BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

HOÀNG NGỌC LONG

Giáo dục về quyền con người

ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

2

ĐẮK LẮK – NĂM 2016

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

PHÂN VIỆN TÂY NGUYÊN

ھھھھھھھھھھ

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

GIÁO DỤC VỀ QUYỀN CON NGƯỜI Ở TỈNH ĐẮK LẮK

HIỆN NAY

Họ và tên học viên: Hoàng Ngọc Long

Lớp: LH1 – TN2

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính (60 38 01 02)

Khóa: 2014-2016

Cơ sở đào tạo: Học viện Hành chính Quốc gia- Phân viện Tây nguyên

Đăk Lăk năm 2016

3

Người hướng dẫn: PGS.TS. Lương Thanh Cường

MỤC LỤC

1. Tính cấp thiết của đề tài.................................................................................. 7

2. Tình hình nghiên cứu đề tài............................................................................ 8

3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của Luận văn .......................................... 9

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn ........................................... 9

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu..................................................... 10

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn ...................................................... 10

7. Kết cấu Luận văn ............................................................................................ 10

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI ............ 11

1.1. NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI........................................................................................ 11

1.1.1. Khái niệm, tính chất và đặc điểm quyền con người ...................... 11

1.1.1.2. Tính chất của quyền con người ................................................... 14

1.1.1.3. Đặc điểm của quyền con người.................................................... 16

1.1.2.1. Khái niệm giáo dục quyền con người .......................................... 20

1.1.2.2. Mục đích của giáo dục quyền con người ..................................... 21

1.1.2.3. Vai trò của giáo dục quyền con người......................................... 24

1.2. CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI........... 28

1.2.1. Chủ thể giáo dục quyền con người................................................. 28

1.2.2. Khách thể, đối tượng giáo dục quyền con người ........................... 29

1.2.3. Hình thức giáo dục quyền con người ............................................. 33

1.2.4. Nội dung giáo dục quyền con người ............................................... 35

1.2.5. Phương pháp giáo dục quyền con người........................................ 38

1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI. 43

1.3.1. Ý thức pháp luật của mỗi người dân.............................................. 43

1.3.2. Hệ thống thể chế cầm quyền........................................................... 44

4

1.3.3.Trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội................................... 45

1.4. CÁC BẢO ĐẢM GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI................................45

1.4.1. Bảo đảm về chính trị .......................................................................45

1.4.2. Bảo đảm về kinh tế..........................................................................47

1.4.3. Bảo đảm về xã hội và nhận thức xã hội..........................................47

1.4.4. Bảo đảm về pháp lý .........................................................................48

1.4.5. Bảo đảm về nguồn nhân lực và vật lực...........................................50

Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP GIÁO DỤC .........53

QUYỀN CON NGƯỜI Ở ĐẮK LẮK HIỆN NAY .............................................53

2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, VĂN HÓA, XÃ HỘI CỦA GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI Ở ĐẮK LẮK ...................................53

2.1.1. Điều kiện địa lý – tự nhiên và xã hội ..............................................53

2.1.2. Đặc điểm tình hình kinh tế..............................................................54

2.1.3. Đặc điểm tình hình chính trị - xã hội..............................................58

2.1.4. Tình hình văn hóa – xã hội .............................................................60

2.2. HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI Ở ĐẮK LẮK HIỆN

NAY......................................................................................................................62

2.2.1. Hoạt động giáo dục quyền con người trong trường học................62

2.2.2. Hoạt động giáo dục quyền con người bên ngoài trường học.........66

2.3. NHỮNG THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN TRONG GIÁO DỤC VỀ QUYỀN CON NGƯỜI Ở ĐẮK LẮK HIỆN NAY. ............................70

2.3.1. Những thành tựu .............................................................................70

2.3.2. Những tồn tại...................................................................................74

2.3.3. Nguyên nhân rút ra từ thực tiễn giáo dục quyền con người ở Đắk

Lắk trong thời gian qua ......................................................................................78

2.4. PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC VỀ

QUYỀN CON NGƯỜI Ở ĐẮK LẮK HIỆN NAY .............................................79

2.4.1. Phương hướng chung ......................................................................79

2.4.2. Các giải pháp tăng cường giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk

hiện nay................................................................................................................82

5

2.4.2.1. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến về quyền con người ..................82

2.4.2.2. Lồng ghép nội dung giáo dục về quyền con người vào chương trình

đào tạo ở tất cả các cấp giáo dục ................................................................... 86

2.4.2.3. Đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật Quốc tế về quyền con người....................................................................................................... 87

2.4.2.4. Tăng cường nhận thức của người dân về vấn đề giới, bình đẳng giới, chống lại các định kiến xã hội và phân biệt đối xử về giới, sắc tộc, tôn giáo 89

2.4.2.5. Tăng cường bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự

ở Đắk Lắk ...................................................................................................... 92

2.4.2.6. Nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác giáo dục quyền con người

....................................................................................................................... 93

2.4.2.7. Xóa đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, giảm sự phân hóa

giàu nghèo, bảo đảm nền tảng cho phát triển bền vững .............................. 94

KẾT LUẬN ......................................................................................................... 95

6

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................ 97

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Quyền con người, hay nhân quyền, là một giá trị cơ bản, quan trọng của nhân

loại. Đó là thành quả của sự phát triển lịch sử, là một đặc trưng của xã hội văn

minh. Quyền con người cũng là một quy phạm pháp luật, đương nhiên nó đòi hỏi tất

cả mọi thành viên của xã hội, không loại trừ bất cứ ai, đều có quyền và nghĩa vụ

phải tôn trọng các quyền và tự do của mọi người.

Được chính thức pháp điển hóa trong luật quốc tế từ sau Chiến tranh thế giới

thứ hai, quyền con người đã trở thành một hệ thống các tiêu chuẩn pháp luật quốc tế

có tính chất bắt buộc với mọi quốc gia, và việc tôn trọng, bảo vệ các quyền con

người đã trở thành thước đo về trình độ văn minh của các nước và các dân tộc trên

thế giới. Ở Việt Nam, kể từ khi giành độc lập năm 1945, Đảng và Nhà nước ta luôn

chú trọng đến quyền con người. Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ

cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 2/9/1945 được coi là một văn kiện có

tính lịch sử trên phương diện quốc tế về quyền con người. Trên cơ sở đó, quyền con

người đã được ghi nhận trong các bản Hiến pháp nước ta: Hiến pháp năm 1946,

Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 và gần đây nhất là

Hiến pháp 1992 sửa đổi ngày 28 tháng 11 năm 2013 tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội

Khóa XIII.

Mặc dù quyền con người có ứng dụng và ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ đến

mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, xã hội nhưng do một số nguyên nhân, hoạt

động giáo dục về quyền con người ở nước ta còn nhiều hạn chế. Điều này dẫn tới

một số hệ quả tiêu cực đó là do thiếu kiến thức về quyền, người dân không biết tự

bảo vệ các quyền của mình, đồng thời thiếu ý thức trách nhiệm trong việc thực hiện

các nghĩa vụ công dân, dẫn đến sự vi phạm các quyền hợp pháp của người khác

hoặc của cộng đồng.

Trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay, việc giáo dục

nhân quyền có ý nghĩa to lớn hơn bao giờ hết vì nó thúc đẩy quá trình hội nhập của

Việt Nam với thế giới và khu vực, góp phần xây dựng nền văn hóa nhân quyền toàn

cầu. Xuất phát từ những nhu cầu lý luận và thực tiễn trên đây, việc nghiên cứu làm

rõ cơ sở lý luận, đánh giá những thành tựu đã đạt được và những khuyết điểm còn

tồn tại của giáo dục nhân quyền; đồng thời xác định phương hướng hoàn thiện hóa

giáo dục nhân quyền là việc làm hết sức cần thiết và cấp bách cả trên bình diện

7

quốc gia và ở từng địa phương.

Đắk Lắk là một tỉnh lớn ở vùng Tây Nguyên. Vấn đề giáo dục pháp luật nói

chung, những năm qua đã được quan tâm phát triển bởi các cơ quan hữu quan. Tuy

nhiên, vấn đề giáo dục quyền con người còn là vấn đề mới, cần được nghiên cứu

sâu sắc cả về lý luận cũng như thực tiễn để tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động này

trong thời gian tới. Do vậy, tôi chọn đề tài “Giáo dục về quyền con người ở tỉnh

Đắk Lắk hiện nay” làm đề tài luận văn cao học chuyên ngành Luật Hiến pháp –

Luật Hành chính của mình.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề giáo dục pháp luật nói chung đã nhận được sự quan tâm của nhiều cơ

quan, tổ chức và các nhà khoa học. Từ năm 1995 tới nay đã có nhiều công trình

nghiên cứu, có thể kể tên một số công trình tiêu biểu sau:

+ Công trình đã viết thành sách:

Bàn về giáo dục pháp luật của hai tác giả Trần Ngọc Đường và Dương

Thanh Mai, NXB Chính trị Quốc Gia, Hà Nội, 1995; Sống và làm việc theo pháp

luật - Một số vấn đề giáo dục pháp luật cho thanh niên, NXB Thanh niên, Hà Nội,

1997; Giáo dục quyền con người, Những vấn đề lý luận và thực tiễn của GS.TS Võ

Khánh Vinh chủ biên,NXB Khoa học xã hội, 2011.

+ Các đề tài khoa học cấp Nhà nước và cấp bộ:

Tìm kiếm mô hình giáo dục pháp luật có hiệu quả trong một số dân tộc ít

người, Đề tài khoa học cấp Bộ của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý - Bộ Tư

pháp, 1995; Đổi mới giáo dục pháp luật trong hệ thống các trường chính trị ở nước

ta hiện nay, Đề tài khoa học cấp Bộ của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh,

2000; Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng chương trình quốc gia về phổ

biến giáo dục pháp luật trong giai đoạn tới, Đề tài khoa học cấp Bộ của Bộ Tư

pháp, 2004...

+ Các luận án, luận văn:

Giáo dục pháp luật qua hoạt động tư pháp ở Việt Nam, Luận án Phó tiến sĩ

Luật học của tác giả Dương Thanh Mai, 1996; Giáo dục pháp luật trong các trường

đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (không chuyên luật) ở nước ta hiện

nay, Luận án Phó tiến sĩ Luật học của tác giả Đinh Xuân Thảo, 1996; Giáo dục

quyền con người, quyền công dân ở nước ta hiện nay – Thực trạng và giải pháp,

Luận văn thạc sỹ Luật học của tác giả Nguyễn Hữu Trí, Học viện Chính trị Quốc

gia Hồ Chí Minh, Hà Nội 2001 và một số luận văn thạc sĩ luật học, luận văn cử

8

nhân của Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí

Minh, Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội và các

cơ sở khác.

Các công trình nói trên đã nêu ra nhiều vấn đề rất cơ bản cả về lý luận và

thực tiễn trong hoạt động giáo dục pháp luật trên nhiều góc độ. Tuy nhiên, có thể

nói rằng, hiện nay vẫn có rất ít các công trình nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục

quyền con người, nhất là nghiên cứu ở bình diện một địa phương như tỉnh Đắk Lắk.

Vì vậy, đây là đề tài nghiên cứu có hệ thống trên cơ sở kế thừa có chọn lọc kết quả

nghiên cứu của các công trình, tài liệu khoa học trên và các tài liệu khác có liên

quan về giáo dục quyền con người ở Việt Nam hiện nay.

3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của Luận văn

3.1. Mục đích nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng của vấn đề quyền con

người, giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk hiện nay, để xác định được phương

hướng, đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường công tác giáo dục quyền con người ở

Đắk Lắk trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay.

3.2. Nhiệm vụ của luận văn

Để thực hiện được mục đích trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ:

- Tìm hiểu những khái niệm, tính chất và đặc điểm của quyền con người;

- Hệ thống hóa lý luận chung về giáo dục quyền con người;

- Đánh giá thực trạng của công tác giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk

hiện nay;

- Từ thực trạng đó, đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm tăng cường

hiệu quả công tác giáo dục quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận văn

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về quyền con người và giáo

dục về quyền con người, trên cơ sở đó làm nền tảng để nghiên cứu vấn đề thực trạng

hoạt động giáo dục quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk thời gian qua, nghiên cứu những

giải pháp nâng cao việc hoàn thiện hoạt động này trong thời gian tới.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về đối tượng: Hoạt động giáo dục quyền con người của các chủ thể

có thẩm quyền, trách nhiệm trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk;

9

- Phạm vi về nội dung: Quyền con người nói chung.

- Phạm vi thời gian, không gian: Trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk; trong khoảng

thời gian từ 2013 trở lại đây (2016).

5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Cơ sở lý luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác

– Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về Nhà nước pháp quyền

xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, quan hệ giữa Nhà nước pháp quyền với quyền con

người, với giáo dục quyền con người ở nước ta.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp thống kê, hệ thống, so sánh, phân tích, tổng

hợp để nghiên cứu các vấn đề lý luận, khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng

giáo dục về quyền con người ở Đắk Lắk hiện nay nhằm đề xuất, luận chứng một

cách khoa học phương hướng, giải pháp tăng cường giáo dục về quyền con người ở

tỉnh Đắk Lắk trong giai đoạn hiện nay.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Đây là công trình chuyên khảo nghiên cứu tương đối có hệ thống về giáo dục

quyền con người ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay; trên cơ sở tính đặc thù của quyền con

người và hoạt động giáo dục quyền con người, Luận văn đánh giá thực trạng và

phân tích nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk

trong thời gian qua; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp góp phần thực hiện tốt vấn

đề giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk.

7. Kết cấu Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm:

Chương 1: Cơ sở lý luận về giáo dục quyền con người

Chương 2: Thực trạng và quan điểm, giải pháp giáo dục quyền con người ở

10

Đắk Lắk hiện nay

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI

1.1. NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ GIÁO DỤC

QUYỀN CON NGƯỜI

1.1.1.1. Khái niệm quyền con người

1.1.1. Khái niệm, tính chất và đặc điểm quyền con người

Quyền con người, theo định nghĩa trong “Đại từ điển Tiếng Việt” của Viện

Ngôn ngữ học, cũng chính là “nhân quyền” [56]. Cho đến nay, chúng ta phải thừa

nhận rằng khó có thể tìm thấy một định nghĩa triết học “kinh điển” nào về quyền

con người. Ngay cả những nhà tư tưởng lớn như Lôccơ [John Locke (1632–1704)],

Rútxô [Jean-Jacques Rousseau (1712 – 1778)]… và sau này Mác [Karl Heinrich

Marx (1818 – 1883)], Engen [Friedrich Engels (1820 - 1895)], Lênin [Vladimir

Ilyich Lenin (1870 – 1924)] cũng không đưa ra một định nghĩa nào về khái niệm

này giống như cách làm thông thường đối với các khái niệm triết học khác. Nhìn lại

quá khứ và hiện tại, quyền con người thường được nhìn nhận theo các khuynh

hướng khác nhau, trong đó chủ yếu theo bốn khuynh hướng là: Tự nhiên, thực định,

kinh tế và quan niệm.

Thứ nhất: Khuynh hướng “quyền tự nhiên”:

Những tư tưởng coi quyền con người là quyền “tự nhiên”, “trời phú” đã xuất

hiện ngay từ thời cổ đại. Ở Trung Quốc, Mặc Tử (479-381 trước Công nguyên) đã

cho rằng quyền bình đẳng tự nhiên của con người đó là “ý trời”. Theo đó, mỗi

người đều có quyền tham gia công việc Nhà nước tuỳ theo đạo đức và tài năng của

họ, chứ không phải do dòng dõi quyết định. Cũng như vậy, mỗi người đều có các

quyền giống nhau và đều bị trừng phạt nếu phạm tội. Ở Hy Lạp cổ đại, các nhà triết

học cũng có những tư tưởng tương tự.

Giai cấp tư sản khi thực hiện cách mạng tư sản, đã coi quyền con người như

một vũ khí của mình để tranh giành quyền lực với giai cấp phong kiến, và để tập

hợp lực lượng trong xã hội; do đó ngay từ thế kỷ XVIII vấn đề nhân quyền đã được

giai cấp tư sản đề cập, tiêu biểu như trong Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc

Hoa Kỳ năm 1776, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1789.

Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ dựa trên Mười tu chính án do James Madison

11

(1751 – 1836) đưa ra. Các tu chính án này hạn chế quyền lực của chính quyền liên

bang, bảo vệ quyền của tất cả công dân, những người sinh sống trên lãnh thổ Hoa

Kỳ. Trong các quyền được liệt kê mà các tu chính án này đảm bảo có: tự do ngôn

luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo; quyền được mang vũ khí của người dân; quyền

tự do hội họp; quyền tự do kiến nghị; quyền không bị lục soát và tịch thu vô lý;

quyền không bị hình phạt tàn bạo và bất bình thường; quyền không bị tự buộc tội do

bị ép buộc. Đạo luật Nhân quyền cũng hạn chế quyền của Quốc hội bằng cách cấm

Quốc hội ban hành luật về thành lập tôn giáo và cấm chính quyền liên bang tước

quyền sống, quyền tự do hay tài sản của bất kỳ người nào mà không thông qua tố

tụng pháp luật.

Trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp, quyền con người là

những quyền được bảo hộ “Quốc hội thừa nhận và tuyên bố, với sự chứng kiến và

sự bảo hộ của đấng tối cao, các quyền sau đây của con người là của con người và

của công dân” [23, tr.21].

Nội dung Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp được tiếp tục thể

hiện trong Hiến pháp của Cộng hòa Pháp năm 1958, với tư tưởng chủ đạo là “Hoạt

động tự do của con người là một quyền tự nhiên, vì vậy, không cần phải liệt kê lại

những quyền gì là được phép: tất cả những gì luật pháp không nghiêm cấm đều

được phép làm; ngược lại, cần phải xác định rõ những điều cần nghiêm cấm, dĩ

nhiên là có xét đến những quy định trong Hiến pháp”[19, tr.370].

Về mặt xã hội, thuyết quyền tự nhiên mang ý nghĩa phản kháng. Nó là tư

tưởng của các lực lượng tiến bộ chống lại trật tự xã hội bất công, bất bình đẳng. Vì

thế, không chỉ trong quá khứ, mà cả ngày nay thuyết này vẫn có ý nghĩa nhất định.

Thuyết quyền tự nhiên có điểm tích cực là đề cao con người với tư cách là

sản phẩm cao nhất, tinh tuý nhất của sự phát triển tự nhiên. Nhưng nhược điểm của

nó là ở chỗ, nó che lấp nguồn gốc xã hội của quyền con người và do đó, không thấy

tính lịch sử, tính giai cấp, sự phát triển trong những đòi hỏi về quyền con người.

Thứ hai: Khuynh hướng “thực định”:

Trái với khuynh hướng quyền tự nhiên – khuynh hướng không để ý đến mặt

pháp luật và Nhà nước của quyền con người, khuynh hướng thực định lại coi quyền

con người là tất cả những gì mà Nhà nước thông qua pháp luật để quy định cho cá

nhân. Chỉ những gì pháp luật cho phép tự do làm hay không làm thì mới là quyền

con người, và chỉ được coi là quyền con người khi một hành vi hay một yêu cầu của

12

cá nhân là hợp pháp.

Khuynh hướng thực định có điểm hợp lý là đã gắn quyền con người với pháp

luật, với ý chí mà Nhà nước (mà điều này thì không thể bỏ qua được, vì quyền con

người tất nhiên phải tồn tại dưới hình thức pháp luật).

Nhưng, nó cũng có nhược điểm ở chỗ, nó chỉ coi ý chí Nhà nước là nguồn

gốc của quyền con người, coi trọng tính hợp pháp của quyền, song lại không để ý

đến tính hợp lý của nó – cái mà nhờ đó, ngay cả những đòi hỏi, những nhu cầu hợp

lý cho cuộc sống (nhưng chưa được pháp luật ghi nhận) cũng phải được coi là

quyền con người. Do đó, không thể coi quyền con người chỉ là cái được phép làm,

được hưởng theo pháp luật, mà còn cả cái đáng được làm, đáng được hưởng (những

cái chưa được pháp luật khẳng định, nhưng sẽ phải khẳng định).

Thứ ba: Khuynh hướng “kinh tế”:

Khuynh hướng kinh tế coi quyền con người là những quyền nảy sinh từ nhu

cầu của sản xuất, kinh doanh. Nói cách khác, khuynh hướng này coi nguồn gốc của

quyền con người là kinh tế. Không phải “trời phú” tự nhiên, cũng không phải do

Nhà nước ban phát, mà chính đời sống kinh tế của con người trao cho con người

các quyền. Giáo sư Viện khoa học xã hội Trung Quốc - Từ Sùng Ôn trong bài báo

“Về phương pháp luận nghiên cứu vấn đề nhân quyền” trích Tạp chí “Nghiên cứu

triết học”, số 12/1992 đã viết: “nhân quyền, suy cho cùng bắt nguồn từ điều kiện

kinh tế - xã hội, phản ánh lợi ích cơ bản của một giai cấp nhất định”.

Khuynh hướng kinh tế có điểm hợp lý ở chỗ, nó cho thấy nguồn gốc của

quyền con người là bản thân đời sống xã hội của con người. Nó tước bỏ cái vỏ “thần

thánh”, “tự nhiên”, không giải thích được của quyền con người, trả quyền con người

về với đời sống thực tại của con người. Theo khuynh hướng này, có thể đi đến quan

điểm duy vật lịch sử về vấn đề quyền con người. Nó cũng cho thấy tính giai cấp trong

những đòi hỏi về quyền con người.

Song, sẽ là không đầy đủ nếu coi quyền con người chỉ có nguồn gốc kinh tế.

Quyền con người còn bao hàm những yêu cầu về danh dự, nhân phẩm, về đời sống tinh

thần, tình cảm của con người…, nghĩa là những điều nằm ngoài phạm trù kinh tế.

Thứ tư: Khuynh hướng “quan niệm”:

Khuynh hướng quan niệm cho rằng quyền con người là tất cả những gì mà

con người cho là cần thiết và có giá trị đối với cuộc sống con người, tức là quyền

lợi, nhu cầu, lợi ích và những giá trị tinh thần đều có thể trở thành quyền con người.

