ác yếu tố thành phần trong các bài báo thuộc 8 ngành

Khoa học ã hội và Nhân văn

ác bài Sự xuất hiện các yếu tố thành phần

báo thuộc Tiêu Tóm Dẫn Lịch Phƣơng Kết Thảo Kết

các ngành đề tắt nhập sử vấn pháp quả luận luận

khoa học nhỏ đề nghiên nghiên

cứu cứu

Pháp luật 78% 100% 88% 65% 100% 94% 100% 72%

Giáo dục 78% 100% 94% 83% 100% 100% 100% 98%

Kinh tế 67% 100% 94% 68% 100% 100% 100% 70%

Xã hội học 72% 100% 88% 80% 100% 98% 100% 82%

Lịch sử 31% 97% 65% 55% 100% 78% 100% 35%

Ngôn ngữ 66% 100% 100% 98% 100% 98% 100% 85%

Văn học 18% 98% 78% 78% 100% 90% 100% 55%

Triết học 44% 98% 70% 67% 100% 94% 100% 42%

Kết quả khảo sát trong bảng 3.10 đã chỉ ra, tỷ lệ các bài báo khoa học xã hội

xuất hiện đầy đủ các yếu tố thành phần (cụ thể là: các tiêu đề nhỏ, tóm tắt, dẫn

nhập, lịch sử vấn đề, phƣơng pháp nghiên cứu) cao hơn trong các bài báo khoa học

nhân văn (ngoại trừ ngành Ngôn ngữ).

Các bài báo KHXH&NV chuẩn gồm 8 yếu tố thành phần là: tiêu đề, tóm tắt,

giới thiệu, phƣơng pháp, kết quả, thảo luận và kết luận, tài liệu tham khảo. Mối

quan hệ giữa các phần đƣợc xem xét là: Tiêu đề và Tóm tắt; Tóm tắt và toàn bộ nội

dung bài báo; Tiêu đề và phần Dẫn nhập; Phƣơng pháp nghiên cứu và Kết quả

nghiên cứu; Kết quả nghiên cứu và thảo luận; Kết luận và toàn bộ bài báo.

Kết quả khảo sát 586 bài báo đã cho thấy tính mạch lạc xuất hiện trong từng

yếu tố thành phần và mối quan hệ chặt chẽ của các yếu tố thành phần (các yếu tố

quan yếu). iều này đƣợc thể hiện nhƣ sau:

122

3.3.2.1. Tiêu đề và Tóm tắt

Tiêu đề (tên gọi, đầu đề) của VB để thể hiện ý đồ chủ đạo và quan điểm

chính của ngƣời tạo lập VB. Tiêu đề có sức mạnh - định giới hạn VB và tạo ra sự

hoàn chỉnh (bởi sự liên kết tiêu đề với nội dung bằng chức năng định danh và dự

báo). Trong VB khoa học có hiện tƣợng tiêu đề vừa nêu lên nội dung cơ bản vừa

nêu lên khái niệm, đối tƣợng tƣ tƣởng, nhƣng trong cả hai trƣờng hợp, tiêu đề và

nội dung VB đều gắn bó với chủ đề chính của tác phẩm, đƣợc triển khai qua việc

liên kết và thống nhất tất cả các phần để đạt đƣợc tính hoàn chỉnh của VB [31,

tr.250]. Ngoài ra, tiêu đề đóng vai trò quan trọng trong VB khi thực hiện chức năng

dự báo và hồi cố [75, tr.28].

ác tiêu đề trong bài báo KHXH&NV thuộc văn phong khoa học, chịu

những quy định của loại phong cách VB này (mục 1.2.2.2). hính vì thế, các tiêu đề

có xu hƣớng định danh hóa sự việc, hiện tƣợng (đề cập trực tiếp đến đề tài của bài

báo). Ngoài ra, các bài báo KHXH&NV đƣợc khảo sát thuộc hai giai đoạn: giai

đoạn 1 từ năm 1985 đến năm 1995 (các chuyên ngành của Trƣờng ại học Tổng

hợp Hà Nội), giai đoạn 2 từ năm 1996 đến nay (các chuyên ngành thuộc Khoa Luật,

Trƣờng ại học Giáo dục và Trƣờng ại học Khoa học Xã hội và Nhân văn -

HQGHN), nên ngữ liệu đƣợc phân loại để so sánh, đối chiếu sự phát triển về đặc

điểm hình thức cấu tạo và nội dung ngữ nghĩa của các tiêu đề.

Bảng 3.11: Cấu tạo ngữ pháp tiêu đề các bài báo &NV

Ngữ liệu khảo sát Cấu tạo Từ năm 1985 Từ năm 1996 của tiêu đề đến năm 1995 (%) đến năm 2013 (%)

Cụm danh từ 90% 87% (thành phần khởi ngữ)

âu đơn khẳng định 9% 11%

âu hỏi 1% 2%

Tổng 100% 100%

123

Bảng khảo sát 3.11 cho thấy, về hình thức cấu tạo các tiêu đề đƣợc sử dụng

có xu hƣớng ngắn gọn và súc tích. Vì câu đơn chiếm tỷ lệ ít (11% và 9% trong hai

giai đoạn), câu hỏi đƣợc sử dụng ít nhất (2% và 1%), đồng thời không xuất hiện sử

dụng tiêu đề là những câu phức, câu ghép. ác cụm danh từ đƣợc sử dụng phổ

biến nhất (87% và 90%), đồng thời có vai trò ngữ pháp là thành phần khởi ngữ

trong câu (các trƣờng hợp tƣờng minh nghĩa bằng việc sử dụng các kết từ “về”,

“về việc” là 13%). Trong giai đoạn 1 xuất hiện nhiều tiêu đề có tính chất là các

cụm danh từ (cụm danh động từ) và sử dụng bắt đầu bằng các từ: về, về việc, một

vài nhận xét, ý kiến nhỏ về, nghiên cứu về v.v. Tới giai đoạn 2, những từ này có xu

hƣớng xuất hiện ít hơn.

Nội dung trong tiêu đề các bài báo khoa học thƣờng gồm những từ ngữ quan

trọng nhất và phản ánh chính xác nội dung bài viết. Do đó, thƣờng nêu rõ đề tài -

chủ đề của công trình nghiên cứu. Tên gọi đề tài - chủ đề để chỉ cả sự việc, hiện

tƣợng và quan điểm, cách đánh giá về sự việc, hiện tƣợng đó. Vai trò của tiêu đề

trong mối quan hệ với đề tài - chủ đề của các bài báo KHXH&NV có kết quả khảo

sát nhƣ sau:

Bảng 3.12: Vai trò của tiêu đề các bài báo &NV

Ngữ liệu khảo sát Vai trò của

Từ năm 1985 Từ năm 1996 tiêu đề đến năm 1995 (%) đến năm 2013 (%)

Nêu đề tài của bài báo 67% 70%

Nêu đề tài - chủ đề của bài báo 9% 11%

Nêu sự việc, hiện tƣợng và 19% 12% cụ thể thời gian, địa điểm

Nêu đề tài và thêm yếu tố giải 5% 7% thích, minh họa

Tổng 100% 100%

124

Kết quả thống kê trong Bảng 3.12 đã chỉ ra, về nội dung ngữ nghĩa, các tiêu

đề có xu hƣớng gia tăng trong việc cung cấp thông tin chính, giới thiệu về sự việc,

hiện tƣợng (phản ánh đề tài là 67% và 70%) và nêu đề tài cùng chủ đề (quan điểm,

nhận xét về đề tài đó) là 9% và 11%. ác tiêu đề nêu sự việc, hiện tƣợng (vấn đề

nghiên cứu chính) và cụ thể chi tiết thêm về thời gian, địa điểm chiếm tỷ lệ cao thứ

hai là: 19% và 12%. Việc nêu đề tài và sử dụng thêm thành phần phụ chú (tiêu đề

phụ) bằng dấu “:” hoặc dấu () chiếm tỷ lệ 5% trong giai đoạn 1 và 7% trong giai

đoạn 2. ác thành phần phụ chú này thƣờng bổ sung thêm thông tin nhận định, đánh

giá, khái quát sau khi nêu tên sự việc, hiện tƣợng, khái niệm (đề tài của bài báo

KHXH&NV).

Tiêu đề của các bài báo KHXH&NV đƣợc các tác giả chú ý chọn lựa và sử

dụng hiệu quả, thƣờng nêu trực tiếp sự việc, hiện tƣợng hoặc nội dung cơ bản của

công trình nghiên cứu, nên đều là những đầu đề mạnh. iều này đã giúp cho ngƣời

đọc thuận lợi để hiểu đề tài - chủ đề mà tác giả sẽ đề cập đến trong bài viết. ây có

thể đƣợc coi là dấu hiệu đánh dấu mạch lạc khác đã xuất hiện trong các bài báo

KHXH&NV đối với ngƣời đọc khi tiếp nhận VB.

Và có sự kết nối mạch lạc giữa phần Tiêu đề và phần Tóm tắt trong các bài

báo KHXH&NV, cụ thể là:

Ngữ liệu 42, bài báo “Bàn về văn hóa cộng đồng” [Tạp chí KHXH&NV, số

2, 2010, tr.121], có tóm tắt là: “Bài nghiên cứu này nhằm góp phần thảo luận về

thuật ngữ “văn hóa cộng đồng”. Đây là một trong những khái niệm quan trọng

nhất trong nghiên cứu về các loại cộng đồng khác nhau tồn tại trong lịch sử cũng

như trong các xã hội hiện đại. Trước hết tác giả điểm lại những cách định nghĩa

khái niệm nói trên được sử dụng trong những nghiên cứu về cộng đồng của giới

học giả Việt Nam và nước ngoài. Sau đó, tác giả đề xuất cách định nghĩa khái niệm

“văn hóa cộng đồng” của riêng mình. Dựa trên quan điểm cho rằng, văn hóa cộng

đồng chính là văn hóa ứng xử của cộng đồng, tác giả đã cố gắng làm rõ một số

thành tố quan trọng nhất của văn hóa cộng đồng như qui tắc ứng xử, tiêu chí ứng

xử, mô thức ứng xử…”.

125

Trong phần tóm tắt trên, từ “cộng đồng” đƣợc lặp lại 2 lần, cụm từ “văn hóa

cộng đồng” trong tiêu đề đã đƣợc lặp lại 4 lần trong phần tóm tắt của bài báo. iều

này cho thấy sự nhất quán về đề tài - chủ đề, sự liên kết chặt chẽ thống nhất và

mạch lạc giữa tiêu đề và phần tóm tắt nội dung bài báo.

Từ Ngữ liệu 42 và việc khảo sát tất cả ngữ liệu cho thấy, có sự kết nối chặt

chẽ giữa tiêu đề và tóm tắt trong các bài báo KHXH&NV bằng sự xuất hiện của

phép lặp. Các tiêu đề trong tất cả các bài báo KHXH&NV không xuất hiện những

kiểu tiêu đề gián tiếp (mang ý nghĩa hàm ẩn, ẩn dụ) nhƣ trong các VB nghệ thuật

hoặc báo chí, mà đề cập tới đề tài - chủ đề của bài báo một cách trực tiếp. Ngoài ra,

trong các bài báo KHXH&NV, việc sử dụng lặp lại các từ khóa (từ then chốt) trong

phần Tiêu đề và phần Tóm tắt VB đã góp phần không nhỏ trong việc tạo sự liên kết

mạch lạc giữa hai phần này. hính điều này đã giúp ngƣời đọc dễ dàng hơn trong

việc theo dõi phần thông tin chính (đề tài - chủ đề) của bài báo đang đƣợc tác giả

nghiên cứu đề cập tới.

Tiếp theo, tuy các bài báo KHXH&NV thuộc thể loại VB phổ cập khoa học

(mục 1.2.2.2) nhƣng không xuất hiện tiêu đề có cấu trúc bất thƣờng về hình thức

hoặc ngữ nghĩa (ẩn dụ, hàm ngôn) [75, tr.45]. ề tài - chủ đề của 100% các bài báo

đã xuất hiện cụ thể và có tính đơn nghĩa ngay tại tiêu đề. Xuất hiện đặc điểm này để

đáp ứng yêu cầu tính chính xác khách quan, cung cấp thông tin khoa học một cách

ngắn gọn và dễ hiểu cho ngƣời đọc. Do đó, tính chính xác, tƣờng minh nghĩa xuất

hiện ngay tại tiêu đề và tiếp tục đƣợc thể hiện trong sự liên kết mạch lạc đề tài - chủ

đề trong nội dung tất cả các bài báo KHXH&NV.

Nhƣ vậy, có thể nhận xét, 100% đề tài - chủ đề trong các bài báo

KHXH&NV đƣợc xuất hiện tại tiêu đề và đề cập đến những vấn đề, nội dung

nghiên cứu chính thuộc về con ngƣời và xã hội, cùng mối liên hệ với nhiều khía

cạnh khác nhau của cuộc sống trong các chuyên ngành cụ thể (Pháp luật, Giáo dục,

Kinh tế, Xã hội học, Lịch sử, Ngôn ngữ, Văn học, Triết học) và các ngành khác. ó

mối quan hệ, liên kết mạch lạc giữa tiêu đề (đầu đề) và phần tóm tắt (cũng nhƣ toàn

bộ VB) trong các bài báo KHXH&NV đƣợc khảo sát.

126

Bên cạnh đó, liên kết đóng vai trò là yếu tố hình thức góp phần làm tăng tính

mạch lạc, là sự nối kết có tính chất hợp lý, logic về mặt nghĩa của các câu, các đoạn,

các phần trong VB. hính vì thế, trong bố cục chung của VB (cấu trúc nghĩa của

VB) việc đặt tên cho từng phần, từng chủ đề bộ phận đóng vai trò quan trọng trong

việc giúp ngƣời đọc hiểu đúng nội dung của bài viết.

Qua thống kê, tuy một số bài báo có dấu hiệu hình thức bằng cách in đậm

hoặc in nghiêng những nội dung cơ bản (những chủ đề bộ phận trong bài báo),

nhƣng Sơ đồ 3.9 cho thấy, 37% các bài báo không xuất hiện tiêu đề cho từng phần

trong bài. Tất cả chỉ là một khối liền tổng thể, nhƣ vậy khó cho ngƣời tiếp nhận VB

hiểu đƣợc nội dung chính mà ngƣời viết cần trình bày và thông báo. ối với các

loại VB thuộc phong cách nghệ thuật, điều này có thể nhằm mục đích làm tăng tính

hấp dẫn và tò mò đối với ngƣời đọc, nhƣng với các VB thuộc PCKH, cần xuất hiện

tên các tiểu mục trong bài đầy đủ để đảm bảo tính chính xác và mạch lạc cho loại

VB này. Bởi vì, tiêu đề chính, tiêu đề phụ và các đề mục nhằm giúp ngƣời đọc thấy

đƣợc cách ngƣời viết tổ chức VB [8, tr.24]. hính vì thế, việc thiếu các tiêu đề nhỏ

trong một số bài báo (81% các bài báo trong giai đoạn 1 và 12% trong giai đoạn 2 –

theo số liệu khảo sát trong Bảng 3.8) sẽ làm giảm ít nhiều hiệu quả mạch lạc cho thể

loại VB này.

3.3.2.2. Tóm tắt và toàn bộ nội dung bài báo

Phần tóm tắt của các bài báo KHXH&NV thƣờng sau tiêu đề và trƣớc phần

giới thiệu (nếu ở vị trí cuối VB thì thƣờng đƣợc chuyển dịch sang một ngôn ngữ

khác: tiếng Nga, nh, Pháp). Phần này tóm lƣợc các nội dung chính, quan trọng của

VB và là một công cụ tiết kiệm thời gian để tìm các phần cụ thể của bài báo mà

không cần phải đọc toàn VB (theo tài liệu [136, tr.433]).

Kết quả khảo sát cho thấy, trong các bài báo KHXH&NV, không có bản tóm

tắt nào đề cập đến các nội dung không xuất hiện trong VB, các tóm tắt đều đƣợc

trình bày ngắn gọn, chính xác và có sự thống nhất, mạch lạc ngữ nghĩa với nội dung

trong bài báo đó.

127

Bảng 3.13: Mối quan hệ giữa Tóm tắt và Nội dung bài báo

Nội dung Số lƣợng Tỷ lệ

Số bài báo không có phần tóm tắt 42 7%

Số bài báo có tóm tắt nêu ý chính 427 73%

Số bài báo có tóm tắt trình bày theo trật tự 117 20%

của nội dung bài báo

Tổng số 586 100%

Kết quả khảo sát đã chỉ rõ, ngoại trừ 7% các bài báo không có phần tóm tắt

(chủ yếu xuất hiện trong giai đoạn đầu của Tạp chí Khoa học, từ năm 1985 đến năm

1996), phần tóm tắt (20%) các bài báo có sự sắp xếp theo đúng trật tự các yếu tố xuất

hiện trong nội dung bài báo - đồng thời nhƣ một bản đồ chỉ đƣờng rõ ràng để chỉ dẫn

ngƣời đọc theo dõi cụ thể các phần của VB. Và chiếm đa số (73%) là các tóm tắt

đóng vai trò cô đọng các ý chính, nội dung cơ bản có trong bài báo. Ngoài ra, không

có bài báo nào mà tóm tắt không đề cập trực tiếp đến nội dung bài báo.

