intTypePromotion=1

LUẬN VĂN: Đổi mới quản lý tài chính đáp ứng mô hình Đại học Quốc gia Hà Nội - Thực trạng và giải pháp

Chia sẻ: Nguyen Uyen | Ngày: | Loại File: PDF | Số trang:103

0
85
lượt xem
25
download

LUẬN VĂN: Đổi mới quản lý tài chính đáp ứng mô hình Đại học Quốc gia Hà Nội - Thực trạng và giải pháp

Mô tả tài liệu
  Download Vui lòng tải xuống để xem tài liệu đầy đủ

Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) hiện nay đã trải qua gần 9 năm xây dựng và phát triển. Tuy thời gian không phải là dài nhưng đó là cả một thời kỳ đầy thử thách trong bước đi ban đầu của một mô hình đại học mới. Cũng chính từ thực tế sinh động của quá trình đổi mới này, một trung tâm đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực chất lượng cao hàng đầu của cả nước đã được hình thành ngày...

Chủ đề:
Lưu

Nội dung Text: LUẬN VĂN: Đổi mới quản lý tài chính đáp ứng mô hình Đại học Quốc gia Hà Nội - Thực trạng và giải pháp

  1. LUẬN VĂN: Đổi mới quản lý tài chính đáp ứng mô hình Đại học Quốc gia Hà Nội - Thực trạng và giải pháp
  2. Mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) hiện nay đã trải qua gần 9 năm xây dựng và phát triển. Tuy thời gian không phải là dài nhưng đó là cả một thời kỳ đầy thử thách trong bước đi ban đầu của một mô hình đại học mới. Cũng chính từ thực tế sinh động của quá trình đổi mới này, một trung tâm đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực chất lượng cao hàng đầu của cả nước đã được hình thành ngày càng rõ nét và vững chắc. Điều đó càng được khẳng định sau hơn một năm thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thường vụ Bộ Chính trị Ban Chấp hành trung ương (khóa VIII) của Đảng, cũng như gần một năm triển khai Nghị định số 07/2001/NĐ-CP ngày 01/02/2001 của Chính phủ và Quy chế tổ chức hoạt động của Đại học Quốc gia Hà Nội ban hành theo Quyết định số 16/2001/QĐ-TTg ngày 12/02/2001 của Thủ tướng Chính phủ. Những chủ trương lớn và những quyết định quan trọng trên của Đảng và Chính phủ có ý nghĩa chiến lược vô cùng quan trọng và đã mở ra một giai đoạn mới đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển ĐHQGHN trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước, phù hợp với xu hướng phát triển đại học của các nước tiên tiến trên thế giới, xứng đáng là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao của cả nước. Để hoàn thành sứ mạng lịch sử đó, ĐHQGHN phải phát huy tiềm năng sẵn có của mình trên cơ sở sự ưu tiên đầu tư của Nhà nước. Trong đó, quản lý tài chính là một mắt xích quan trọng trong tổng thể guồng máy hoạt động của ĐHQGHN nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị mà Đảng và Nhà nước đã giao phó. Chính vì vậy, tôi chọn đề tài nghiên cứu "Đổi mới quản lý tài chính đáp ứng mô hình Đại học Quốc gia Hà Nội - Thực trạng và giải pháp" làm luận văn thạc sĩ, chuyên ngành quản lý kinh tế, mã số 5.02.05. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Đã có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài như luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế về "Hoàn thiện quản lý tài chính các trường đào tạo công lập ở nước ta
  3. hiện nay" của học viên cao học Nguyễn Duy Tạo (năm 2000) và đề tài "Đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách hệ thống giáo dục quốc dân" của Tiến sĩ Trần Thu Hà (năm 1993)... Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh về quản lý tài chính, điều hành ngân sách GD-ĐT tầm vĩ mô và tập trung nghiên cứu việc sử dụng các chính sách chế độ, tiêu chuẩn định mức liên quan, quá trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách hàng năm các nguồn kinh phí của các trường công lập chủ yếu là đại học và cao đẳng. Chưa có đề tài nào đề cập đến quản lý tài chính của các trường đại học theo mô hình ĐHQGHN. 3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn Mục đích Trên cơ sở đánh giá thực trạng quá trình quản lý tài chính từ khi thành lập ĐHQGHN đề ra các giải pháp đổi mới quản lý tài chính đáp ứng mô hình ĐHQGHN trong hiện đại hóa đất nước. Để thực hiện mục đích trên nhiệm vụ cụ thể của luận văn là: - Làm rõ cơ sở lý luận về tài chính, quản lý tài chính, nguồn tài chính cho giáo dục - đào tạo nói chung và của ĐHQGHN nói riêng. - Phân tích thực trạng việc khai thác, sử dụng nguồn tài chính của ĐHQGHN thời gian qua. - Đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính nhằm đáp ứng mô hình của ĐHQGHN. Phạm vi nghiên cứu Đề tài đi sâu nghiên cứu góc độ quản lý tài chính từ khi thành lập ĐHQGHN đến nay, những vấn đề khác được đề cập nhằm phục vụ cho chủ đề chính của luận văn. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên c ứu Cơ sở lý luận để nghiên cứu luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối,