Quyền con người là vấn đề phức tạp đa nghĩa, chứa đựng những mặt đối lập,

13

mâu thuẫn, nhưng không loại trừ nhau. Đó là các mặt khách quan và chủ quan, tự

nhiên và xã hội, kinh tế và tinh thần, văn hoá và chính trị, đạo lý và luật pháp. Nó

cũng là sự kết hợp giữa các yếu tố quốc tế và dân tộc, giai cấp và nhân loại, v.v…

Qua phân tích trên đây có thể rút ra kết luận: Quyền con người là những

quyền không bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất cứ chính thể nào; đó là: quyền sống,

quyền tự do, quyền được mưu cầu hạnh phúc, quyền được bảo vệ và bình đẳng

trước pháp luật, quyền an ninh thân thể, quyền không bị hình phạt tàn bạo và bất

bình thường…Đó cũng là những đòi hỏi chính đáng về tự do và những nhu cầu

cuộc sống cơ bản cần được đáp ứng của con người, không bị phá hủy khi xã hội dân

sự được thiết lập và không một xã hội hay một chính phủ nào có thể xóa bỏ hoặc

chuyển nhượng các quyền này. Nói cách khác, quyền con người đóng vai trò “là cơ

sở để xác định tính điều chỉnh tự định đoạt của con người, khả năng độc lập của con

người trong việc giải quyết các nhu cầu cá nhân” [19,tr.21].

1.1.1.2. Tính chất của quyền con người

Quyền con người có các tính chất cơ bản sau đây:

Thứ nhất: Tính phổ biến

Tính phổ biến của nhân quyền thể hiện ở chỗ quyền con người là những gì

bẩm sinh, vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi người,

không có sự phân biệt đối xử vì màu da, chủng tộc, dân tộc, giới tính, độ tuổi, thành

phần xuất thân… Con người, dù ở trong những chế độ xã hội riêng biệt, thuộc

những truyền thống văn hóa khác nhau vẫn được công nhận là con người và được

hưởng những quyền và sự tự do cơ bản.

Liên quan đến tính chất này, cần lưu ý là bản chất của sự bình đẳng về quyền

con người không có nghĩa là cào bằng mức độ hưởng thụ các quyền, mà là bình

đẳng về tư cách chủ thể của quyền con người.

Thứ hai: Tính đặc thù

Mặc dù tất cả mọi người đều được hưởng quyền con người nhưng mức độ

thụ hưởng quyền có sự khác biệt, phụ thuộc vào năng lực cá nhân của từng người,

hoàn cảnh chính trị, truyền thống văn hóa xã hội mà người đó đang sống. Ở mỗi

vùng, mỗi quốc gia khác nhau, vấn đề quyền con người mang những sắc thái, đặc

trưng riêng gắn liền với trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực đó. Ví dụ: ở

các nước Tây Âu, do điều kiện kinh tế phát triển nên con người ở đây được hưởng

chế độ an sinh xã hội tốt hơn nơi khác. Ngược lại, ở một số nước châu Á, do kinh tế

còn chậm phát triển nên mức độ thụ hưởng an sinh xã hội thấp hơn.

14

Thứ ba: Tính không thể tước bỏ

Tính không thể tước bỏ của nhân quyền thể hiện ở chỗ các quyền con người

không thể bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả các

cơ quan và quan chức Nhà nước. Ở đây, khía cạnh “tùy tiện” nói đến giới hạn của

vấn đề. Nó cho thấy không phải lúc nào nhân quyền cũng “không thể tước bỏ”.

Trong một số trường hợp đặc biệt, chẳng hạn như khi một người phạm một tội ác

thì có thể bị tước tự do theo pháp luật, thậm chí bị tước quyền sống.

Thứ tư: Tính không thể phân chia

Tính không thể phân chia của nhân quyền bắt nguồn từ nhận thức rằng các

quyền con người đều có tầm quan trọng như nhau, nên về nguyên tắc không có

quyền nào được coi là có giá trị cao hơn quyền nào. Việc tước bỏ hay hạn chế bất

kỳ quyền con người nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, giá trị và sự phát

triển của con người.

Tuy nhiên, tính chất không thể phân chia không hàm ý rằng mọi quyền con

người đều cần phải được chú ý quan tâm với mức độ giống hệt nhau trong mọi hoàn

cảnh. Trong từng bối cảnh cụ thể, cần và có thể ưu tiên thực hiện một số quyền nhất

định, miễn là phải dựa trên những yêu cầu thực tế của việc đảm bảo các quyền đó

chứ không phải dựa trên sự đánh giá về giá trị các quyền đó. Ví dụ, trong bối cảnh

dịch bệnh đe dọa hoặc với những người bị bệnh tật, quyền được ưu tiên thực hiện là

quyền được chăm sóc y tế; còn trong bối cảnh nạn đói, quyền được ưu tiên phải là

quyền về lương thực, thực phẩm. Ở góc độ rộng hơn, trong một số hoàn cảnh, cần

ưu tiên thực hiện quyền của một số nhóm xã hội dễ bị tổn thương trong khi vẫn tôn

trọng quyền của các nhóm khác. Điều này không có nghĩa là bởi các quyền được ưu

tiên thực hiện có giá trị cao hơn các quyền khác, mà là bởi các quyền đó trong thực

tế đang bị đe dọa hoặc bị vi phạm nhiều hơn so với các quyền khác.

Thứ năm: Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau

Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau của nhân quyền thể hiện ở chỗ việc đảm

bảo các quyền con người, toàn bộ hoặc một phần, nằm trong mối liên hệ phụ thuộc

và tác động lẫn nhau. Sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh

hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác. Ngược lại, tiến bộ trong việc bảo

đảm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến việc bảo đảm các

quyền khác.

Thực tế cho thấy, để đảm bảo các quyền bầu cử, ứng cử (các quyền chính trị

cơ bản), cần đồng thời bảo đảm một loạt quyền kinh tế, xã hội, văn hóa khác có liên

15

quan như quyền được giáo dục, quyền được chăm sóc y tế, quyền có mức sống

thích đáng… vì nếu không, các quyền bầu cử, ứng cử có rất ít ý nghĩa với những

người đói khổ, bệnh tật hay mù chữ. Tương tự, việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã

hội, văn hóa đều gắn liền với sự phát triển của quyền dân sự, chính trị, bởi kết quả

của việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị chính là sự ổn định, lành mạnh và hiệu

quả trong quản lý Nhà nước, quản lý xã hội – yếu tố nền tảng để thúc đẩy các điều

kiện sống về kinh tế, xã hội, văn hóa của mọi người dân. [11]

1.1.1.3. Đặc điểm của quyền con người

Nhận thức chung cho rằng, quyền con người là một phạm trù đa diện, có thể

nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau như đạo đức, tôn giáo, chính trị, xã hội, pháp

luật… cụ thể như sau:

Thứ nhất, quyền con người nhìn từ góc độ đạo đức – tôn giáo

Những ý niệm đầu tiên về quyền con người có lẽ được nảy sinh từ quan niệm

về các chuẩn mực đạo đức – cách thức đối xử giữa người với người trong xã hội –

mà vốn có và hiện còn trong văn hóa truyền thống của hầu hết dân tộc trên trái đất.

Cụ thể, ở khắp nơi trên thế giới, người ta đều lưu truyền những quy tắc ứng xử, coi

đó là những quy luật vàng, kiểu như: nếu muốn người khác đối xử với mình như thế

nào thì hãy đối xử với người khác như thế, ác giả ác báo hoặc gieo gì gặt nấy… Rõ

ràng, ẩn chứa trong nội hàm các quy luật vàng này là yêu cầu tôn trọng các quyền,

tự do chính đáng và tự nhiên của người khác.

Những quy tắc đạo đức hàm chứa những ý tưởng về quyền con người như

vậy sau đó được đúc kết, khái quát, bổ sung và phát triển trong giáo lý của các tôn

giáo. Sức mạnh đức tin của các tôn giáo đó biến các ý tưởng về quyền con người trở

thành những quy phạm đạo đức – tôn giáo được tuân thủ rộng rãi ở nhiều xã hội,

trong đó đề cao và cổ vũ tình yêu thương đồng loại, sự công bằng, bình đẳng, tự do

và nhân phẩm – những yếu tố nền tảng của quyền con người.

Nhìn tổng thể, trong suốt quá trình phát triển của quyền con người, kể cả khi

các quyền con người đã được pháp điển hóa trong pháp luật quốc gia và quốc tế, nó

vẫn bị các phạm trù đạo đức và tôn giáo chi phối. Sự chi phối đó không bộc lộ, lặng

lẽ, tàng ẩn nhưng rất sâu sắc. Nói cách khác, trong suốt tiến trình phát triển của nó,

quyền con người luôn phản ánh và mang nặng dấu ấn của các giá trị và quy tắc đạo

đức, tôn giáo.

Thứ hai, quyền con người nhìn từ góc độ lịch sử - xã hội

Xét tổng thể, lịch sử loài người thực chất là một quá trình phấn đấu không

16

ngừng để tồn tại và nâng cao các tiêu chuẩn sống, trong đó bao gồm việc phấn đấu

để xác lập và bảo vệ những giá trị tự do, bình đẳng, công bằng và nhân phẩm cho tất

cả các cá nhân thành viên của cộng đồng nhân loại. Theo dòng lịch sử, ảnh hưởng

và tác động của quyền con người ngày càng mở rộng, từ ý niệm, tư tưởng đến các

quy tắc, quy phạm và cơ chế; từ cấp độ cộng đồng đến cấp độ quốc gia, khu vực và

quốc tế. Trong suốt quá trình phát triển này, quyền con người luôn mang những dấu

ấn về chính trị, kinh tế, văn hóa của từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử của xã hội

loài người.

Thứ ba, quyền con người từ góc độ triết học

Trên phương diện triết học, sự hình thành, phát triển của quyền con người

phản ánh quy luật của xã hội loài người từ thấp đến cao. Cụ thể, nó phản ánh quá

trình phát triển mang tính quy luật trong nhận thức của loài người từ những khái

niệm sơ khai nhất về công bằng, bình đẳng, tự do và nhân phẩm cho đến những tư

tưởng, học thuyết và những quy phạm pháp lý về quyền con người.

Trong triết học, quyền con người từ lâu đã trở thành một đối tượng nghiên

cứu với những tư tưởng, học thuyết được phát triển bởi nhiều nhà triết học nổi

tiếng. Những tư tưởng triết học về quyền con người, đặc biệt là về các quyền tự

nhiên và các quyền pháp lý là nền tảng lý luận cho việc pháp điển hóa các quyền

con người vào pháp luật quốc gia và quốc tế, cũng như trong việc bảo đảm thực

hiện các quyền này trên thực tế.

Thứ tư, quyền con người từ góc độ chính trị

Ngay từ khi còn ở dưới dạng quan điểm, tư tưởng, quyền con người đã là

một vấn đề ảnh hưởng, chi phối quan hệ chính trị, cả ở phạm vi quyết định giúp giai

cấp tư sản lật đổ sự thống trị của giai cấp phong kiến.

Sau đó, quyền con người đã trở thành một trong những vấn đề trung tâm của

cuộc đấu tranh chính trị, tư tưởng giữa hai phe tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa

trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Ngay từ khi quyền con người bắt đầu được

pháp điển hóa trong luật quốc tế (kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai), vấn đề

quyền con người đã bị “chính trị hóa” một cách sâu sắc và hệ thống. Từ khi cuộc

Chiến tranh Lạnh kết thúc cho đến thời điểm hiện nay, mặc dù mức độ “chính trị

hóa” quyền con người đã ít nhiều giảm đi, tuy nhiên, đây vẫn là hiện thực không thể

tránh khỏi và sẽ cùng tồn tại lâu dài trong các hoạt động quốc tế về quyền con

người.

Xét ở phạm vi quốc tế, quyền con người đã trở thành một trong những vấn đề

17

chi phối (trực tiếp hoặc gián tiếp) mạnh mẽ và toàn diện các quan hệ chính trị quốc

tế ở mọi cấp độ, từ toàn cầu, khu vực đến song phương. Xét ở phạm vi quốc gia, từ

lâu, các đảng phái chính trị trên thế giới đã nhanh chóng nhận thấy và nắm lấy

quyền con người như một thứ vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh giành và giữ

quyền lực Nhà nước. Quyền con người trở thành các tiêu chí được dùng để đánh giá

tính tiến bộ, phù hợp trong cương lĩnh tranh cử; trở thành cơ sở để các đảng phái

phê phán, chỉ trích lẫn nhau; thậm chí trở thành một yếu tố quyết định sự tồn vong

của một chính thể, một người đứng đầu Nhà nước hoặc một chế độ xã hội. Tại

nhiều nước trên thế giới hiện nay, quyền con người đã trở thành một trong các chủ

đề trung tâm không chỉ trong cuộc đấu tranh quyền lực giữa các chính đảng, mà còn

trong các chính sách đối nội, đối ngoại của quốc gia.

Thứ năm, quyền con người từ góc độ pháp lý

Là một phạm trù đa diện, song quyền con người có mối liên hệ gần gũi hơn

cả với pháp luật. Điều này trước hết là bởi cho dù quyền con người có là bẩm sinh,

vốn có (nguồn gốc tự nhiên) hay phải do các nhà nước quy định (nguồn gốc pháp

lý), thì việc thực hiện các quyền vẫn cần có pháp luật. Hầu hết những nhu cầu vốn

có, tự nhiên của con người (các quyền tự nhiên) không thể được bảo đảm đầy đủ

nếu không được ghi nhận bằng pháp luật, mà thông qua đó, nghĩa vụ tôn trọng và

thực thi các quyền không phải chỉ tồn tại dưới dạng những quy tắc đạo đức mà trở

thành những quy tắc ứng xử chung, có hiệu lực bắt buộc và thống nhất cho tất cả

mọi chủ thể trong xã hội. Chính vì vậy, quyền con người gắn liền với các quan hệ

pháp luật và là một phạm trù pháp lý.

Thực tế cho thấy, với tư cách là chủ thể của pháp luật, con người – cùng với

quyền, tự do và nghĩa vụ, những thuộc tính xã hội gắn liền với nó – luôn là đối

tượng phản ánh của các hệ thống pháp luật. Pháp luật xác lập và bảo vệ sự bình

đẳng giữa các cá nhân con người trong xã hội và sự độc lập tương đối của các cá

nhân với tập thể, cộng đồng, nhà nước, thông qua việc pháp điển hóa các quyền tự

do tự nhiên, vốn có của cá nhân. Theo nghĩa này, pháp luật có vai trò đặc biệt,

không thay thế trong việc ghi nhận, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người. Vai

trò của pháp luật với quyền con người thể hiện ở những khía cạnh cụ thể như sau:

+ Pháp luật là phương tiện chính thức hóa, pháp lý hóa giá trị xã hội của các

quyền tự nhiên: Mặc dù được thừa nhận song thông thường các quyền tự nhiên

không mặc định được áp dụng trực tiếp trong xã hội. Về nguyên tắc, các nhà nước

trên thế giới chỉ bảo đảm thực hiện những quyền pháp lý – tức là có nhu cầu, lợi ích

18

tự nhiên, vốn có của con người đã được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Như vậy,

chỉ khi mang tính pháp lý, các quyền tự nhiên mới chuyển thành những quyền con

người có đầy đủ giá trị hiện thực. Pháp luật chính là phương tiện để thực hiện quá

trình chuyển hóa đó. Nó có sứ mệnh cao cả là biến những nghĩa vụ pháp lý (hay các

quy tắc cư xử chung do Nhà nước cưỡng chế thực hiện), từ đó xã hội hóa giá trị các

quyền tự nhiên của con người.

+ Pháp luật là phương tiện đảm bảo giá trị thực tế của các quyền con người:

như đã đề cập, chỉ khi được quy định trong pháp luật, việc tuân thủ và thực hiện các

quyền con người mới mang tính bắt buộc với mọi chủ thể trong xã hội. Ở đây, pháp

luật đóng vai trò là công cụ giúp Nhà nước bảo đảm sự tuân thủ, thực thi các quyền

con người của các chủ thể khác nhau trong xã hội, đồng thời cũng là công cụ của

các cá nhân trong việc bảo vệ các quyền con người của chính họ thông qua việc vận

dụng các quy phạm và cơ chế pháp lý quốc gia và quốc tế có liên quan.

Thực tế cho thấy, tư tưởng đề cao pháp luật, coi pháp luật là phương tiện hữu

hiệu để bảo đảm các quyền con người đã được khẳng định từ rất sớm. Từ nhiều thế

kỷ trước Công nguyên, một vị vua vĩ đại của xứ Babylon là Hammurabi (1810 –

1750 TCN) đã tuyên bố rằng, mục đích của ông trong việc ban hành đạo luật cổ nổi

tiếng (mang tên ông) là để “…ngăn ngừa những kẻ mạnh áp bức người yếu”. Vào

thế kỷ thứ VI trước Công nguyên, một nhiếp chính quan La Mã là Arokhont Salon

đã tuyên bố ý định giải phóng cho tất cả mọi người bằng quyền lực của pháp luật,

bằng sự kết hợp sức mạnh với pháp luật. Trong giai đoạn sau này, tư tưởng đề cao

pháp luật với việc bảo đảm quyền con người cũng được phát triển nhiều bởi các nhà

tư tưởng nổi tiếng của nhân loại, và được chứng minh bằng sự ra đời của ngày càng

nhiều các văn bản pháp luật quốc gia và quốc tế về quyền và tự do của con người,

từ Đại Hiến chương Magna Carta (the Magna Carta, 1251), Bộ luật về các quyền

(the Bill of Rights, 1689) của nước Anh; Tuyên ngôn về các quyền của con người

và của công dân (the Declaration of the Rights of Man and of the Citizen, 1789) của

nước Pháp; Tuyên ngôn Độc lập (the Declaration of Independence, 1776) và Bộ luật

về các quyền (the Bill of Rights, 1789/1791) của Mỹ cho tới Tuyên ngôn toàn thế

giới về quyền con người năm 1948 và hệ thống đồ sộ hàng trăm văn kiện quốc tế về

quyền con người do Liên Hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác thông qua từ đầu

thế kỷ XX đến nay. Tất cả đã cho thấy vai trò không thể thay thế của pháp luật

trong việc bảo đảm các quyền con người.

19

1.1.2. Giáo dục quyền con người

1.1.2.1. Khái niệm giáo dục quyền con người

Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, chủ nghĩa phát xít bị đập tan

năm 1945, vấn đề nhân quyền đã trở thành mối quan tâm của cả Nhà nước xã hội

chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, nên khi tổ chức Liên Hợp Quốc ra đời thì vấn đề cơ

bản, đầu tiên nêu ra của tổ chức này là vấn đề nhân quyền. Liên Hợp Quốc đã ban

hành hàng loạt các văn kiện khẳng định các quyền và tự do của tất cả mọi người,

đặc biệt khi Hiến chương Liên Hợp Quốc 1945 và Tuyên ngôn thế giới về quyền

con người 1948 ra đời thì vấn đề nhân quyền đã chuyển sang một bước ngoặt mới

trong lịch sử nhân loại, trở thành một quan hệ cơ bản được điều chỉnh bằng pháp

luật quốc tế. Trong thời gian qua, thuật ngữ “giáo dục quyền con người” cũng liên

tục xuất hiện trong các văn kiện của các tổ chức quốc tế, các tổ chức khu vực như

Liên minh châu Âu (EU), Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE), Tổ chức

các nước châu Mỹ (OAS), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)… Đồng

thời, thuật ngữ “quyền con người” cũng xuất hiện trong văn bản của các bộ giáo dục

và của các tổ chức phi chính phủ. Tôn trọng và thúc đẩy việc bảo đảm quyền con

người đã trở thành xu thế tất yếu mang tính toàn cầu, vấn đề giáo dục quyền con

người, cũng vì đó, trở thành vấn đề được quan tâm đặc biệt ở mỗi quốc gia, mỗi dân

tộc.

Hiện nay, có nhiều định nghĩa về giáo dục quyền con người:

“Giáo dục quyền con người được định nghĩa là các nỗ lực về đào tạo, phổ

biến và thông tin nhằm tạo lập nền văn hóa toàn cầu về quyền con người thông qua

truyền đạt kiến thức, các kỹ năng, hình thành các thái độ và hướng tới: Tăng cường

tôn trọng quyền con người và các tự do cơ bản; Phát triển đầy đủ nhân cách con

người và ý thức về nhân phẩm; Tăng cường hiểu biết, khoan dung, bình đẳng giới và

tính hữu nghị giữa các dân tộc, người bản địa và các nhóm chủng tộc, quốc gia, đạo

đức, tôn giáo và ngôn ngữ...” [58, tr.33].

“Giáo dục quyền con người là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có mục

đích của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục nhằm hình thành ở họ tri

thức về quyền con người để biết tự mình bảo vệ quyền của mình và tôn trọng quyền

của người khác phù hợp với các yêu cầu, đòi hỏi của các chuẩn mực trong pháp luật

quốc tế và pháp luật quốc gia về quyền con người” [3].

“Giáo dục quyền con người là tất cả quá trình học hỏi để phát triển kiến thức,

20

kỹ năng và các giá trị của quyền con người, nhằm thúc đẩy sự công bằng, khoan

dung, nhân phẩm, cũng như tôn trọng các quyền và nhân phẩm của người khác”

[58].

Trong cuốn sách Hướng dẫn giáo dục nhân quyền xuất bản tại Đại học

Minnesota của Mỹ năm 2000, bà Nancy Flowers – một nhà giáo, nhà hoạt động

nhân quyền của Mỹ đã định nghĩa giáo dục nhân quyền là “tất cả những hiểu biết

nhằm phát triển kiến thức, kỹ năng và các giá trị của nhân quyền.” Theo bà, giáo

dục nhân quyền liên quan đến sự kết hợp xem xét giữa các yếu tố bên trong và bên

ngoài. Sự hiểu biết về nhân quyền tất yếu gắn với việc áp dụng hệ thống giá trị nhân

quyền trong mối quan hệ giữa con người với con người, trong gia đình và với các

thành viên trong cộng đồng. Trong đó, bà nói đến kỹ năng “phát triển con người”,

đó là những kỹ năng công nhận thiên hướng của bản thân mỗi người, chấp nhận

những khác biệt và chịu trách nhiệm bảo vệ quyền của những người khác. Tuy

nhiên, trong công việc của mình, những người lập chương trình giáo dục nhân

quyền phải tính đến bối cảnh xã hội, văn hóa, chính trị, kinh tế và khả năng tác

động của việc giáo dục đó đối với chuyển biến của xã hội.