Ngữ liệu 43: Bài báo “Chuẩn đầu ra và phát triển chương trình đào tạo theo

năng lực ở bậc đại học” [Tạp chí KHXH&NV, tập 27, số 2, 2011, tr.88-97], có tóm

tắt là:

“Bài viết trình bày sự cần thiết, tầm quan trọng và các quan điểm, góc nhìn

khác nhau về chuẩn đầu ra ở bậc đại học nhằm đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội.

Đồng thời cũng nêu lên xu hướng chuyển đổi từ cách tiếp cận hàn lâm sang cách

tiếp cận năng lực trong đào tạo đại học theo hướng nghề nghiệp - ứng dụng. Những

quan điểm, đặc điểm, các yêu cầu, qui trình xây dựng chương trình theo năng lực ở

bậc đại học trên cơ sở chuẩn đầu ra và các yêu cầu phát triển chương trình đào

tạo hiện tại”.

Phần tóm tắt của bài báo trên đã đề cập đến những nội dung chính xuất hiện

trong bài báo. Và phần tóm tắt ngắn gọn này gồm ba câu, có sự liên kết với tiêu đề

bằng phép lặp cụm từ “chuẩn đầu ra”, “chương trình đào tạo”. Ngoài ra giữa các câu

trong phần tóm tắt có sử dụng thêm từ nối “đồng thời” để liên kết và chỉ quan hệ bổ

sung ngữ nghĩa. Nhƣ vậy, nội dung gắn kết chặt chẽ giữa các câu trong phần tóm tắt

128

và giữa phần tóm tắt với nội dung bài báo đã đƣợc triển khai logic và nhất quán nhờ

sự xuất hiện các PLK (phép lặp, phép nối) một cách chính xác và hợp lý.

Ngữ liệu 44: Bài báo “Chính trị, khoa học chính trị và đào tạo khoa học

chính trị ở Việt Nam: Cơ hội và thách thức” [Tạp chí KHXH&NV, tập 26, số 1,

2010, tr.24], có phần tóm tắt là:

“Trong các khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam hiện nay, có lẽ khoa

học chính trị là một trong những ngành quan trọng nhất, nhưng cũng là một trong

những ngành còn đang gặp phải nhiều thách thức nhất (1). Khoa học chính trị

Việt Nam, vì nhiều lý do khác nhau, vẫn còn đang trong quá trình khẳng định vị thế

của mình, nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng ngành khoa học chính trị Việt Nam

hiện đại, hội nhập và có bản sắc riêng (2). Mục tiêu chính của bài viết này là phân

tích một số xu hướng phát triển chủ đạo trong khoa học chính trị ở Mỹ và phương

Tây (3). Bài viết gồm ba phần. Phần đầu của bài viết phân tích khái niệm chính trị

với suy nghĩ đây là khái niệm cơ bản, là đối tượng của khoa học chính trị (4). Việc

hiểu chính trị như thế nào sẽ có ảnh hưởng đến việc giảng dạy và nghiên cứu chính

trị (5). Phần hai đề cập đến sự phát triển ngành khoa học chính trị ở phương Tây

với mục đích qua đó rút ra được một số kinh nghiệm thiết thực cho Việt Nam (6).

Phần ba của bài viết sẽ trình bày về một số bất cập trong đào tạo khoa học chính

trị ở Việt Nam (7). Bài viết kết luận, khoa học chính trị ở Việt Nam đang đứng

trước những cơ hội mới và để biến cơ hội thành hiện thực cần có cách tiếp cận toàn

diện (8).”

Phần tóm tắt này gồm 8 câu và đây là một tóm tắt mô tả. ó sự kết nối với

tiêu đề bằng phép lặp. âu số (1) và câu số (2) cung cấp một số thông tin nền về

ngành khoa học chính trị. Phép lặp đƣợc sử dụng để kết nối đề tài về “khoa học

chính trị”. âu số (3) là mục đích nghiên cứu đề tài này. Phép lặp tiếp tục đƣợc sử

dụng để kết nối câu số (3) và câu số (2). ác câu tiếp theo (4), (5), (6), (7) đƣợc liên

kết bởi phép lặp và phép nối để chỉ sự khái quát và liệt kê từng phần sẽ đƣợc đề cập

tới trong bài báo. Quan hệ ý nghĩa liệt kê đƣợc thể hiện rõ nhờ phép nối và lặp. âu

(8) tiếp tục sử dụng phép lặp (từ “cơ hội”, “khoa học chính trị”) để liên kết với tiêu

đề, tóm tắt kết quả nghiên cứu và khuyến nghị, đề xuất trong nội dung bài báo.

129

Nhìn chung, trừ 42 bài báo từ năm 1985 đến năm 1995 (chiếm 7% trên tổng

số 586 bài) thiếu phần tóm tắt, 100% các bài tóm tắt đều có sự thống nhất chặt chẽ,

bám sát nội dung ngữ nghĩa chính của bài báo và đảm bảo tính liên kết mạch lạc

trong toàn bộ phần tóm tắt này.

3.3.2.3. Tiêu đề và phần Dẫn nhập

Phần Dẫn nhập (hay còn gọi là phần Giới thiệu hoặc ặt vấn đề) đóng vai trò

quan trọng trong các bài báo khoa học, vì đây là phần cung cấp cho ngƣời đọc một số

thông tin cơ bản về lý do, mục đích nghiên cứu. ây là những thông tin nền, nhằm

chuẩn bị cho ngƣời đọc tâm thế để tiến hành đọc tiếp phần phƣơng pháp, phạm vi và

phần trình bày, thảo luận kết quả nghiên cứu của ngƣời viết. Bên cạnh đó, phần này

có sự liên quan mật thiết với tiêu đề của VB, có nhiệm vụ giới thiệu, triển khai đề tài -

chủ đề nêu ở tiêu đề của VB và do đó, cần phải có sự nối kết hai phần này với nhau.

Kết quả khảo sát đã chỉ ra, trong phần Dẫn nhập, bên cạnh việc nêu mục

đích, lý do, lịch sử vấn đề nghiên cứu, nhiều bài báo KHXH&NV còn đề cập đến

phƣơng pháp nghiên cứu, đây chính là việc tạo ra một sự liên kết mạch lạc với đề

tài đang nghiên cứu.

Ngữ liệu 45: Bài báo “Số phận của Ngữ pháp trong tiến trình dạy tiếng, một

vài liên tưởng vào sách dạy tiếng Việt” [Tạp chí KHXH&NV, tập 26, số 1, 2010,

tr.31-38], có phần Dẫn nhập là:

“Có lẽ không có một phương pháp dạy tiếng nào được coi là tối ưu. Bởi

trong thế kỷ vừa qua chúng ta cũng đã chứng kiến sự tiếp nối, ra đời, phát triển và

tàn lụi hay phục sinh của thật nhiều các phương pháp: Phương pháp ngữ pháp dịch

(Grammar Translation Method), phương pháp trực tiếp (Direct Method), phương

pháp con đường im lặng (Silent Way), phương pháp học cộng đồng (Community

Language Learning), phương pháp tự nhiên (Natural Aproach), phương pháp đọc

(Reading Method), phương pháp quân sự và phương pháp nghe nói (ASTP- Army

Specialized Training Program and Audiolingual Method), phương pháp giao tiếp

(Communicative Aproaches), phương pháp phản ứng (Total Physical Response

Method), phương pháp công nghệ (Technological Approaches)… và gần đây là

phương pháp hướng vào ngữ pháp “Focus on Grammar” hoặc tên quen thuộc hơn

130

là “Focus on Form”. Trong hầu hết các phương pháp, những quan niệm về ngữ

pháp đều được nhắc đến với những thái độ khác nhau. Trong bài này, chúng tôi

muốn kiểm điểm lại vị trí của ngữ pháp trong tiến trình dạy tiếng qua diễn tiến của

3 khuynh hướng cơ bản: (1) Thuần túy ngữ pháp, (2) Thuần túy giao tiếp, (3) Giao

tiếp trên nền tảng ngữ pháp.”

Cụm từ “dạy tiếng” trong phần Tiêu đề đã đƣợc lặp lại 2 lần trong phần Dẫn

nhập để gắn kết hai phần này với nhau. Và phần Dẫn nhập ngắn gọn này gồm 4 câu.

âu 1 đƣa ra tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu bằng một câu có ý tƣơng phản.

Cụm từ “dạy tiếng” đƣợc lặp lại từ tiêu đề của bài báo. âu 2 sử dụng phép nối có

quan hệ hệ quả - nguyên nhân để giải thích lý do cho câu 1. Phép lặp đƣợc sử dụng

trong câu 3 để nhắc lại vấn đề nghiên cứu và đề cập đến những quan điểm khác

nhau về vấn đề này, đồng thời chỉ ra mục đích và cấu trúc của bài nghiên cứu.

Ngữ liệu 46: Bài báo “Một số hệ luận rút ra từ kinh nghiệm tổ chức chính

quyền đầu thời Nguyễn” [Tạp chí KHXH&NV, tập 26, số 1, 2010, tr.53], phần Dẫn

nhập đƣợc trình bày nhƣ sau:

“Vương triều Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng, được thành lập trên

danh nghĩa tới gần một thế kỷ rưỡi, nhưng thực sự chỉ điều hành đất nước chưa đầy

một trăm năm với nhiều biến cố thăng trầm. Triều Nguyễn đạt được không ít thành

tựu trong sự nghiệp trị quốc, nhưng đồng thời cũng phạm phải những sai lầm không

nhỏ, thậm chí còn bị qui là cam tâm bán nước, có tội với dân tộc. Đánh giá một

triều đại như vậy là điều không hoàn toàn đơn giản.

Dưới ánh sáng của đường lối Đổi mới, nhận thức khoa học về nhiều vấn đề

lịch sử của dân tộc, trong đó có triều Nguyễn cũng đã từng bước được nâng lên.

Trong xu thế đó, việc tiếp tục nghiên cứu để nâng cao nhận thức khách quan, khoa

học về các vấn đề lịch sử phức tạp là việc làm cần thiết.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tập trung nghiên cứu mô hình nhà

nước trong thời kỳ trị vì của hai hoàng đế đầu triều (Gia Long và Minh Mạng)

trong mối liên hệ với bối cảnh lịch sử, hệ thống luật pháp và sự thừa hưởng các

triều đại phong kiến trước đó nhằm làm rõ thiết chế chính trị, cấu trúc bộ máy

chính quyền từ trung ương đến địa phương, qua đó chỉ ra những đóng góp về tổ

131

chức hành chính của triều Nguyễn, hy vọng góp thêm bài học kinh nghiệm trong

công cuộc cải cách hành chính và quản lý đất nước hiện nay”.

ó thể nhận thấy, từ “triều Nguyễn” trong tiêu đề bài báo đã đƣợc sử dụng

lặp lại 4 lần trong phần Dẫn nhập để tạo sự kết nối đề tài trong hai phần. Ngoài ra,

cụm từ “tổ chức chính quyền” trong phần tiêu đề và các từ “điều hành đất nước”,

“trị nước”, “mô hình nhà nước”, “cải cách hành chính” và “quản lý đất nước” là

những từ đƣợc sử dụng có sự phối hợp với nhau về trƣờng nghĩa miêu tả, nên đã tạo

đƣợc sự liên kết chặt chẽ giữa tiêu đề và nội dung vấn đề nghiên cứu trong phần

Dẫn nhập.

Phần Dẫn nhập ngắn gọn này gồm 6 câu, đã tạo ra một không gian nghiên

cứu và có cấu trúc gồm 3 phần nhƣ sau:

Phần 1 (câu 1, 2 và 3): âu 1, câu 2 sử dụng phép lặp “triều Nguyễn” để kết

nối và giới thiệu đề tài nghiên cứu, bối cảnh nghiên cứu. âu 3 đƣa ra ý kiến nhận

xét tầm quan trọng cần nghiên cứu và đánh giá về lĩnh vực này. Phép quy chiếu chỉ

định đƣợc sử dụng để gắn kết với những câu trƣớc đó.

Phần 2 (câu 4, 5): âu 4, 5 nhấn mạnh về sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu.

Phép lặp và quy chiếu chỉ định đƣợc sử dụng để liên kết đề tài - chủ đề.

Phần 3 (câu 6): âu 6 đƣa ra mục đích, phạm vi và giá trị ứng dụng của kết

quả nghiên cứu. Phép lặp đƣợc sử dụng để duy trì đề tài trong phần này.

Phần Dẫn nhập của bài báo này tuy ngắn gọn nhƣng đã đáp ứng đƣợc những

thông tin khái quát về mục đích, tầm quan trọng và tính ứng dụng của đề tài nghiên

cứu. Phép liên kết lặp và quy chiếu chỉ định đƣợc sử dụng một cách phù hợp đã góp

phần tạo sự liên kết mạch lạc cho nội dung ngữ nghĩa của phần Dẫn nhập này.

Nhƣ vậy, qua ngữ liệu 45, 46 đã đề cập ở trên và số liệu khảo sát 586 bài báo

KHXH&NV - ngoại trừ các bài báo thiếu phần dẫn nhập (chiếm 7% và chủ yếu là

những bài báo từ năm 1985 đến năm 1995), do một số bài báo là bài đề dẫn, phát

biểu khai mạc hội thảo, hồi ức về một danh nhân văn hóa, trình bày một sự kiện lịch

sử hay giải thích về một điều luật nào đó - các bài báo có phần dẫn nhập đều đảm

bảo sự kết nối mạch lạc với đề tài - chủ đề đã xuất hiện tại tiêu đề và là cầu nối quan

trọng cho phần nội dung tiếp theo của VB.

132

3.3.2.4. Phương pháp nghiên cứu và Kết quả nghiên cứu

Phần Kết quả nghiên cứu (Results) trong các bài báo KHXH&NV đã cụ thể

hóa những nội dung đƣợc định hƣớng trong phần Dẫn nhập và phần bối cảnh

nghiên cứu, chứng minh việc tác giả sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ thế nào.

húng thƣờng đƣợc cụ thể hóa qua các mục đánh số và đặt tên. ây chính là những

chủ đề con phục vụ cho chủ đề chung của toàn VB, tuân theo logic cần và đủ. Ngữ

liệu khảo sát cho thấy, phần này đóng vai trò quan trọng nhất trong VB và không

bài báo KHXH&NV nào thiếu phần nội dung này. ấu trúc nghĩa của VB đƣợc thể

hiện qua việc trình bày và phân cấp các ý bằng cách đánh dấu các đề mục và sắp

xếp trật tự của chúng tuân theo một logic khoa học chặt chẽ.

Từ các số liệu khảo sát, các chứng cứ thu thập đƣợc, tác giả nghiên cứu xem

xét các sự việc, hiện tƣợng và từ các hiện tƣợng riêng lẻ, cụ thể rút ra những nhận

định, kết luận, những nguyên tắc chung theo cách quy nạp. ây chính là phần tác

giả trả lời cho mục đích nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu của bài báo khoa

học, đã phát hiện ra đƣợc vấn đề gì và kết quả chính, kết quả phụ.

Số liệu thống kê 586 bài báo cho thấy, ngoại trừ 195 bài báo (33%) tác giả

không đề cập cụ thể đến Phƣơng pháp nghiên cứu (chỉ trình bày kết quả nghiên cứu

bằng phƣơng pháp định tính: phân tích, chứng minh), 67% các bài báo có Phƣơng

pháp nghiên cứu đều có phần Kết quả nghiên cứu thể hiện sự nhất quán với phƣơng

pháp nghiên cứu đã thực hiện.

Ngữ liệu 47, bài báo “Đường hướng lấy người học làm trung tâm trong dạy

- học ngoại ngữ”, có phần Phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ sau:

“Trong bài viết này chúng tôi dự định sẽ trình bày quan niệm của chúng tôi về

“đường hướng lấy người học làm trung tâm trong dạy - học ngoại ngữ”. Để có thể

giải quyết được vấn đề, chúng tôi tổ chức bài viết xung quanh hai nội dung chính: (i)

cơ sở lý luận của việc chuyển trọng tâm từ người dạy sang người học; (ii) đường

hướng lấy người học làm trung tâm và vai trò, nhiệm vụ của người dạy và người học.

Trong phần kết luận, sau khi trình bày một số cách hiểu chưa phù hợp về khái niệm

“lấy người học làm trung tâm” chúng tôi sẽ đưa ra một số gợi ý để nghiên cứu tiếp

trong tương lai.” [Tạp chí KHXH&NV, tập 16, số 2, năm 2000, tr.37].