  4. chính sách phát triển của Đảng ta, các quan điểm đường lối chính sách tài chính, chính sách giáo dục nước ta, các luận điểm kinh tế trong đào tạo nguồn nhân lực. Phương pháp nghiên cứu là kết hợp nghiên cứu lý thuyết khái quát hóa với quan sát đánh giá thực tiễn, đồng thời sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, đánh giá để xử lý số liệu điều tra, khảo sát. 5. Đóng góp mới về khoa học của đề tài Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận về nguồn tài chính và quản lý tài chính cho giáo dục đại học công lập nói chung và ĐHQGHN nói riêng. Thông qua phân tích thực trạng quá trình huy động các nguồn tài chính và quản lý tài chính của ĐHQGHN, luận văn đã chỉ ra được những bài học kinh nghiệm thành công, những tồn tại, hạn chế cần khắc phục và hoàn thiện, qua đó đã trình bày những quan điểm cơ bản cần quán triệt, đề ra các giải pháp thiết thực, phù hợp nhằm thực hiện có hiệu quả quá trình huy động và quản lý tài chính, đáp ứng mô hình ĐHQGHN. 6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học và thực tiễn trong việc huy động, sử dụng các nguồn tài chính, hiệu quả của chúng trong GD-ĐT, nghiên cứu khoa học của ĐHQGHN. 7. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chuơng, 7 tiết.
  5. Chương 1 quản lý tài chính trong giáo dục - đào tạo nói chung và đại học công lập nói riêng 1.1. Sự nghiệp đào tạo đại học trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước 1.1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục - đào tạo Dân tộc Việt Nam có truyền thống văn hóa lâu đời đó là truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo. Truyền thống hiếu học luôn được coi là giá đỡ, điểm tựa vững chắc, là cơ sở để xây dựng nền giáo dục Việt Nam với đỉnh cao trong nửa sau thế kỷ XX. Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã có một hệ thống giáo dục quốc dân hoàn chỉnh được vận hành theo Luật Giáo dục. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nền giáo dục của dân tộc chẳng những được coi trọng mà còn có điều kiện để phát triển không ngừng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người ". Điều đó khẳng định vị trí và vai trò của con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong các nhân tố tạo nên sự phát triển kinh tế - xã hội, "nhân tố người" giữ vị trí trung tâm, quyết định đối với toàn bộ các hệ thống, các nhân tố khác. Con người muốn phát triển toàn diện phải thông qua giáo dục, ngày nay, sự phát triển của con người đã trở thành tiêu chí trong việc xếp hạng của các nước trên thế giới. Nhân tố con người được phát triển sẽ là nguồn lực quan trọng phát huy các nguồn lực khác. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4 (khóa VII) năm 1993 đã ra Nghị quyết về "Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo" với bốn quan điểm: + Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bản đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước, phải coi đầu tư cho giáo dục là hướng chính của đầu tư phát triển.
  6. + Mục tiêu giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo những con người có kiến thức văn hóa, khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp... Mở rộng quy mô đào tạo, đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục, gắn học với hành, tài với đức. + GD-ĐT gắn với yêu cầu phát triển đất nước và phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại. + Đa dạng hóa các hình thức đào tạo, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục. Định hướng mục tiêu GD-ĐT, Nghị quyết đã có sự phân biệt ba loại mục tiêu: + Mục tiêu phát triển tổng quát: tạo ra nền tảng dân trí chuẩn bị một thế hệ lao động mới có trình độ cao với mũi nhọn là đội ngũ người tài. + Mục tiêu nhân cách: con người được đào tạo về chuyên môn, đạo đức và sức khỏe. + Mục tiêu phát triển cụ thể các bậc học, trong đó có đề cập mục tiêu mở rộng quy mô đào tạo đại học và sau đại học. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 4 (khóa VII) đã coi giáo dục là kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội (những năm của thập kỷ 80 trở về trước coi giáo dục chỉ nằm trong phạm vi cách mạng tư tưởng văn hóa). GD-ĐT giữ vị trí trọng yếu đối với toàn bộ công cuộc phát triển kinh tế - xã hội. Chiến lược giáo dục là bộ phận trong chiến lược con người và chiến lược con người đứng ở vị trí trung tâm toàn bộ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển kinh tế - xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn GD-ĐT, khoa học - công nghệ (KH-CN) làm khâu đột phá của thời kỳ mới, đó là chủ trương vô cùng đúng đắn, phát triển GD-ĐT phải đi trước một bước so với phát triển kinh tế. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cơ bản quan trọng như đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội.