Còn theo bà Felisa Tibbitts – giám đốc Hiệp hội nhân quyền của Mỹ thì “về

cơ bản, giáo dục nhân quyền là hoạt động xây dựng các nền văn hóa nhân quyền

trong các cộng đồng của chúng ta.”

Theo một định nghĩa khác của ông Shulamith Koening – người sáng lập

“Thập kỷ giáo dục nhân quyền toàn dân” (PDHRE) thì giáo dục nhân quyền là “để

mọi người biết về nhân quyền và đưa ra đòi hỏi về nhân quyền” [58, tr.30].

Như vậy, nói một cách đơn giản, giáo dục quyền con người là một quá trình

nhằm truyền đạt các kiến thức, các kỹ năng để người học có những hiểu biết về

quyền con người, những giá trị phẩm giá, bình đẳng, tin cậy lẫn nhau, sự tôn trọng

và hiểu biết về quyền của người khác, tôn trọng pháp luật để từ đó thúc đẩy mọi

người tham gia vào mọi mặt của đời sống xã hội và cùng nhau xây dựng một “nền

văn hóa nhân quyền” chung [18]. Đó cũng là việc các cơ quan, tổ chức, cá nhân có

trách nhiệm thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến cho mỗi cá nhân trong cộng đồng

hiểu rõ những quyền cơ bản của họ, đồng thời giúp họ hiểu được cách thức bảo vệ

các quyền đó cũng như đạt được các kỹ năng để có thể sử dụng các quyền này trong

cuộc sống.

1.1.2.2. Mục đích của giáo dục quyền con người

Mục đích là cái nhằm đạt được sự mong muốn, hoài bão, ý chí của một con

21

người hay tổ chức thông qua suy nghĩ và các hoạt động cụ thể trong cuộc sống. Mục

đích giáo dục quyền con người là một vấn đề vô cùng quan trọng trong giáo dục

quyền con người, vì không những nó chi phối, ảnh hưởng một cách toàn diện và sâu

sắc đến những yếu tố quan trọng khác của xã hội, mà còn chi phối, ảnh hưởng một

cách toàn diện và sâu sắc về mọi mặt trong đời sống của con người – động lực và

mục tiêu phát triển của xã hội. Giáo dục quyền con người có nhiều mục đích khác

nhau, nhưng ta có thể dựa vào “bộ ba mục đích” của phổ biến giáo dục pháp luật

nói chung để xác định mục đích của việc giáo dục quyền con người. Mục đích giáo

dục pháp luật bao gồm ba tiêu chí:

Tiêu chí 1: đạt được mục đích nhận thức pháp luật

Tiêu chí 2: đạt được mục đích thái độ, tình cảm, niềm tin pháp luật

Tiêu chí 3: đạt được mục đích hành vi, phù hợp pháp luật [28, tr.3-8].

Giáo dục ý thức quyền con người, theo ba tiêu chí đó, cũng nhằm những mục

đích chính như sau:

Mục đích nhận thức: Giáo dục quyền con người nhằm hình thành và mở

rộng tri thức về quyền con người. Mục đích cảm xúc: giáo dục quyền con người

nhằm hình thành tình cảm và lòng tin đối với việc tôn trọng, bảo vệ và thực hiện

quyền con người. Mục đích hành vi: giáo dục quyền con người nhằm hình thành

động cơ, hành vi và thói quen xử sự hợp pháp, tích cực để bảo đảm, bảo vệ và

thực hiện quyền con người.

Mục đích giáo dục quyền con người là nhằm khơi gợi biến đổi nhận thức,

năng lực, tình cảm và thái độ của đối tượng theo hướng tích cực, góp phần hoàn

thiện nhân cách đối tượng bằng những tác động có ý thức từ bên ngoài, đáp ứng các

nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội, nhằm xây dựng nguồn lực

con người – động lực của sự phát triển bền vững. Bên cạnh đó, mục đích giáo dục

quyền con người còn tạo ra những con người phát triển toàn diện, có đạo đức, tri

thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc

và chủ nghĩa xã hội: hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của

công dân, đáp ứng yêu cầu của việc bảo vệ quyền con người và sự nghiệp xây dựng,

bảo vệ Tổ quốc.

Giáo dục quyền con người cũng đồng thời cung cấp một cơ sở cho việc giải

quyết xung đột và thúc đẩy các trật tự xã hội. Quyền của con người thường xuyên

xung đột, ví dụ khi một người vi phạm vào trật tự an toàn xã hội, họ đã xung đột với

quyền tự do của người khác. Vì vậy, hiểu biết về quyền con người cũng tạo ra một

22

khuôn khổ để phân tích và giải quyết các xung đột. Giáo dục quyền con người đồng

thời cũng là việc dạy các kỹ năng về đàm phán, thương lượng và đồng thuận. Mục

đích của giáo dục nhân quyền, theo Liên Hợp Quốc, cũng là “Xây dựng một nền

văn hóa nhân quyền toàn cầu và cho tất cả mọi người – xây dựng mối quan hệ hợp

tác trên toàn cầu vì nhân quyền – thúc đẩy sự khoan dung trong tư tưởng nhân

quyền rộng khắp thế giới” (theo Thông điệp các đại diện cao ủy Liên Hợp Quốc về

nhân quyền nhân ngày nhân quyền năm 1997).

Người ta vẫn thường kêu gọi thực hiện các phong trào giải phóng con người,

song có thể nói, chỉ có thể giải phóng con người dựa trên hiểu biết về quyền con

người. Giáo dục quyền con người thông qua chuyển giao kiến thức, xây dựng kỹ

năng và hình thành quan điểm được coi là nền tảng để thực hiện công tác phòng

ngừa các vi phạm và trao cho con người quyền năng để tự giải phóng mình.

Thúc đẩy quyền con người trước hết là làm cho con người nhận thức được

quyền con người để họ biết được các quyền của mình, hướng dẫn mọi người cách

sử dụng các quyền đó một cách tốt nhất. Để đạt được mục đích này cần có sự tham

gia của nhiều bên, trong đó có cả ngành giáo dục và các tổ chức phi chính phủ

(NGO).

Tổ chức Ân xá quốc tế tin rằng, học về quyền con người là bước đầu tiên

hướng tới sự tôn trọng, thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người. Các chương trình

giáo dục về quyền con người được xây dựng nhằm mục đích thúc đẩy việc giảng

dạy về quyền con người. Các chương trình này phải được thiết kế để giúp các giáo

viên của các trường từ mẫu giáo cho đến các trường đại học cũng như các nhà giáo

dục làm việc trong các tổ chức phi chính thức như là các tổ chức cộng đồng, các

diễn đàn xã hội, giáo dục nhân quyền… đều có thể sử dụng được nhằm để thúc đẩy

các nguyên tắc về quyền con người và hệ thống các giá trị được thiết lập bởi Tuyên

ngôn thế giới về quyền con người.

Giáo dục quyền con người giúp cho người dân cảm nhận được sự quan trọng

của quyền con người, tiếp thu các giá trị về quyền con người và hòa nhập vào nó

theo cách mà họ sống. Những giá trị và thái độ về quyền con người bao gồm:

- Củng cố sự tôn trọng quyền con người và các quyền tự do cơ bản (Điều

30.2 Tuyên ngôn thế giới về quyền con người);

- Giáo dục việc tôn trọng người khác và tôn trọng chính mình;

- Hiểu về bản chất của phẩm giá con người và tôn trọng phẩm giá của người

khác;

23

- Cảm thông với những người bị vi phạm quyền và đoàn kết với họ;

- Công nhận rằng việc mọi công dân đều có quyền con người là một điều

kiện tiên quyết để có một xã hội công bằng và nhân đạo;

- Quan niệm rằng khía cạnh quyền con người về dân sự, xã hội, chính trị,

kinh tế và văn hóa là vấn đề gây xung đột ở khắp nơi trên thế giới;

- Tin tưởng rằng hợp tác thì tốt hơn là xung đột.

Tóm lại, mục đích của việc giáo dục quyền con người là để hướng con người

vào việc phát triển có đủ đức, đủ tài, nói cách khác là nhằm trang bị và hoàn thiện

cho con người, làm cho cá nhân con người trở nên hữu ích hơn với gia đình và cộng

đồng xã hội…

- Vai trò của giáo dục quyền con người trong việc xây dựng Nhà

nước pháp quyền

1.1.2.3. Vai trò của giáo dục quyền con người

Nhà nước pháp quyền là thành tựu của nền văn minh nhân loại trong tiến

trình phát triển xã hội loài người. Tư tưởng Nhà nước pháp quyền được hình thành

từ lâu trong lịch sử và ngày càng hoàn thiện như một phương thức tổ chức Nhà

nước mà trong đó có các đặc điểm nội bật như: quyền lực Nhà nước được bắt nguồn

từ nhân dân; các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp được phân công thực hiện rõ

ràng; pháp luật là tối thượng; và các cam kết quốc tế được Nhà nước đảm bảo thực

hiện. Đặc biệt, trong Nhà nước pháp quyền, quyền con người luôn luôn được coi

trọng; pháp luật quy định đầy đủ về quyền con người và được bảo đảm trong thực

tế. Nhà nước pháp quyền là một Nhà nước mà ở đó, quyền và nghĩa vụ của tất cả và

của mỗi người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Nhà nước và cá nhân phải tuân

thủ pháp luật, việc thực hiện pháp luật được bảo đảm bằng một hệ thống Tòa án độc

lập. Nhà nước pháp quyền có nghĩa vụ tôn trọng giá trị cao nhất là con người. Nhà

nước phải đảm bảo cho công dân có đủ khả năng và điều kiện chống lại sự tùy tiện

của Nhà nước, có một cơ chế chặt chẽ để kiểm tra tính hợp pháp và hợp hiến của

pháp luật và các hành vi của bộ máy chính quyền Nhà nước. Nhà nước pháp quyền

phải tạo ra cho công dân sự bảo đảm rằng người ta không bị đòi hỏi cái ngoài hoặc

trên những điều được quy định trong Hiến pháp và pháp luật. Trong Nhà nước pháp

quyền, Hiến pháp giữ vị trí tối cao trong hệ thống pháp luật. Hiến pháp xây dựng

trên cơ sở bảo đảm tự do và quyền công dân [22, tr.39-40].

Có thể nói rằng Nhà nước pháp quyền là nhà nước hợp hiến, hợp pháp, hợp

24

đạo đức, hợp lý và hiệu quả. Xây dựng nhà nước pháp quyền do vậy, đòi hỏi phải

có một bản hiến pháp mang nội dung pháp quyền, dân chủ, ngắn gọn nhưng bao

quát về nguyên tắc hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội dựa trên hai trụ cột

chính là quyền, tự do con người, cơ chế bảo đảm thực thi và tổ chức, phân công,

kiểm soát quyền lực nhà nước. Hiến pháp cần xác định rõ ràng về trách nhiệm Nhà

nước đối với quyền con người, cơ chế bảo vệ Hiến pháp, hiệu lực áp dụng trực tiếp

của các nguyên tắc, tinh thần, quy tắc của Hiến pháp, làm sao cho chúng được viện

dẫn, dẫn dắt ý thức, hành vi của con người trong thực tế. Theo tác giả Hoàng Thị

Kim Quế, trong bài viết “Hiệu lực trực tiếp của Hiến pháp và sự cần thiết ghi nhận

trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992” thì đây cũng là một trong những nhiệm

vụ cơ bản của việc tạo lập một nền văn hóa pháp quyền, nhân quyền ở nước ta hiện

nay.

Ở nước ta, tư tưởng Nhà nước pháp quyền đã có từ lâu. Nghiên cứu các bản

Hiến pháp nước ta từ trước tới nay (Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992) cho thấy

các yếu tố đặc trưng của Nhà nước pháp quyền đã được hình thành. Các bản Hiến

pháp ở mức độ này hay mức độ khác đều khẳng định quyền lực Nhà nước thuộc về

nhân dân, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội

chủ nghĩa, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, tôn trọng và bảo vệ các quyền con

người, phân công thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp… Và một lần

nữa tư tưởng Nhà nước pháp quyền lại được khẳng định trong Hiến pháp Việt Nam

sửa đổi, được thông qua tại Kỳ họp thứ 6, Quốc hội Khóa XIII ngày 28/11/2013.

Một trong những nội dung đổi mới, bước tiến quan trọng của Hiến pháp sửa đổi là

đề cao nhân quyền như một điều kiện để xây dựng Nhà nước pháp quyền, từ đó thể

chế hóa quan hệ giữa quyền lợi và nghĩa vụ công dân, đồng thời xác lập trách nhiệm

bảo đảm những quyền đó được thực hiện trên thực tế. Hiến pháp sửa đổi khẳng

định, các quyền con người, quyền công dân được Nhà nước công nhận, tôn trọng,

bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Trước đây, Chương 5 Hiến pháp năm

1992 quy định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Hiến pháp năn 2013 đã mở

rộng tên chương là “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” và

đặt tại Chương 2, ngay sau Chương 1 quy định về chế độ chính trị, để khẳng định vị

trí quan trọng của quyền con người, quyền công dân và cam kết của Nhà nước ta

trong việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân đúng như

Công ước quốc tế mà nước ta là thành viên. Chương 2 của Hiến pháp 2013 là

chương có số lượng điều nhiều nhất, gồm 36 điều (từ Điều 14 đến Điều 49) ghi

25

nhận quyền con người, quy định quyền công dân, được thể hiện một cách đầy đủ,

chính xác, có tính khả thi cao. Các quy định này theo hướng mở rộng, tôn trọng,

bảo vệ, bảo đảm thực hiện tốt hơn quyền con người, quyền công dân. Đặc biệt với

Hiến pháp 2013, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, quyền được bảo đảm

an sinh xã hội của mọi người dân được chính thức khẳng định thành một điều riêng

(Điều 34). Quyền này được xác lập, thực hiện cùng với quyền bình đẳng, không bị

phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội; quyền

làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc của công dân. Người làm

công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được

hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi. Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người

lao động, người sử dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến

bộ, hài hòa và ổn định. Phụ nữ được tạo điều kiện để phát triển toàn diện, phát huy

vai trò của mình trong xã hội. Trẻ em được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục. Thanh

niên được học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ. Người cao tuổi được

tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ

quốc... Đây chính là cơ sở quan trọng để cụ thể hóa Hiến pháp trong đời sống bằng

các luật. Ngay khi Hiến pháp có hiệu lực thì trong kế hoạch triển khai, Ủy ban

Thường vụ Quốc hội đã ban hành kế hoạch thi hành Hiến pháp, trong đó ưu tiên các

luật liên quan đến tổ chức bộ máy để rà soát, sửa đổi; đồng thời tăng cường công tác

giáo dục quyền con người.

Vấn đề giáo dục về quyền con người là mục tiêu không thể tách rời trong xây

dựng một Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, bởi vì,

để người dân tuân theo pháp luật, biết sử dụng luật pháp để bảo vệ quyền lợi chính

đáng của mình thì trước tiên họ phải hiểu là họ có quyền làm điều đó, họ phải biết

được cách thức để thực hiện yêu cầu của mình. Chính vì vậy, việc Đảng và Nhà

nước ta quan tâm tới việc giáo dục quyền con người chính là sự thể hiện quyết tâm

xây dựng một Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân trong thời kỳ hội nhập

và phát triển.

Ngoài ý nghĩa chính trị, giáo dục quyền con người còn có ý nghĩa xã hội sâu

sắc, vì nó sẽ giúp tất cả các chủ thể: từ công chức Nhà nước đến người dân bình

thường, từ người thành thị đến người nông thôn, từ người dân miền xuôi đến đồng

bào miền ngược... nhận thức đúng đắn hơn về quyền và nghĩa vụ đối với bản thân,

gia đình và cộng đồng xã hội... Thông qua giáo dục quyền con người, bản thân

những cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan quản lý Nhà nước sẽ hiểu rõ hơn

26

trách nhiệm của mình là phục vụ nhân dân, tránh bệnh quan liêu, lãnh cảm của cán

bộ, công chức trước người dân. Mỗi cá nhân sẽ nhận thức đầy đủ hơn về quyền

được đối xử công bằng, được yêu thương chăm sóc bởi người thân và cộng đồng xã

hội, sẽ biết được trong trường hợp nào những quyền cơ bản của mình bị xâm hại và

được quyền lên tiếng yêu cầu các cơ quan Nhà nước, các cá nhân có trách nhiệm

bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho mình. Đồng thời, mỗi người cũng ý thức rõ ràng hơn

về việc phải tôn trọng quyền cơ bản của những người xung quanh, biết yêu thương,

chia sẻ, sống có trách nhiệm hơn với bản thân, gia đình cũng như xã hội... Khi được

giáo dục về quyền con người, mỗi người trong cộng đồng xã hội sẽ nhận thức rõ

hơn về những giá trị về danh dự nhân phẩm, từ đó có cách hành xử chuẩn mực, văn

hóa hơn.

Giáo dục quyền con người thể hiện sự chủ động, tích cực của Việt Nam trong

việc thực hiện các cam kết và điều ước quốc tế về quyền con người. Đến nay, Việt

Nam đã ký, phê chuẩn hoặc gia nhập 09 công ước và 02 nghị định thư bổ sung công

ước trong tổng số gần 20 công ước và nghị định thư bổ sung công ước về nhân

quyền do Liên Hợp Quốc ban hành. Với số lượng như vậy, Việt Nam đã tham gia

hầu hết các điều ước quốc tế chính về nhân quyền do Liên Hợp Quốc ban hành...

Việc tích cực tham gia các điều ước quốc tế tạo hành lang pháp lý làm cơ sở để bảo

vệ quyền con người, giáo dục quyền con người chính là biện pháp hữu hiệu để

quyền con người được đảm bảo thực hiện trên thực tế. Điều này thể hiện quyết tâm

của Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết quốc tế của Việt Nam về vấn đề

quyền con người và là minh chứng rõ ràng để chống lại các tư tưởng xuyên tạc của

các thế lực thù địch về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam. Giáo dục quyền con người

góp phần nâng cao niềm tin của quần chúng nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Hội

nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ VII khóa IX đưa ra nhận định: “Mối quan

hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân tuy đã được chăm lo củng cố và phát triển,

nhưng chưa thật bền chặt và đang đứng trước những thách thức mới; lòng tin vào

Đảng, Nhà nước và chế độ của một bộ phận nhân dân chưa thật vững chắc, có phần

vì đời sống còn nhiều khó khăn, vì bất bình trước những bất công xã hội, trước tình

trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí còn phổ biến và nghiêm trọng; kỷ cương,

pháp luật nhiều lúc, nhiều nơi bị buông lỏng; đạo đức xã hội có mặt xuống cấp; trật

tự an toàn xã hội còn phức tạp. Các vụ khiếu kiện đông người vẫn còn nhiều, có lúc,

có nơi còn gay gắt.” Chính vì vậy, thông qua hoạt động giáo dục quyền con người,

27

các quyền cơ bản của con người được tôn trọng và bảo vệ, đạo đức xã hội được

nâng cao hơn... Nhờ đó, quần chúng nhân dân sẽ đặt niềm tin nhiều hơn vào đường

lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước [21].

- Vai trò của giáo dục quyền con người đối với đội ngũ cán bộ, công chức

Muốn xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền thì bên cạnh việc ban hành

hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, điều quan trọng hơn là phải làm thế nào để đưa

pháp luật vào thực tế đời sống xã hội, để mọi thành viên, nhất là đội ngũ cán bộ,

công chức am hiểu các nguyên tắc, quy định pháp luật; từ đó sử dụng pháp luật như

một công cụ để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tập thể và của mỗi công dân, và cụ

thể hơn là bảo vệ quyền con người. Cán bộ, công chức là đội ngũ chủ yếu thực hiện

chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Trong phạm

vi chức năng nhiệm vụ của mình, cán bộ, công chức thường tham gia vào các quan

hệ pháp luật với tư cách là người đại diện cho Đảng và Nhà nước thực hiện các

quyền và nghĩa vụ cụ thể trong quan hệ với nhân dân. Vì vậy, thái độ và hành vi xử

sự đúng pháp luật, tôn trọng quyền con người hay không của cán bộ, công chức có

tác động rất lớn đến đời sống pháp luật của nhân dân. Tuy nhiên, trình độ kiến thức,

hiểu biết pháp luật nói chung và quyền con người nói riêng còn có những hạn chế,

bất cập nhất định, chưa theo kịp và chưa được nâng tầm tương xứng với sự đổi mới

của hệ thống pháp luật. Thái độ và hành vi của nhiều cán bộ công chức còn quan

liêu, hách dịch. Giáo dục quyền con người cho đối tượng này chính là một biện

pháp hữu hiệu nhằm trang bị kiến thức, hiểu biết pháp luật về quyền con người, góp

phần hình thành lối sống và làm việc tôn trọng quyền con người cho họ, xây dựng

đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh.

Hơn nữa, cán bộ, công chức có vai trò kép trong giáo dục quyền con người;

trong mối quan hệ của giáo dục quyền con người cho cán bộ, công chức thì họ là

đối tượng của giáo dục quyền con người. Với vai trò là cán bộ, công chức trong

quan hệ với nhân dân thì cán bộ, công chức trở thành chủ thể của giáo dục quyền

con người. Vì vậy, vai trò của họ có tác động rất lớn đến hiểu biết, nhận thức, thái

độ, tình cảm của nhân dân với pháp luật về quyền con người.

Đảng và Nhà nước cần có những giải pháp đúng đắn để nâng cao chất lượng

giáo dục quyền con người đối với đối tượng này.