133

Phần Phƣơng pháp nghiên cứu của bài báo này đƣợc đặt trong phần Dẫn

nhập và đã trình bày phƣơng pháp, phạm vi thực hiện của bài nghiên cứu là: trình

bày quan điểm của ngƣời viết về đƣờng hƣớng “lấy người học làm trung tâm”, đồng

thời giới thiệu khái quát hai nội dung chính sẽ đề cập trong phần nội dung nghiên

cứu, sau đó đƣa ra những gợi ý để thực hiện tốt chủ trƣơng đúng đắn này và đề xuất

những phƣơng diện mới cần nghiên cứu tiếp trong tƣơng lai. Phần Phƣơng pháp

nghiên cứu này đã có sự thống nhất, mạch lạc với phần nội dung, kết quả nghiên

cứu nhƣ sau:

Ngữ liệu 48: Phần Kết quả nghiên cứu đã đƣợc trình bày qua các đề mục nhỏ

của bài báo:

“2. Cơ sở của việc chuyển trọng tâm từ người dạy sang người học/ 2.1. Dẫn

luận…/ 2.2. Cơ sở tâm lý…/ 2.3. Cơ sở xã hội…

3. Đường hướng lấy người học làm trung tâm và vai trò của người dạy và

người học/ 3.1. Dẫn luận…/3.2. Tổ chức hoạt động trong và ngoài lớp học…/3.3.

Cộng tác giữa người dạy và người học trong thiết kế chương trình/…/3.4. Vai trò và

trách nhiệm của người dạy…/3.5. Vai trò của người học…

4. Kết luận”

Nhƣ vậy, phần trích dẫn nội dung và kết quả nghiên cứu của bài báo trên cho

thấy, các cơ sở lý luận về tâm lý và xã hội (các căn cứ đƣa ra chứng minh) và phần

trình bày quan điểm về vai trò của ngƣời dạy và ngƣời học trong “đường hướng lấy

người học làm trung tâm” đã xuất hiện bằng cách lặp lại các cụm từ này từ phần

Phƣơng pháp, để triển khai làm nội dung trọng tâm trong phần trình bày Kết quả

nghiên cứu. Nội dung trong phần Kết quả nghiên cứu đã có sự phù hợp nhất quán

với phƣơng pháp nghiên cứu định tính đƣợc đề cập trong phần Dẫn nhập. iều này

cho thấy sự liên kết chặt chẽ và thống nhất mạch lạc giữa hai yếu tố này trong VB.

Ngữ liệu 49, Bài báo: “Mấy ý kiến về việc chuẩn hóa thuật ngữ thương mại

tiếng Việt”, có phần Phƣơng pháp nghiên cứu (đƣợc đặt trong phần Dẫn nhập) là:

“Khác với các lĩnh vực KHXH&NV - kỹ thuật, ở đó công tác nghiên cứu,

chỉnh lý và chuẩn hóa thuật ngữ có lịch sử lâu dài đã được bắt đầu ngay từ sau

Cách mạng Tháng Tám đến nay và thu được nhiều thành tựu to lớn, việc xem xét,

134

đánh giá và chuẩn hóa thuật ngữ thương mại có thể nói vẫn chưa được tiến hành.

Vì vậy, trong bài báo này chúng tôi muốn từ sự phân tích, đánh giá thực trạng của

thuật ngữ thương mại tiếng Việt hiện nay và nêu lên một số ý kiến về việc chuẩn

hóa chúng.

Đối tượng được chúng tôi thống kê, phân tích là các thuật ngữ thương mại

trong ba cuốn từ điển đối chiếu có uy tín hiện nay. Đó là:

+ Từ điển ngoại thương Anh - Việt - Nga - Pháp có phần định nghĩa kèm

theo của nhóm tác giả: Nguyễn Đức Dỵ, Đỗ Mộng Hùng, Vũ Hữu Tửu, Vũ Hoài

Thủy do trường Đại học Ngoại thương ấn hành, H., 1985.

+ Từ điển ngoại thương Nhật - Việt - Anh của Nguyễn Văn Hảo, do NXBGD

chuyên nghiệp ấn hành, H.,1992.

+ Từ điển Việt - Anh thương mại - tài chính thông dụng của Công ty dịch

thuật quốc tế, do NXB Thống kê ấn hành, H., 1996.” [Tạp chí KHXH&NV, tập 16,

số 1, năm 2000, tr.8].

Tác giả đã nêu ra Phƣơng pháp đƣợc sử dụng trong bài báo là định lƣợng

và định tính (đƣợc cụ thể bằng các thủ pháp: thống kê, phân tích, đánh giá, nhận

xét thực trạng tình hình sử dụng của các thuật ngữ thƣơng mại tiếng Việt hiện nay

và đƣa ra những đề xuất, gợi ý trong việc cần chuẩn hóa chúng). Phần trình bày

Kết quả nghiên cứu đã có sự thống nhất với phần Phƣơng pháp đƣợc tác giả đƣa

ra, qua sự xuất hiện những nội dung thông tin trùng khớp với những mô tả trong

phần Phƣơng pháp nghiên cứu và cách lập luận chặt chẽ của những dẫn chứng (số

liệu, bảng biểu), 5 luận cứ và 5 kết luận bộ phận, góp phần bổ sung ý nghĩa cho

kết luận lớn và tạo sự mạch lạc cho toàn bài báo (đã đƣợc phân tích trong mục

3.2.1).

Nhìn chung, kết quả khảo sát cho thấy, Phƣơng pháp nghiên cứu trong các

bài báo KHXH&NV đƣợc tác giả đƣa ra đã có sự thống nhất với nội dung Kết quả

nghiên cứu trong bài báo đó. Và không xuất hiện trƣờng hợp bài báo khoa học mô

tả phƣơng pháp thực hiện sai (hoặc không trùng khớp) so với nội dung kết quả

nghiên cứu. Do đó, mối quan hệ thống nhất giữa hai phần này trong ngữ liệu đƣợc

khảo sát đã cho thấy sự đóng góp tạo ra giá trị mạch lạc cho các bài báo

135

KHXH&NV. Bởi vì, nếu phƣơng pháp nghiên cứu không phù hợp (hoặc mâu

thuẫn) với nội dung trong bài báo sẽ xảy ra hiện tƣợng vi phạm mạch lạc.

Ngoài ra, đặc điểm mạch lạc trong quan hệ giữa Phƣơng pháp nghiên cứu và

Kết quả nghiên cứu trong các bài báo KHXH&NV đã minh chứng rõ hơn cho nhận

định của Unesco về việc “khoa học xã hội hiện đại đã căn cứ vào sự quan sát thực

nghiệm có hệ thống về nhiều lĩnh vực đời sống xã hội” [97, tr.10]. Bởi vì, ngữ liệu

đƣợc khảo sát cho thấy, phƣơng pháp nghiên cứu kết hợp định tính (mô tả, phân

tích, diễn giải) và định lƣợng (các số liệu khảo sát, bảng biểu thống kê) đã xuất hiện

nhiều trong các bài báo khoa học thuộc các ngành: Xã hội học (92%), Kinh tế

(74%), Ngôn ngữ (67%), Giáo dục (58%). ặc điểm này có sự logic với hiện tƣợng

phép nối xuất hiện nhiều trong các bài báo khoa học ngành Ngôn ngữ và Xã hội học

(đã đề cập trong mục 2.2.3) so với ngành Lịch sử và Văn học (sử dụng chủ yếu là

phƣơng pháp định tính).

3.3.2.5. Kết quả nghiên cứu và Thảo luận

Trong các bài báo KHXH&NV, sau khi trình bày những Kết quả nghiên cứu

thƣờng xuất hiện phần Thảo luận (bình giá, kiến nghị hay nhấn mạnh ý nghĩa của

kết quả nghiên cứu). ây là kiểu quan hệ đánh giá (evaluation) [117, tr.9]. Ngƣời

viết đã bình phẩm, nhận xét trƣớc sự kiện, hiện tƣợng hay kết quả nghiên cứu trong

bài viết bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp.

Phần Thảo luận thƣờng gồm 5 thành phần là: Nhắc lại Giả thuyết nghiên cứu

(hay mục đích nghiên cứu), nêu Kết quả chính của nghiên cứu, Giải thích ý nghĩa,

iểm hạn chế của nghiên cứu và Nhu cầu cần nghiên cứu thêm [98].

Số liệu khảo sát trong Sơ đồ 3.9 đã chỉ ra, 96% các bài báo có thảo luận về

nội dung, kết quả nghiên cứu, nhƣng không phải tất cả các bài báo đều xuất hiện

đầy đủ 5 thành phần trên. Và phần Thảo luận trong các bài báo KHXH&NV xuất

hiện sau phần Kết quả nghiên cứu (54%) hoặc sau phần Kết luận của bài báo đó

(chiếm tỷ lệ 46%). Những ý kiến thảo luận (hay bàn luận) đều có sự liên kết, thống

nhất mạch lạc với phần Kết quả nghiên cứu. ó thể nhận ra đặc điểm này qua một

số ngữ liệu đƣợc trích dẫn nhƣ sau.

136

Ngữ liệu 50: Bài báo “Vấn đề lương tâm trong kịch Sêkhôp”, có phần kết

luận là:

“Lương tâm nhân vật trong tác phẩm Sêkhôp gắn với lương tâm nhà văn và

lương tâm độc giả, khán giả trong những mối quan hệ chặt chẽ. Qua hồi ký của

những người cùng thời, ghi chép và thư từ của tác giả, chúng ta thấy Sêkhôp đau

khổ lương tâm, luôn cảm thấy là người có lỗi trước cuộc sống không hoàn thiện

chung quanh mình, luôn luôn có ý thức trách nhiệm về tình trạng đó. Ông thiết tha

mong mỏi mọi người hiểu rõ bản thân và cuộc sống đương thời, ông tin rằng khi đã

hiểu thì mọi người sẽ sống tốt hơn, đẹp hơn. Ông gửi gắm niềm tin và hy vọng vào

các nhân vật, nhắc nhở và chờ đợi họ thức tỉnh lương tâm, nhìn mọi việc bằng con

mắt mới. Ông đã làm tất cả những gì có thể làm được để cho hạnh phúc cá nhân

của mỗi người gắn với cuộc sống lương thiện, tử tế hướng về tương lai tươi đẹp.

Mỗi người phải chịu trách nhiệm về đất nước và nhân dân và phải xứng đáng với

đất nước và nhân dân.

Sêkhôp tái hiện cuộc sống trung thực với tất cả những mâu thuẫn phức tạp

và những yêu cầu bức thiết của nó, đặc biệt trong những năm chuẩn bị cách

mạng, do đó đã thức tỉnh lương tâm mọi người, tạo khả năng để phủ định điều

này, khẳng định điều kia, phân tích và kết luận đúng đắn. Sự thức tỉnh của nhân

vật gợi cho độc giả, khán giả những cảm xúc trữ tình, những chọn lựa và hành

động theo lương tâm. Từ những câu hỏi: đúng hay sai, thật hay giả, tốt hay xấu,

nên làm hay không nên làm mà phát hiện, khám phá sự thật, mà ý thức được trách

nhiệm đạo đức đối với mỗi hành vi của mình trước những người chung quanh,

trước xã hội và bản thân.

Lương tâm là vấn đề của mọi thời đại, của cuộc sống hôm nay, của đấu

tranh đổi mới và phát triển. Sêkhôp mới nói đến lương tâm con người, cụ thể hơn là

lương tâm người tri thức trung thực, người tri thức - công dân. Mỗi giai đoạn tiếp

theo lại có những đòi hỏi mới cao hơn. Vấn đề lương tâm người cách mạng, người

đảng viên, người công dân xã hội chủ nghĩa còn ở ngoài trang viết của nhà văn,

nhưng những điều Sêkhôp viết vẫn gợi cho chúng ta suy nghĩ về lương tâm và trách

137

nhiệm đối với mỗi ý nghĩ và hành vi của mình, đối với mỗi bước đi, mỗi khoảnh

khắc quý giá trong cuộc đời chỉ có một lần của mình.” [Tạp chí KHXH&NV, số 3,

1988, tr.11].

Phần Kết luận của bài báo trên bao gồm ba đoạn văn và hai đoạn có tác dụng

tổng kết, tóm lƣợc, khái quát lại những dẫn chứng đã phân tích trong phần Kết quả

nghiên cứu, tập trung chính vào đề tài của bài báo là “vấn đề lương tâm trong kịch

Sêkhôp”. oạn văn cuối cùng mang tính chất thảo luận, có thể sơ đồ hóa những nội

dung chính nhƣ sau:

Bảng 3.14: Cấu trúc nghĩa phần thảo luận của bài báo

“Vấn đề lƣơng tâm trong kịch Sêkhôp”

Nội dung Tóm tắt ý chính Số thứ

tự câu

ịnh nghĩa và nhắc Lƣơng tâm là vấn đề của mọi thời đại, của cuộc

lại vai trò của đề tài (1) sống hôm nay, của đấu tranh đổi mới và phát triển

nghiên cứu

Hạn chế của kết quả Sêkhôp đề cập đến lƣơng tâm của ngƣời tri thức (2) trong giai đoạn đó nghiên cứu

Sẽ có đòi hỏi khác cao hơn về lƣơng tâm của ngƣời Dự báo về hƣớng (3) tri thức trong giai đoạn mới nghiên cứu mới

Nhấn mạnh ý nghĩa Những vấn đề về lƣơng tâm đƣợc Sêkhôp đặt ra

và vai trò của đề tài đã gợi cho chúng ta suy nghĩ về lƣơng tâm và

nghiên cứu (4) trách nhiệm của mỗi chúng ta trƣớc những hành vi

và việc làm của chính mình trong cuộc sống

ngày hôm nay

Bảng 3.14 cho thấy, phần Thảo luận đã khẳng định lại giá trị, ý nghĩa của

vấn đề nghiên cứu “lương tâm trong kịch của Sêkhôp” và gợi mở những suy nghĩ về

đề tài “lương tâm” đối với ngƣời đọc, do đó đã đáp ứng đƣợc yêu cầu của phần

Thảo luận trong bài báo này.

138

Bên cạnh đó, phần Thảo luận đã có sự kết nối chặt chẽ với đề tài và Kết luận

trong hai đoạn văn trên của bài báo (tóm lƣợc lại kết quả nghiên cứu), nhờ sử dụng

phép lặp từ “lương tâm” 5 lần trong phần thảo luận và mạch lạc trong sự thống nhất

đề tài - chủ đề giữa các câu, các từ ngữ trong một câu và trật tự logic hợp lý giữa

các câu.

Tóm lại, ngoại trừ 2% các bài báo khoa học thiếu phần Thảo luận và 2% các

bài báo khoa học là bài đề dẫn hội thảo, phân tích một sự kiện lịch sử hay hồi ký về

danh nhân văn hóa, phần Thảo luận trong 96% các bài báo KHXH&NV đƣợc khảo

sát đã có sự kết nối chặt chẽ và mạch lạc ngữ nghĩa với Kết quả nghiên cứu (khái

quát lại nội dung nghiên cứu, diễn giải giá trị và ý nghĩa lý luận hoặc thực tiễn của

kết quả nghiên cứu đó).

3.3.2.6. Kết luận và toàn bộ bài báo

Tất cả các bài báo KHXH&NV đƣợc khảo sát đều có phần Kết luận và có sự

liên kết mạch lạc với toàn bộ bài báo. Phần này đóng vai trò quan trọng trong việc

khái quát lại kết quả nghiên cứu, chỉ ra những kết quả đã đạt đƣợc và có bài báo đã

gợi ý tiếp những khía cạnh, những vấn đề cần đƣợc tiếp tục nghiên cứu thêm.

Ngữ liệu 51: Bài báo “Kinh tế tri thức và phát triển chương trình đào tạo đại

học hiện đại”, có phần kết luận nhƣ sau:

“Phát triển chương trình đào tạo đại học nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực có

trình độ cao của xã hội hiện đại và nền kinh tế tri thức đặc biệt là chương trình đào

tạo theo môđun với học chế tín chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội và yêu cầu liên

thông trong hệ thống giáo dục đại học là một vấn đề rất khó khăn và phức tạp.

Trước hết nó đòi hỏi phải đổi mới căn bản các quan niệm, cách thức phát triển

chương trình đào tạo, chuyển từ chương trình đào tạo kiểu hàn lâm truyền thống,

nặng về cung cấp hệ thống tri thức sang chương trình đào tạo hiện đại theo định

hướng mục tiêu và nhu cầu phát triển nghề nghiệp. Đổi mới chương trình đào tạo là

điều kiện cơ bản để chuyển đổi cách dạy - học ở bậc đại học với xu hướng tăng

cường ứng dụng các phương pháp dạy học tích cực hóa, kích thích tư duy, phát

triển năng lực thực hành, năng lực hành nghề ở người học. Công tác này cần sự

hợp tác, chia sẻ của các trường đại học và các nhà khoa học, nhà giáo, nhà quản

139

lý, nhà sử dụng lao động có quan tâm đến vấn đề phát triển chương trình đào tạo

đại học.” [Tạp chí KHXH&NV, tập 23, số 2, 2007, tr.135].