  7. Năm 1996, Đại hội lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định "đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước". Để thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH phải "lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững". Đảng ta đã có riêng Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) về GD- ĐT và KH-CN. Đây là nghị quyết rất quan trọng, đề cập một cách toàn diện về lĩnh vực GD-ĐT, Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) đã nhất quán với tư tưởng và những mục tiêu đã nêu ở Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa VII) và Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (khóa VIII) của Đảng đã nêu 6 định hướng chiến lược phát triển GD-ĐT trong thời kỳ CNH, HĐH, đó là: + Mục tiêu cơ bản của GD-ĐT là nhằm xây dựng con người có lý tưởng, đạo đức trong sáng, biết giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực và biết phát huy nội lực, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp và có sức khỏe để phụng sự Tổ quốc Việt Nam XHCN. + Tiếp tục khẳng định phải thực sự coi GD-ĐT là quốc sách hàng đầu. Muốn thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH, phải thực sự coi GD-ĐT, KH-CN là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế - xã hội. + GD-ĐT là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân. + Phát triển GD-ĐT gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, những tiến bộ KH-CN và củng cố quốc phòng an ninh. Đảng ta luôn coi trọng ba vấn đề cơ bản của GD-ĐT là quy mô đào tạo, chất lượng đào tạo và hiệu quả đào tạo, thực hiện giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nghiên cứu khoa học, lý thuyết với thực tiễn, học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với gia đình và xã hội. + Thực hiện công bằng xã hội trong GD-ĐT. Công bằng sẽ tạo ra động lực phát triển. Bác Hồ đã nhiều lần căn dặn: phải làm sao ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được
  8. học hành. Cần phải tạo điều kiện cho mọi học sinh có cơ hội học tập và phát huy hết tài năng của mình. + Các trường công lập phải giữ vai trò nòng cốt đi đôi với đa dạng hóa các loại hình GD-ĐT. Ngày 11 tháng 12 năm 1998, Chủ tịch nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã ký lệnh công bố Luật Giáo dục đã được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa X thông qua ngày 2 tháng 12 năm 1998. Lần đầu tiên trong lịch sử phát triển giáo dục - đào tạo của nước ta có Luật Giáo dục, đây là văn bản pháp lý cao nhất điều chỉnh các hành vi liên quan đến GD-ĐT. Điều 2 của luật đã khẳng định rõ mục tiêu chung của giáo dục là: "Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" [31]. Đề cập đến tính chất và nguyên lý giáo dục, Điều 3 Luật Giáo dục đã ghi: "Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục XHCN có tính nhân dân, dân tộc, khoa học hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng" và khoản 2 Điều 3 Luật Giáo dục đã nêu: "Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội" [31]. Đối với giáo dục đại học và sau đại học, Điều 35 Luật Giáo dục đã nêu lên những mục tiêu cụ thể: "Mục tiêu của giáo dục đại học và sau đại học là đào tạo người có phẩm chất chính trị đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" [31].