1.2. CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI

1.2.1. Chủ thể giáo dục quyền con người

Theo từ điển tiếng Việt, có thể hiểu chủ thể “là đối tượng gây ra hành động

28

mang tính tác động trong quan hệ đối lập với đối tượng chi phối của hoạt động tác

động, gọi là khách thể.” Lý luận giáo dục cho rằng, chủ thể giáo dục là những thầy,

cô giáo và tất cả những người làm công tác giáo dục khác.

Vận dụng quan niệm trên vào giáo dục quyền con người có thể thấy rằng, tuy

đây là một dạng của giáo dục, nhưng nó có những đối tượng, phương pháp, hình

thức giáo dục khác với giáo dục trong các nhà trường. Người thực hiện hành động

giáo dục quyền con người không phải chỉ có những người thầy, cô giáo, những cá

nhân làm công tác giáo dục, mà còn cả các tổ chức, cơ quan được giao nhiệm vụ

hoặc tự nhận nhiệm vụ giáo dục quyền con người trước cộng đồng, xã hội; hoặc các

tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ tham gia thực hiện qua các phương tiện

thông tin đại chúng, qua sách báo và ở mọi nơi, mọi lúc, vì thế nếu coi chủ thể của

giáo dục quyền con người chỉ là cá nhân những người làm công tác giáo dục thì sẽ

không đầy đủ. Ở đây, chủ thể của giáo dục quyền con người là những cá nhân,

những cơ quan, tổ chức làm công tác giáo dục trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được

giao hoặc mang tính tự nguyện, mang tính trách nhiệm xã hội đã tham gia góp

phần vào việc thực hiện các mục tiêu giáo dục quyền con người [48].

Việc xác định chủ thể của giáo dục quyền con người có ý nghĩa rất quan

trọng trong lý luận và thực tiễn hoạt động giáo dục quyền con người. Trên cơ sở

mối quan hệ, sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các chủ thể, đối tượng giáo dục

trong hoạt động giáo dục quyền con người – chủ yếu là các hoạt động có ý thức, có

mục đích, có kế hoạch của người giáo dục lên đối tượng giáo dục – cho phép xác

định đúng mức những nhu cầu, khả năng và điều kiện tiếp nhận tác động lên hoạt

động giáo dục quyền con người; cũng như cho phép xác định chính xác yêu cầu

khách quan của chủ thể giáo dục quyền con người trong việc xác định nội dung,

hình thức, phương tiện, biện pháp thích hợp để tiếp cận với đối tượng giáo dục

quyền con người một cách có hiệu quả nhất.

1.2.2. Khách thể, đối tượng giáo dục quyền con người

1.2.2.1. Khách thể giáo dục quyền con người

Hiện nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về khách thể. Tùy theo tính chất,

phương pháp, đối tượng nghiên cứu khác nhau mà các ngành khoa học khác nhau có

những quan niệm về các loại khách thể và đối tượng nghiên cứu của mình. Cụ thể:

Theo khoa học pháp luật: “Khách thể quan hệ pháp luật là những gì mà các bên

mong muốn đạt được khi tham gia vào các quan hệ pháp luật, là cái mà quan hệ pháp

29

luật hướng tới, tác động tới, đó là những lợi ích vật chất, chính trị, tinh thần [29].

Một số nhà nghiên cứu đồng nhất khách thể với đối tượng giáo dục pháp luật

dựa trên khái niệm về khách thể của Từ điển Tiếng Việt và quan niệm đồng nhất

giáo dục của khoa học sư phạm. Những người này cho rằng: “Khách thể (đối tượng)

giáo dục pháp luật ở đây không phải chỉ là những cá nhân, những nhóm người

chung chung mà còn bao hàm cả những yếu tố bên trong của họ như nhận thức tình

cảm, cảm xúc, hành vi, hành động cụ thể của họ phù hợp với pháp luật” [18, tr.16].

Theo chúng tôi, khách thể của giáo dục quyền con người là ý thức/nhận thức,

những thói quen, nếp sống, hành vi ứng xử của công dân, của các nhóm cộng đồng

và toàn xã hội, thể hiện trình độ nhất định của nền văn hóa pháp lý. Còn đối tượng

giáo dục quyền con người là những cá nhân công dân, hay những nhóm cộng đồng

xã hội cụ thể, tiếp nhận tác động của các loại hoạt động giáo dục quyền con người

mà ý thức và hành vi của họ là khách thể của giáo dục quyền con người. Nghĩa là

khách thể và đối tượng của giáo dục quyền con người là hai phạm trù mang ý nghĩa

khác nhau.

Nếu đồng nhất hai phạm trù này, trước hết thể hiện sự xem nhẹ kết quả mong

muốn đạt được của hoạt động giáo dục quyền con người và không thấy hết sự khác

biệt về tính chất, vai trò, quan hệ tác động qua lại giữa khách thể và đối tượng của

giáo dục này. Trong quan hệ giữa đối tượng và khách thể thì đối tượng giáo dục

quyền con người có vai trò tiếp nhận sự tác động của hoạt động giáo dục và là cơ sở

của sự tồn tại của khách thể khi kết thúc hoạt động giáo dục quyền con người, và là

phương tiện để khách thể thông qua đó mà biểu đạt ra ngoài. Hơn nữa, nếu đồng

nhất khách thể với đối tượng giáo dục quyền con người sẽ không cho phép chúng ta

xây dựng nội dung, phương pháp giáo dục thích hợp vì mỗi đối tượng giáo dục khác

nhau luôn chứa đựng những yếu tố đặc thù đòi hỏi phải có nội dung, phương pháp

giáo dục thích hợp với yếu tố đặc thù đó, hoặc không thấy hết được vai trò tác động

trở lại của khách thể đối với đối tượng giáo dục khi nó đã hình thành và phát huy

hiệu quả.

1.2.2.2. Đối tượng của giáo dục quyền con người

Đối tượng của giáo dục quyền con người là một trong những vấn đề cơ bản

của lý luận giáo dục. Cũng như các dạng giáo dục khác, việc xác định nội dung,

phương pháp, hình thức giáo dục thích hợp nhằm thu được hiệu quả giáo dục cao

phụ thuộc rất nhiều vào việc nghiên cứu, đánh giá đúng đắn, toàn diện về đối tượng

30

giáo dục nói chung và giáo dục quyền con người nói riêng.

Đối tượng giáo dục quyền con người trước hết là toàn bộ cá nhân đang tồn

tại trong cộng đồng nhân loại bao gồm tất cả các dân tộc trong mối quan hệ quốc tế.

Trong mỗi dân tộc cụ thể, đối tượng của giáo dục quyền con người là những cá

nhân công dân, những nhóm, cộng đồng xã hội cụ thể tiếp nhận những tác động của

hoạt động giáo dục quyền con người, vừa mang tính quốc tế, vừa mang tính quốc

gia mà ý thức và hành vi của họ là khách thể của giáo dục quyền con người.

Đối tượng giáo dục quyền con người ở Việt Nam vừa mang những đặc điểm

chung của cộng đồng nhân loại, vừa có những đặc điểm riêng biệt. Đối tượng giáo

dục quyền con người ở Việt Nam rất phong phú, đa dạng và có thể phân loại thành

các nhóm dựa trên các cơ sở, yếu tố, phản ánh trạng thái, địa vị pháp lý, điều kiện

kinh tế, môi trường sống, việc làm, truyền thống văn hóa, đạo đức, tôn giáo của đối

tượng giáo dục này. Các chủ thể giáo dục sẽ lựa chọn các nội dung, hình thức, giáo

dục phù hợp nhằm làm cho từng đối tượng giáo dục tiếp thu được những tri thức

cần thiết về quyền con người để họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, thích

ứng với vai trò, địa vị của họ trong quan hệ với cộng đồng, với công dân khác.

Con người sống trong một xã hội, ai cũng cần có hiểu biết về quyền con

người vì đó là quyền của họ. Vì vậy, bất kỳ ai cũng đều có thể trở thành đối tượng

của giáo dục quyền con người và ai cũng cần đến giáo dục quyền con người. Tuy

nhiên, vài nhóm người cũng cần có những hiểu biết đặc biệt về giáo dục quyền con

người vì họ đang sống trong hoàn cảnh đặc biệt, một vài người thường xuyên bị lạm

dụng và bị vi phạm nhân quyền, những người khác thì lại giữ trọng trách trong các

cơ quan Nhà nước và có trách nhiệm phải ủng hộ quyền con người, những người có

khả năng và có ảnh hưởng đến giáo dục quyền con người.

Như vậy, có thể chia đối tượng của giáo dục quyền con người thành các

nhóm chủ yếu như sau:

Thứ nhất: Những người làm công tác hành pháp và tư pháp

- Những người thi hành pháp luật bao gồm Cảnh sát, người làm công tác an

ninh;

- Những người làm công tác giam giữ tù nhân;

- Luật sư, Thẩm phán và các Kiểm sát viên;

- Công chức Nhà nước;

- Quân nhân.

Thứ hai: Những người làm công tác lập pháp

31

- Nhà lập pháp;

- Những người được bầu cử và được chỉ định đảm trách các công vụ.

Thứ ba: Những nghề nghiệp khác

- Những nhà giáo dục;

- Những người làm công tác xã hội;

- Những người làm công tác công đoàn;

- Những người làm công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng;

- Nhà báo và những đại diện của các cơ quan thông tin đại chúng.

Thứ tư: Các tổ chức, các hiệp hội và các nhóm

- Các tổ chức của phụ nữ;

- Các nhà hoạt động xã hội tại cộng đồng và những người lãnh đạo các khu

vực dân cư;

- Các nhóm người thiểu số;

- Các nhà lãnh đạo tôn giáo;

- Trẻ em và thanh niên;

- Sinh viên ở tất cả các cấp độ đào tạo;

- Người tị nạn;

- Những người nghèo cả ở thành phố và nông thôn;

- Người tàn tật;

- Người lao động nhập cư.

Có thể nói, giáo dục quyền con người cần phải đến được với mọi đối tượng

trong xã hội. Tuy nhiên, để giảm thiểu các vi phạm và nâng cao chất lượng cuộc

sống cho các đối tượng dễ bị tổn thương, các nhóm đối tượng này cần phải được

chú trọng nhiều hơn trong công tác giáo dục quyền con người và phải đảm bảo cho

họ biết rõ về quyền, nghĩa vụ của mình cũng như các kỹ năng hành động liên quan

đến quyền con người.

Ngoài ra, ngày nay người ta cũng nhắc đến việc phải tăng cường giáo dục

nhân quyền cho giới lãnh đạo. Điều này là hoàn toàn hợp lý để tạo ra các chuyển

biến trong xã hội. Sẽ chẳng có gì thay đổi nếu như các nhà lãnh đạo không ý thức

được về nhân quyền và ý thức về việc họ có một trách nhiệm to lớn trong việc bảo

vệ nhân quyền. Việc các nhà lãnh đạo có ý thức về quyền và biến nó thành các

chiến lược hành động hiệu quả sẽ là phần thưởng lớn nhất cho những người làm

32

công tác giáo dục nhân quyền.

1.2.3. Hình thức giáo dục quyền con người

Theo giáo dục học, hình thức giáo dục được hiểu là cách thức tổ chức hoạt

động phối hợp giữa người giáo dục và người được giáo dục, nhằm chiếm lĩnh nội

dung giáo dục và đạt mục đích giáo dục. Ở khía cạnh này, giáo dục quyền con

người cũng giống như các dạng giáo dục khác, do đó, cũng là những phương thức

chuyển tải và tiếp nhận kiến thức (thông tin) nhằm đạt được mục tiêu và nhiệm vụ

giáo dục quyền con người.

Hình thức giáo dục quyền con người là các dạng hoạt động cụ thể, có tổ

chức, phối hợp giữa các chủ thể giáo dục quyền con người và đối tượng giáo dục

quyền con người. Hình thức giáo dục quyền con người rất đa dạng và phong phú và

thường thể hiện dưới các dạng sau:

- Giáo dục quyền con người có thể dưới hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp;

qua tranh ảnh, lời nói; qua phương pháp nêu gương, lên lớp, thảo luận, tham gia

các hoạt động thực hành, thực tế, tự học và tham gia các hoạt động khác do người

dạy quy định…

- Giáo dục quyền con người cũng có thể được thực hiện một cách chính thức

hoặc không chính thức. Giáo dục chính thức được kéo dài từ giáo dục trẻ thơ, qua

bậc tiểu học và trung học đến giáo dục đại học. Nó là chương trình giảng dạy cơ sở

và nó bao gồm giáo dục học thuật chung, đào tạo kỹ thuật và nghề nghiệp. Giáo

dục không chính thức bao gồm những hoạt động giáo dục được tổ chức và thường

là bên ngoài hệ thống giáo dục chính thức. Nó được thiết kế cho những nhóm học

cụ thể với những mục tiêu học cụ thể. Giáo dục không chính thức bao gồm giáo

dục và đào tạo nghề cơ bản, giáo dục thanh niên và cộng đồng.

Ngoài ra, có thể chia hình thức giáo dục quyền con người thành hai loại:

Thứ nhất: Các hình thức giáo dục quyền con người mang tính phổ biến,

truyền thống như phổ biến, nói chuyện về quyền con người tại các Hội nghị, cuộc

họp, hội thảo, câu lạc bộ về quyền con người; các lớp giảng chuyên đề cho các đối

tượng chuyên biệt, các hoạt động tuyên truyền, phổ biến qua sinh hoạt văn hóa

cộng đồng ở các cụm dân cư, làng xã, buôn làng, qua đoàn thể quần chúng; các nơi

thờ tự, sinh hoạt tôn giáo, tuyên truyền phổ biến giáo dục qua các phương tiện

thông tin đại chúng; tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, sáng tác văn học nghệ thuật về

đề tài quyền con người, thông tin cổ động, dạy và học về quyền con người.

Thứ hai: Các hình thức giáo dục quyền con người đặc thù. Đây là các hoạt

33

động định hướng giáo dục quyền con người thông qua các hoạt động hoạch định

đường lối, chính sách, hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp của các cơ quan

Nhà nước, như Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân

dân, Công an.

Theo cách tiếp cận của Luật Phố biến, giáo dục pháp luật năm 2012, thì giáo

dục quyền con người – với tư cách là một nhóm nội dung của pháp luật, có thể được

thực hiện thông qua:

- Một là, các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật chung cho công dân,

như: 1. Họp báo, thông cáo báo chí. 2. Phổ biến pháp luật trực tiếp; tư vấn, hướng

dẫn tìm hiểu pháp luật; cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật. 3. Thông qua các

phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh, internet, pa-nô, áp-phích, tranh

cổ động; đăng tải trên Công báo; đăng tải thông tin pháp luật trên trang thông tin

điện tử; niêm yết tại trụ sở, bảng tin của cơ quan, tổ chức, khu dân cư. 4. Tổ chức

thi tìm hiểu pháp luật. 5. Thông qua công tác xét xử, xử lý vi phạm hành chính, hoạt

động tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hoạt động khác của

các cơ quan trong bộ máy nhà nước; thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý, hòa giải

ở cơ sở. 6. Lồng ghép trong hoạt động văn hóa, văn nghệ, sinh hoạt của tổ chức

chính trị và các đoàn thể, câu lạc bộ, tủ sách pháp luật và các thiết chế văn hóa khác

ở cơ sở. 7. Thông qua chương trình giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của

hệ thống giáo dục quốc dân. 8. Các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khác phù

hợp với từng đối tượng cụ thể mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền có

thể áp dụng để bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đem lại hiệu quả.

Trong nhóm thứ nhất, hình thức thứ 5 thường đem lại những hiệu quả rõ

ràng, khi đối tượng giáo dục (chí ít là người có liên quan trong sự việc) được giáo

dục thông qua sự đối thoại trực tiếp và vận dụng giải quyết sự việc. Chẳng hạn, các

bị can, bị cáo

- Hai là, các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật cho một số đối tượng đặc

thù như: 1) người dân ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên

giới, ven biển, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và ngư

dân; 2) người lao động trong các doanh nghiệp; 3) nạn nhân bạo lực gia đình; 4)

người khuyết tật; người đang chấp hành hình phạt tù, người đang bị áp dụng biện

pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt

buộc; 5) người đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, người

34

bị phạt tù được hưởng án treo.

Trong nhóm thứ 2, nội dung giáo dục quyền con người được thể hiện rõ nét

đối với các đối tượng là nạn nhân của bạo lực gia đình, người khuyết tật; người

đang chấp hành hình phạt tù, người đang bị áp dụng biện pháp đưa vào trường

giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; người đang bị áp

dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, người bị phạt tù được hưởng án

treo.

- Ba là, các hình thức giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ

thống giáo dục quốc dân , như: 1) Giáo dục chính khóa thông qua việc lồng ghép

trong các hoạt động giáo dục ở cấp mầm non; môn học đạo đức ở cấp tiểu học;

môn học giáo dục công dân ở cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông; môn học

pháp luật, pháp luật đại cương, pháp luật chuyên ngành tại cơ sở giáo dục nghề

nghiệp, cơ sở giáo dục đại học; các môn học trong cơ sở giáo dục khác của hệ

thống giáo dục quốc dân; 2) Giáo dục ngoại khóa và các hoạt động giáo dục ngoài

giờ lên lớp.

Đây là hình thức giáo dục pháp luật chính thống, có thể được coi là nghĩa

hẹp của “giáo dục pháp luật”.

1.2.4. Nội dung giáo dục quyền con người

Việc xác định nội dung giáo dục quyền con người là yếu tố quan trọng hàng

đầu của quá trình giáo dục quyền con người. Nội dung giáo dục quyền con người

dựa trên cơ sở nghiên cứu nhu cầu, đặc điểm của từng đối tượng cụ thể, và xuất

phát từ đặc điểm, nhiệm vụ, mục đích của dạng giáo dục này. Phạm vi của dạng

giáo dục này là rất rộng, có những đặc điểm đặc thù riêng không đồng nhất, không

lẫn với các nội dung giáo dục khác, nhưng nó có thể lồng ghép, đan xen với nội

dung giáo dục khác như giáo dục đạo đức và giáo dục pháp luật.

Theo bà Nancy Flowers, giáo dục về quyền con người phải cung cấp cho mọi

người thông tin về quyền con người, bao gồm kiến thức về:

- Những giá trị cố hữu thuộc về tất cả mọi người và quyền của con người

được đối xử trong sự tôn trọng;

- Các nguyên tắc về quyền con người chẳng hạn như tính toàn thể, tính

không thể tách rời, tính phụ thuộc lẫn nhau của quyền con người;

- Làm thế nào mà quyền con người thúc đẩy việc tham gia vào quá trình ra

quyết định và giải quyết hòa bình các tranh chấp;

35

- Về lịch sử và sự tiếp tục phát triển của quyền con người;

- Về pháp luật quốc tế, như Tuyên ngôn thế giới về quyền con người hay về

các công ước quốc tế;

- Về pháp luật của khu vực, quốc gia, địa phương mà nó củng cố cho pháp

luật quốc tế về quyền con người;

- Về việc sử dụng luật về quyền con người để bảo vệ quyền con người và

kêu gọi những đối tượng vi phạm giải thích về hành vi của mình;

- Về sự vi phạm quyền con người như là tra tấn, diệt chủng hoặc bạo lực đối

với phụ nữ và các quyền lực mang tính xã hội, kinh tế, chính trị, dân tộc;

- Về con người và tổ chức phải có trách nhiệm để thúc đẩy, bảo vệ và tôn

trọng quyền con người.

Tuy nhiên, không phải bất kỳ đối tượng giáo dục nào cũng đòi hỏi được sự

cung cấp đầy đủ tất cả các thông tin về quyền con người nêu trên. Và cũng không

thể thực hiện giáo dục một cách máy móc, thuần túy chỉ là cung cấp thông tin, mà

cần phải lưu ý tới một thực tiễn, sự tồn tại mâu thuẫn của các thông tin, sự phủ định

lẫn nhau của các thông tin và những đặc điểm đặc thù của nội dung giáo dục quyền

con người để có nhận thức đầy đủ, khách quan, chính xác của chủ thể và đối tượng

giáo dục. Cần phải có sự phân tích, đánh giá một cách khoa học, khách quan về các

thông tin để tạo ra nhận thức một cách đúng đắn về quyền con người, tránh tình

trạng áp đặt chủ quan, định kiến duy ý chí, dẫn đến sự nhận thức sai lệch hoặc

không đạt hiệu quả cao của giáo dục quyền con người. Vì thế, khi thực hiện giáo

dục quyền con người, cần phải xác định mục đích giáo dục cần đạt được của từng

đối tượng giáo dục, trên cơ sở đó xác định mức độ, từng cấp giáo dục khác nhau

cho từng đối tượng cụ thể.

Theo tác giả Nguyễn Hữu Trí [48], nội dung giáo dục quyền con người được

chia thành ba cấp độ khác nhau như sau:

- Yêu cầu tối thiểu về nội dung giáo dục quyền con người. Cấp độ này bao

gồm những nội dung tối thiểu nhất, phổ thông nhất về quyền con người, phù hợp

với đối tượng là quảng đại quần chúng nhân dân, nhằm giúp họ hình thành những tri

thức tối thiểu, hình thành tình cảm, thói quen đơn giản trong việc thực hiện quyền

con người.

- Yêu cầu riêng về giáo dục quyền con người theo nhu cầu về ngành, nghề,

địa vị xã hội, giới, nhóm xã hội. Nội dung giáo dục quyền con người ở cấp độ này

thường có tính tổng hợp, hệ thống, nền tảng, bao gồm: hệ thống các khái niệm, phạm

36

trù cơ bản của quyền con người; những tri thức về quyền con người được ghi nhận

trong pháp luật quốc gia, quốc tế, những tri thức cơ bản về xây dựng và đảm bảo quyền

con người; việc xử lý vi phạm quyền con người.