Phần Kết luận này đã có sự liên kết mạch lạc với nội dung phần Dẫn nhập

(nêu lý do, mục đích và căn cứ để phát triển chƣơng trình đào tạo đại học theo tinh

thần của Nghị quyết số 14/2005 của hính phủ về đổi mới căn bản và toàn diện

giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010) và phần Kết quả nghiên cứu của

bài báo (Cơ sở lý luận của việc cần phát triển chương trình đào tạo đại học gồm:

Nền kinh tế tri thức đang phát triển đòi hỏi giáo dục cần phát triển để là chìa khóa,

là nhân tố tiền đề cho sự phát triển của kinh tế - xã hội (kinh tế tri thức); một số đặc

điểm của chương trình đào tạo đại học hiện đại (theo chương trình môn học,

chương trình môđun và đào tạo theo năng lực thực hiện, phát triển chương trình

đào tạo theo chuẩn nghề nghiệp).

ác cụm từ “kinh tế tri thức”, “phát triển chương trình đào tạo đại học” đã

đƣợc lặp từ Tiêu đề, từ phần Dẫn nhập, Phƣơng pháp và Kết quả nghiên cứu, đồng

thời đƣợc lặp lại trong phần Kết luận để duy trì đề tài và tạo sự liên kết, thống nhất

và mạch lạc trong toàn bộ bài báo.

Nhìn chung, từ Ngữ liệu 51 trên và tất cả ngữ liệu đƣợc khảo sát có thể nhận

xét rằng, các kết luận trong các bài báo KHXH&NV đều là các kết luận trực tiếp và

logic (từ cụ thể đến khái quát). ây là kết luận của một lập luận chặt chẽ, một quá

trình nghiên cứu, tìm tòi và khảo sát mà ngƣời viết đã phát hiện ra. ồng thời, phần

kết luận của các bài báo KHXH&NV đã có sự liên kết mạch lạc, thống nhất với nội

dung toàn bài báo, thực hiện đúng nhiệm vụ là khái quát lại quá trình nghiên cứu,

kết quả nghiên cứu và 46% các bài báo đã đề xuất câu hỏi thảo luận hay gợi ý

hƣớng nghiên cứu tiếp theo.

Tóm lại, kết quả khảo sát 586 bài báo KHXH&NV - Tạp chí Khoa học,

HQGHN cho thấy, sự mạch lạc đã xuất hiện trong từng yếu tố thành phần (yếu tố

quan yếu) và mối quan hệ ngữ nghĩa chặt chẽ giữa các yếu tố đó, hƣớng tới đề tài –

chủ đề chung của VB để tạo thành một cấu trúc nghĩa hoàn chỉnh. ó chính là sự

sắp xếp các ý trong VB theo một trình tự logic nhất định (nội dung các ý tƣởng

khoa học trong VB), là một nghệ thuật trình bày và có sự đảm bảo thống nhất, kết

140

nối chặt chẽ trong trật tự hợp lý giữa các phần để triển khai một đề tài - chủ đề

nghiên cứu chung [132].

Hơn nữa, những dấu hiệu đặc trƣng thể hiện sự mạch lạc xuất hiện trong ngữ

liệu đƣợc thu thập có sự xuất hiện của các PLK đã cho thấy sự phù hợp với kết quả

khảo sát trong chƣơng 2 về vai trò quan trọng của các PLK và phƣơng tiện liên kết

đặc thù trong việc thể hiện các quan hệ nghĩa và đóng góp vào cấu trúc nghĩa các bài

báo KHXH&NV. iều này đúng với nhận định về vai trò quan trọng của liên kết,

“chỉ ra tính liên tục (continuity) của phần này với phần khác trong văn bản”, làm

cho ý nghĩa, mối quan hệ của các phát ngôn, các đoạn văn trong VB trở nên rõ ràng

hơn [112, tr.299] và cùng với mạch lạc sẽ tạo nên tính hoàn chỉnh cho VB. ồng

thời, kết quả nghiên cứu về đặc điểm mạch lạc trong cấu trúc các bài báo

KHXH&NV cũng đã minh chứng rõ hơn cho quan điểm “liên kết được định vị như

là tập hợp của một nguồn lực phi cấu trúc trong siêu chức năng văn bản và những

nghiên cứu sau này đã tập trung vào giá trị ngữ nghĩa của các nguồn lực liên kết và

mối quan hệ của chúng đối với cấu trúc của diễn ngôn” [118, tr.37].

Ngoài ra, không phải các bài báo KHXH&NV chỉ sử dụng phƣơng pháp định

tính để nghiên cứu về con ngƣời và xã hội (trong mục 1.2.2.3), kết quả khảo sát cho

thấy, phƣơng pháp định lƣợng (số liệu, bảng biểu) đã xuất hiện phổ biến trong các

bài báo khoa học thuộc các ngành Giáo dục (58%), Ngôn ngữ học (62%), Kinh tế

(74%), Xã hội học (92%). iều này cho thấy, các bài báo khoa học thuộc các ngành

gần khoa học tự nhiên đã chú trọng tới việc sử dụng phối hợp nhiều phƣơng pháp

nghiên cứu khoa học để tăng tính chính xác, thuyết phục và mạch lạc cho kết quả

nghiên cứu. Bên cạnh đó, kết quả khảo sát đã chỉ ra, ngoại trừ ngành Ngôn ngữ học,

các bài báo khoa học thuộc các ngành khoa học xã hội (Giáo dục, Pháp luật, Kinh

tế, Xã hội học) xuất hiện đầy đủ các yếu tố thành phần hơn so với các bài báo thuộc

ngành nhân văn (Lịch sử, Văn học, Triết học) (Bảng 3.10). Và cùng với sự sắp xếp

các yếu tố thành phần theo trật tự, sự logic rõ ràng của các thông tin (ý tƣởng) khoa

học xuất hiện trong các bài báo khoa học xã hội và các bài báo thuộc ngành Ngôn

ngữ học, có thể nhận thấy đặc điểm mạch lạc rõ ràng hơn so với các bài báo khoa

học thuộc ngành Văn học.

141

Tiếp theo, sự xuất hiện phổ biến của những mối quan hệ logic (chứng minh,

nhân - quả, đánh giá khái quát, quan hệ lập luận) của các câu, các đoạn văn và các

phần, đã làm sáng rõ sự mạch lạc, tƣờng minh nghĩa cho VB. iều này đã góp phần

làm sáng tỏ thêm cho khẳng định về tính mạch lạc phụ thuộc vào mối quan hệ của sự

kết hợp các mệnh đề (các yếu tố thành phần) trong VB, cấu trúc hệ thống cấp bậc

[117, tr.47].

Nhƣ vậy, kết quả khảo sát thu đƣợc đã chỉ ra, tuy tổng thể cấu trúc một bài

báo khoa học là khuôn hình cố định (bắt buộc phải xuất hiện đầy đủ các yếu tố

thành phần), nhƣng cấu tạo trong từng yếu tố thành phần là khuôn hình mềm dẻo

(do ảnh hƣởng của phong cách tác giả, ảnh hƣởng của yếu tố văn hóa, của tƣ duy

khoa học từng lĩnh vực, từng chuyên ngành, vấn đề nghiên cứu cụ thể). ồng thời,

mỗi yếu tố thành phần trong cấu trúc bài báo khoa học đều có chức năng riêng

(nhƣng có sự kết hợp chặt chẽ để làm nổi bật thông tin chung, đóng góp mới của tác

giả nghiên cứu) và sự xuất hiện đầy đủ của chúng cùng mối quan hệ logic, thống

nhất (hƣớng tới đề tài - chủ đề chung toàn VB) đã tạo nên sự rõ ràng, mạch lạc cho

các bài báo KHXH&NV. Ngoài ra, cấu trúc hình thức trong các bài báo

KHXH&NV đã thể hiện cấu trúc nội dung (cấu trúc nghĩa) cụ thể của các bài báo

đó. Ngữ liệu thu thập đƣợc cho thấy, chỉ xuất hiện 3% các bài báo có cấu trúc hình

thức của tên gọi các tiểu mục (các yếu tố thành phần của bài báo khoa học), 97%

các bài báo xuất hiện bằng cấu trúc nội dung (gồm 3 phần) là: Dẫn nhập (đặt vấn

đề), Nội dung (giải quyết vấn đề), Kết luận (và thảo luận). Cụ thể ba phần là: Dẫn

nhập (lý do, mục đích, phƣơng pháp nghiên cứu), Nội dung (kết quả nghiên cứu 1,

2, 3…), Kết luận (phần thảo luận thƣờng xuất hiện trƣớc hoặc sau kết luận). Khung

phân tích, trình bày bài báo nghiên cứu thƣờng đƣợc thể hiện qua cấu trúc, các tiểu

mục của bài báo KHXH&NV. Ví dụ, cấu trúc hình thức bài báo khoa học trong Ngữ

liệu 41 đã phân tích trong mục 3.3.2.

Tóm lại, ngữ liệu đƣợc khảo sát đã chỉ ra, các dấu hiệu mạch lạc về đề tài –

chủ đề, quan hệ lập luận, trật tự hợp lý giữa các câu, các đoạn và cấu trúc toàn VB

đã xuất hiện là đặc điểm mạch lạc đặc trƣng trong các bài báo KHXH&NV. Ngoài

ra, dấu hiệu mạch lạc trong quan hệ thời gian, không gian, nhân – quả đã xuất hiện

142

tạo sự mạch lạc cho mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các câu trong đoạn văn, giữa các

đoạn văn trong VB, nhƣng không xuất hiện trong toàn bộ bài báo KHXH&NV.

Xuất hiện trong toàn bộ các bài báo KHXH&NV là dấu hiệu mạch lạc theo trình tự

logic ngữ nghĩa (quan hệ trình tự diễn đạt) của các thông tin khoa học. iều này là

minh chứng rõ ràng hơn cho nhận định của Galperin, những mạch lạc liên tƣởng –

khơi gợi tình cảm (thời gian, không gian, nhân – quả) xuất hiện phổ biến trong các

VB nghệ thuật, nhƣng không xuất hiện phổ biến trong các VB khoa học, chính luận

và công vụ. Vì những VB đòi hỏi tính chính xác cao này thƣờng khơi gợi trí tuệ chứ

không khơi gợi tình cảm [31, tr.161].

143

Tiểu kết chƣơng 3

Việc tìm hiểu đặc điểm mạch lạc trong các bài báo KHXH&NV trên Tạp chí

Khoa học - HQGHN có kết quả là:

Bảy đặc điểm mạch lạc đều xuất hiện trong các bài báo KHXH&NV gồm:

Mạch lạc trong quan hệ giữa các từ ngữ trong một câu; Mạch lạc trong quan hệ đề tài

- chủ đề; Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ ngoại chiếu; Mạch lạc trong quan hệ lập

luận; Mạch lạc trong trật tự hợp lý giữa các câu; Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ

thích hợp giữa các hành động ngôn ngữ; Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa các

phần nêu đặc trƣng ở câu có quan hệ nghĩa với nhau. Nhƣng xuất hiện điển hình nhất

trong các bài báo KHXH&NV là: Mạch lạc trong quan hệ đề tài – chủ đề giữa các

câu; Mạch lạc trong quan hệ lập luận; Mạch lạc trong trật tự hợp lý giữa các câu, các

đoạn và cấu trúc toàn VB.

Mạch lạc trong quan hệ đề tài – chủ đề giữa các câu đã xuất hiện đậm nét

trong ngữ liệu đƣợc khảo sát. ề tài - chủ đề trong 100% các bài báo KHXH&NV

(thuộc các lĩnh vực: Pháp luật, Giáo dục, Kinh tế, Xã hội học, Lịch sử, Ngôn ngữ học,

Văn học, Triết học và các lĩnh vực khác) đều đảm bảo tính thống nhất, chặt chẽ và

logic bằng cách sử dụng hình thức duy trì đề tài - chủ đề của phép lặp, sử dụng từ

đồng nghĩa, phép quy chiếu, phép tỉnh lƣợc và xen kẽ trong phần nội dung là hình

thức phát triển chủ đề (sử dụng phép quy chiếu, phép nối, phối hợp từ ngữ), đồng thời

thêm dấu hiệu hình thức bằng cách phân cấp thành các mục, các tiểu mục, các phần

nhỏ (có số thứ tự và tiêu đề cụ thể) trong nội dung bài báo.

Quan hệ lập luận xuất hiện trong tất cả các bài báo KHXH&NV và đóng vai

trò quan trọng gia tăng tính chặt chẽ, mạch lạc cho VB. ác quan hệ lập luận xuất

hiện dày đặc trong các bài báo đã tạo sự mạch lạc cho đoạn văn, các yếu tố thành

phần, giữa các yếu tố thành phần để phục vụ đề tài – chủ đề toàn VB. Những cấu trúc

ngôn ngữ của luận điểm, luận cứ đã đƣợc lựa chọn, trình bày để dẫn dắt ngƣời đọc

hiểu và tin vào những kết luận khoa học đang đƣợc chứng minh và trình bày một

cách logic, khách quan trong VB. ồng thời, sự xuất hiện phổ biến của lập luận giản

đơn, tam đoạn luận trong các bài báo KHXH&NV đã giúp cho các kết luận (chủ yếu

144

theo kiểu qui nạp) – của các thông tin khoa học đang đƣợc phân tích, chứng minh trở

nên chặt chẽ, chính xác và tăng tính thuyết phục hơn.

Mạch lạc trong trật tự hợp lý giữa các câu, các đoạn và cấu trúc toàn VB đã

thể hiện rõ nét trong ngữ liệu đƣợc thu thập. Mạng lƣới các mối quan hệ logic xuất

hiện phổ biến giữa các câu, các đoạn trong các bài báo KHXH&NV bằng các

phƣơng tiện liên kết và là sự logic về khách quan (thời gian, không gian, nội dung

sự việc), logic của tƣ duy (quan hệ nhân - quả, khái quát, giải thích, bổ trợ, chứng

minh, trình tự diễn đạt các ý tƣởng khoa học…). Sự mạch lạc xuất hiện trong cấu

trúc các bài báo KHXH&NV thể hiện rõ trong từng yếu tố thành phần và mối quan

hệ nghĩa chặt chẽ giữa các yếu tố đó hƣớng tới đề tài – chủ đề chung của toàn VB.

Ngoài ra, nhiều phƣơng pháp quan sát mới, thu thập và xử lý dữ liệu (nghiên

cứu định lƣợng) đã xuất hiện phổ biến hơn trong các bài báo thuộc lĩnh vực khoa

học xã hội và ngành Ngôn ngữ học, tạo cơ sở vững chắc cho các kết quả nghiên

cứu, gia tăng tính mạch lạc và góp phần nâng cao chất lƣợng các bài báo

KHXH&NV trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay.

Nhìn chung, ba đặc điểm mạch lạc trên xuất hiện phổ biến trong các bài báo

KHXH&NV đƣợc khảo sát đã giúp cho VB có tính chính xác, thống nhất về nội

dung đề tài - chủ đề, tính logic – lý trí khoa học trong các luận điểm, luận cứ và giá

trị thông báo cao trong các kết quả nghiên cứu. Tuy nhiên, khi phân tích cụ thể đặc

điểm mạch lạc trong kết cấu toàn VB, còn một số bài báo KHXH&NV chƣa xuất

hiện đầy đủ các yếu tố thành phần là: phần giới thiệu (7%), phần tóm tắt (7%), phần

lịch sử vấn đề (31%), phần phƣơng pháp nghiên cứu (33%). Sự thiếu hoàn chỉnh về

cấu trúc hình thức này sẽ ảnh hƣởng đến cấu trúc nghĩa và sự mạch lạc của VB nói

riêng, chất lƣợng toàn VB nói chung. Vì vậy, để đảm bảo tính hoàn chỉnh về hình

thức và nội dung cho các bài báo KHXH&NV cần lƣu ý tới yêu cầu phải đầy đủ tất

cả các yếu tố thành phần của thể loại VB này.

145

KẾT LUẬN

Luận án “Đặc điểm liên kết và mạch lạc trong văn bản khoa học (qua các

bài báo KHXH&NV trên Tạp chí Khoa học - ĐHQGHN) đƣợc chúng tôi sử dụng

phƣơng pháp phân tích văn bản, phân tích diễn ngôn và một số thủ pháp khác để

khảo sát và tìm hiểu đặc điểm liên kết và đặc điểm mạch lạc xuất hiện đặc trƣng

trong các bài báo KHXH&NV, kết quả đạt đƣợc nhƣ sau:

1, Dựa trên việc hệ thống hóa các quan điểm về liên kết và mạch lạc, VB và diễn

ngôn, kết quả nghiên cứu trong chƣơng 1 đã góp phần làm rõ hơn cho cơ sở lý

thuyết của ngôn ngữ học VB về đặc trƣng của VB khoa học, quan hệ lập luận, đặc

điểm liên kết và mạch lạc, cấu trúc và đặc điểm của các bài báo KHXH&NV.