  9. + Đào tạo trình độ cao đẳng giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản về một ngành nghề, có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường về chuyên ngành đào tạo. + Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành về một ngành nghề, có khả năng phát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo. + Đào tạo trình độ thạc sĩ giúp học viên nắm vững lý thuyết có trình độ cao về thực hành, có khả năng phát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo. + Đào tạo trình độ tiến sĩ giúp nghiên cứu sinh có trình độ cao về lý thuyết và thực hành, có năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo, giải quyết những vấn đề KH-CN và hướng dẫn hoạt động chuyên môn. Điều 29 Luật Giáo dục đề cập tới mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp: Mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là đào tạo người lao động có kiến thức, kỹ năng ở các trình độ khác nhau, có đạo đức lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng an ninh. Giáo dục trung học nghề nghiệp nhằm đào tạo kỹ thuật viên, nhân viên có nghiệp vụ có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp ở trình độ trung cấp [31]. Những định hướng, quan điểm của Đảng và Nhà nước về GD-ĐT là tư tưởng quan trọng chỉ đạo công tác GD-ĐT nói chung và GD-ĐT trung học nghề và đại học, sau đại học nói riêng. Những tư tưởng đó đều nhằm mục đích phát triển nguồn nhân lực. Phát triển nguồn nhân lực như là một động lực của sự phát triển, là thức tỉnh, tích tụ phát huy sử dụng tiềm năng thành tựu lao động xã hội. Phát triển nguồn lực con người, trước hết là đào tạo con người có năng lực lao động làm cho mỗi người phát triển một cách toàn diện. Vì vậy, dạy và học ở trường cả tri thức, kỹ năng và thái độ để ra đời vừa làm việc vừa
  10. tiếp tục học suốt đời, tiếp thu và làm chủ những thành tựu mới của khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Trong Báo cáo chính trị Đại hội IX của Đảng đã có sự chuyển hướng quan trọng về nhận thức trong phát triển giáo dục. Lần đầu tiên vấn đề phát triển GD-ĐT được coi là một nội dung của phát triển kinh tế và đặt trong đường lối kinh tế và chiến lược phát triển - tức là thuộc phạm trù phát triển kinh tế. Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đặt giáo dục - đào tạo trong phạm trù "giải quyết tốt một số vấn đề xã hội". Báo cáo Đại hội IX đặt GD-ĐT trong đường lối phát triển kinh tế, trước hết vì GD-ĐT có mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho xây dựng và phát triển đất nước. Trong thời đại ngày nay, nguồn lực con người đã được coi là "tài nguyên" quan trọng, là động lực phát triển kinh tế - xã hội và chất lượng nguồn lực này lại do GD-ĐT mang lại. Những tư tưởng, quan điểm, định hướng của Đảng, Nhà nước về GD-ĐT nêu ở trên là kim chỉ nam xuyên suốt quá trình chỉ đạo điều hành các hoạt động liên quan đến dạy học của nhà trường. Các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp có vị trí rất quan trọng của xã hội là nơi đào tạo nguồn nhân lực có tri thức và sẽ làm việc bằng tri thức. Lực lượng lao động này không những thực thi công việc một cách chủ động sáng tạo, mà còn có khả năng hoạch định chính sách quản lý các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân. 1.1.2. Những xu thế lớn trong kinh tế - xã hội tác động đến sự phát triển giáo dục đại học ở Việt Nam Đại hội toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2001 - 2010 là: đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh; thể chế kinh tế thị trường XHCN được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao.