- Yêu cầu giáo dục có tính chuyên ngành về quyền con người. Đây là cấp độ

cao nhất của giáo dục quyền con người, bao gồm những tri thức mang tính chuyên

sâu về quyền con người, những vấn đề mang tính chất kỹ năng, kỹ xảo, thao tác

nghề nghiệp về quyền con người. Nội dung giáo dục ở cấp độ này chủ yếu dành cho

các đối tượng trở thành chuyên gia nghiên cứu, giảng dạy, các chuyên gia hoạt động

trong các tổ chức quốc gia, quốc tế về quyền con người.

Giáo dục về quyền con người đồng thời cũng đem đến cho con người cảm

giác về trách nhiệm để tôn trọng và bảo vệ quyền con người và trao cho họ các kỹ

năng để hành động phù hợp. Các kỹ năng hành động đó bao gồm:

- Nhận biết rằng quyền con người có thể được thúc đẩy và bảo vệ ở nhiều

cấp, thông qua từng cá nhân cụ thể, tập thể hay cấp độ thể chế;

- Phát triển các hiểu biết mang tính phê bình về hoàn cảnh sống;

- Phân tích các hoàn cảnh thông qua quan điểm đạo đức;

- Nhận thức rằng các hoàn cảnh không công bằng có thể được cải thiện;

- Nhận thức rằng mọi cá nhân và các thành phần xã hội đều có thể đóng góp

vào việc bảo vệ quyền con người;

- Phân tích các yếu tố tạo ra sự vi phạm nhân quyền;

- Nhận biết và có khả năng sử dụng các công cụ về quyền con người mang

tính toàn cầu, khu vực, quốc gia, địa phương và các cơ chế khác để bảo vệ quyền

con người;

- Có kế hoạch hành động phù hợp để đáp lại việc thiếu công bằng;

- Hành động để thúc đẩy và bảo vệ quyền con người.

Ở Việt Nam hiện nay, nội dung giáo dục quyền con người ngoài những nội

dung trên còn cần phải nhấn mạnh vào giáo dục Hiến pháp như một phần quan

trọng của giáo dục quyền con người, vì một mặt, Hiến pháp là đạo luật cao nhất, là

hệ quy chiếu cho tất cả những quy định pháp luật Nhà nước; mặt khác, Hiến pháp

thể hiện đầy đủ nội dung giáo dục quyền con người mà Nhà nước đảm bảo cam kết

thực hiện. Ý thức về Hiến pháp có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tôn trọng,

bảo vệ và bảo đảm các quyền, tự do của con người. Tư tưởng, nhận thức về hiệu lực

trực tiếp của Hiến pháp liên quan đến các quyền con người cũng sẽ định hướng, dẫn

dắt và kiểm soát, kìm chế những sự lạm dụng pháp luật gây phương hại, làm sai

37

lệch bản chất của các quyền.

Việc tổ chức tuyên truyền, phổ biến sâu rộng nội dung của Hiến pháp, nâng

cao nhận thức và niềm tin về Hiến pháp để hình thành ý thức tự giác, tôn trọng và

chấp hành Hiến pháp; bảo đảm cho Hiến pháp được tuân thủ và nghiêm chỉnh chấp

hành trong mọi tầng lớp nhân dân... sẽ góp phần cải thiện thực trạng về quyền con

người ở Việt Nam. Nhằm giúp cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức rõ mục

đích, ý nghĩa và kết quả của việc sửa đổi Hiến pháp năm 1992, những nét mới của

Hiến pháp (sửa đổi); tạo sự thống nhất cao trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội

về việc triển khai và thực thi Hiến pháp, pháp luật; ngày 17/1/2014, Ban Tuyên giáo

Trung ương cũng đã ban hành công văn số 102-HD/BTGTW về việc Hướng dẫn

tuyên truyền Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các nội dung

chính như:

Một là, tuyên truyền khẳng định Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam được

thông qua tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá XIII là kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn

dân, toàn quân ta; thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân Việt Nam thời kỳ đổi

mới toàn diện đất nước. Hai là, tuyên truyền về những nội dung cơ bản, nêu lên

những điểm mới của bản Hiến pháp, đặc biệt là những nội dung về quyền con

người. Ba là, phổ biến, tuyên truyền về một số vấn đề cần lưu ý trong đấu tranh làm

thất bại những luận điệu kích động, xuyên tạc của các thế lực thù địch.

1.2.5. Phương pháp giáo dục quyền con người

1.2.5.1.Các căn cứ lựa chọn phương pháp giáo dục quyền con người

Thuật ngữ phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “me todos”, có nghĩa là

con đường, cách thức tự vận động bên trong nội dung, nó gắn với hoạt động của con

người, giúp con người hoàn thành được những nhiệm vụ phù hợp với mục tiêu đã

đề ra [39]. Phương pháp tạo nên hiệu quả của quá trình giáo dục quyền con người,

vì vậy, việc lựa chọn phương pháp luôn được đặt lên hàng đầu trong khi thiết kế,

xây dựng ý đồ triển khai một bài giảng cụ thể. Phương pháp bao giờ cũng xuất phát

từ một mục đích nhất định, nội dung giáo dục nhất định. Mục đích, nội dung giáo

dục quyền con người quy định phương pháp nhưng bản thân phương pháp có tác

dụng trở lại mục đích, nội dung, làm cho nội dung ngày càng hoàn thiện, làm cho

mục đích đạt được ngày càng cao. Phương pháp giáo dục quyền con người có mối

quan hệ qua lại mật thiết với các nhân tố khác của quá trình giáo dục mà trước hết là

hình thức giáo dục. Phương pháp giáo dục và hình thức giáo dục quyền con người

là hai khái niệm độc lập, không đồng nhất, nhưng lại có mối quan hệ mật thiết với

38

nhau. Mỗi hình thức giáo dục nhất định luôn luôn gắn với những phương pháp giáo

dục nhất định, đặc thù của hình thức đó. Ngược lại, phương pháp giáo dục tác động

trở lại làm cho hình thức giáo dục phát triển ngày càng hướng đích, ngày càng hoàn

thiện hơn.

Do không có một phương pháp giáo dục quyền con người nào là tối ưu, mỗi

phương pháp đều có những mặt ưu điểm và nhược điểm riêng nên người dạy phải

biết lựa chọn để phát huy những ưu điểm và hạn chế những nhược điểm của từng

phương pháp. Một phương pháp giáo dục quyền con người được coi là hợp lý và

hiệu quả khi đáp ứng được 3 yêu cầu sau:

Một là, phương pháp này phải có mục tiêu giáo dục quyền con người rõ

ràng; tạo ra khả năng cao nhất để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục quyền

con người; phát triển nhận thức, kỹ năng, thái độ của người học; Hai là, phương

pháp này phải phù hợp với nội dung giáo dục quyền con người cụ thể, đặc thù

của từng môn học, bài học và phù hợp với từng vấn đề cụ thể, từng giai đoạn cụ

thể trong tiến trình giờ học. Ba là, phương pháp này phải phù hợp với năng lực,

trình độ, sở thích, hứng thú, kinh nghiệm của người dạy, người học và các điều

kiện giáo dục quyền con người…

Xuất phát từ những yêu cầu trên, việc lựa chọn phương pháp giáo dục quyền

con người phải căn cứ vào: mục tiêu và nội dung giáo dục quyền con người (môn

học, chương, mục, bài học, từng nội dung cụ thể trong các giai đoạn triển khai giờ

học…); nguyên tắc giáo dục quyền con người; đặc điểm tâm sinh lý, khả năng, trình

độ, hứng thú của người học và trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm của người

dạy…

Để phát huy hết ưu điểm của các phương pháp giáo dục quyền con người,

người dạy cần kết hợp, xen kẽ nhiều phương pháp nhằm lấy ưu điểm của phương

pháp này, khắc phục nhược điểm của phương pháp kia, tạo ra sự linh hoạt, đa dạng

trong một giờ học.

1.2.5.2. Các yêu cầu của phương pháp giáo dục quyền con người

Phương pháp giáo dục quyền con người phải phát huy tính tích cực, tự giác,

chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học,

khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên. Phương pháp giáo dục

quyền con người phải giúp và buộc đối tượng sử dụng tốt công cụ thông tin trên

mạng để bổ sung kiến thức còn thiếu. Mục tiêu và phương pháp giáo dục cũng phải

thay đổi. Chúng ta xem quá trình dạy và học thông qua ba tầng tiếp thu của đối

39

tượng như sau: Nếu chỉ dừng ở tầng 1 – tiếp nhận thông tin, thầy giảng, trò nghe và

ghi nhớ. Trò cần học thuộc với hi vọng sử dụng kiến thức đó để kiếm sống. Điều

này thực sự nguy hiểm khi những kiến thức của người thày không được bổ sung,

cập nhật kịp thời trong điều kiện của một xã hội thay đổi từng ngày. Tầng 2 diễn ra

khi đã có sự trao đổi thông tin và tạo thông tin mới, tức là thầy và trò có sự trao đổi

trong quá trình dạy và học nhằm bám sát thực trạng xã hội, giúp trò sau này dễ dàng

vận dụng được những điều đã học vào những môi trường thực tế hết sức đa dạng.

Tầng 3 là rèn luyện cách tiếp cận, hình thành phương pháp tư duy sáng tạo. Trong

quá trình giáo dục, với những bài học khác nhau, người thầy phải chọn những nội

dung để kết cấu thành hệ thống bài giảng nhằm từng bước hình thành một phương

pháp tư duy, tạo nên kỹ năng sáng tạo cho trò. Kết quả là trò sẽ có phương pháp tiếp

cận thực tế độc đáo và hiệu quả, có kỹ năng giải quyết vấn đề ở tầm tư duy ngang

bằng thời đại. Như vậy, điều hết sức quan trọng mà thầy cần rèn cho trò tại trường

là phương pháp tiếp cận thông tin, quan sát và nhận dạng vấn đề, hình thành nhận

thức mới đúng đắn và ngang bằng với trình độ chung của học sinh cùng bậc, ít nhất

là của các nước tiên tiến trong khu vực.

1.2.5.3.Các phương pháp giáo dục quyền con người

Giáo dục quyền con người có thể thực hiện bằng nhiều phương pháp khác

nhau, có thể kể đến các phương pháp tiêu biểu như:

Phương pháp nêu vấn đề - tình huống: giúp người học vận dụng được các kỹ

năng để giải quyết những vấn đề của nội dung bài học. Phương pháp này có vai trò

là qua các tình huống có vấn đề, vụ án, người học khai thác các mâu thuẫn, chỉ ra

cách giải quyết chúng. Khi áp dụng, người dạy phải thiết kế, phân loại, chỉ ra các

vấn đề, tình huống của nội dung giáo dục quyền con người; điều khiển, hướng dẫn,

điều chỉnh các hướng giải quyết vấn đề và kiểm chứng tính đúng đắn của những kết

luận (quan điểm) mà người học đưa ra. Người học phải tìm kiếm, giải quyết mâu

thuẫn, đề ra giả thuyết và phương hướng giải quyết. Ưu điểm của phương pháp này

là giúp người đọc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và hình thành tư duy

phê phán. Tuy nhiên, nhược điểm là khó triển khai, tốn nhiều công sức, thời gian…

Phương pháp thuyết trình – minh họa: phương pháp này có mục tiêu làm cho

người học ghi nhớ nên nó phù hợp với nội dung giáo dục quyền con người. Bản

chất của phương pháp này là cách thức tổ chức việc lĩnh hội tri thức thông qua con

đường thông báo, trình bày, diễn giải thông tin và nội dung giáo dục quyền con

người. Nó đóng vai trò là bước khởi đầu cho việc khám phá sự vật, hiện tượng, khái

40

niệm đơn giản về quyền con người. Khi áp dụng, người dạy phải thông báo, truyền

đạt thông tin bằng các phương tiện khác nhau, trong đó chủ yếu là ngôn ngữ,

phương tiện trực quan (sơ đồ, bảng biểu, ví dụ minh họa…); người học phải lĩnh hội

tư duy, ghi nhớ nội dung mà người dạy đã trình bày… Ưu điểm của phương pháp

này là dễ triển khai và có thể giải quyết được mâu thuẫn giữa thời gian, không gian,

số lượng lớn người học với khối lượng thông tin truyền đạt. Tuy nhiên, nhược điểm

là làm cho người học thụ động, không hình thành được kỹ năng, thao tác, vận dụng

xử lý thông tin và thiếu sự tương tác, phản hồi từ phía người học.

Phương pháp sàng lọc: nhằm cung cấp thông tin để người học lựa chọn và

sắp xếp theo dạng đúng, sai. Phương pháp này buộc người học phải tìm hiểu, suy

nghĩ, lựa chọn vấn đề và xác định đúng sai qua đó ghi nhớ nội dung bài học, đồng

thời khuyến khích người học tính tích cực, chủ động tham gia vào quá trình học tập.

Khi áp dụng người dạy phải cung cấp hàng loạt thông tin để người học chọn lựa,

ghi to, rõ thông tin lên bảng. Người dạy cùng người học sắp xếp thông tin theo dạng

đúng – sai. Các thông tin đưa ra để lựa chọn được chuẩn bị kỹ và không quá dễ.

Phương pháp tự nghiên cứu: phương pháp này có mục tiêu giúp người học

phân tích, tổng hợp, đánh giá, đưa ra quan điểm, ý kiến riêng về những vấn đề của

nội dung giáo dục quyền con người. Vai trò của phương pháp này giúp người học

phát huy các kỹ năng làm việc độc lập, sáng tạo, mềm dẻo và thích ứng nhanh trong

việc giải quyết các vấn đề mới. Khi áp dụng, người dạy phải đưa ra yêu cầu và

nhiệm vụ nghiên cứu vấn đề cụ thể của nội dung giáo dục quyền con người. Người

học phải độc lập tìm kiếm các phương pháp để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu. Ưu

điểm của phương pháp này là giúp người học phát huy khả năng làm việc độc lập,

khả năng tìm tòi, phát hiện vấn đề và giải quyết chúng một cách sáng tạo. Tuy

nhiên, nhược điểm là hạn chế sự giao tiếp giữa người dạy với người học và khó tổ

chức.

Phương pháp tái tạo: làm cho người học hiểu, bước đầu vận dụng, nên nó

phù hợp với nội dung giáo dục quyền con người các vấn đề chuyên sâu. Phương

pháp này có vai trò là giúp người học hình thành kỹ năng, kỹ xảo, thao tác thuần

thục với thông tin và nội dung giáo dục quyền con người. Khi áp dụng, người dạy

phải thiết kế, đưa ra các “mẫu” (bài tập, bảng biểu, chỉ dẫn…) và phải chương trình

hóa các nội dung giáo dục quyền con người. Người học phải thao tác, lặp lại theo

mẫu, theo chỉ dẫn, sử dụng các kỹ thuật để nhận diện, hiểu rõ vấn đề, bước đầu hình

thành, phát triển kỹ năng thực hiện các thao tác đơn lẻ. Ưu điểm của phương pháp

41

này là giúp người học hiểu được bản chất vấn đề, hình thành kỹ năng vận dụng tri

thức đã lĩnh hội để giải quyết các tình huống thực tiễn. Tuy nhiên, nhược điểm là dễ

dẫn đến học “tủ”, rập khuôn, cứng nhắc.

Phương pháp khám phá, sáng tạo: là phương pháp giúp cho người học phân

tích được các vấn đề của nội dung đặt ra. Phương pháp này giúp người học hình

thành kỹ năng tự xác định, phân tích và giải quyết các vấn đề chứa trong nội dung

giáo dục quyền con người. Khi áp dụng, người dạy phải hướng dẫn cách xác lập vấn

đề, tìm kiếm, thu nhập cứ liệu và lập kế hoạch giải quyết các vấn đề của nội dung.

Người học phải xác lập, phân tích, lên kế hoạch độc lập để tìm kiếm giải pháp, con

đường giải quyết vấn đề. Ưu điểm của phương pháp này là giúp người học rèn luyện,

kích thích tư duy phê phán, sáng tạo, phát triển kỹ năng độc lập giải quyết vấn đề, tìm

kiếm giải pháp mới cho cùng một vấn đề. Tuy nhiên, nhược điểm là khó tổ chức triển

khai, tốn nhiều công sức, thời gian, đòi hỏi người dạy và người học phải có sự chuẩn bị

kỹ lưỡng [26].

Còn một số phương pháp khác như: phương pháp ghi ý kiến lên bảng, đóng

vai, hỏi chuyên gia... Khi áp dụng phương pháp ghi ý kiến lên bảng, người dạy phải

cử 2 người học lên bảng ghi lại các ý kiến của lớp hoặc của nhóm và phải biết lồng

ý kiến của người học vào bài giảng. Phương pháp đóng vai là phương pháp biên

soạn kịch bản phù hợp với bài (xây dựng nhân vật, tình huống). Khi áp dụng

phương pháp này, người dạy phải chọn diễn viên và giao nhiệm vụ cho họ. Người

học nhập vai và diễn. Người dạy nêu câu hỏi để người học trả lời nhằm giải quyết

tình huống mà người dạy đã đưa ra. Phương pháp hỏi chuyên gia là phương pháp

nêu chủ đề để người học nghiên cứu và đưa ra câu hỏi. Khi áp dụng phương pháp

này, người dạy phải thu thập, sắp xếp và phân loại câu hỏi. Người học phải lựa chọn

câu hỏi và trả lời ngắn gọn (không tranh luận). Giáo dục quyền con người cũng cần

chú trọng phương pháp mới như phương pháp học trực tuyến trên mạng E-

Learning. Phương pháp này tuy không hoàn toàn thay thế được bằng phương thức

đào tạo truyền thống nhưng E-learning cho phép giải quyết một vấn đề nan giải

trong lĩnh vực giáo dục quyền con người đó là nhu cầu đào tạo tăng lên, quá tải so

với khả năng của các cơ sở đào tạo. Phương thức đào tạo này có sức lôi cuốn rất

nhiều người học, rất phù hợp với hoàn cảnh của những người đi làm nhưng vẫn

muốn nâng cao trình độ. Đặc biệt, E – learning cho phép học viên tra cứu trực tuyến

những kiến thức có liên quan đến bài học một cách tức thời, duyệt lại những phần

42

đã học một cách nhanh chóng, trao đổi mới những người cùng học hoặc giáo viên

ngay trong quá trình học, những điều mà theo cách học truyền thống là không thể có

được, hoặc nếu có thì phải cần chi phí quá cao.

1.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI

Trên thực tế, để xây dựng được nền văn hóa nhân quyền vừa đảm bảo tính

phù hợp với luật pháp quốc tế, vừa phù hợp với nền văn hóa và điều kiện kinh tế, xã

hội của mỗi quốc gia là một quá trình lâu dài, phức tạp và nhìn chung, các chương

trình giáo dục quyền con người luôn được xây dựng dưới sự ảnh hưởng của các yếu

tố như sau:

1.3.1. Ý thức pháp luật của mỗi người dân

Lịch sử mấy ngàn năm văn hiến, hào hùng của Việt Nam luôn là niềm tự hào

của mỗi người con đất Việt. Đó là lòng yêu nước, yêu độc lập dân tộc, là truyền

thống đoàn kết một lòng đấu tranh chống ngoại xâm, là tinh thần lá lành đùm lá

rách, nhường cơm sẻ áo, là nền văn minh lúa nước ở đó mỗi người dân gắn bó chặt

chẽ với một cộng đồng làng xã, gần gũi với con đê, bến nước, sân đình, là sự phong

phú, đa sắc màu văn hóa của 54 dân tộc cùng sinh sống... Người dân Việt Nam hình

thành thói quen đặt nhân nghĩa lên hàng đầu, tình người được hết sức coi trọng

trong các mối quan hệ xã hội... Có thể nói đây là một yếu tố thuận lợi nhất định

đối với công tác giáo dục quyền con người, bởi lẽ, một trong những mục đích của

công tác giáo dục quyền con người chính là giúp mỗi cá nhân không những hiểu

và tôn trọng quyền của bản thân, mà còn biết tôn trọng, không làm phương hại đến

những người xung quanh.

Tuy nhiên, cũng chính từ truyền thống lịch sử, văn hóa ấy, những quan niệm

về đạo đức, lễ giáo phong kiến cổ hủ như sự trọng nam khinh nữ, sự nhẫn nhịn của

người phụ nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội, tâm lý một điều nhịn chín điều

lành, dĩ hòa vi quý... vẫn còn mang đậm dấu ấn và ảnh hưởng lâu dài trong đời sống

nhân dân. Điều này đã tác động sâu sắc đến nhận thức về quyền con người và giáo

dục về quyền con người, trong đó có giáo dục về bình quyền và bình đẳng giới.

Tính chất của nền kinh tế đất nước ta hiện nay cho thấy, phần đông dân cư ở nước

ta đã và đang gắn bó với nền sản xuất nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, manh mún, phân

tán, với những tập tục phức tạp, rườm rà, do vậy ý thức pháp luật của nhiều người

dân còn thấp, một bộ phận dân cư chưa có thói quen sống và làm việc theo pháp

luật, thậm chí có một số người còn xem pháp luật như là một sự trói buộc, thường

tìm cách trốn tránh pháp luật. Nếu nhìn lại lịch sử chúng ta thấy thái độ bất tuân

43

pháp luật đã hình thành và phát triển từ rất lâu trong xã hội thực dân phong kiến.

Khi đó pháp luật chủ yếu thể hiện ý chí và mang lại lợi ích cho thực dân, phong

kiến, khi mà giữa nhà nước và nhân dân lao động luôn có sự đối lập nhau, thì người

dân lao động luôn tìm mọi cách để trốn tránh pháp luật, không tuân theo pháp luật.

Khi đó những tập tục của cộng đồng làng, bản... nơi những người dân phải co cụm

lại vì lợi ích cục bộ của cộng đồng đôi khi còn quan trọng, được tôn trọng và thực

hiện nghiêm hơn cả pháp luật của nhà nước thực dân phong kiến (phép vua thua lệ

làng).