ặc điểm liên kết và mạch lạc là hai đặc điểm cơ bản để tạo ra VB và đánh

giá chất lƣợng các VB viết. Hai đặc điểm này đã tạo nên tính hoàn chỉnh về hình

thức và cấu trúc nội dung cho các bài báo KHXH&NV. Bởi vì, nhờ những dấu hiệu

liên kết hình thức (những yếu tố vật chất) mà mạch lạc (những yếu tố tinh thần) dễ

dàng đƣợc hiện thực và tƣờng minh hóa, do đó khi tạo lập và phân tích các VB khoa

học không thể không chú ý tới đặc điểm liên kết, đặc điểm mạch lạc của VB.

Ngoài ra, kết quả của công trình nghiên cứu này phù hợp với quan điểm của

các nhà nghiên cứu về việc cần xem xét một văn bản/ diễn ngôn cả ba mặt kết học,

nghĩa học và dụng học. Vì ba khía cạnh này có sự chi phối và điều chỉnh lẫn nhau

trong quá trình văn bản/ diễn ngôn đó hoạt động trong thực tiễn giao tiếp. Sự liên

kết chặt chẽ giữa các câu, các đoạn và các yếu tố thành phần của VB bằng một đến

hai PLK đã tạo sự kết nối hoàn chỉnh về hình thức và sự logic, mạch lạc trong nội

dung ngữ nghĩa, đồng thời đem lại hiệu quả giao tiếp cao cho các bài báo

KHXH&NV.

Bên cạnh đó, việc xuất hiện với mật độ dày đặc các PLK và các phƣơng tiện

liên kết đặc thù đã giúp cho nội dung ngữ nghĩa của VB trở nên chính xác và mạch

lạc, đồng thời có giá trị làm rõ màu sắc phong cách cho các bài báo KHXH&NV.

Do đó, kết quả nghiên cứu này cũng cung cấp thêm những minh chứng tích cực cho

146

lý thuyết về phong cách VB và những đặc điểm khu biệt của thể loại VB này so với

các loại VB khác.

2, Kết quả nghiên cứu của luận án trong chƣơng 2 đã cho thấy thực tế của việc sử

dụng hiệu quả các PLK và các đặc trƣng liên kết xuất hiện trong các VB khoa học,

cụ thể là các bài báo KHXH&NV trên Tạp chí Khoa học - HQGHN.

Ngữ liệu đƣợc khảo sát cho thấy, phép lặp, phép nối, phép quy chiếu chỉ định

đóng vai trò quan trọng trong VB và là những PLK đặc thù, còn phép tỉnh lƣợc và

phép thế xuất hiện không chiếm ƣu thế trong các bài báo KHXH&NV (3%). Phép

liên kết từ vựng xuất hiện chiếm tần số nhiều nhất so với các PLK khác (64%) và

gồm cả ba kiểu loại là: phép lặp, dùng từ đồng nghĩa - gần nghĩa - trái nghĩa và sử

dụng phối hợp từ ngữ. Phép lặp (chiếm 84% trên tổng số các PLK từ vựng đƣợc sử

dụng) là PLK đặc thù của các bài báo KHXH&NV đã giúp cho sự liên kết đề tài -

chủ đề trong bài báo đƣợc chặt chẽ và tƣờng minh. Phép nối đƣợc sử dụng phong

phú và chiếm vị trí đặc thù thứ hai (17%) trong các bài báo KHXH&NV đã giúp

cho nội dung nghĩa giữa các câu, các đoạn, các phần trong bài báo đƣợc chính xác,

logic và mạch lạc. Phép quy chiếu đƣợc sử dụng chiếm 16% trên tổng số các PLK

đã giúp cho VB trở nên ngắn gọn và chính xác, tránh hiện tƣợng lặp quá nhiều gây

nhàm chán trong VB.

Tiếp theo, bốn đặc trƣng liên kết đã xuất hiện trong các bài báo KHXH&NV.

Thứ nhất là, sự phối hợp chặt chẽ và hiệu quả của các PLK trong các bài báo

KHXH&NV. Nhiều trƣờng hợp hai PLK cùng xuất hiện phối hợp để liên kết hai

câu, hai đoạn văn trong bài báo. Thứ hai là, xuất hiện sự liên kết bằng “từ khóa”,

bằng “câu nối chuyển tiếp” giữa các đoạn văn trong ngữ liệu đƣợc khảo sát. ây

chính là phƣơng tiện liên kết đặc thù xuất hiện trong các VB khoa học. Thứ ba là,

đặc điểm xuất hiện các PLK trong các bài báo KHXH&NV thuộc lĩnh vực Khoa

học Xã hội và Khoa học Nhân văn có sự tƣơng đồng và khác biệt. ó là, PLK từ

vựng chiếm tỷ lệ cao nhất, phép thế và phép tỉnh lƣợc xuất hiện ít nhất, nhƣng phép

nối xuất hiện nhiều hơn trong các bài báo khoa học sử dụng kết hợp phƣơng pháp

định lƣợng và định tính so với các bài báo chỉ sử dụng phƣơng pháp định tính. Thứ

147

tƣ là, đặc điểm của các PLK trong bài báo KHXH&NV có sự khác biệt so với các

loại VB khác: Phép lặp chiếm vị trí cơ bản nhất và chủ yếu là hiện tƣợng lặp danh

từ (cụm danh từ) là các từ khóa (các thuật ngữ chuyên ngành) để tạo đƣợc sự chính

xác, nhất quán cho thông tin cần nhấn mạnh (đề tài - chủ đề của VB) và tô đậm

thêm tính trí tuệ (màu sắc phong cách cho ngôn ngữ khoa học); Phép nối chiếm vị

trí cơ bản thứ hai và xuất hiện phổ biến các từ nối kết mang nghĩa quan hệ bổ trợ -

chứng minh (ví dụ, đặc biệt là, hơn nữa, ngoài ra), những quán từ chỉ quan hệ bổ

trợ - khái quát (tóm lại, nhìn chung, kết quả là,) và điều này đã cho thấy đặc trƣng

khác biệt trong sự xuất hiện của phép nối so với trong các VB nghệ thuật, báo chí,

luật pháp; Phép quy chiếu chỉ định đƣợc sử dụng để tạo sự liên kết đã cho thấy

tính trang trọng, bình đẳng và khách quan của P KH và đặc điểm này có sự khác

biệt so với phép quy chiếu xuất hiện trong các VB nghệ thuật.

3, Kết quả nghiên cứu 586 bài báo KHXH&NV của LA tại chƣơng 3 cho thấy, bên

cạnh các dấu hiệu mạch lạc xuất hiện trong tất cả các đơn vị ngôn ngữ (từ, câu,

đoạn văn, thành phần quan yếu của bài báo) và mạch lạc trong quan hệ liên VB, tất

cả ngữ liệu đƣợc khảo sát đã xuất hiện ba dấu hiệu mạch lạc đặc trƣng là: Mạch lạc

trong quan hệ đề tài – chủ đề giữa các câu; Mạch lạc trong quan hệ lập luận; Mạch

lạc trong quan hệ giữa các câu, các đoạn, các yếu tố thành phần và cấu trúc toàn

VB. Ba đặc điểm mạch lạc này xuất hiện phổ biến trong ngữ liệu đƣợc thu thập đã

giúp cho các bài báo KHXH&NV có tính chính xác, thống nhất về nội dung đề tài -

chủ đề, tính logic chặt chẽ trong các luận điểm, luận cứ và các kết quả nghiên cứu

có giá trị thông báo cao. Ngoài ra, ba đặc điểm mạch lạc đặc trƣng trên xuất hiện đã

làm sáng rõ chức năng liên giao (transacional) theo cách gọi của Brown và Yule –

chức năng ý niệm (identional) theo cách gọi của Halliday - đối với thể loại VB này.

ặc trƣng mạch lạc trong quan hệ đề tài – chủ đề giữa các câu đã xuất hiện

đậm nét trong tất cả ngữ liệu đƣợc khảo sát. ề tài – Chủ đề trong các bài báo

KHXH&NV (một phần của yếu tố Trƣờng (field) thể hiện sự tƣơng tác xã hội thông

qua đề tài – chủ đề thuộc các lĩnh vực: Pháp luật, Giáo dục, Kinh tế, Xã hội học, Lịch

sử, Ngôn ngữ học, Văn học, Triết học và các lĩnh vực khác) đều đảm bảo tính thống

148

nhất và logic bằng hình thức chủ yếu là duy trì đề tài - chủ đề (của phép lặp, từ đồng

nghĩa, phép quy chiếu, phép tỉnh lƣợc). Tiếp theo là hình thức phát triển chủ đề đƣợc

thực hiện bởi phép quy chiếu, phép nối, phối hợp từ ngữ. Ngoài ra, sự mạch lạc trong

quan hệ đề tài – chủ đề của các đoạn, các phần trong VB đƣợc xuất hiện rõ ràng bằng

các dấu hiệu hình thức là sự phân cấp thành các mục, các tiểu mục, các phần nhỏ (có

số thứ tự và tiêu đề cụ thể) trong nội dung bài báo.

ặc trƣng mạch lạc phổ biến thứ hai là mạch lạc trong quan hệ lập luận. ác

quan hệ lập luận xuất hiện nhiều và đa dạng trong các bài báo KHXH&NV đã tạo sự

mạch lạc cho đoạn văn, các yếu tố thành phần, giữa các yếu tố thành phần và tổng thể

toàn VB. Tất cả kiểu lập luận đều xuất hiện (lập luận đơn giản, lập luận phức tạp,

mạng lập luận). ặc biệt là, sự xuất hiện phổ biến của lập luận đơn giản và tam đoạn

luận đã giúp cho nội dung thông tin trong các bài báo khoa học rất logic và chặt chẽ.

Ngoài ra, các quan hệ lập luận xuất hiện hiệu quả trong tất cả các bài báo

KHXH&NV đã cho thấy hai đặc điểm ngữ cảnh tình huống xuất hiện. ó là, dấu vết

của yếu tố thức (mode), yếu tố không khí (tenor) - theo quan niệm về ngữ vực

(register) của Halliday - đã tác động chi phối tới cách thức sử dụng ngôn ngữ mà các

tác giả tạo lập VB lựa chọn để tạo sự bình đẳng, khách quan, mạch lạc đặc thù trong

các bài báo KHXH&NV nói riêng và các VB thuộc P KH nói chung.

Dấu hiệu mạch lạc đặc trƣng thứ ba là mạch lạc trong trật tự hợp lý giữa

các câu, các đoạn và cấu trúc toàn VB. iều này đƣợc thể hiện mạng lƣới các mối

quan hệ logic xuất hiện phổ biến giữa các câu, các đoạn trong các bài báo

KHXH&NV bằng các phƣơng tiện liên kết và là sự logic về khách quan (thời gian,

không gian, nội dung sự việc), logic của tƣ duy (quan hệ nhân - quả, khái quát,

giải thích, bổ trợ, chứng minh, trình tự diễn đạt các ý tƣởng khoa học…). Và sự

mạch lạc xuất hiện trong cấu trúc các bài báo KHXH&NV đã thể hiện rõ trong

từng yếu tố thành phần cùng mối quan hệ nghĩa chặt chẽ giữa các yếu tố đó hƣớng

tới đề tài – chủ đề chung của toàn VB. Tuy nhiên, khi phân tích cụ thể đặc điểm

mạch lạc trong kết cấu toàn VB, còn một số bài báo KHXH&NV chƣa xuất hiện

đầy đủ các yếu tố thành phần là: phần giới thiệu (7%), phần tóm tắt (7%), phần

149

lịch sử vấn đề (31%), phần phƣơng pháp nghiên cứu (33%). Sự thiếu hoàn chỉnh

về cấu trúc hình thức này sẽ dẫn đến sự chƣa hoàn chỉnh về cấu trúc nội dung (cấu

trúc nghĩa) của các bài báo khoa học. Do đó, những hạn chế này rất cần đƣợc lƣu

ý khắc phục để hƣớng tới việc trình bày VB hoàn chỉnh về hình thức, mạch lạc về

nội dung. iều này sẽ góp phần gia tăng chất lƣợng, số lƣợng các bài báo khoa

học đạt chuẩn quốc gia và quốc tế.

Nhƣ vậy, từ kết quả nghiên cứu của chƣơng 2 và chƣơng 3, chúng tôi cho

rằng hai đặc điểm liên kết hình thức (cohesion) và liên kết mạch lạc (coherence) –

liên kết và mạch lạc - xuất hiện trong các bài báo KHXH&NV chứng tỏ hai đặc

điểm này có sự độc lập và ảnh hƣởng lẫn nhau trong các VB khoa học. ồng thời,

có thể khẳng định thêm rằng, cả liên kết và mạch lạc đều đóng vai trò quan trọng

trong thể loại VB này. Bởi vì, để đạt đƣợc mục đích giao tiếp (nhằm thông báo,

truyền tải thông tin, kết quả nghiên cứu khoa học), những dấu hiệu liên kết đặc thù

(những tín hiệu ngôn ngữ đánh dấu mạch lạc) đã góp phần làm sáng tỏ sự mạch lạc

(trong việc triển khai đề tài – chủ đề, các quan hệ lập luận, cấu trúc nghĩa nội dung)

của toàn bộ VB và giúp VB đảm bảo những đặc trƣng phong cách. Do đó, cần lƣu ý

đảm bảo những yêu cầu của hai đặc điểm liên kết và mạch lạc trong quá trình tổ

chức và tiếp nhận các bài báo KHXH&NV nói riêng, VB khoa học nói chung.

150

DANH MỤ ÔN TRÌN O ỌC CỦ TÁ Ả

L ÊN QU N ẾN LUẬN ÁN

1. (2012), “Một số hiệu quả của việc sắp xếp trật tự vế chính đứng trƣớc vế phụ

trong câu ghép chính phụ”, Tạp chí Ngôn ngữ (9), tr.59-70.

2. (2016), “ ặc điểm liên kết và mạch lạc trong cấu trúc nghĩa các bài báo khoa học

xã hội và nhân văn”, Tạp chí Khoa học Xã hội và Nhân văn (2b), tr.250-267.

3. (2017), “Nghiên cứu liên kết trong văn bản tiếng Việt”, Kỷ yếu hội thảo quốc

tế: Ngôn ngữ học Việt Nam: 30 năm đổi mới và phát triển. NXB Khoa học Xã

hội, tr.1191-1208.

4. (2017), “Rèn luyện năng lực phản biện và tổ chức các văn bản khoa học cho

sinh viên trong trƣờng đại học”, Kỷ yếu hội thảo quốc tế: Nghiên cứu và giảng

dạy Việt Nam học, NXB ại học Quốc gia Thành phố Hồ hí Minh, tr.355-362.

5. (2017), “ hiến lƣợc sử dụng phƣơng thức liên kết qua các ngữ vực”, Kỷ yếu hội

thảo Ngôn ngữ học toàn quốc lần thứ 20: Ngôn ngữ ở Việt Nam: Hội nhập và

phát triển, NXB Dân trí, tr.313-321.

6. (2018), “Phƣơng thức liên kết từ vựng trong việc tạo ra giá trị mạch lạc cho các

bài báo khoa học xã hội và nhân văn”, Tạp chí Từ điển và Bách khoa thư (1),

tr.54-60.

7. (2018), “Khảo sát các phép liên kết trong các bài báo Khoa học tự nhiên và Khoa

học xã hội nhân văn”, Tạp chí Ngôn ngữ (1), tr.65-80.

8. (2018), “Tình hình sử dụng các phép liên kết trong một số văn bản tiếng Việt

thuộc ba phong cách chức năng: nghệ thuật, hành chính, khoa học”, Tạp chí

Khoa học Xã hội và Nhân văn 4(1), tr.103-116.

9. (2018), “Một số đề xuất tăng cƣờng năng lực tổ chức văn bản khoa học cho sinh

viên các ngành khoa học xã hội và nhân văn”, Kỷ yếu hội nghị khoa học cán bộ

trẻ và học viên sau đại học năm 2017: Khoa học Xã hội và Nhân văn trong quá

trình toàn cầu hóa, NXB ại học Quốc gia Hà Nội, tr. 321-330.

151

T L ỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1. Lê , inh Trọng Lạc, Hoàng Văn Thung (2009), Giáo trình tiếng Việt 3, NXB

ại học Sƣ phạm, Hà Nội.

2. Phan Thị Ai (2012), Những vấn đề về mạch lạc văn bản trong bài làm văn của

học sinh phổ thông, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Trƣờng ại học Sƣ phạm Thành

phố Hồ hí Minh, Thành phố Hồ hí Minh.

3. Diệp Quang Ban (1998), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, NXB Giáo dục,

Hà Nội.

4. Diệp Quang Ban (2008), “Mạng mạch, mạch lạc, liên kết với việc dạy ngôn ngữ

trong nhà trƣờng”, Tạp chí Ngôn ngữ (8), tr.1-13.

5. Diệp Quang Ban (2012), Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản, NXB

Giáo dục Việt Nam.