  11. Muốn đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp - tức là đạt mức độ phát triển trung bình về kinh tế so với thế giới vào thời gian đó, phải thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước. Trong chiến lược thực hiện CNH, HĐH đất nước, Đảng ta nhấn mạnh đến chiến lược đi tắt, đón đầu nhằm khắc phục nguy cơ "tiếp tục tụt hậu xa hơn" so với với các nền kinh tế khu vực và thế giới và cũng nhằm tận dụng thời cơ của một nước đi sau do cuộc cách mạng KH-CN hiện đại tạo ra. Nhưng muốn thực hiện được những chiến lược này thì việc tổ chức, điều hành nền kinh tế - xã hội phải có sự ưu tiên cần thiết, cần lựa chọn và đầu tư trọng điểm vào những ngành mũi nhọn có thể tạo ra các "đột phá" kéo theo sự phát triển của toàn bộ hệ thống. Đảng ta đã giải quyết được vấn đề này khi khẳng định nguồn lực con người là nguồn lực phát triển lớn nhất ở nước ta hiện nay và muốn đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước thì phải xem "giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu". Phải ưu tiên đầu tư cho phát triển GD-ĐT và KH-CN để hai ngành này đi trước một bước so với mức độ phát triển kinh tế - xã hội hiện có, để có thể đóng vai trò là cơ sở và động lực chủ yếu, hàng đầu đối với sự phát triển của đất nước. Quan điểm và chiến lược phát triển này có nghĩa là đến năm 2020 khi kinh tế nước ta đạt mức trung bình thế giới thì giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ vẫn phải đi trước một bước - đạt mức độ phát triển khá của thế giới. Đó là vấn đề thời cơ, thách thức đối với giáo dục đại học Việt Nam xuất phát chính từ yêu cầu bên trong của nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội nước ta - môi trường kinh tế - xã hội của giáo dục. Giáo dục đại học nước ta ngoài chịu sự tác động từ môi trường kinh tế, chính trị xã hội trong nước còn chịu tác động từ bên ngoài, trong đó hiện nay nổi lên hai xu hướng chính: Thứ nhất, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực là một xu thế vận động chung của thế giới hiện nay. Xu thế này có nguyên nhân khách quan là do tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, do nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất thế giới... Đối với giáo dục đại học nước ta, xu hướng này sẽ tạo ra một thách thức và nguy
  12. cơ lớn là nạn "chảy máu chất xám", sự xâm nhập của văn hóa và lối sống ngoại lai, nguy cơ thương mại hóa văn hóa và giáo dục. Đồng thời, trong thách thức trên cũng xuất hiện những cơ hội, vận hội mới - mở rộng hợp tác và cả sự cạnh tranh, giao lưu với các nền đại học tiên tiến, cơ hội phát triển hợp tác quốc tế để phát triển giáo dục nước nhà. Thứ hai, sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức cũng là một thời cơ và thách thức lớn đối với giáo dục đại học nước ta trong thế kỷ XXI. Kinh tế tri thức lấy yếu tố tri thức hiện đại của khoa học, công nghệ và quản lý làm nền tảng, là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải và nâng cao chất l ượng cuộc sống. Vì vậy, giáo dục đại học là cơ sở, nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của kinh tế tri thức. Bảng 1.1: Giáo dục trong các thời đại kinh tế Kinh tế Kinh tế Kinh tế nông nghiệp công nghiệp trí thức Từ khi loài người phát minh ra nông Thế kỷ Từ những năm 80 1. Thời gian nghiệp đến thế kỷ XVII-XX của thế kỷ XX tới nay XVII (khoảng 10 ngàn năm) 2. Tỷ lệ đóng góp của KH-CN cho tăng < 10% > 30% > 80% trưởng kinh tế < 1% GDP 2-4% GDP > 6% GDP 3.Đầu tư cho giáo
  13. dục 4. Tầm quan trọng Nhỏ Lớn Rất lớn của giáo dục 5. Trình độ học vấn trung bình của Tỷ lệ mù chữ cao Trung học Trên trung học nguồn nhân lực xã hội Dạy làm người, dạy 6. Mục đích, mục cách sống, cách làm tiêu cơ bản của giáo Dạy chữ Dạy nghề việc và cách tự học dục suốt đời 7. Tỷ lệ của giáo dục đại học so với Rất nhỏ < 1% Còn nhỏ < 3% Khá lớn >3% giáo dục phổ thông Nguồn: Báo cáo đề dẫn "Kinh tế tri thức với chiến lược phát triển của Việt Nam" trong Kỷ yếu hội thảo khoa học " Kinh tế tri thức và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam" do Ban Khoa giáo Trung ương - Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường - Bộ Ngoại giao tổ chức tại Hà Nội, tháng 6 - 2000. Như vậy, kinh tế tri thức xuất hiện đồng thời với thời kỳ phát triển cao của giáo dục đại học. Một đặc điểm cơ bản của nền kinh tế tri thức là nguồn nhân lực và chủ thể của nguồn kinh tế tri thức phải là những người có khả năng học hỏi để sản xuất, quan trọng nhất là phải biết vận dụng các tri thức, thông tin vào sản xuất làm ra giá trị và đóng góp cho sự phát triển của xã hội. Xu thế toàn cầu hóa cũng là xu hướng vận động và là một đặc điểm của nền kinh tế tri thức. Tri thức có đặc điểm là giá trị của nó tỷ lệ thuận với số người sử dụng; tri thức