Do tính chất bền vững của tâm lý pháp luật mà thái độ bất tuân pháp luật đã

trở thành thói quen, đã ăn sâu, bám rễ trong ý thức của nhiều người; do vậy, trong

họ luôn tiềm ẩn khuynh hướng tìm mọi cách để lẩn tránh luật pháp, tìm cách “lách

luật”, tìm ra những kẽ hở, những khiếm khuyết, hạn chế của pháp luật để hễ có cơ

hội thì vụ lợi. Việc thay đổi những tình cảm, thái độ pháp lý không phù hợp và tạo

dựng, củng cố tâm lý pháp luật đúng đắn là việc làm vô cùng khó khăn hiện nay,

bởi tính chất bền vững, bám rễ của yếu tố tâm lý trong ý thức của mỗi người trong

chúng ta. Chính vì vậy, công tác giáo dục quyền con người cần chú trọng đến yếu tố

này.

1.3.2. Hệ thống thể chế cầm quyền

Hệ thống thể chế cầm quyền cùng với các quan điểm, chính sách, pháp luật

liên quan đến quyền con người; độ mở và độ minh bạch của thông tin về quyền con

người là một yếu tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến công tác giáo dục quyền

con người. Nhà nước phải có chính sách đúng đắn thì mới có thể xây dựng chiến

lược giáo dục quyền con người hiệu quả. Các thông tin về quyền con người cần

được công khai với công dân, đồng thời tạo điều kiện để công dân tiếp cận. Một nhà

nước có hệ thống thể chế cầm quyền hoàn bị, trong đó có thể chế giáo dục, nhà cầm

quyền tốt, có những công dân tốt thì trật tự kỷ cương được duy trì, mọi mặt, mọi

lĩnh vực của đời sống xã hội, của mỗi cá nhân đều có điều kiện phát triển.

Từ trước đến nay, Đảng và Nhà nước Việt Nam trong chủ trương, đường lối

và trong mọi hoạt động luôn khẳng định sự tôn trọng và bảo vệ quyền con người,

làm hết sức mình để bảo đảm và thực hiện quyền con người trên thực tế. Đó là một

yếu tố tích cực cho việc giáo dục quyền con người ở Việt Nam.

Khi nhắc đến hệ thống thể chế cầm quyền, không thể không nhắc tới vai trò

của nhà cầm quyền, mà cụ thể là đạo đức chính trị vì con người của họ. Đảng Cộng

sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các quyết sách và chiến lược của

44

mình, một mặt, đã khẳng định rằng “cán bộ quyết định tất cả”, “thành công hay thất

bại đều do cán bộ”, mặt khác, đòi hỏi người cán bộ, công chức phải thật sự là nô

bộc của dân, trọng dân, học dân, biết dùng sức dân, trí tuệ của dân để phục vụ dân.

Đạo đức chính trị của nhà cầm quyền sẽ tác động tới việc tồn tại quyền con người

và thực hiện quyền con người. Cán bộ, công chức là những nhà cầm quyền, tức là

những người xếp đặt thể chế và vận hành thể chế. Theo đúng Tinh thần pháp luật

của Montesquieu thì “người tạo lập ra thể chế nhưng khi thể chế vận hành phải bị

thể chế sai khiến”. Một khi không có những điều đó giáo dục quyền con người chỉ

còn là một biện pháp chính trị thuần túy, xa rời những mục tiêu mà một nền giáo

dục chân chính phải theo đuổi. Tuy nhiên, hiện nay, nhiều cán bộ, công chức còn tỏ

thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, nhũng nhiễu khi thực hiện nhiệm vụ. Điều

này không những vi phạm đạo đức công vụ, mà còn vi phạm quyền con người, làm

mất lòng tin trong nhân dân. Cùng với đó, việc giáo dục quyền con người chỉ hiệu

quả khi có một hệ thống độc lập và có sự phối hợp liên ngành trong phối hợp thực

hiện giáo dục quyền con người một cách thống nhất, đồng bộ trong cả nước.

1.3.3.Trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội

Trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội là tiền đề cho sự phát triển của

giáo dục quyền con người. Khi kinh tế phát triển đến một mức độ nhất định, người

dân sẽ có ý thức hơn về quyền của mình và tham gia công cuộc đấu tranh vì các

quyền của mình. Ngược lại, khi trình độ phát triển kinh tế thấp thì người dân không

có điều kiện để tìm hiểu pháp luật nói chung và quyền con người nói riêng.

Sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong những năm qua có tác dụng

thúc đẩy sự phát triển của văn hóa, giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện

các hoạt động giáo dục quyền con người cho thế hệ trẻ, tầng lớp thanh thiếu niên

đông đảo trong xã hội và những nhóm đối tượng khác.

Tuy nhiên, ở vùng sâu vùng xa, nơi mà điều kiện kinh tế còn khó khăn thì

việc phổ biến giáo dục pháp luật nói chung và giáo dục quyền con người nói riêng

sẽ gặp nhiều trở ngại, không chỉ từ nguồn kinh phí đầu tư, mà còn là từ phía người

dân. Khi đời sống kinh tế còn chưa đáp ứng được nhu cầu cơ bản thì người dân

cũng khó quan tâm đến những vấn đề khác.

1.4. CÁC BẢO ĐẢM GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI

1.4.1. Bảo đảm về chính trị

Cơ sở pháp lý đầu tiên của việc giáo dục quyền con người phải nhắc tới là

Hiến pháp năm 1992, trong đó Điều 50 đã quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ

45

nghĩa Việt Nam, các quy chế về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được

tôn trọng.” Trong 12 điều được bổ sung vào Hiến pháp sửa đổi tại Kỳ họp thứ 6,

Quốc hội Khóa XIII ngày 28/11/2013 có tới 5 Điều đề cập đến quyền con người là

Điều 19, Điều 34, Điều 41, Điều 42 và Điều 43.

Đường lối, chính sách nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam là tôn trọng

và đảm bảo quyền con người “Trước mắt, thực hiện tốt các quy chế dân chủ ở cơ

sở, mở rộng dân chủ ở các cấp; tăng cường tuyên truyền giáo dục các quan điểm

đúng đắn, phê phán các quan điểm sai lầm, những nhận thức mơ hồ về dân chủ và

nhân quyền” [27]. Đường lối đó Đảng Cộng sản Việt Nam dựa trên nhận thức

quyền con người là giá trị chung của nhân loại được tạo lập bởi sự phấn đấu của các

dân tộc qua các thời đại. Sự nghiệp giáo dục quyền con người vừa có ý nghĩa cấp

bách, vừa có ý nghĩa lâu dài. Sự nghiệp này muốn thành công đòi hỏi sự tham gia

tích cực của toàn bộ hệ thống chính trị ở Việt Nam: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà

nước Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Sự

nghiệp này đòi hỏi quyết tâm chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc tạo ra

điều kiện chính trị thuận lợi để thực hiện có hiệu quả việc giáo dục quyền con người

ở nước ta.

Tiến sỹ Cao Văn Thái – Viện nghiên cứu Quyền con người, Học viện Chính

trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh đã có một bài viết về vấn đề sự phát triển

nhận thức của Đảng ta về quyền con người đăng trên Tạp chí Cộng sản số 113 năm

2006. Bài viết cho thấy, sự phát triển nhận thức của Đảng về quyền con người được

thể hiện trên nhiều phương diện, từ thế giới quan, phương pháp luận, nội dung khái

niệm đến thực tiễn về quyền con người. Đảng và Nhà nước ta cũng nhận thức rõ

vấn đề giáo dục quyền con người trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nhận thức ấy được cụ thể hóa ở

các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước và thực hiện hóa

bởi việc thành lập các cơ quan Nhà nước chuyên trách nghiên cứu về quyền con

người, các cơ quan chuyên trách về quyền phụ nữ cũng như quyền trẻ em trong quá

trình chỉ đạo xây dựng các chương trình hành động quốc gia về quyền phụ nữ,

quyền trẻ em...

Có thể nói, những nhận thức đúng đắn của Đảng và Nhà nước về vai trò của

công tác giáo dục quyền con người là một trong những điều kiện thuận lợi để công

tác giáo dục quyền con người ở Việt Nam hiện nay nói chung và giáo dục quyền

con người ở tỉnh Đăk Lăk nói riêng được triển khai thực hiện trên thực tế một cách

46

hữu hiệu.

1.4.2. Bảo đảm về kinh tế

Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là điều kiện

kinh tế cho đảm bảo giáo dục quyền con người. Từ góc nhìn vận động của lịch sử,

có thể nhận thấy, bản chất kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có khả

năng đưa đến một xã hội mang bản chất nhân văn, xã hội của sự phát triển tự do và

toàn diện của cá nhân mỗi người, xã hội phát triển trong quan hệ hài hòa giữa con

người và con người với tự nhiên.

Bước sang thế kỷ XXI, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở

Việt Nam phải là nền kinh tế thị trường dựa trên nền tảng khoa học công nghệ tiên

tiến, kết hợp hài hòa giữa bốn yếu tố: thị trường – Nhà nước pháp quyền – xã hội

dân sự - hội nhập quốc tế sâu rộng. Mục tiêu chung của nền kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa là hướng đến sự hưng thịnh của quốc gia, dân tộc, sự giàu

có của người dân và sự bình đẳng giữa con người, quyền con người được bảo đảm.

Một nền kinh tế thị trường phát triển lành mạnh đặt ra yêu cầu cao về sự

công bằng, bình đẳng, chủ động, sáng tạo, bảo đảm thực thi đầy đủ thực thi các

quyền con người, quyền công dân, trong đó có tự do kinh doanh. Và chính nền kinh

tế thị trường ấy sẽ tạo ra cơ sở vật chất để thực hiện có hiệu quả công cụ giáo dục

quyền con người ở Việt Nam [25].

1.4.3. Bảo đảm về xã hội và nhận thức xã hội

Các kế hoạch, các chính sách về giáo dục quyền con người khó có thể đi vào

cuộc sống trong một xã hội mà các công dân còn thờ ơ với chính trị, không tích cực

tham gia vào các công việc chung của đất nước, không nhạy cảm về các vấn đề chính

trị - pháp lý, không dũng cảm đấu tranh với các hành vi lạm quyền, chuyên quyền, với

sự thiếu tinh thần trách nhiệm, vô cảm trước nỗi đau của con người, với vi phạm dân

chủ, vi phạm quyền con người. Kiến thức và sự hiểu biết về quyền con người của chính

người dân và việc sẵn sàng sử dụng những kiến thức này của họ sẽ là một công cụ cho

sự thay đổi [58, tr.40].

Một khi người dân ý thức rõ về trách nhiệm trước vận mệnh của quốc gia,

vận mệnh của chính mình thì chắc chắn họ sẽ có đòi hỏi cao đối với lãnh đạo Đảng

và Nhà nước. Trước đòi hỏi đó các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước luôn luôn trăn

trở tìm ra các giải pháp đổi mới sự lãnh đạo của mình, xây dựng cơ chế hữu hiệu để

kiểm tra, giám sát quyền lực, bảo vệ có hiệu quả quyền con người, trong đó có việc

47

xây dựng chiến lược về giáo dục quyền con người để Nhà nước ta thực sự là Nhà

nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, một Nhà nước thực sự

tôn trọng và bảo vệ quyền con người.

1.4.4. Bảo đảm về pháp lý

Pháp luật là tiền đề, nền tảng tạo cơ sở pháp lý để công dân đấu tranh bảo vệ

các quyền con người, các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nhìn nhận từ góc độ

này, pháp luật chính là chỗ dựa, là công cụ, vũ khí của mọi người trong xã hội để

bảo vệ quyền con người. Pháp luật đóng được vai trong này vì nó là đại lượng mang

giá trị phổ biến, là chuẩn mực của sự công bằng, hợp lý, hợp lẽ phải. Nó là cơ sở, là

căn cứ để công dân đánh giá, kiểm tra, đối chiếu các hành vi từ phía Nhà nước và

các thành viên trong xã hội, đấu tranh bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của

mình. Quyền con người có thể bị xâm phạm từ phía các cơ quan, tổ chức, công chức

Nhà nước trong khi thi hành công vụ, cũng như từ phía các thành viên khác trong xã

hội, bởi vì trong quan hệ với Nhà nước, công dân vừa là người chủ Nhà nước, vừa

là đối tượng bị quản lý cho nên quyền và lợi ích hợp pháp của họ có nguy cơ xâm

hại cao. Trong hoạt động của bộ máy Nhà nước thì hoạt động của hệ thống cơ quan

hành chính Nhà nước và các cơ quan bảo vệ pháp luật có nguy cơ làm phương hại

đến các quyền con người là rất lớn.

Các quyết định quản lý của cơ quan hành chính Nhà nước, các phán quyết

của cơ quan bảo vệ pháp luật đều trực tiếp tác động đến các quyền và lợi ích của

công dân. Trong mối quan hệ với các cơ quan này, công dân là người bị quản lý và

chịu sự phán quyết nên họ luôn luôn ở vị thế bất lợi. Trong điều kiện đó, người

công dân không có vũ khí, phương tiện nào khác hữu hiệu hơn là sử dụng pháp luật

để đấu tranh tự bảo vệ các quyền và lợi ích của mình. Chỉ có bằng pháp luật, bằng

các quy phạm pháp luật quy định chặt chẽ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách

nhiệm, nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, các quyền và nghĩa vụ của công dân mới

tạo nên cơ sở pháp lý vững chắc để mọi người đấu tranh chống lại các hành vi xâm

hại, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Vai trò của pháp luật trong việc thực hiện và bảo vệ quyền con người còn thể

hiện trong mối quan hệ giữa pháp luật và các điều kiện bảo đảm khác (chính trị,

kinh tế, văn hóa...). Các điều kiện trên đều phải thông qua pháp luật, thể hiện dưới

hình thức pháp luật mới trở thành giá trị xã hội ổn định, được hiện thực hóa trên

quy mô toàn xã hội. Và chỉ có như vậy thì các điều kiện đó mới phát huy được vai

48

trò của mình trong việc thực hiện và bảo vệ quyền con người.

Trong lĩnh vực giáo dục quyền con người, các quy định pháp luật tạo cơ sở

pháp lý cho kế hoạch, chiến lược về giáo dục quyền con người. Các quy định pháp

luật sẽ xác định trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn, nghĩa vụ và quyền lợi của các cơ

quan, tổ chức, công chức, viên chức Nhà nước và các cá nhân trong lĩnh vực giáo

dục quyền con người. Các quy định pháp luật là cơ sở pháp lý không thể thiếu để

thực hiện thu – chi cho các hoạt động giáo dục quyền con người [31].

Trong thời gian vừa qua, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản thể hiện rõ

quyết tâm trong việc giáo dục quyền con người trong thời đại mới:

- Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng ngày 09 tháng 12

năm 2003 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục

pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ nhân dân. Nội dung Chỉ

thị nêu rõ:

“Xác định rõ phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo

dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh

đạo của Đảng. Trong những năm tới, cần tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện thật

tốt công tác này để góp phần tạo chuyển biến căn bản về ý thức tôn trọng pháp luật

và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân.”

- Nghị quyết số 900/UBTVQH 11 ngày 21/03/2007 của Ủy ban Thường vụ

Quốc hội về kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/05/2005 của Bộ

Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến

năm 2010, định hướng đến năm 2020 (giai đoạn 2007 – 2012) đã chỉ rõ một trong

những nhiệm vụ cần thực hiện là: “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật về đảm bảo

quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân. Củng cố cơ sở pháp lý về

trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc xây dựng, ban hành kịp thời,

đồng bộ và tổ chức thực thi pháp luật, các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành

viên về quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh

tế, văn hóa, xã hội; hoàn thiện chế độ bảo hộ của Nhà nước đối với các quyền và lợi

ích hợp pháp của công dân...”

- Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP của Chính phủ ngày 07 tháng 12 năm 2007

về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của

Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác

phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ nhân

dân. Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP khẳng định chủ trương: “Tiếp tục quán triệt đầy

49

đủ và sâu sắc hơn nữa về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng của công tác phổ biến,

giáo dục pháp luật cho cán bộ, đảng viên và nhân dân theo đúng tinh thần Chỉ thị số

32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng; xác định

rõ phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư

tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.”

- Quyết định số 270/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27 tháng 02

năm 2009 phê duyệt Đề án “Củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng nguồn nhân

lực trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển

của đất nước” thuộc Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ từ

năm 2008 đến năm 2012, khẳng định nhất quán quan điểm đẩy mạnh hoạt động phổ

biến, giáo dục pháp luật trong thời kỳ hội nhập của đất nước.

- Kế hoạch số 160/KH-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 19 tháng

3 năm 2009 về ban hành Kế hoạch công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2009

của ngành giáo dục. Kế hoạch đã nêu rõ mục đích cũng như nhiệm vụ trọng tâm của

công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong ngành. Trong Kế hoạch này, đáng chú ý

là nội dung: các cơ sở giáo dục và đào tạo phải “chỉ đạo việc giảng dạy các kiến

thức pháp luật trong chương trình môn học đạo đức, giáo dục công dân và các môn

học liên quan”, các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp phải “bổ

sung nội dung pháp luật phù hợp vào chương trình giáo dục của tất các các ngành

đào tạo”; các vụ, cục, thanh tra, văn phòng, đơn vị thuộc Bộ phải: “Tổ chức xây

dựng chương trình môn học Pháp luật đại cương và giáo trình dùng chung cho các

trường đại học, cao đẳng không chuyên luận... Biên soạn Giáo trình pháp luật dùng

cho đào tạo trung cấp chuyên nghiệp...; Biên soạn tài liệu hướng dẫn giáo viên đổi

mới nội dung và phương pháp giảng dạy các kiến thức pháp luật trên cơ sở kết quả

rà soát nội dung giáo dục pháp luật trong chương trình, sách giáo khoa đạo đức,

giáo dục công dân và hoạt động ngoài giờ lên lớp...”. Những quy định này chính là

cơ sở để các cấp giáo dục tổ chức triển khai công tác phổ biến giáo dục pháp luật,

giáo dục quyền con người một cách hiệu quả hơn trong thời gian tới.

1.4.5. Bảo đảm về nguồn nhân lực và vật lực

Để tiến hành giáo dục quyền con người cần có một đội ngũ những người am

hiểu về quyền con người, được đào tạo, được cung cấp những tri thức vững vàng về

quyền con người và cơ chế đảm bảo quyền con người. Họ sẽ trở thành những nhà

giáo góp phần đưa quyền con người vào cuộc sống thông qua các bài giảng sinh

50

động và sâu sắc của mình. Như vậy, đào tạo, huấn luyện một đội ngũ các giảng

viên, các tuyên truyền viên về quyền con người là một nhiệm vụ đặt ra rất cấp bách

hiện nay.

Theo con số thống kê từ Vụ Phổ biến giáo dục pháp luật Bộ Tư pháp, ở địa

phương hiện tại có 63/63 Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

thành lập Phòng phổ biến, giáo dục pháp luật với 263 cán bộ chuyên trách. Đối với

các cơ quan thông tin đại chúng, lực lượng biên tập viên, phóng viên chuyên viết về

pháp luật được củng cố và tăng cường. Hiện cả nước có 232 báo cáo viên pháp luật

trung ương, 4761 báo cáo viên cấp tỉnh, 15116 báo cáo viên cấp huyện và hơn 73

000 báo cáo viên cấp xã và gần 70 000 người từ các lực lượng khác tham gia công

tác phổ biến, giáo dục pháp luật [17].

Trước yêu cầu mà quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

đặt ra cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, giáo dục quyền con người, nguồn

nhân lực hiện có chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu đặt ra bởi một số nguyên nhân

sau:

- Bản thân phần lớn đội ngũ cán bộ làm công tác phổ biến, tuyên truyền

pháp luật cũng chưa được đào tạo một cách bài bản lý luận chung về quyền con

người, họ thường chỉ nghiên cứu, tìm hiểu những văn bản luật cụ thể, ví dụ: về

quyền của trẻ em, quyền của người khuyết tật, về vấn đề bình đẳng giới... mỗi khi

cần phổ biến, tuyên truyền, hướng dẫn nội dung các quy định pháp luật tương ứng

trong trường hợp cần thiết.

- Giáo dục và tìm hiểu quyền con người cần phải được tất cả các chủ thể,

các bên tham gia, được xã hội dân sự cũng như các chính phủ và các công ty xuyên

quốc gia cùng thực hiện. Thông qua hiểu biết về quyền con người, chân lý “văn hóa

quyền con người” sẽ được phát triển dựa trên sự tôn trọng, bảo vệ, thực hiện tuân

thủ và thực hành quyền con người. Tuy nhiên, ở một số cơ quan chức năng vẫn tồn

tại hiện tượng một bộ phận cán bộ còn mang nặng ý thức ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ

trợ kinh phí từ bên ngoài, chưa tích cực, chủ động, chưa có sự quan tâm đúng mức

đến công tác phổ biến kiến thức pháp luật nói chung, công tác giáo dục quyền con

người nói riêng.

- Số cán bộ làm công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật có trình

độ ngoại ngữ và biết tiếng dân tộc thiểu số là rất hạn chế. Điều này ảnh hưởng

không nhỏ đến khả năng nghiên cứu, tìm hiểu kinh nghiệm nước ngoài về vấn đề

51

quyền con người, giáo dục quyền con người cũng như gây khó khăn trong việc tiếp

cận, phổ biến kiến thức pháp luật cần thiết cho đồng bào dân tộc thiểu số, ảnh

hưởng trực tiếp đến quyền được tiếp cận thông tin của họ.

Cùng với việc đào tạo, huấn luyện một đội ngũ các giảng viên, các tuyên

truyền viên về quyền con người, chúng ta cần tích cực biên soạn các giáo trình, các

tài liệu đào tạo, giảng dạy về quyền con người.