6. Phạm Thế Bảo (2001), Viết một bài báo khoa học như thế nào, NXB Lao động

Xã hội, Hà Nội.

7. Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Quang Ninh, Trần Ngọc Thêm (1985), Ngữ pháp

văn bản và việc dạy làm văn, NXB Giáo dục Hà Nội, Hà Nội.

8. Brown .G, Yule .G. (1983), Phân tích diễn ngôn, (Trần Thuần dịch), NXB ại

học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

9. Phan Mậu Cảnh (2008), Lý thuyết và thực hành văn bản tiếng Việt, NXB ại

học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

10. Nguyễn Tài ẩn, Xtankevich N.V. (1973), “Góp thêm một số ý kiến về hệ

thống các đơn vị ngữ pháp”, Tạp chí Ngôn ngữ (2), tr.1-13.

11. ỗ Hữu hâu (2004), Giáo trình ngữ pháp văn bản, NXB ại học Sƣ phạm Hà

Nội, Hà Nội.

12. ỗ Hữu hâu (chủ biên), Nguyễn Thị Ngọc Diệu (1996), Giáo trình giản yếu

về ngữ pháp văn bản, NXB Giáo dục Hà Nội, Hà Nội.

13. ỗ Hữu hâu (2001), Đại cương ngôn ngữ học T. 2, NXB Giáo dục Hà Nội,

Hà Nội.

152

14. ỗ Hữu hâu, ỗ Việt Hùng (2007), Giáo trình ngữ dụng học, NXB ại học

Sƣ phạm Hà Nội, Hà Nội.

15. Vũ Thị Sao Chi (2017), Sơ thảo phong cách học định lượng tiếng Việt hiện đại,

NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

16. Mai Ngọc Chừ, Nguyễn Thị Ngân Hoa, ỗ Việt Hùng, Bùi Minh Toán (2011),

Nhập môn ngôn ngữ học, NXB Giáo dục Việt Nam.

17. Hoàng ao ƣơng (2007), “ ơ sở kết nối lời tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ (9),

tr.31- 49.

18. Nguyễn ức Dân, Lê ông (1985), “Phƣơng thức liên kết của từ nối”, Tạp chí

Ngôn ngữ (1), tr.32-40.

19. Nguyễn ức Dân (1998), Logic và tiếng Việt, NXB Giáo dục Hà Nội, Hà Nội.

20. Nguyễn ức Dân (2001), Ngữ dụng học T. 1, NXB Giáo dục Hà Nội, Hà Nội.

21. Nguyễn ức Dân, Lê ông (1998), “Lý thuyết lập luận”, Tạp chí Ngôn ngữ (5),

tr.33-46.

22. Nguyễn ức Dân (2005), Nhập môn logic hình thức và logic phi hình thức,

NXB ại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

23. Lƣơng ình Dũng (2005), “Phép nối và một vài suy nghĩ về phƣơng pháp dạy

nối trong tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ (6), tr.38-47.

24. Vũ ao àm (2005), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học

Kỹ thuật, Hà Nội.

25. Vũ ao àm (2005), Đánh giá nghiên cứu khoa học, NXB Khoa học Kỹ thuật,

Hà Nội.

26. Hữu ạt, Trần Trí Dõi, ào Thanh Lan (1998), Cơ sở tiếng Việt, NXB Giáo

dục, Hà Nội.

27. Hữu ạt (2000), Tiếng Việt thực hành, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

28. Hữu ạt (2011), Phong cách học tiếng Việt hiện đại, NXB Giáo dục Việt Nam.

29. inh Văn ức (2008), Ngôn ngữ học đại cương, NXB ại học Quốc gia Hà

Nội, Hà Nội.

30. inh Văn ức (2012), Ngôn ngữ học đại cương: Những nội dung quan yếu,

NXB Giáo dục Việt Nam.

153

31. Gal‟perin I.R. (1981), Văn bản với tư cách đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ

học (Hoàng Lộc dịch), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

32. Nguyễn Hƣơng Giang (2016), Mạch lạc trong văn bản hợp đồng kinh tế: So

sánh đối chiếu tiếng Anh với tiếng Việt, Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học, Trƣờng

ại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

33. Nguyễn Thiện Giáp (1998), Cơ sở ngôn ngữ học, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

34. Nguyễn Thiện Giáp (2000), Dụng học Việt ngữ, NXB ại học Quốc gia Hà

Nội, Hà Nội.

35. Nguyễn Thiện Giáp (2008), Giáo trình Ngôn ngữ học, NXB ại học Quốc gia

Hà Nội, Hà Nội.

36. Nguyễn Thiện Giáp (2010), 777 Khái niệm Ngôn ngữ học, NXB ại học Quốc

gia Hà Nội, Hà Nội.

37. Nguyễn Thiện Giáp (2016), Từ điển khái niệm ngôn ngữ học, NXB ại học

Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

38. Nguyễn Thị Hà (2010), Khảo sát chức năng ngôn ngữ văn bản quản lý nhà nước

qua phương pháp phân tích diễn ngôn, Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học. Trƣờng

ại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

39. Halliday M.A.K. (1985), Dẫn luận ngữ pháp chức năng (Hoàng Văn Vân dịch),

NXB ại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

40. inh Thị Xuân Hạnh (2012), Một số hiệu quả của việc sắp xếp trật tự vế chính

đứng trƣớc vế phụ trong câu ghép chính phụ. Tạp chí Ngôn ngữ (9), tr.55-64.

41. Dƣơng Thị Bích Hạnh (2016), “Hồ Chí Minh - về vấn đề giáo dục”, từ cách

tiếp cận của phân tích diễn ngôn, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Trƣờng ại học Sƣ

phạm Hà Nội, Hà Nội.

42. Phạm Văn Hảo (2007), “Thủ tƣớng Phạm Văn ồng với công tác “Giữ gìn sự

trong sáng của tiếng Việt””. Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống (9), tr.1-9.

43. ao Xuân Hạo (1991), Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng T. 1, NXB

Khoa học Xã hội, Hà Nội.

44. Hà Văn Hậu (2003), Mạch lạc trong một số văn bản phóng sự báo in, Luận văn

Thạc sĩ Ngữ văn, Trƣờng ại học Sƣ phạm Hà Nội, Hà Nội.

154

45. Nguyễn Thị Hiên (2014), “Những vấn đề về mạch lạc và liên kết với việc rèn kĩ

năng làm văn cho học sinh phổ thông”, Tạp chí Giáo dục (332), tr.36-39.

46. Hoàng Thị Hiền (2006), Các phương tiện liên kết thuộc phép liên kết từ vựng

trong truyện ngắn “Mảnh trăng cuối rừng” của Nguyễn Minh Châu, Luận văn

thạc sĩ Ngữ văn, ại học Sƣ phạm Hà Nội, Hà Nội.

47. Nguyễn Văn Hiệp (2010), Cú pháp tiếng Việt, NXB Giáo dục Hà Nội, Hà Nội.

48. Nguyễn hí Hòa (2006), Các phương tiện liên kết và tổ chức văn bản, NXB

ại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

49. Nguyễn hí Hòa (2010), Rèn luyện kỹ năng đọc và soạn thảo văn bản, NXB

ại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

50. Nguyễn Hòa (1999), Nghiên cứu diễn ngôn về chính trị - xã hội trên tư liệu báo

chí tiếng Anh và tiếng Việt hiện đại, Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học, Trƣờng ại

học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

51. Nguyễn Hòa (2003), Phân tích diễn ngôn, một số vấn đề lý luận và phương

pháp, NXB ại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

52. Võ Lý Hòa (2004), Tìm hiểu văn bản tóm tắt và phương pháp tóm tắt văn bản

(trên cơ sở các văn bản khoa học tiếng Việt), Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học,

Trƣờng ại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ hí Minh, Thành

phố Hồ hí Minh.

53. Phan Văn Hòa (1998), Phương tiện liên kết phát ngôn đối chiếu Ngữ liệu Anh -

Việt, Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học, Trƣờng ại học Khoa học Xã hội và Nhân

văn, ại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

54. Hà Thúc Hoan (1998), Tiếng Việt thực hành, NXB Thành phố Hồ hí Minh,

Thành phố Hồ hí Minh.

55. Mai Xuân Huy (2005), Ngôn ngữ quảng cáo dưới ánh sáng của lý thuyết giao

tiếp, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

56. Hồ Mỹ Huyền (2007), Về tỉnh lƣợc trong khẩu ngữ, Tạp chí Khoa học Xã hội

và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh (11), tr.88-98.

57. Nguyễn Thị Hƣờng (2010), Biểu hiện của mạch lạc trong thể loại báo cáo và tờ

trình thuộc văn bản hành chính công vụ, Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học, Viện

Ngôn ngữ học, Hà Nội.

155

58. Nguyễn Thị Thu Hƣờng (2013), Phân tích diễn ngôn xã luận trên báo Nhân

Dân 1975, Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học, Trƣờng ại học Khoa học Xã hội

và Nhân văn, ại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

59. inh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa (2004), Phong cách học tiếng Việt, NXB

Giáo dục Hà Nội, Hà Nội.

60. Phạm Thị Thùy Linh (2006), Phương thức quy chiếu và phương thức nối trong

một số văn bản khoa học, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Trƣờng ại học Sƣ phạm

Hà Nội, Hà Nội.

61. Phạm Thị Ly (2012), “ ánh giá khoa học qua trắc lƣợng thƣ mục: Những xu

hƣớng mới trên thế giới trong đánh giá khoa học xã hội, nghệ thuật và nhân

văn”, Khoa học Xã hội thời hội nhập, NXB ại học Quốc gia Thành phố Hồ hí

Minh, tr.206-219.

62. Bùi Thị Lý (2001), Quy chiếu với tư cách phương thức liên kết văn bản tiếng

Việt, Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn, Trƣờng ại học Sƣ phạm Hà Nội, Hà Nội.

63. John Lyons (1995), Ngữ nghĩa học dẫn luận (Nguyễn Văn Hiệp dịch), NXB

Giáo dục Hà Nội, Hà Nội.

64. Nguyễn Thị Ly Kha (2008), Ngữ pháp văn bản và luyện tập làm văn, NXB

Giáo dục, Hà Nội.

65. Lƣơng ình Khánh (2006), Phương thức liên kết nối và quan hệ giữa các phát

ngôn, Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học, Trƣờng ại học Sƣ phạm Hà Nội, Hà Nội.

66. Moskalskaja O. I. (1980), Ngữ pháp văn bản (Trần Ngọc Thêm dịch), NXB

Giáo dục Hà Nội, Hà Nội.

67. Bùi Văn Năm (2010), So sánh phương thức nối trong văn bản tiếng Việt và

tiếng Anh, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Trƣờng ại học Sƣ phạm Thành phố Hồ

hí Minh, Thành phố Hồ hí Minh.

68. Nguyễn Tiến Năng, Trần Việt Phƣơng, Lê Văn Yên (2009), Phạm Văn Đồng

tuyển tập (1976-2000) T. 3, NXB hính trị Quốc gia, Hà Nội.

69. Nguyễn Thị Hồng Ngân (2012), Cặp thoại trong hội thoại dạy học, Luận án

Tiến sĩ Ngôn ngữ học, Trƣờng ại học Sƣ phạm Hà Nội, Hà Nội.

156

70. Tôn Nữ Mỹ Nhật (2006), “ ấu trúc và cấu trúc chức năng của diễn ngôn”, Tạp

chí Ngôn ngữ (8), tr.45- 54.

71. Nunan. D (1993), Dẫn nhập phân tích diễn ngôn (Hồ Mỹ Huyền và Trúc Thanh

dịch), NXB Giáo dục Hà Nội, Hà Nội.

72. Hoàng Phê (2001), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học, NXB à Nẵng,

à Nẵng.

73. Hoàng Phê (2003), Logic - ngôn ngữ học, NXB à Nẵng, à Nẵng.

74. Hoàng Thị Minh Phúc (2009), Các biểu thức ngôn ngữ cố định trong văn bản

khoa học kỹ thuật tiếng Anh và các tương đương của chúng trong tiếng Việt,

Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học, Trƣờng ại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,

ại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

75. Trịnh Sâm (1995), Tiêu đề văn bản tiếng Việt, Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học,

Viện Khoa học Xã hội Thành phố Hồ hí Minh, Thành phố Hồ hí Minh.

76. Nguyễn Thị Việt Thanh (1999), Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt, NXB Giáo

dục Hà Nội, Hà Nội.

77. Nguyễn Thị Việt Thanh (2000), “Về một phƣơng thức biểu thị quan hệ ngữ

nghĩa giữa các câu”, Ngữ học trẻ, tr.103-109.

78. Nguyễn Văn Thâm (2003), Soạn thảo và xử lý văn bản quản lý nhà nước, NXB

hính trị Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

79. Phạm Văn Thấu (2000), Cấu trúc liên kết của cặp thoại, Luận án Tiến sĩ Ngôn

ngữ học, Học viện Khoa học Xã hội Hà Nội, Hà Nội.

80. Trần Ngọc Thêm (1981), “Một cách hiểu về tính liên kết của văn bản”, Tạp chí

Ngôn ngữ (2), tr.42-52.

81. Trần Ngọc Thêm (1999), Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, NXB Giáo dục

Hà Nội, Hà Nội.

82. Lê Tấn Thi (2006), Ngữ trực thuộc nối trong văn bản tiếng Việt và tiếng Anh,

Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học, Trƣờng ại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,

ại học Quốc gia Thành phố Hồ hí Minh, Thành phố Hồ hí Minh.

83. Nguyễn Thị Thìn (2003), “Về mạch lạc của văn bản viết”, Tạp chí Ngôn ngữ

(3), tr.44-57.

157

84. Nguyễn Phú Thọ (2008), So sánh các biện pháp liên kết từ vựng trong văn bản

tiếng Việt và tiếng Anh, Luận án Tiến sĩ Ngôn ngữ học, Trƣờng ại học Khoa

học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ hí Minh, Thành phố Hồ hí Minh.

85. ào Hồng Thu (2004), “Một số vấn đề của tiếng Việt trong khoa học”, Tạp chí

Ngôn ngữ và Đời sống (11), tr.12-15.

86. ào Hồng Thu (2007), “Ngôn ngữ chuyên ngành nhìn từ góc độ phƣơng pháp

giao tiếp trong văn bản khoa học và tiếp nhận văn bản khoa học”, Tạp chí Ngôn

ngữ và Đời sống (4), tr.18-21.

87. ào Hồng Thu (2009), Ngôn ngữ học khối liệu và những vấn đề liên quan.

NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

88. Hồ Thị Bích Thủy (2005), Liên kết và liên kết phi hình thức, Luận văn Thạc sĩ

Ngữ văn, Trƣờng ại học Sƣ phạm Hà Nội, Hà Nội.

89. Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp (2001), Tiếng Việt thực hành, NXB

ại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

90. Lê Hùng Tiến (1999), Một số đặc điểm của ngôn ngữ luật pháp tiếng Việt, Luận

án Tiến sĩ Ngôn ngữ học, Trƣờng ại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ại

học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

91. Phạm Văn Tình (2002), Phép tỉnh lược và ngữ trực thuộc tỉnh lược trong tiếng

Việt. NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

92. Bùi Minh Toán, Lê , ỗ Việt Hùng (1999), Tiếng Việt thực hành, NXB Giáo

dục, Hà Nội.

93. Hồ Ngọc Trung (2012), Phép thế trong tiếng Anh (trong sự liên hệ với tiếng

Việt), NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

94. Nguyễn Văn Tuấn (2011), Đi vào nghiên cứu khoa học, NXB Tổng hợp Thành

phố Hồ hí Minh, Thành phố Hồ hí Minh.

95. Nguyễn Văn Tuấn (2013), Từ nghiên cứu đến công bố: Kỹ năng mềm cho nhà

khoa học, NXB Tổng hợp Thành phố Hồ hí Minh, Thành phố Hồ hí Minh.

96. Cù ình Tú (2001), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, NXB Giáo

dục Hà Nội, Hà Nội.

158

97. Unesco 1999/2006: Khoa học Xã hội trên thế giới ( hu Tiến nh và Vƣơng

Toàn dịch), NXB ại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

98. https://nguyenphuocvinhco.com/2012/09/09/de-viet-phan-gioi-thieu-cua-mot-

bai-bao-nghien-cuu-khoa-hoc-bang-tieng-anh-writing-scientific-research-article-

introductions-in-eng.

99. http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-hoc-ung-dung/van-hoa-giao-

duc-khoa-hoc/2209-tran-ngoc-them-nhung-van-de-cua-khoa-hoc-xa-hoi-trong-

the-gioi-duong-dai.html.

Tiếng Anh

100. Alan G.G., Joseph E.H., Michael S.R. (2002), Communicating Science:

The Scientific Article from the 17th Century to the Present, Parlor Press, West

Lafayette, Indiana.

101. Ashby M. (2005), How to write a paper, Engineering Department,

University of Cambridge, Cambridge 6th Edition.