  14. càng có giá trị thì số người muốn tìm kiếm chia sẻ càng nhiều và ngược lại. Bởi vậy, những tri thức có giá trị đóng góp tích cực vào sự tiến bộ xã hội thì không thể chỉ giới hạn trong phạm vi một tổ chức hay quốc gia; nó có nhu cầu tự thân là cần được chia sẻ, giao lưu với tổ chức khác, quốc gia khác. Hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực mở ra cho nước ta cơ hội có thể đi tắt đón đầu, mặc dù rất khó khăn với nhiều thách thức, rút ngắn khoảng cách với các nền kinh tế tiên tiến. Trong bối cảnh xã hội như vậy thì sứ mệnh của giáo dục đại học phải đào tạo ra nguồn nhân lực của kinh tế tri thức - những người không chỉ có trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật cao mà còn có khả năng tự học để làm những công việc mới đòi hỏi nhiều hàm lượng trí tuệ, lao động trí lực là chủ yếu nhưng cũng tạo ra nhiều giá trị gia tăng nhất. Tỷ lệ sinh viên trên số dân của một nước phản ánh mức độ thâm nhập của kinh tế tri thức trong nền kinh tế quốc gia. Những nước đã chuyển sang kinh tế tri thức thường có trên 70% lực lượng lao động thuộc khu vực dịch vụ và số sinh viên là trên 3.000/100.000 dân (3%), ví dụ ở Mỹ: 5.559/100.000 (5,5%). Canađa: 5.084/100.000 (5%), trong khi đó ở Việt Nam mới khoảng 1.000/100.000 (1%). Mặc dù tỷ lệ sinh viên trên số dân còn rất thấp nhưng ở nước ta đã có tình trạng "dư thừa cử nhân, kỹ sư" một cách giả tạo vì nền kinh tế chậm phát triển, chính sách giải quyết việc làm kém hiệu quả; mặt khác chất lượng giáo dục đại học còn nhều điều bất cập. Nhưng nếu căn cứ vào tình hình khó khăn hiện nay mà quyết định thu hẹp quy mô giáo dục đại học thì nước ta sẽ không có đủ điều kiện về nguồn nhân lực để hội nhập quốc tế và tham gia vào nền kinh tế tri thức và như vậy, lại một lần nữa bỏ lỡ cơ hội thực hiện CNH, HĐH đất nước. Bài toán lớn đặt ra với giáo dục đại học nước ta hiện nay là phải tăng cường chất lượng đào tạo lên ngang tầm chất lượng của khu vực và thế giới trong khi không phải giảm bớt quy mô đào tạo. Điều kiện cơ bản để giải quyết thách thức này là giáo dục đại học phải có một nguồn nhân lực có chất lượng cao, số lượng đảm bảo, có đủ năng lực và điều kiện tham
  15. gia vào kinh tế tri thức và là lực lượng mở đường cho việc xây dựng nền kinh tế tri thức của Việt Nam. Đó chính là nội dung cơ bản của mục tiêu phát triển nguồn nhân lực của giáo dục đại học nước ta. 1.2. Quản lý tài chính trong giáo dục đại học công lập 1.2.1. Nguồn tài chính phục vụ giáo dục đại học công lập Theo Từ điển tiếng Việt (1995): Tài chính là tiền nong và thu chi, quản lý tài chính là việc quản lý của cải vật chất xã hội bằng tiền theo những mục đích nhất định. Tài chính ra đời và phát triển gắn với sự ra đời và phát triển của Nhà nước. Trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, cần có giải pháp nhằm khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính cho phát triển kinh tế nói chung và cho sự nghiệp GD-ĐT nói riêng. Nguồn tài chính đầu tư cho sự nghiệp đào tạo là đầu tư cơ bản, đầu tư cho sự phát triển hoàn chỉnh của con người - động lực trực tiếp của sự phát triển kinh tế - xã hội. Garey Becker, nhà kinh tế học Hoa Kỳ đã khẳng định "không có đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu tư vào nguồn nhân lực". Đầu tư cho đào tạo là đầu tư "lợi ích tương lai", hiệu quả không thấy ngay được, lợi ích của việc đầu tư cho sự nghiệp đào tạo có tác dụng như đầu tư cho phương tiện sản xuất - một loại phương tiện sản xuất tạo ra sản phẩm có tính chất vô hình, sản phẩm đó không thuộc loại tiêu dùng mà thuộc loại "tạo tiềm năng". Hiệu quả của việc đầu tư cho sự nghiệp đào tạo được phát huy trên phạm vi toàn xã hội, đồng thời được xác định đầy đủ khi những sản phẩm của đào tạo đi vào cuộc sống và thực sự thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Có thể thấy quan hệ nhân quả giữa đầu tư và phát triển sự nghiệp đào tạo (minh họa trên sơ đồ số 1.1) Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa đầu tư và phát triển sự nghiệp đào tạo Đầu t ư cho sự nghiệp đào t ạo