Có thể nói, bên cạnh sự chú trọng đầu tư đội ngũ nhân lực thực hiện công tác

giáo dục, phổ biến pháp luật thì Đảng và Nhà nước hiện nay cũng rất quan tâm đến

nguồn vật lực cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Hiện nay, việc lập dự toán,

quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách Nhà nước bảo đảm cho công tác

phổ biến, giáo dục pháp luật. Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP ngày 07/12/2007 về

việc thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW, Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg ngày

12/03/2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục

pháp luật từ năm 2008 đến năm 2012 đã chỉ rõ trách nhiệm của từng bộ, ngành

trong việc bố trí ngân sách hàng năm cho hoạt động giáo dục pháp luật trên cơ sở

Luật Ngân sách Nhà nước và các văn bản pháp luật có liên quan. Về cơ bản, ngân

sách cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật bao gồm đầu tư trang thiết bị kỹ

thuật, cơ sở vật chất, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ tuyên

truyền... đã được đầu tư một cách mạnh mẽ hơn, ví dụ, riêng ngân sách thực hiện đề

án “Củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong công tác phổ

biến, giáo dục pháp luật đáp ứng yêu cầu đổi mới, phát triển đất nước” thuộc

Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ từ năm 2008 đến năm

2012 lên tới 29 tỷ đồng. Như vậy, xét về nguồn vật lực, chúng ta có thể tin tưởng

rằng, khi có kế hoạch, chương trình cụ thể cho công tác giáo dục quyền con người,

các cơ quan chức năng sẵn sàng đầu tư nguồn lực tài chính cần thiết để triển khai

52

hoạt động này trên thực tế.

Chương 2

THỰC TRẠNG VÀ QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP GIÁO DỤC

QUYỀN CON NGƯỜI Ở ĐẮK LẮK HIỆN NAY

2.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, CHÍNH TRỊ, VĂN HÓA, XÃ HỘI

CỦA GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI Ở ĐẮK LẮK

2.1.1. Điều kiện địa lý – tự nhiên và xã hội

Về vị trí địa lý, tỉnh Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, đầu nguồn

của hệ thống sông Sêrêpôk và một phần của sông Ba, nằm trong khoảng tọa độ địa

lý từ 107o28'57" đến 108o59'37" độ kinh Đông và từ 12o9'45" đến 13o25'06" độ vĩ

Bắc, có độ cao trung bình 400 – 800 mét so với mặt nước biển, nằm cách Hà Nội

1.410 km và cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km; phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai;

phía Nam giáp tỉnh Lâm Đồng; phía Đông giáp tỉnh Phú Yên và tỉnh Khánh Hòa ;

phía Tây giáp Vương quốc Campuchia và tỉnh Đắk Nông. Tỉnh có đường biên giới

dài 70 km chung với nước Campuchia, trên đó có quốc lộ 14C chạy dọc theo biên

giới hai nước rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế - xã hội vùng biên giới kết hợp

với bảo vệ an ninh quốc phòng.

Diện tích, dân cư: Đắk Lắk có diện tích 13.125,37 km2, dân số toàn tỉnh

tính đến năm 2012 đạt 1.796.666 người, mật độ dân số đạt hơn 137 người/km².

Trong đó, dân số sống tại thành thị đạt 432.458 người, dân số sống tại nông thôn đạt

1.364.208 người. Dân số nam đạt 906.619 người, dân số nữ đạt 890.047 người.

Cộng đồng dân cư Đắk Lắk gồm 47 dân tộc. Trong đó, người Kinh chiếm trên 70%;

các dân tộc thiểu số như Ê Đê, M'nông, Thái, Tày, Nùng... chiếm gần 30% dân số

toàn tỉnh.

Dân số tỉnh phân bố không đều trên địa bàn các huyện, tập trung chủ yếu ở

thành phố Buôn Ma Thuột, thị trấn, huyện lỵ, ven các trục Quốc lộ 14, 26, 27 chạy

qua như Krông Búk, Krông Pắk, Ea Kar, Krông Ana. Các huyện có mật độ dân số

thấp chủ yếu là các huyện đặc biệt khó khăn như Ea Súp, Buôn Đôn, Lắk, Krông

Bông, M’Đrắk, v.v…

Trên địa bàn tỉnh, ngoài các dân tộc thiểu số tại chỗ còn có số đông dân di cư

từ các tỉnh phía Bắc và miền Trung đến Đắk Lắk sinh cơ lập nghiệp.Trong những

năm gần đây, dân số của Đắk Lắk có biến động do tăng cơ học, chủ yếu là di dân tự

do, điều này đã gây nên sức ép lớn cho tỉnh về giải quyết đất ở, đất sản xuất và các

53

vấn đề đời sống xã hội, an ninh trật tự và môi trường sinh thái.

Đắk Lắk là tỉnh có nhiều dân tộc cùng chung sống, mỗi dân tộc có những nét

đẹp văn hoá riêng. Đặc biệt là văn hoá truyền thống của các dân tộc Ê Đê,

M'Nông… với những lễ hội cồng chiêng, đâm trâu, đua voi mùa xuân; kiến trúc nhà

sàn, nhà rông; các nhạc cụ lâu đời nổi tiếng như các bộ cồng chiêng, đàn đá, đàn

T'rưng; các bản trường ca Tây Nguyên... là những sản phẩm văn hoá vật thể và phi

vật thể quý giá, trong đó “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” đã được

tổ chức UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể

của nhân loại. Tất cả các truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc tạo nên sự đa

dạng, phong phú về văn hóa của Đắk Lắk.

Dân tộc Ê Đê thuộc ngữ hệ Malayô - Pôlinêdiêng, địa bàn cư trú chủ yếu là

các huyện phía Bắc và phía Nam: từ Ea Hleo, Buôn Hồ xuống M’Đrắk và kéo dài

lên Buôn Ma Thuột. Dân tộc M'nông thuộc ngữ hệ Môn-Khơme, địa bàn cư trú chủ

yếu là các huyện phía Nam và dọc biên giới Tây Nam.

Về đơn vị hành chính, tỉnh Đắk Lắk có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, bao

gồm thành phố Buôn Ma Thuột, thị xã Buôn Hồ và 13 huyện với tổng cộng 180 xã,

phường, thị trấn: 1) Thành phố Buôn Ma Thuột có 13 phường và 8 xã; 2) Thị xã

Buôn Hồ; 3) Huyện Ea H’leo có 1 thị trấn và 11 xã; 4) Huyện Ea Súp có 1 thị trấn

và 9 xã; 5) Huyện Buôn Đôn có 7 xã; 6) Huyện Cư M’gar có 2 thị trấn và 15 xã; 7)

Huyện Krông Búk có 1 thị trấn và 14 xã; 8) Huyện Ea Kar có 2 thị trấn và 14 xã; 9)

Huyện M’Đrắk có 1 thị trấn và 12 xã; 10) Huyện Krông Bông có 1 thị trấn và 13

xã; 11) Huyện Krông Pắc có 1 thị trấn và 15 xã; 12) Huyện Krông Ana gồm 1 thị

trấn và 7 xã; 13) Huyện Lắk gồm 1 thị trấn và 10 xã; 14) Huyện Krông Năng gồm 1

thị trấn và 11 xã; 15) Huyện Cư Kuin gồm 8 xã. Thành phố Buôn Ma Thuột là trung

tâm chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội của tỉnh và cả vùng Tây Nguyên. Với số

lượng đơn vị hành chính cấp huyện và cấp xã tương đối lớn, dàn trải trên một phạm

vi không gian rộng, sẽ trở thành một trở ngại tương đối lớn cho việc tuyên truyền

phổ biến giáo dục pháp luật cho người dân trên địa bàn tỉnh.

2.1.2. Đặc điểm tình hình kinh tế

Sự phát triển kinh tế là nhân tố giữ vai trò quyết định đối với mọi lĩnh vực

hoạt động của đời sống xã hội. Kinh tế phát triển sẽ kéo theo và là động lực thúc

đẩy sự phát triển của các lĩnh vực hoạt động khác và ngược lại. Sự phát triển các

lĩnh vực hoạt động khác nhau trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, trong đó có hoạt động giáo

dục pháp luật cho người dân cũng không nằm ngoài tính quy luật này. Trong những

54

năm qua, được sự quan tâm, đầu tư của Đảng và Nhà nước, sự lãnh đạo, chỉ đạo của

Đảng bộ, chính quyền các cấp, nền kinh tế tỉnh Đắk Lắk liên tục tăng trưởng ở mức

khá cao; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng và các thành phần kinh tế đều có

sự phát triển chủ động, tích cực.

2.1.2.1. Về tiềm năng phát triển

Đắk Lắk nằm ở vị trí trung tâm của vùng Tây Nguyên. Phía bắc giáp tỉnh Gia

Lai qua quốc lộ 14 sẽ đến trung tâm kinh tế Đà Nẵng và khu công nghiệp Dung

Quất, khu kinh tế mở Chu Lai. Phía đông giáp tỉnh Khánh Hoà qua quốc lộ 26, đây

là trung tâm du lịch lớn của cả nước, đồng thời có cảng biển giao thương hàng hoá

với nước ngoài. Phía nam là các tỉnh Đăk Nông, Bình Phước, Bình Dương và

Thành phố Hồ Chí Minh qua quốc lộ 14. Đây là trung tâm kinh tế trọng điểm của

phía Nam. Phía tây là vương quốc Campuchia qua cửa khẩu Đăk Ruê.

Đắk Lắk nói riêng và Tây Nguyên nói chung sẽ hình thành mạch giao thông

rất thuận lợi để phát triển thương mại - dịch vụ. Cùng với việc Chính phủ đầu tư

tuyến đường Hồ Chí Minh, hàng loạt các công trình đầu tư nhằm khai thác lợi thế

của tuyến giao thông này. Điển hình là việc đầu tư xây dựng cửa khẩu quốc tế Bờ Y

(Kon Tum) và các trục giao thông sẽ hình thành nhánh của con đường xuyên Á bắt

đầu từ Côn Minh (Trung Quốc) - Myanmar - Lào - Thái Lan qua cửa khẩu Bờ Y tạo

mối quan hệ thương mại quốc tế giữa các tỉnh Đông Bắc Thái Lan, Nam Lào với

các tỉnh Tây Nguyên, duyên hải miền Trung và Đông Nam Bộ. Đây cũng là điều

kiện khá lý tưởng để thu hút khách du lịch các nước theo tuyến đường bộ này vào

Tây Nguyên - Đắk Lắk cũng như khuyến khích du khách Đắk Lắk đi du lịch nước

ngoài. Đường giao thông nội tỉnh được đầu tư mở mới và nâng cấp thuận lợi có thể

thông thương đến biên giới Campuchia. Với một vị trí thuận lợi như vậy, Đắk Lắk

sẽ là trung tâm giao lưu hàng hoá giữa các vùng và tạo điều kiện cho phát triển du

lịch, dịch vụ trong những năm tới đây. Hiện tại Đắk Lắk định hướng ưu tiên đầu tư

và phát triển công nghiệp trở thành ngành kinh tế mũi nhọn là trồng và khai thác các

loại nông sản, cây công nghiệp; chế biến và xuất khẩu nông sản như mì, bắp..., sản

phẩm cây công nghiệp như cà phê, cao su, ca cao...; vì vậy nguồn thu từ ngành kinh

tế nói trên mang lại cho tỉnh Đắk Lắk nguồn ngân sách rất lớn. Các ngành kinh tế

như điện lực, xây dựng và ngành nghề khác như: y tế, giáo dục... cũng đã góp phần

phát triển một cách toàn diện hoạt động kinh tế của tỉnh.

2.1.2.2. Những kết quả đạt được năm 2014, 2015

* Năm 2014: Theo Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế -

55

xã hội năm 2014 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2015 của tỉnh Đắk Lắk

[51], trong năm 2014, nền kinh tế - xã hội của tỉnh dù gặp nhiều khó khăn nhưng

cũng đã đạt, gần đạt nhiều chỉ tiêu quan trọng theo kế hoạch đề ra:

- Về kinh tế:

+ Theo giá so sánh 2010: Tổng sản phẩm xã hội ước khoảng 37.700 tỷ đồng,

tăng 9,2% so với thực hiện năm 2013, đạt 99,4% KH (kế hoạch – Báo cáo). Trong

đó:

i) Giá trị ngành nông, lâm, thủy sản 16.420 tỷ đồng, tăng 5%, đạt 100,7% KH.

ii) Giá trị ngành công nghiệp - xây dựng 6.440 tỷ đồng, tăng 9,9%, đạt 97% KH.

iii) Giá trị ngành dịch vụ 14.840 tỷ đồng, tăng 13,9%, đạt 99,1% KH.

+ Cơ cấu kinh tế (theo giá hiện hành): Nông, lâm, thủy sản 45% (KH đạt 44-

45%); công nghiệp - xây dựng 16,7% (KH đạt 16-17%); dịch vụ 38,3% (KH đạt 39-

40%).

+ Thu nhập bình quân đầu người theo giá hiện hành 31,4 triệu đồng, đạt 98,4%

KH.

+ Huy động vốn đầu tư toàn xã hội khoảng 13.500 tỷ đồng, tăng 6,8% so với

thực hiện năm 2013, bằng khoảng 23,3% tổng sản phẩm xã hội, đạt 90% KH.

+ Tổng mức lưu chuyển hàng hóa trên địa bàn 49.425 tỷ đồng, tăng 29,8% so

với thực hiện năm 2013, đạt 100%KH.

+ Tổng kim ngạch xuất khẩu khoảng 730 triệu USD, tăng 20% so với thực hiện

2013, đạt 97,3% KH (KH 2014 : 750 triệu USD); Tổng kim ngạch nhập khẩu khoảng

15 triệu USD, bằng so với thực hiện 2013, bằng 75% KH (KH 2014 : 20 triệu USD)

+ Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt khoảng 3.300 tỷ đồng, đạt

96,8% dự toán TW giao và đạt 82,5% dự toán HĐND tỉnh giao; bằng 92,2% so với

năm 2013 (KH 2014 : 4.000 tỷ đồng.

+ Phát triển hạ tầng: Thuỷ lợi bảo đảm tưới chủ động cho 76% diện tích cây

trồng có nhu cầu tưới, đạt 100% KH; cải tạo, nâng cấp nhựa hoặc bê tông hóa 95% các

tuyến đường tỉnh, tăng 13,1% so với KH (KH 2014 đạt 84%); 73% hệ thống đường

huyện (đạt 100% KH); 38% đường xã và liên xã (đạt 100% KH); có 95% số thôn, buôn

có điện (KH 2014 : 97%), trong đó có 96,8% số hộ được dùng điện (KH 2014 :

97,75%).

- Về xã hội:

+ Tỷ lệ trường đạt chuẩn Quốc gia đạt 29% (tăng 01% so với năm 2013) đạt

56

100% KH; Có 91,5% (KH là 95%) thôn, buôn có trường hoặc lớp mẫu giáo (tính cả

thôn, buôn học ghép lớp), trong đó có 65% thôn, buôn có trường hoặc lớp mẫu giáo

(không tính thôn, buôn học ghép lớp).

+ Mức giảm tỷ lệ sinh khoảng 0,5‰ (KH là 0,5‰). Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên

1,18% (KH là 1,1%). Quy mô dân số 1.847 ngàn người, đạt 100% KH.

+ Tỷ lệ xã đạt Bộ tiêu chí Quốc gia về y tế đạt 70,1% (tăng 5,43% so với năm

2013) tăng 19,6% so với KH; Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng 22,8% (giảm

0,6% so với năm 2013), giảm 0,2% so với KH; Số giường bệnh trên một vạn dân

(không tính giường trạm y tế xã) đạt 22,34 giường/1 vạn dân, thấp hơn 0,26% so với

KH.

+ Giải quyết việc làm cho 26.500 lao động (tăng trên 500 lao động so với năm

2013), đạt 100% KH; Tỷ lệ lao động qua đào tạo so với tổng số lao động 46% trở lên,

vượt 1% so với KH (KH là 45%), trong đó qua đào tạo nghề 37% trở lên (tăng 2% so

với năm 2013), đạt 100% KH; Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 2,95% (bằng

so với năm 2013), đạt 100% KH.

+ Tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 12,75%, giảm 2,1% so với năm 2013 (các huyện

nghèo, khó khăn giảm 3%), (KH giảm 2-3%).

+ Có 94,9% buôn có nhà sinh hoạt cộng đồng (tăng 0,82% so với năm 2013)

(KH 2014: 96%).

* Năm 2015 [43]: Bên cạnh những thuận lợi, Đắk Lắk vẫn còn gặp nhiều khó

khăn, thời tiết diễn biến phức tạp, giá cả một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của tỉnh

giảm; huy động vốn đầu tư đạt thấp. Nhưng với sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của

UBND tỉnh, tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục có bước phát triển, an ninh chính trị

và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Ước tính năm 2015, tổng sản phẩm xã hội

đạt khoảng 41.091 tỷ đồng; tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 9% so với giá so sánh

năm 2010; thu nhập bình quân đầu người đạt 32,7 triệu đồng; huy động vốn đầu tư

toàn xã hội khoảng 14.087 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu khoảng 650 triệu USD;

tổng mức lưu chuyển hàng hoá trên địa bàn đạt 47.686 tỷ đồng; thu ngân sách nhà

nước trên địa bàn ước đạt 3.341 tỷ đồng, đạt 120,6% dự toán Trung ương giao. Sản

lượng lương thực ước đạt 1 triệu 205.042 tấn, đạt 104% kế hoạch. Một số ngành

công nghiệp vẫn duy trì được mức độ tăng trưởng cao, như: công nghiệp khai

khoáng tăng 7,4%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,6% so với năm 2014.

Trong năm 2015, đã giải quyết việc làm cho khoảng 27 nghìn người, tỷ lệ hộ nghèo

giảm 3%. Tuy nhiên, bên cạnh đó một số chỉ tiêu chủ yếu về kinh tế vẫn chưa đạt kế

57

hoạch đề ra.

Như vậy, trong những năm qua, nền kinh tế tỉnh Đắk Lắk liên tục tăng

trưởng, phát triển khá tốt và bền vững. Cùng với sự đầu tư, hỗ trợ của Trung ương,

đây là điều kiện thuận lợi để Đắk Lắk tập trung triển khai thực hiện tốt các chương

trình, mục tiêu phát triển kinh tế cho đồng bào các vùng dân tộc trên địa bàn tỉnh.

Tình hình mọi mặt trong tỉnh đã có những chuyển biến tích cực, rõ nét, như giao

thông đi lại thuận tiện, các điều kiện về vệ sinh, môi trường, nước sạch có nhiều

tiến bộ; đời sống vật chất của nhân dân đã được cải thiện và nâng lên đáng kể;

khoảng cách phát triển giữa các vùng trong tỉnh đã từng bước được rút ngắn so với

sự phát triển chung trên địa bàn tỉnh. Đây là những điều kiện thuận lợi, là tiền đề

tích cực để các chủ thể giáo dục pháp luật triển khai công tác giáo dục pháp luật cho

người dân đạt chất lượng, hiệu quả cao hơn. Nhờ cơ sở hạ tầng vật chất - kỹ thuật

phục vụ cuộc sống, công việc chuyên môn, sinh hoạt được đầu tư xây dựng, đời sống

kinh tế được cải thiện và nâng cao nên người dân ở tỉnh Đắk Lắk có điều kiện thuận

lợi hơn để hăng hái, nhiệt tình tham gia hoạt động giáo dục pháp luật dành cho họ;

qua đó, củng cố và nâng cao trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật.

2.1.3. Đặc điểm tình hình chính trị - xã hội

Cùng với yếu tố kinh tế, yếu tố chính trị luôn có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các

lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, trong đó có hoạt động giáo dục pháp luật.

Môi trường chính trị càng ổn định, bầu không khí chính trị - xã hội càng dân chủ

bao nhiêu thì các mặt hoạt động xã hội, bao gồm cả hoạt động giáo dục pháp luật

càng diễn ra thuận lợi và đạt chất lượng, hiệu quả cao bấy nhiêu; ngược lại, môi

trường chính trị bất ổn, xã hội thiếu dân chủ thì mọi lĩnh vực hoạt động đều gặp

khó khăn, thậm chí không thực hiện được.

Cho đến nay, sau hơn 10 năm chia tách tỉnh Đắk Lắk, với sự nỗ lực và quyết

tâm cao của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, các cấp, các ngành

trong việc làm tốt công tác tổ chức, sắp xếp bộ máy nhân sự, nhìn chung tình hình

chính trị - xã hội trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã đi vào nề nếp, ổn định; trật tự, kỷ

cương, an toàn xã hội được củng cố và giữ vững. Bầu không khí dân chủ, cởi mở

trong đời sống xã hội trên địa bàn tỉnh đã có nhiều chuyển biến tích cực, các quyền

dân chủ của nhân dân được mở rộng; niềm tin của nhân dân, của đồng bào các dân

tộc thiểu số vào Đảng, Nhà nước, vào các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương

ngày càng được củng cố; từ đó, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã

hội, an ninh, quốc phòng trên địa bàn tỉnh, biểu hiện rõ nhất là trong phát triển kinh

58

tế, xây dựng nếp sống văn hoá ở xã, phường, thị trấn.

Có được tình hình chính trị ổn định, bầu không khí dân chủ rộng mở trên địa

bàn tỉnh Đắk Lắk là do, sau khi Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị 30-

CT/TƯ ngày 18/2/1998 về Xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, Chính

phủ ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ-CP ngày 11/5/1998 về việc ban hành Quy

chế thực hiện dân chủ ở xã và Nghị định số 79/2003/NĐ-CP ngày 07/7/2003 về việ

ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, ngày 20/4/2007, Ủy ban thường vụ Quốc

hội ban hành Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Tỉnh ủy, Ủy ban

nhân dân tỉnh Đắk Lắk, cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể các cấp

trong tỉnh đã có nhiều biện pháp chỉ đạo quyết liệt, triển khai tuyên truyền, phổ biến

sâu rộng pháp luật về thực hiện dân chủ ở cấp xã; làm chuyển biến tích cực trong

các tầng lớp nhân dân nhận thức về quan điểm, chủ trương của Đảng, pháp luật của

Nhà nước đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở, ở xã,

phường, thị trấn. Các xã, phường, thị trấn trong tỉnh đã tích cực xây dựng các bản

quy chế, quy định trên các lĩnh vực, như Quy chế làm việc của Đảng ủy, Hội đồng

nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân; Quy

chế quản lý sử dụng đất đai; các quy ước, hương ước thôn, làng văn hóa; các quy

định về việc cưới, việc tang... Việc thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị

trấn luôn được gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế - xã hội, cải cách thủ thục

hành chính; gắn với các cuộc vận động “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng”, “Học tập và

làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, các phong trào, hoạt động văn hóa, xã

hội, giữ vững an ninh, trật tự ở buôn, làng. Các hoạt động chính trị - xã hội trên địa

bàn tỉnh Đắk Lắk được các tầng lớp nhân dân đồng tình, hưởng ứng và thực hiện có

hiệu quả. Phát huy dân chủ, nhất là dân chủ trực tiếp của nhân dân được các cấp ủy

Đảng, chính quyền tỉnh Đắk Lắk coi trọng và tăng cường.