102. Asher P.E. (1994), The encyclopedia of language and linguistics, Pergamon

Press, New York (1,2,3,4,5,6,7,8,9,10).

103. Beaugrande R.D. (1980), Text, Discourse, and Process: Toward a

Multidisciplinary Science of Texts, London: Longman.

104. Beaugrande R.D., Dressler W. (1981), Introduction to Text Linguistics,

London & New York: Longman.

105. Bell R.T. (1991), Translation and Translating: Theory and Practice,

Longman Group Limited, London.

106. Bhatia V.K. (1993), Analysing Genre: Language Use in Professional

Settings, London & New York: Longman.

107. Brinton L.J. (2001), Historical discourse analysis, The Handbook of

Discourse Analysis, Oxford: Blackwell, pp. 138-160.

108. Cargill M.P. (2009), Writing Scientific Research Articles, Strategy and Steps,

Wiley - Blackwell.

159

109. Day R.A. (1998), How to Write and Publish a Scientific Paper, Cambridge

University Press.

110. Dontcheva N.O., Povolná R. (2009), Coherence and Cohesion in Spoken and

Written Discourse, Newcastle upon Tyne: Cambridge Scholars Publishing.

111. Gustavii B. (2008), How to write and illustrate scientific papers, Cambridge

University Press.

112. Halliday M.A.K, Hasan R. (1994), Cohesion in English, Edward Arnold,

London.

113. Halliday M.A.K (2004), An introduction to functional grammar, London,

Edward Amold.

114. Halliday M.A.K, Martin J.R. (2014), Writing Science: Literacy and

Discursive Power, University ef Pittsburgh Press.

115. Holliday A. (2007), Doing and writing qualitative research, Sage, London.

116. Lyall C., Bruce A., Tait J., Meagher L. (2011), Interdisciplinary Research

Journeys: Practical Strategies for Capturing Creativity, London: Bloomsbury

Academic.

117. Mann W.C., Thompson S.A. (1987), Rhetorical Structure Theory: A Theory

of Text Organization, (Reprinted from The Structure of Discourse), University

of Southern California.

118. Martin J.R. (2001), “ ohesion and texture”. In: Deborah Schiffrin, Deborah

Tannen and Heidi E. Hamilton (eds), The Handbook of Discourse Analysis,

Oxford: Blackwell, pp.35 - 53.

119. Menzel K., Lapshinova E., Koltunski, Kerstin K. (2017), Cohesion and

coherence in multilingual contexts. In: Menzel K., Ekaterina Lapshinova E.,,

Kerstin K., New perspectives on cohesion and coherence, Berlin: Language

Science Press, pp.1-11,

120. Monnipha Gardner (2004), Scientific language, Language Institute journal

(2), Thammasat University, pp.13-32.

121. Murray R. (2005), Writing for Academic Journals, England: Open University

Press.

160

122. Ritchie J., Lewis J. (2003), Qualitative research practice: A guide for Social

Science Students and Researchers, Sage Publications.

123. Schiffrin D.T., Hamilton E.H. (2001), Discourse markers: Language,

meaning and context, The Handbook of Discourse Analysis, Oxford: Blackwell,

pp.51-71.

124. Shahrokhi M., Sadeghi A., Dehnoo M. (2013), Lexical Cohesion Patterns in

Research Articles: Hard Science vs. Soft Science Disciplines, In: International

J. Soc. Sci. & Education Issue. 1(4), pp.196-204.

125. Stubbs M. (2001), “ omputer - assisted text and corpus analysis: lexical

cohension and communicative competence”, In: Deborah Schiffrin, Deborah

Tannen, Heidi E. Hamilton, The handbook of Discourse Analysis, Oxford:

Blackwell, pp.304-320.

126. Swales J. (2011), “Genre Analysis: English in Academic and Research

Setting”, Cambridge University Press.

127. Taboada M.T. (2004), Building coherence and cohesion, Amsterdam:

Benjamins.

128. Taboada M.T., Mann W.C. (2006), Rhetorical structure theory: looking

back and moving ahead, Discourse Studies 8(3), pp.423-459.

129. Tanskanen S.K. (2006), Collaborating towards Coherence: Lexical

Cohesion in English Discourse, Amsterdam: John Benjamins.

130. Van Dijk T. (1992), Text and Context: Explorations in the Semantics and

Pragmatics of Discourse, London: Longman.

131. aaref.com.au/attachment.aspx?id=2014.

132. https://core.ac.uk/download/pdf/51097381.pdf

133. https://papyr.com/hypertextbooks/comp1/coherent.ht

134. mek.oszk.hu/13100/13113/13113.pdf.

135. www.lithoguru.com/scientist/litho_papers/JM3%20Editorial%202015%

136. http://rgcl.wlv.ac.uk/papers/orasan-01b.pdf.

137. jultika.oulu.fi/files/isbn9789514293801.pdf.

138. 164.115.22.25/ojs222/index.php/tuj/article/.../196/192.

161

PHỤ LỤC

162

PHỤ LỤC 1:

QUYẾT ỊNH VỀ VIỆ B N H NH M T S BẢNG PHÂN LO I

TH NG KÊ KHO HỌ V ÔNG NGHỆ

163

B O Ọ V N Ò Ủ N Ĩ V ỆT

ÔN N Ệ NAM

------- ộc lập - Tự do - ạnh phúc

------------

Số: 12/2008/Q -BKHCN Hà Nội, ngày 04 tháng 09 năm 2008

QUYẾT ỊN

VỀ VIỆ B N H NH M T S BẢNG PHÂN LO I TH NG KÊ KHO HỌ

V ÔNG NGHỆ

B TRƢỞN B O Ọ V ÔN N Ệ

Căn cứ Nghị định số 28/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 03 năm 2008 của Chính phủ

quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học và

Công nghệ;

Căn cứ Nghị định số 40/2004/NĐ-CP ngày 13 tháng 02 năm 2004 của Chính phủ

quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thống kê;

Căn cứ Nghị định số 30/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 03 năm 2006 của Chính phủ về

thống kê khoa học và công nghệ;

Căn cứ Quyết định số 619/QĐ-BKHCN ngày 8 tháng 4 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ

Khoa học và Công nghệ về việc duy trì tổ chức và hoạt động của Trung tâm Thông

tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia;

Xét đề nghị của ông Giám đốc Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc

gia,

QUYẾT ỊN :

iều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này các bảng phân loại thống kê khoa học

và công nghệ sau:

- Bảng phân loại lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ;

- Bảng phân loại mục tiêu kinh tế - xã hội của hoạt động khoa học và công nghệ;

- Bảng phân loại dạng hoạt động khoa học và công nghệ.

iều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 15 ngày kể từ ngày đăng ông báo.

164

ác ông Giám đốc Trung tâm Thông tin Khoa học và ông nghệ Quốc gia, hánh

Văn phòng, Thủ trƣởng các đơn vị thuộc Bộ và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có

liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

T. B TRƢỞN

T Ứ TRƢỞN Nơi nhận:

- Nhƣ iều 2;

- Văn phòng hính phủ;

- ác Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan

thuộc hính phủ;

- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; Nguyễn Văn Lạng

- Tòa án nhân dân tối cao;

- UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc

Trung ƣơng;

- Tổng cục Thống kê;

- ục Kiểm tra văn bản QPPL (Bộ Tƣ

pháp);

- ông báo; Website của hính phủ;

- Lƣu VT, TTKH N

165

BẢN P N LO

LĨNH VỰ NGHIÊN ỨU KHO HỌ V ÔNG NGHỆ

(Ban hành kèm theo Quyết định số 12/2008/QĐ-BKHCN ngày 04 tháng 09 năm

2008 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ)

. LỚP 1. LĨN VỰ O Ọ V ÔN N Ệ

MÃ ẤP TÊN GỌI

1

Khoa học tự nhiên 1

Khoa học kỹ thuật và công nghệ 2

Khoa học y, dƣợc 3

Khoa học nông nghiệp 4

Khoa học xã hội 5

Khoa học nhân văn 6

. LỚP 2. N N O Ọ V ÔN N Ệ

MÃ ẤP 1 MÃ ẤP 2 TÊN GỌI

O Ọ TỰ N ÊN 1

101 Toán học và thống kê

102 Khoa học máy tính và thông tin

103 Vật lý

104 Hóa học

105 ác khoa học trái đất và môi trƣờng liên quan

106 Sinh học

199 Khoa học tự nhiên khác

O Ọ Ỹ T UẬT V ÔN 2

N Ệ

201 Kỹ thuật dân dụng

202 Kỹ thuật điện, kỹ thuật điện tử, kỹ thuật thông

tin

166

203 Kỹ thuật cơ khí

204 Kỹ thuật hóa học

205 Kỹ thuật vật liệu và luyện kim

206 Kỹ thuật y học

207 Kỹ thuật môi trƣờng

208 ông nghệ sinh học môi trƣờng

209 ông nghệ sinh học công nghiệp

210 ông nghệ nano

211 Kỹ thuật thực phẩm và đồ uống

299 Khoa học kỹ thuật và công nghệ khác

3 O Ọ Y, DƢỢ

301 Y học cơ sở

302 Y học lâm sàng

303 Y tế

304 Dƣợc học

305 ông nghệ sinh học trong y học

399 Khoa học y, dƣợc khác

4 O Ọ NÔN N ỆP

401 Trồng trọt

402 hăn nuôi

403 Thú y

404 Lâm nghiệp

405 Thủy sản

406 ông nghệ sinh học trong nông nghiệp

499 Khoa học nông nghiệp khác

5 O Ọ

501 Tâm lý học

502 Kinh tế và kinh doanh

167

Khoa học giáo dục 503

Xã hội học 504

Pháp luật 505

Khoa học chính trị 506

ịa lý kinh tế và xã hội 507

Thông tin đại chúng và truyền thông 508

Khoa học xã hội khác 599

O Ọ N N V N 6

Lịch sử và khảo cổ học 601

Ngôn ngữ học và văn học 602

Triết học, đạo đức học và tôn giáo 603

Nghệ thuật 604

Khoa học nhân văn khác 699

. LỚP 3. UYÊN N N O Ọ V ÔN N Ệ

MÃ MÃ ẤP MÃ ẤP TÊN GỌI

ẤP 1 2 3

1 O Ọ TỰ N ÊN

101 TO N HỌ V TH NG KÊ

10101 Toán học cơ bản

10102 Toán học ứng dụng

10103 Thống kê (Những vấn đề nghiên cứu thống kê

ứng dụng trong từng lĩnh vực, từng ngành cụ

thể được xếp vào lĩnh vực, ngành tương ứng)

10199 Toán học và thống kê khác

102 KHO HỌ M Y TÍNH V THÔNG TIN

10201 Khoa học máy tính

10202 Khoa học thông tin

10203 Sinh tin học

168

10299 Khoa học máy tính và khoa học thông tin

khác (Các vấn đề phát triển phần cứng xếp

vào mục 20206 (Phần cứng và kiến trúc máy

tính); Các khía cạnh xã hội của khoa học tính

toán và thông tin xếp vào mục 5 - Khoa học

xã hội)

VẬT LÝ 103

10301 Vật lý nguyên tử, vật lý phân tử và vật lý hóa

học (vật lý các nguyên tử và các phân tử bao

gồm va chạm, tƣơng tác bức xạ, cộng hƣởng

từ; hiệu ứng Moessabauer)

10302 Vật lý các chất cô đặc (bao gồm cả vật lý chất

rắn; siêu dẫn)

10303 Vật lý hạt và trƣờng

10304 Vật lý hạt nhân

10305 Vật lý plasma và chất lỏng (bao gồm cả vật lý

bề mặt)

10306 Quang học (bao gồm cả lade quang học và

lade lƣợng tử)

10307 Âm học

10308 Thiên văn học

10309 Khoa học vũ trụ (bao gồm cả vật lý vũ trụ)

10399 Khoa học vật lý khác

104 HÓ HỌ

10401 Hóa hữu cơ

10402 Hóa vô cơ và hạt nhân

10403 Hóa lý

10404 Hóa học cao phân tử (polyme)

10405 iện hóa (pin khô, pin, pin nhiên liệu, ăn mòn

169

kim loại, điện phân)

10406 Hóa keo

10407 Hóa phân tích

10499 Khoa học hóa học khác

105 KHO HỌ TR I ẤT V MÔI

TRƢỜNG LIÊN QU N

10501 ịa chất học

10502 Khoáng vật học

10503 ổ sinh học

10504 ịa vật lý

10505 ịa hóa học

10506 ịa lý tự nhiên

10507 Núi lửa học

10508 Trắc địa học và bản đồ học

10509 ác khoa học môi trƣờng (các khía cạnh xã

hội của khoa học môi trường xếp vào mục

507)

10510 Khí tƣợng học và các khoa học khí quyển

10511 Khí hậu học

10512 Hải dƣơng học

10513 Thủy văn; Tài nguyên nƣớc

10599 Khoa học trái đất và khoa học môi trƣờng liên

quan khác

106 SINH HỌ

10601 Sinh học lý thuyết

10602 Tế bào học, Mô - phôi học

10603 Vi sinh vật học

10604 Vi rút học

170

10605 Hóa sinh; phƣơng pháp nghiên cứu hóa sinh

10606 Sinh học phân tử

10607 Nấm học

10608 Lý sinh

10609 Di truyền học

10610 Sinh học sinh sản

10611 Thực vật học

10612 ộng vật học

10613 Sinh học biển và nƣớc ngọt

10614 Sinh thái học

10615 a dạng sinh học

10616 ông nghệ sinh học

10699 Khoa học sinh học khác

199 KHO HỌ TỰ NHIÊN KH

2 O Ọ Ỹ T UẬT V ÔN

N Ệ

201 KỸ THUẬT DÂN DỤNG

20101 Kỹ thuật kiến trúc

20102 Kỹ thuật xây dựng

20103 Kỹ thuật kết cấu và đô thị

20104 Kỹ thuật giao thông vận tải

20105 Kỹ thuật thủy lợi

20106 Kỹ thuật địa chất công trình

20199 Kỹ thuật dân dụng khác

202 KỸ THUẬT IỆN, KỸ THUẬT IỆN TỬ,

KỸ THUẬT THÔNG TIN

20201 Kỹ thuật điện và điện tử

20202 Ngƣời máy và điều khiển tự động

171

20203 Tự động hóa ( D/ M, v.v..) và các hệ

thống điều khiển, giám sát, công nghệ điều

khiển số bằng máy tính ( N ), …

20204 ác hệ thống và kỹ thuật truyền thông

20205 Viễn thông

20206 Phần cứng và kiến trúc máy tính

20207 ơ điện tử; hệ vi cơ điện tử (MEMS), …

20299 Kỹ thuật điện, kỹ thuật điện tử, kỹ thuật thông

tin không xếp vào mục nào khác

203 KỸ THUẬT Ơ KHÍ, HẾ T O M Y

20301 Kỹ thuật cơ khí nói chung

20302 hế tạo máy nói chung ( hế tạo máy từng

ngành xếp vào các ngành cụ thể)

20303 hế tạo máy công cụ

20304 hế tạo máy động lực

20305 Kỹ thuật cơ khí và chế tạo máy nông nghiệp

(bao gồm cả cơ khí bảo quản chế biến, cơ khí

lâm nghiệp, thủy sản)

20306 Kỹ thuật cơ khí và chế tạo máy thủy lợi

20307 Kỹ thuật cơ khí và chế tạo ôtô và giao thông

20308 Kỹ thuật và công nghệ hàng không, vũ trụ

20308 Kỹ thuật và công nghệ liên quan đến hạt

nhân (Vật lý hạt nhân xếp vào mục 10304)

20309 Kỹ thuật và công nghệ âm thanh

20310 Kỹ thuật cơ khí và chế tạo máy xây dựng

20311 Kỹ thuật cơ khí tàu thủy

20312 Kỹ thuật cơ khí và chế tạo thiết bị khai

khoáng

20313 Kỹ thuật cơ khí và chế tạo thiết bị năng lƣợng

172

20399 Kỹ thuật cơ khí, chế tạo máy khác

204 KỸ THUẬT HÓ HỌ

20401 Sản xuất hóa học công nghiệp nói chung (nhà

máy, sản phẩm)

20402 Kỹ thuật quá trình hóa học nói chung

20403 Kỹ thuật hóa dƣợc

20404 Kỹ thuật hóa vô cơ

20405 Kỹ thuật hóa hữu cơ

20405 Kỹ thuật hóa dầu

20499 Kỹ thuật hóa học khác

205 KỸ THUẬT VẬT LIỆU V LUYỆN KIM

20501 Kỹ thuật nhiệt trong luyện kim

20502 Kỹ thuật và công nghệ sản xuất kim loại và

hợp kim đen

20503 Kỹ thuật và công nghệ sản xuất kim loại và

hợp kim màu

20504 Luyện kim bột

20505 án kim loại; kéo kim loại, sản xuất sản phẩm

kim loại; sản xuất ống kim loại, v.v…

20506 Luyện các chất bán dẫn

20507 Vật liệu xây dựng

20508 Vật liệu điện tử

20509 Vật liệu kim loại

20510 Gốm

20511 Màng mỏng, vật liệu sơn, vật liệu phủ

20512 Vật liệu composite (bao gồm cả plastic gia

cƣờng, gốm kim loại (cermet), các vật liệu sợi

tổng hợp và tự nhiên phối hợp; …)