  16. Tăng trưởng kinh Phát triển đào tế tạo và ti ến bộ xã hội Đào t ạo nhân lực và bồi dư ỡng nhân tài Tài chính phục vụ GD-ĐT đại học công lập hiện chủ yếu từ hai nguồn: ngân sách nhà nước (NSNN) cấp và nguồn ngoài ngân sách nhà nước; trong đó nguồn NSNN có vai trò quan trọng nhất. Sơ đồ 2.2: Nguồn tài chính cho giáo dục - đào tạo Nguồn tài chính cho giáo dục - Nguồn NSNN Nguồn ngoài NSNN Sự nghiệp Đa dạng XDCB CTMT Đóng góp Hoạt động GDĐT-KHCN Tài trợ hóa loại TC-KTXH NCKH-LĐSX hình ĐT * Nguồn NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong 1 năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. NSNN, với tư cách là một loại quĩ tiền tệ của Nhà nước có vị trí cực kỳ quan trọng. Nội dung cơ bản của nó là:
  17. - NSNN phân phối các nguồn tài chính, thể hiện mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và xã hội. - Quyền lực về NSNN thuộc về Nhà nước. Mọi khoản thu và chi tài chính của Nhà nước đều do Nhà nước quyết định nhằm thực hiện chức năng của Nhà nước. Bản chất của NSNN là hệ thống các mối quan hệ tiền tệ giữa Nhà n ước và các chủ thể trong xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính nhằm thực hiện các chức năng quản lý và điều hành kinh tế, xã hội của mình. Trong đó có các khoản chi cho bộ máy quản lý của Nhà nước, chi cho GD-ĐT, y tế... tất cả các nhu cầu chi tiêu tài chính của Nhà nước đều được đảm bảo từ thuế và các hình thức thu khác vào ngân sách. Trong nền kinh tế thị trường, NSNN không chỉ đơn thuần là quĩ tiền tệ tập trung để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của Nhà nước, mà thực sự trở thành công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng của Nhà nước trong quản lý kinh tế. Trong tất cả các nguồn tài chính đầu tư cho sự nghiệp đào tạo thì nguồn NSNN giữ vai trò chủ đạo và quan trọng nhất có tính quyết định đối với việc hình thành, mở rộng và phát triển sự nghiệp GD-ĐT, biểu hiện: - Chi cho phát triển văn hóa - xã hội trong đó có sự nghiệp GD-ĐT là những nội dung cơ bản của chi NSNN. Điều 89 Luật Giáo dục nêu rõ: "Nhà nước dành ưu tiên hàng đầu cho việc bố trí ngân sách giáo dục, đảm bảo tỷ lệ ngân sách Nhà nước chi cho giáo dục tăng dần theo yêu cầu phát triển của sự nghiệp giáo dục" [31, tr. 59]. Hiện nay, nguồn đầu tư của NSNN vẫn chiếm ưu thế trong tổng chi cho sự nghiệp đào tạo do hệ thống trường công còn chiếm tỷ lệ lớn, các trường bán công, dân lập chưa nhiều, việc xã hội hóa sự nghiệp GD-ĐT, đa dạng hóa các loại hình trường, lớp chưa phổ biến, chưa có khả năng thu hút nguồn đầu tư khác cho sự nghiệp đào tạo. - Đầu tư NSNN cho xây dựng cơ sở vật chất, tài liệu phục vụ giảng dạy, học tập, nghiên cứu nhằm tăng số lượng, từng bước nâng cao chất lượng đào tạo.
  18. - NSNN đảm bảo ổn định đời sống đội ngũ cán bộ giảng dạy, phục vụ giảng dạy thông qua thang, bậc lương, ngoài ra còn hưởng phụ cấp ưu đãi trong ngành giáo dục với mức 30% cho cán bộ trực tiếp giảng dạy; 50% đối với giáo viên các trường sư phạm. - NSNN đảm bảo học bổng cho học sinh, sinh viên, ưu tiên đối với diện chính sách, đảm bảo kinh phí cho đào tạo cán bộ giảng dạy và quản lý. - NSNN có vai trò điều phối cơ cấu của mỗi trường cũng như toàn bộ hệ thống thông qua định mức chi ngân sách hàng năm giúp cho việc định hướng, sắp xếp cơ cấu mạng lưới các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân, tập trung ngân sách cho mục tiêu, chương trình quốc gia như: xây dựng trung tâm đào tạo chất lượng cao tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. * Nguồn ngoài ngân sách Nhà nước: bao gồm sự đóng góp của các tổ chức kinh tế - xã hội, vốn của nhà trường do hoạt động nghiên cứu khoa học và lao động sản xuất tạo ra, vốn do nguồn tài trợ của nước ngoài, vốn do sự đóng góp của các tổ chức, cá nhân,... Nguồn ngoài ngân sách có vai trò của nó thông qua: Thứ nhất, tăng đầu tư nâng cấp cơ sở đào tạo, cải thiện đời sống cán bộ giảng dạy, sinh viên nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập. Thứ hai, khai thác tiềm năng các thành phần, tổ chức kinh tế đóng góp kinh phí cho sự nghiệp đào tạo khi NSNN còn hạn hẹp. Thứ ba, phát huy tính năng động trong việc huy động các nguồn tài chính đầu tư cho sự nghiệp đào tạo. 1.2.2. Quản lý tài chính trong các trường đại học công lập Quản lý bao giờ cũng là quá trình hoạt động có mục tiêu đòi hỏi những tác động tương ứng, phù hợp để hướng dẫn và điều khiển những đối tượng quản lý. Quản lý tồn tại với tư cách là một hệ thống, trong quản lý bao giờ cũng có những thành phần được liên kết với nhau trong một cấu trúc nào đó. Quản lý tài chính phục vụ đào tạo bao gồm những nội dung sau:
  19. * Lập kế hoạch về tài chính: dựa vào qui mô đào tạo phù hợp với yêu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục, số liệu biên chế, số học sinh - sinh viên, cơ sở vật chất, xây dựng kế hoạch tài chính, bao gồm chi tiêu thường xuyên, quản lý hành chính, mua sắm, sửa chữa, nghiệp vụ chuyên môn, xây dựng cơ bản,... * Điều hành thực hiện: Cấp phát kinh phí và thực hiện các khoản chi tiêu kịp thời theo kế hoạch đảm bảo hoạt động thường xuyên của đơn vị. Giám sát việc chi tiêu cho các bộ phận đúng chế độ, đúng mục đích và có hiệu quả. * Quyết toán kinh phí: Khâu cuối cùng của quá trình sử dụng kinh phí, phản ánh đầy đủ các khoản chi vào báo cáo quyết toán ngân sách đúng chế độ báo cáo về biểu mẫu, thời gian, nội dung và các khoản chi tiêu. Trên cơ sở báo cáo quyết toán, phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chi tiêu cho công tác đào tạo rút ra ưu nhược trong quá trình quản lý làm cơ sở lập kế hoạch năm sau sát hơn. * Kiểm tra: việc thực hiện kế hoạch không phải bao giờ cũng đúng như dự kiến, đòi hỏi phải có sự kiểm tra thường xuyên để nắm tình hình quản lý tài chính. Việc cấp phát ngân sách nằm trong chức năng điều hành thực hiện. Hiện nay, đang thực hiện theo sơ đồ sau: Sơ đồ 1.3: Điều hành thực hiện thu - chi ngân sách Chính phủ Các bộ Kho bạc Bộ KH - ĐT Bộ Tài nhà nước ngành liên chính Kho bạc tỉnh, Các đơn vị đào tạo Kho bạc Quận,
  20. ở Việt Nam, việc cấp phát tài chính cho các trường đại học "dựa trên cơ sở đầu vào chủ yếu dựa trên số lượng sinh viên và chi phí của đơn vị do đó không khuyến khích các trường giảm chi phí nâng cao chất lượng. Kinh nghiệm như ở Hà Lan, Ôxtraylia gắn việc cung cấp tài chính dựa trên cơ sở đầu ra, thông qua số lượng sinh viên tốt nghiệp đại học hoặc đã đào tạo ra. Đại lượng này cho thấy rõ hơn kết quả giáo dục (do số lượng sinh viên bỏ học và lưu ban). Có thể thấy được điểm yếu của qui trình phân bổ tài chính cho các trường đại học ở Việt Nam là: - Thiếu tiêu chí rõ ràng, công khai trong qui trình phân bổ tài chính. - Cấp kinh phí dựa vào các chuẩn định mức thô sơ, thiếu tổng hợp và chưa đề cập đầy đủ các nguồn tài chính khác. Chưa chú ý đầy đủ đến nhu cầu cụ thể của các trường đại học, những chính sách ưu tiên của Chính phủ; cơ cấu chi phí khác nhau của các bậc đào tạo, lĩnh vực và loại hình đào tạo. - Chi tiêu NSNN, chỉ nhấn mạnh đầu vào, ít chú ý tới mục tiêu cuối cùng là là sản phẩm sinh viên tốt nghiệp. - Thiếu cơ chế khuyến khích các trường đào tạo nâng cao chất lượng và hiệu quả trong việc thực hiện nhiệm vụ. Trong nguồn NSNN, việc chi thường xuyên phục vụ đào tạo đại học bao gồm 4 nhóm chi: * Chi cho con người (nhóm I): lương, phụ cấp lương, phúc lợi, bảo hiểm xã hội. Đây là khoản chi bù đắp hao phí lao động, đảm bảo duy trì quá trình tái sản xuất sức lao động cho giảng viên, cán bộ công nhân viên của các đơn vị. Khoản chi này theo kế hoạch chiếm khoảng 38 - 43%, thực tế chi hàng năm thường cao hơn kế hoạch nhưng vẫn chưa đảm bảo cuộc sống cho cán bộ công nhân viên. * Chi quản lý hành chính (nhóm II): công tác phí, công vụ phí (điện, nước, xăng xe, hội nghị...), đây là khoản chi mang tính gián tiếp đòi hỏi phải chi đúng, chi đủ, chi kịp
ADSENSE
ADSENSE

CÓ THỂ BẠN MUỐN DOWNLOAD

 

Đồng bộ tài khoản
2=>2