173

20513 Gỗ, giấy, bột giấy

20514 Vải, gồm cả sợi, màu và thuốc nhuộm tổng

hợp

20515 Vật liệu tiên tiến

20599 Kỹ thuật vật liệu và luyện kim khác; (Vật liệu

kích thƣớc nano xếp vào mục 21001 - Vật

liệu nano; Vật liệu sinh học vào 20902 - ác

sản phẩm sinh học)

206 KỸ THUẬT Y HỌ

20601 Kỹ thuật và thiết bị y học

20602 Kỹ thuật phân tích mẫu bệnh phẩm

20603 Kỹ thuật phân tích mẫu thuốc

20604 Kỹ thuật chẩn đoán bệnh

(Vật liệu sinh học được xếp vào mục 209 -

công nghệ sinh học công nghiệp)

207 KỸ THUẬT MÔI TRƢỜNG

20701 Kỹ thuật môi trƣờng và địa chất, địa kỹ thuật

20702 Kỹ thuật dầu khí (dầu mỏ, khí đốt) (chế biến

dầu khí xếp vào mục 20405)

20703 Kỹ thuật năng lƣợng và nhiên liệu không phải

dầu khí

20704 Viễn thám

20705 Khai thác mỏ và xử lý khoáng chất

20706 Kỹ thuật hàng hải, đóng tàu biển (Kỹ thuật cơ

khí tàu thủy xếp vào 20311)

20707 Kỹ thuật đại cƣơng

20708 Kỹ thuật bờ biển

20799 Kỹ thuật môi trƣờng khác

208 ÔNG NGHỆ SINH HỌ MÔI TRƢỜNG

174

20801 ông nghệ sinh học môi trƣờng nói chung

20802 Xử lý môi trƣờng bằng phƣơng pháp sinh

học; các công nghệ sinh học chẩn đoán (chip

DN và thiết bị cảm biến sinh học)

20803 ạo đức học trong công nghệ sinh học môi

trƣờng

20899 ông nghệ sinh học môi trƣờng khác

209 ÔNG NGHỆ SINH HỌ ÔNG NGHIỆP

20901 ác công nghệ xử lý sinh học (các quá trình

công nghiệp dựa vào các tác nhân sinh học để

vận hành quy trình), xúc tác sinh học, lên men

20902 ác công nghệ sản phẩm sinh học (các sản

phẩm đƣợc chế tạo sử dụng vật liệu sinh học

làm nguyên liệu), vật liệu sinh học, chất dẻo

sinh học, nhiên liệu sinh học, các hóa chất

đƣợc chiết tách từ sinh học, các vật liệu mới có

nguồn gốc sinh học.

20999 ông nghệ sinh học công nghiệp khác

210 ÔNG NGHỆ N NO

21001 ác vật liệu nano (sản xuất và các tính chất)

21002 ác vật liệu nano (các ứng dụng ở cấp nano).

(Vật liệu sinh học kích thước không phải nano

được xếp vào 209)

21099 ông nghệ nano khác

211 KỸ THUẬT THỰ PHẨM V Ồ U NG

21101 Kỹ thuật thực phẩm

21102 Kỹ thuật đồ uống

21199 Kỹ thuật thực phẩm và đồ uống khác

299 KỸ THUẬT V ÔNG NGHỆ KH

175

3 O Ọ Y, DƢỢ

301 Y HỌ Ơ Ở

30101 Giải phẫu học và hình thái học (Giải phẫu và

hình thái thực vật xếp vào 106 - Sinh học)

30102 Di truyền học ngƣời

30103 Miễn dịch học

30104 Thần kinh học (bao gồm cả Tâm sinh lý học)

30105 Sinh lý học y học

30106 Mô học

30107 Hóa học lâm sàng và sinh hóa y học

30108 Vi sinh vật học y học

30109 Bệnh học

30199 Y học cơ sở khác

302 Y HỌ LÂM S NG

30201 Nam học

30202 Sản khoa và phụ khoa

30203 Nhi khoa

30204 Hệ tim mạch

30205 Bệnh hệ mạch ngoại biên

30206 Huyết học và truyền máu

30207 Hệ hô hấp và các bệnh liên quan

30208 iều trị tích cực và hồi sức cấp cứu

30209 Gây mê

30210 hấn thƣơng, hỉnh hình

30211 Ngoại khoa (Phẫu thuật)

30212 Y học hạt nhân và phóng xạ, chụp ảnh y học

30213 Ghép mô, tạng

30214 Nha khoa và phẫu thuật miệng

176

30215 Da liễu, Hoa liễu

30216 Dị ứng

30217 Bệnh về khớp

30218 Nội tiết và chuyển hóa (bao gồm cả đái tháo

đƣờng, rối loạn hoocmon)

30219 Tiêu hóa và gan mật học

30220 Niệu học và thận học

30221 Ung thƣ học và phát sinh ung thƣ

30222 Nhãn khoa. Bệnh mắt

30223 Tai mũi họng

30224 Tâm thần học

30225 Thần kinh học lâm sàng

30226 Lão khoa, Bệnh ngƣời già

30227 Y học thẩm mỹ, Phẫu thuật thẩm mỹ

30228 Y học tổng hợp và nội khoa

30229 Y học bổ trợ và kết hợp

30230 Y học thể thao, thể dục

30231 Y học dân tộc; y học cổ truyền

30299 Y học lâm sàng khác

303 Y TẾ

30301 Khoa học về chăm sóc sức khỏe và dịch vụ y

tế (bao gồm cả quản trị bệnh viện, tài chính y

tế, …)

30302 hính sách và dịch vụ y tế

30303 iều dƣỡng

30304 Dinh dƣỡng; Khoa học về ăn kiêng

30305 Y tế môi trƣờng và công cộng

30306 Y học nhiệt đới

177

30307 Ký sinh trùng học

30308 Bệnh truyền nhiễm

30309 Dịch tễ học

30310 Sức khỏe nghề nghiệp, tâm lý ung thƣ học,

Hiệu quả chính sách và xã hội của nghiên cứu

y sinh học

30312 Sức khỏe sinh sản

30313 ạo đức học trong y học

30314 Lạm dụng thuốc; Nghiện và cai nghiện

30399 ác vấn đề y tế khác

304 DƢỢ HỌ

30401 Dƣợc lý học

30402 Dƣợc học lâm sàng và điều trị

30403 Dƣợc liệu học; ây thuốc; on thuốc; Thuốc

Nam; thuốc dân tộc

30404 Hóa dƣợc học

30405 Kiểm nghiệm thuốc và ộc chất học (bao

gồm cả độc chất học lâm sàng)

30499 Dƣợc học khác

305 ÔNG NGHỆ SINH HỌ TRONG Y HỌ

30501 ông nghệ sinh học liên quan đến y học, y tế

30502 ông nghệ sinh học liên quan đến thao tác với

các tế bào, mô, cơ quan hay toàn bộ sinh vật

(hỗ trợ sinh sản); công nghệ tế bào gốc

30503 ông nghệ liên quan đến xác định chức năng

của DN, protein, enzym và tác động của

chúng tới việc phát bệnh; đảm bảo sức khỏe

(bao gồm cả chẩn đoán gen, các can thiệp

điều trị trên cơ sở gen (dƣợc phẩm trên cơ sở

178

gen (pharmacogenomics) các liệu pháp điều

trị trên cơ sở gen), ….

30504 Vật liệu sinh học liên quan đến cấp phép

trong y học, thiết bị, cảm biến y học)

30505 ạo đức học trong công nghệ sinh học y học

30599 ông nghệ sinh học y học khác

399 KHO HỌ Y, DƢỢ KH

39901 Pháp y

39902 Y học thảm họa

39903 Y học hàng không, vũ trụ

39904 Quân y; Y tế quốc phòng

39999 Y học, y tế và dƣợc chƣa xếp vào mục nào

khác

4 O Ọ NÔN N ỆP

401 TRỒNG TRỌT

40101 Nông hóa

40102 Thổ nhƣỡng học

40103 ây lƣơng thực và cây thực phẩm

40104 ây rau, cây hoa và cây ăn quả

40105 ây công nghiệp và cây thuốc

40106 Bảo vệ thực vật

40107 Bảo quản và chế biến nông sản

40199 Khoa học công nghệ trồng trọt khác

402 HĂN NUÔI

40201 Sinh lý và hóa sinh động vật nuôi

40202 Di truyền và nhân giống động vật nuôi

40203 Thức ăn và dinh dƣỡng cho động vật nuôi

40204 Nuôi dƣỡng động vật nuôi

179

40205 Bảo vệ động vật nuôi

40206 Sinh trƣởng và phát triển của động vật nuôi

40299 Khoa học công nghệ chăn nuôi khác

403 THÖ Y

40301 Y học thú y

40302 Gây mê và điều trị tích cực thú y

40303 Dịch tễ học thú y

40304 Miễn dịch học thú y

40305 Giải phẫu học và sinh lý học thú y

40306 Bệnh học thú y

40307 Vi sinh vật học thú y (trừ vi rút học thú y)

40308 Ký sinh trùng học thú y

40309 Sinh học phóng xạ và chụp ảnh

40310 Vi rút học thú y

40311 Phẫu thuật thú y

40312 Dƣợc học thú y

40399 Khoa học công nghệ thú y khác

404 LÂM NGHIỆP

40401 Lâm sinh

40402 Tài nguyên rừng

40403 Quản lý và bảo vệ rừng

40404 Sinh thái và môi trƣờng rừng

40405 Giống cây rừng

40406 Nông lâm kết hợp

40407 Bảo quản và chế biến lâm sản

40499 Khoa học công nghệ lâm nghiệp khác (Cơ khí

lâm nghiệp xếp vào 20305)

405 THỦY SẢN

180

40501 Sinh lý và dinh dƣỡng thủy sản

40502 Di truyền học và nhân giống thủy sản

40503 Bệnh học thủy sản

40504 Nuôi trồng thủy sản

40505 Hệ sinh thái và đánh giá nguồn lợi thủy sản

40506 Quản lý và khai thác thủy sản

40507 Bảo quản và chế biến thủy sản

40599 Khoa học công nghệ thủy sản khác

406 ÔNG NGHỆ SINH HỌ NÔNG NGHIỆP

40601 ông nghệ gen (cây trồng và động vật nuôi);

nhân dòng vật nuôi;

40602 ác công nghệ tế bào trong nông nghiệp

40603 ác công nghệ enzym và protein trong nông

nghiệp

40604 ác công nghệ vi sinh vật trong nông nghiệp

40605 ạo đức học trong công nghệ sinh học nông

nghiệp

40699 ông nghệ sinh học trong nông nghiệp khác

499 KHO HỌ NÔNG NGHIỆP

KH (Những vấn đề thủy lợi xếp vào mục

tương ứng. Thủy văn và tài nguyên nước xếp

vào 10513 (Thủy văn và tài nguyên nước);

Xây dựng công trình thủy lợi xếp vào 20105

(Kỹ thuật thủy lợi); Cơ khí thủy lợi xếp vào

20306 (Kỹ thuật và công nghệ cơ khí thủy

lợi); Kỹ thuật bờ biển xếp vào 20708 (Kỹ

thuật bờ biển);

5 O Ọ

501 TÂM LÝ HỌ

181

50101 Tâm lý học nói chung (bao gồm cả nghiên

cứu quan hệ ngƣời - máy),

50102 Tâm lý học chuyên ngành (bao gồm cả liệu

pháp điều trị rối loạn tâm sinh lý và tinh thần

trong học tập, ngôn ngữ, nghe, nhìn, nói, …)

50199 Tâm lý học khác

502 KINH TẾ V KINH DO NH

50201 Kinh tế học; Trắc lƣợng kinh tế học; Quan hệ

sản xuất kinh doanh

50202 Kinh doanh và quản lý

50299 Kinh tế học và kinh doanh khác

503 KHO HỌ GI O DỤ

50301 Khoa học giáo dục nói chung, bao gồm cả đào

tạo, sƣ phạm học, lý luận giáo dục, …

50302 Giáo dục chuyên biệt (theo đối tƣợng, cho

ngƣời khuyết tật, …)

50399 ác vấn đề khoa học giáo dục khác

504 XÃ H I HỌ

50401 Xã hội học nói chung

50402 Nhân khẩu học

50403 Nhân chủng học

50404 Dân tộc học

50405 Xã hội học chuyên đề; Khoa học về giới và

phụ nữ; ác vấn đề xã hội Nghiên cứu gia

đình và xã hội; ông tác xã hội

50499 Xã hội học khác

505 PH P LUẬT

50501 Luật học

50502 Tội phạm học

182

50503 Hình phạt học (khoa học về hình phạt)

50599 ác vấn đề pháp luật khác

506 KHO HỌ HÍNH TRỊ

50601 Khoa học chính trị

50602 Hành chính công và quản lý hành chính

50603 Lý thuyết tổ chức, Hệ thống chính trị; ảng

chính trị

50699 Khoa học chính trị khác

507 Ị LÝ KINH TẾ V XÃ H I

50701 Khoa học môi trƣờng - các khía cạnh xã

hội; (những khía cạnh địa lý tự nhiên xếp vào

mục 105 (Các khoa học trái đất và môi

trường liên quan), khía cạnh công nghệ của

địa lý xếp vào mục 207 (Kỹ thuật môi

trường))

50702 ịa lý kinh tế và văn hóa

50703 Nghiên cứu quy hoạch, phát triển đô thị

50704 Quy hoạch giao thông và các khía cạnh xã hội

của giao thông vận tải (Vấn đề kỹ thuật và

công nghệ giao thông vận tải sắp xếp vào

mục 20104 (Kỹ thuật giao thông vận tải)

50799 ịa lý kinh tế và xã hội khác

508 THÔNG TIN I HÖNG V TRUYỀN

THÔNG

50801 Báo chí

50802 Thông tin học (Khoa học thông tin - các khía

cạnh xã hội) (Khía cạnh về tin học và công

nghệ thông tin xếp vào mục 10202 (Khoa học

thông tin))

183

50803 Khoa học thƣ viện

50804 Thông tin đại chúng và truyền thông văn hóa

- xã hội

50899 Thông tin đại chúng và truyền thông khác

599 KHO HỌ XÃ H I KH

6 O Ọ N N V N

601 LỊ H SỬ V KHẢO Ổ HỌ

60101 Lịch sử Việt Nam

60102 Lịch sử thế giới; Lịch sử từng nƣớc, từng

vùng; từng khu vực

60103 Khảo cổ học và tiền sử

60199 ác vấn đề lịch sử và khảo cổ học khác (Lịch

sử khoa học và công nghệ xếp vào 603 (Triết

học, đạo đức học và tôn giáo); Lịch sử của

các khoa học chuyên ngành được xếp vào

chuyên ngành tương ứng)

602 NGÔN NGỮ HỌ V VĂN HỌ

60201 Nghiên cứu chung về ngôn ngữ

60202 Nghiên cứu ngôn ngữ Việt Nam

60203 Nghiên cứu ngôn ngữ khác

60204 Lý luận văn học; Nghiên cứu văn học nói

chung

60205 Nghiên cứu văn học Việt Nam, văn học các

dân tộc ít ngƣời của Việt Nam

60206 Nghiên cứu văn học từng dân tộc, từng nƣớc,

khu vực khác

60207 Lý luận văn hóa; Nghiên cứu văn hóa nói

chung

60208 Nghiên cứu văn hóa Việt Nam, văn hóa các

184

dân tộc ít ngƣời Việt Nam

60209 ác nghiên cứu văn hóa từng dân tộc, từng

nƣớc, khu vực khác

60210 Ngôn ngữ học ứng dụng

60299 Nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa khác

603 TRIẾT HỌ , O Ứ HỌ V TÔN

GI O

60301 Triết học

60302 Lịch sử và triết học của khoa học và công

nghệ

60303 ạo đức học (trừ các vấn đề đạo đức học liên

quan đến từng ngành cụ thể)

60304 Thần học

60305 Nghiên cứu tôn giáo

60399 ác vấn đề của triết học và tôn giáo khác

604 NGHỆ THUẬT

60401 Nghệ thuật và lịch sử nghệ thuật

60402 Mỹ thuật

60403 Nghệ thuật kiến trúc

60404 Nghề thuật trình diễn (âm nhạc, kịch, múa,

hát, xiếc, …)

60405 Nghệ thuật dân gian

60406 Nghệ thuật điện ảnh

60407 Nghệ thuật truyền thanh, truyền hình

60499 ác vấn đề nghiên cứu nghệ thuật khác

699 KHO HỌ NHÂN VĂN KH

185

PHỤ LỤ 2: QU ỊNH CỦA T P Í O Ọ V ÔN N Ệ

VIỆT NAM

186

187