Hàng năm, các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể

trong tỉnh Đắk Lắk cũng đã làm tốt công tác tuyên truyền cho cán bộ, công chức,

đảng viên làm công tác dân tộc, tôn giáo ở các vùng đồng bào dân tộc trong tỉnh về

các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề

dân tộc, tôn giáo gắn liền với việc triển khai thực hiện các chương trình, dự án được

Trung ương đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc. Nhờ làm tốt công tác chính trị - tư

tưởng, tuyên truyền đường lối, chính sách dân tộc, tôn giáo nên đã tạo được sự

chuyển biến tích cực về nhận thức và hành động của cán bộ, công chức, đảng viên

và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà

59

nước đối với đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh; ý thức, tinh thần trách nhiệm

của các cấp ủy Đảng, chính quyền đối với công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu

số đã được nâng lên. Điều đó có tác động, ảnh hưởng tích cực đến nhận thức, tư

tưởng, tình cảm, niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, các cấp ủy

Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước và các cấp chính quyền địa phương. Đây

cũng là điều kiện thuận lợi đối với công tác giáo dục pháp luật cho người dân ở

tỉnh Đắk Lắk.

2.1.4. Tình hình văn hóa – xã hội

Cùng với việc chăm lo đầu tư phát triển kinh tế, giữ vững an ninh chính trị,

Đảng bộ, chính quyền, các cấp, các ngành chức năng của tỉnh Đắk Lắk cũng luôn

quan tâm phát triển lĩnh vực văn hóa - xã hội; nhờ đó, tình hình văn hóa - xã hội

trong tỉnh nói chung, ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng có nhiều chuyển

biến tích cực và đạt được nhiều kết quả quan trọng.

- Về giáo dục - đào tạo, tính đến thời điểm ngày 30/9/2011, trên địa bàn toàn

tỉnh Đắk Lắk có 695 trường học ở cấp phổ thông, trong đó: Trung học phổ thông có

52 trường, Trung học cơ sở có 221 trường, Tiểu học có 417 trường và 5 trường phổ

thông cơ sở, bên cạnh đó còn có 235 trường mẫu giáo. Với hệ thống trường học như

thế, nền giáo dục trong địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã tương đối hoàn chỉnh, góp phần

nâng cao trình độ, nhận thức trong địa bàn tỉnh.

Tính đến hết năm 2012, tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đạt 26%; có 90,23%

thôn, buôn có trường hoặc lớp mẫu giáo. Số lượng học sinh đến trường tiếp tục

tăng, các mục tiêu về chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, chuẩn phổ

cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, chuẩn phổ cập trung học cơ sở đều đạt kế hoạch

đề ra. Chất lượng giáo dục có bước tiến bộ, cơ sở vật chất trường, lớp học tiếp tục

được tăng cường, kiên cố hóa. Công tác dạy nghề ngày càng được quan tâm và có

bước phát triển.

Năm học 2013 - 2014, toàn tỉnh tăng 18 trường so với năm học 2012 - 2013.

Tỷ lệ trường chuẩn Quốc gia ước đạt 29% (KH 2014 là 29%). Đến nay, có 164/184

xã phường, thị trấn đạt phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, đạt 89,13%,

tăng 36,42% so với cùng kỳ năm 2013. Kết quả tốt nghiệp THPT đạt 97,98%, tăng

2% so với năm trước; tốt nghiệp GDTX đạt 85,43%, tăng 29% so với năm trước.

Kết quả đào tạo học sinh giỏi được nâng cao qua các kỳ thi khu vực và Quốc gia

[51].

- Về y tế, hệ thống khám, chữa bệnh từng bước được củng cố; chất lượng

60

khám, chữa bệnh từng bước được nâng cao; tinh thần, thái độ phục vụ người bệnh

có chuyển biến tích cực; các trang, thiết bị kỹ thuật cao tiếp tục được triển khai ứng

dụng; tình trạng quá tải của các bệnh viện có chiều hướng giảm. Tỷ lệ xã đạt chuẩn

quốc gia về y tế đạt 70,1% (KH 2014 là 50,5%). Tỷ lệ giường bệnh trên một vạn

dân đạt 22,34% (tăng 2,37% so với cuối năm 2013). Công tác quản lý chất thải y tế

đã triển khai ở tất cả các bệnh viện trong tỉnh. Công tác truyền thông dân số, kế

hoạch hóa gia đình được đẩy mạnh, mạng lưới chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em

được củng cố; nhận thức của người dân về chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch

hoá gia đình, phòng chống suy dinh dưỡng ở trẻ em ngày càng tốt hơn [51].

- Công tác giải quyết việc làm, dạy nghề, đặc biệt là dạy nghề cho lao động

nông thôn ngày càng được chú trọng; toàn tỉnh đã giải quyết việc làm cho khoảng

26.500 người (trong đó việc làm tăng thêm 14.200 người), đạt 100% kế hoạch để ra

(nữ: 12.800 người, dân tộc thiểu số: 8.300 người). Tuy nhiên, việc đầu tư cơ sở vật

chất, trang thiết bị cho các Trung tâm dạy nghề, nhất là ở cấp huyện không phù hợp

với ngành nghề cần đào tạo; nội dung, ngành nghề chưa đáp ứng được nhu cầu của

người học và thị trường lao động; chưa giải quyết được đầu ra sau đào tạo.

- Công tác giảm nghèo được các cấp, các ngành, các địa phương tích cực triển

khai thực hiện và tiếp tục có kết quả tích cực; tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn

12,75% (giảm 2,1% so với năm 2013), đạt kế hoạch đề ra (KH 2-3%). Song nguồn

lực đầu tư cho mục tiêu giảm nghèo còn nhiều hạn chế; tỷ lệ hộ nghèo trong vùng

đồng bào dân tộc thiểu số còn cao so với mặt bằng chung của tỉnh và vẫn còn tiềm

ẩn nguy cơ tái nghèo [51].

- Tiếp tục thực hiện tốt chính sách đối với thương binh, gia đình liệt sỹ và

người có công, tăng cường công tác vận động ủng hộ Quỹ Đền ơn đáp nghĩa. Công

tác bảo trợ xã hội, công tác Bảo vệ và chăm sóc trẻ em có nhiều tiến bộ. Các hoạt

động tuyên truyền, tập huấn về bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ ngày càng

được quan tâm hơn.

Đắk Lắk là tỉnh có nhiều dân tộc cùng chung sống, mỗi dân tộc có những nét

đẹp văn hoá riêng với bản sắc văn hoá đa dạng. Đặc biệt là văn hoá truyền thống

của các dân tộc Êđê, M’nông, Gia Rai... với những lễ hội cồng chiêng, đâm trâu,

đua voi mùa xuân; kiến trúc nhà sàn, nhà rông; các nhạc cụ lâu đời nổi tiếng như

các bộ cồng chiêng, đàn đá, đàn T’rưng; các bản trường ca Tây Nguyên (Đam San,

Xinh Nhã dài hàng nghìn câu)... là những sản phẩm văn hoá vật thể và phi vật thể

quý giá, trong đó “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên” đã được tổ chức

61

UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản văn hóa phi vật thể của nhân

loại. Tất cả các truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc tạo nên sự đa dạng,

phong phú về văn hóa của Đắk Lắk. Các lễ hội đáng chú ý gồm có Lễ mừng lúa

mới, Lễ bỏ mả, Lễ hội đâm trâu, Lễ cúng Bến nước, Lễ hội đua voi, Lễ hội Cồng

chiêng và Lễ hội cà phê...

2.2. HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC QUYỀN CON NGƯỜI Ở ĐẮK LẮK

HIỆN NAY

2.2.1. Hoạt động giáo dục quyền con người trong trường học

2.2.1.1. Giáo dục quyền con người trong các trường mầm non

Giáo dục quyền con người là một trong những nội dung quan trọng của giáo

dục toàn diện, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ và là việc cần phải tiến hành một cách

nghiêm túc từ tuổi mẫu giáo. Có thể coi trẻ mẫu giáo là thời kỳ hoàng kim của giáo

dục quyền con người. Ở lứa tuổi này, tâm hồn trẻ rất nhạy cảm, dễ xúc động đối với

con người, cảnh vật xung quanh, trí tưởng tượng của trẻ bay bổng và phong phú.

Hiện nay, trong các trường mầm non, thông qua các “tiết học” tạo hình, múa hát,

đóng kịch…, các em đã bắt đầu được tiếp xúc với quyền con người, mà cụ thể là

quyền trẻ em.

Giáo dục quyền con người trong các trường mầm non có mối quan hệ hữu cơ

với tình hình phát triển giáo dục mầm non nói chung. Ở Đắk Lắk, giáo dục mầm

non thời gian qua đã có những phát triển ấn tượng. Toàn tỉnh Đăk Lăk hiện có 294

trường mầm non. Năm học 2015 – 2016, tỷ lệ trẻ 5 tuổi ra lớp đạt trên 98%, có 99%

số trẻ được học 2 buổi/ngày, 79,5% trẻ được ăn bán trú tại trường; tỷ lệ trẻ suy dinh

dưỡng chiều cao, cân nặng giảm so với đầu năm học. Đến nay, tỉnh có 182/184 xã

được công nhận đạt chuẩn phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi theo quy định [59].

Tuy nhiên, công tác giáo dục phổ cập giáo dục mầm non ở Đăk Lăk vẫn còn

gặp nhiều khó khăn, là thách thức gây trở ngại cho công tác giáo dục mầm non nói

chung, trong đó có giáo dục nhân quyền, như: Tỷ lệ trẻ nhà trẻ ra lớp thấp, mới chỉ

đạt 13% (bằng một nửa bình quân cả nước); tỷ lệ giáo viên mầm non/lớp thiếu so

với quy định, cơ sở vật chất ở một số trường chưa đáp ứng được nhu cầu ra lớp cho

trẻ mầm non; số lớp ghép 2- 3 độ tuổi còn cao; việc phân lớp trẻ theo độ tuổi thực

hiện chương trình giáo dục mầm non, duy trì trẻ đi học chuyên cần còn bất cập.

Bên cạnh đó, nếu đứng về đối tượng giáo dục quyền con người là các giáo

viên mầm non, thì việc giáo dục quyền con người cho đối tượng này là một việc

làm hết sức cấp thiết hiện nay. Ở nhiều nơi, không cứ gì Đắk Lắk ngày càng nhiều

62

vụ bạo hành trẻ em diễn ra gần đây được phát hiện [như tại nhà trẻ Phương Anh

(quận Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh), hai bảo mẫu Lê Thị Đông Phương và Nguyễn Lê

Thiên Lý hành hạ dã man các cháu mầm non, hay vụ bảo mẫu Hồ Ngọc Nhờ (cũng

ở quận Thủ Đức) đã nhẫn tâm đạp chết một cháu bé vì cháu không chịu ăn], một lần

nữa gióng lên hồi chuông cảnh báo về việc vi phạm quyền trẻ em và tầm quan trọng

của việc giáo dục các quyền con người, trong đó có quyền trẻ em cho các giáo viên

mầm non. Trẻ em là đối tượng dễ bị tổn thương và ít có khả năng tự bảo vệ mình.

Vì vậy, để bảo vệ các em trước tiên phải giáo dục quyền con người và nâng cao ý

thức của các giáo viên mầm non về tôn trọng bảo vệ quyền.

2.2.1.2. Giáo dục nhân quyền trong các nhà trường phổ thông

Mặc dù nhân quyền không phải là một phạm trù dễ hiểu, nhưng việc giáo dục

nhân quyền với mức độ nhất định và bằng các phương pháp phù hợp trong các nhà

trường phổ thông là cần thiết và có thể thực hiện được. Thực tế trên thế giới đã

chứng minh tính hữu ích và hiệu quả của việc hình thành nhận thức và thái độ tôn

trọng quyền con người của các cá nhân ngay từ khi còn trẻ thông qua việc triển khai

giáo dục nhân quyền cho học sinh phổ thông.

Xuất phát từ thực tế kể trên, nhiều quốc gia trên thế giới đã có chương trình

giáo dục về quyền con người dành cho cho trẻ em từ lứa tuổi rất nhỏ [Xem thêm tại

http://www.unhchr.ch/html/menu6/1/initiatives.htm.]. Về vấn đề này, xét ở góc độ

nhất định, giáo dục nhân quyền cũng đã được thực hiện từ lâu trong các nhà trường

phổ thông ở Việt Nam nói chung, Đắk Lắk nói riêng. Tuy nhiên, kể từ khi Đổi mới

đến nay, hoạt động giáo dục nhân quyền trong các nhà trường phổ thông ở Việt

Nam nói chung đã được tăng cường thêm một bước mới, với việc lồng ghép nhiều

nguyên tắc và tiêu chuẩn cụ thể của luật nhân quyền quốc tế vào chương trình giáo

dục của các nhà trường, đặc biệt là trong môn học Đạo đức và Giáo dục công

dân (thực hiện ở các cấp phổ thông từ I, II đến III). Cụ thể như sau:

Đối với học sinh tiểu học (cấp I), môn học Đạo đức đã bao gồm các bài học

nhằm hướng dẫn các em tôn trọng người khác như: tôn trọng khách nước ngoài, tôn

trọng thư từ, tài sản của người khác (Lớp 3); tôn trọng phụ nữ (Lớp 5) [8]…Trong

các bài học này, tuy các khái niệm cụ thể về quyền chưa được sử dụng (chẳng hạn

khi nói về tôn trọng phụ nữ thì mới nêu các lý do về đạo đức, xã hội chứ chưa đề

cập đền "quyền của phụ nữ") và các kiến thức, thông tin chuyển tải mới ở mức độ

đơn giản, nhưng rõ ràng thông qua các bài học kể trên, học sinh có thể hiểu được

một số nguyên tắc cơ bản của quyền con người và nghĩa vụ tôn trọng các quyền con

63

người của các nhóm đối tượng có liên quan.

Ở cấp trung học cơ sở phổ thông (cấp II), số lượng bài học về quyền con người

trong chương trình học đã nhiều hơn, các bài học chứa đựng những kiến thức rộng và

sâu hơn về quyền con người. Mặc dù vậy, tương tự như ở cấp tiểu học, các bài học về

quyền con người ở cấp trung học cơ sở vẫn được thiết kế thông qua những bối cảnh

sinh hoạt hàng ngày và phù hợp với nhận thức xã hội của học sinh theo từng độ tuổi,

để giúp các em có thể hiểu được các khái niệm và phạm trù đôi khi khá phức tạp trên

lĩnh vực này. Cụ thể, các bài học về quyền con người trong môn học Giáo dục công

dân của học sinh phổ thông cấp II được thiết kế như sau [4]:

Trong môn học Giáo dục công dân Lớp 6 (tổng số 21 bài) có các bài: Công

ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em (bài 12), Công dân nước CHXHCN Việt

Nam (bài 13), Quyền và nghĩa vụ học tập (bài 15), Quyền được pháp luật bảo vệ về

tính mạng, thân thể, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm (bài 16), Quyền bất khả xâm

phạm về chỗ ở (bài 17), Quyền được bảo đảm an toàn và bí mật thư tín, điện thoại,

điện tín (bài 18).

Trong môn học Giáo dục công dân Lớp 7 (tổng số 18 bài) có các bài: Quyền

được chăm sóc và giáo dục của trẻ em Việt Nam (bài 13), Quyền tự do tín ngưỡng

và tôn giáo (bài 16), Nhà nước CHXHCN Việt Nam (bài 17).

Trong môn học Giáo dục công dân Lớp 8 (tổng số 21 bài) có các bài: Quyền

và nghĩa vụ của công dân trong gia đình (bài 12), Quyền sở hữu tài sản và nghĩa vụ

tôn trọng tài sản của người khác (bài 16), Quyền khiếu nại, tố cáo của công dân (bài

18), Quyền tự do ngôn luận (bài 19), Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam (bài 20),

Pháp luật nước CHXHCN Việt Nam (bài 21).

Trong môn học Giáo dục công dân Lớp 9 (tổng số 18 bài) có các bài: Quyền

và nghĩa vụ của công dân trong hôn nhân (bài 12), Quyền tự do kinh doanh và nghĩa

vụ đóng thuế (bài 13), Quyền và nghĩa vụ lao động của công dân (bài 14), Quyền

tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội của công dân (bài 16).

Trong chương trình giáp dục cấp III, môn học Giáo dục công dân đã mang

tính lý thuyết và tính khái quát khá cao, nhiều nội dung tương đối trừu tượng với

lứa tuổi thiếu niên. Chương trình Lớp 10 có đề cập đến một số nghĩa vụ của công

dân nhưng chủ yếu từ khía cạnh đạo đức (đối với cộng đồng, với xây dựng và bảo

vệ Tổ quốc), Lớp 11 có các bài: Nhà nước xã hội chủ nghĩa (bài 9), nền dân chủ xã

hội chủ nghĩa (bài 10). Các kiến thức về quyền con người tập trung nhiều hơn ở

chương trình giáo dục công dân Lớp 12, theo đó học sinh được tiếp cận với nhiều

64

nội dung liên quan đến quyền công dân như bài Hiến pháp, các quyền trong lĩnh

vực dân sự (trong bài Luật dân sự), các quyền trong tố tụng và một số quyền trong

các lĩnh vực cụ thể như đất đai, thuế, hành chính... [4]

Bên cạnh môn học Giáo dục công dân, một số tác giả cho rằng trong các

môn học Sinh học, Địa lý, Lịch sử cũng cần đưa vào những nội dung về quyền con

người, tuy nhiên thực tế ở Việt Nam cho thấy, việc lồng ghép các nội dung về

quyền trong các môn học khó thực hiện một cách cụ thể và mang tính hệ thống như

trong môn Giáo dục công dân.

Từ những thông tin kể trên, có thể thấy dung lượng kiến thức về quyền con

người trong chương trình giáo dục phổ thông ở Việt Nam là khá lớn so với mặt

bằng chung trên thế giới. Một điểm tích cực nữa là việc thiết kế các bài học về

quyền trong chương trình giáo dục công dân ở Việt Nam đã tính đến trình độ nhận

thức và tâm lý của học sinh ở từng độ tuổi. Những điều này cho thấy sự quan tâm

của Đảng và Nhà nước Việt Nam với hoạt động giáo dục về quyền con người, cũng

như cho thấy triển vọng tốt đẹp của hoạt động giáo dục về quyền con người ở các

nhà trường phổ thông ở Việt Nam. Đối với Đắk Lắk, những năm qua, nền giáo dục

phổ thông nói chung đạt được những thành tựu đánh kể. Tính đến thời điểm ngày

30/9/2011, trên địa bàn toàn tỉnh Đắk Lắk có 695 trường học ở cấp phổ thông, trong

đó: Trung học phổ thông có 52 trường, Trung học cơ sở có 221 trường, Tiểu học có

417 trường và 5 trường phổ thông cơ sở. Tính đến hết năm 2012, tỷ lệ trường đạt

chuẩn quốc gia đạt 26%; có 90,23% thôn, buôn có trường hoặc lớp mẫu giáo. Số

lượng học sinh đến trường tiếp tục tăng, các mục tiêu về chuẩn phổ cập giáo dục

mầm non cho trẻ 5 tuổi, chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, chuẩn phổ

cập trung học cơ sở đều đạt kế hoạch đề ra. Chất lượng giáo dục có bước tiến bộ, cơ

sở vật chất trường, lớp học tiếp tục được tăng cường, kiên cố hóa. Năm học 2013 -

2014, toàn tỉnh tăng 18 trường so với năm học 2012 - 2013. Tỷ lệ trường chuẩn

Quốc gia ước đạt 29%. Đến 2015, có 164/184 xã phường, thị trấn đạt phổ cập giáo

dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi, đạt 89,13%, tăng 36,42% so với cùng kỳ năm 2013.

Kết quả tốt nghiệp THPT đạt 97,98%, tăng 2% so với năm trước; tốt nghiệp GDTX

đạt 85,43%, tăng 29% so với năm trước. Kết quả đào tạo học sinh giỏi được nâng

cao qua các kỳ thi khu vực và Quốc gia [51]. Với hệ thống trường học như thế, nền

giáo dục trong địa bàn tỉnh Đắk Lắk đã tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu

nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh, tạo tiền đề cho sự ổn định và phát triển của khía

65

cạnh giáo dục nhân quyền những năm tiếp theo.

Mặc dù vậy, một trong các hạn chế quan trọng của hoạt động giáo dục nhân

quyền trong các nhà trường phổ thông ở Việt Nam nói chung, ở Đắc Lắk nói riêng

hiện nay là hiểu biết và phương pháp giảng dạy về quyền con người của giáo viên.

Về khía cạnh hiểu biết, hầu hết giáo viên môn học Giáo dục công dân ở các cấp học

phổ thông ở Việt Nam đều chưa được đào tạo hay tập huấn về quyền con người;

tình trạng đó chắn chắn có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giảng dạy các bài

học về nhân quyền. Về khía cạnh phương pháp, hơn bất kỳ môn khoa học xã hội

nào khác, giáo dục nhân quyền đòi hỏi giáo viên cần áp dụng phương pháp giảng

dạy đặc thù (phương pháp giáo dục cùng tham gia – participatory teaching

methods), trong khi các nhà trường phổ thông ở Việt Nam hiện vẫn áp dụng phổ

biến phương pháp giảng dạy truyền thống (còn gọi là phương pháp giáo dục áp đặt

– banking education). Việc sử dụng phương pháp giáo dục truyền thống làm giảm

một cách đáng kể hiệu quả của hoạt đông giáo dục nói chung, hoạt động giáo dục

nhân quyền nói riêng vì phương pháp giảng dạy truyền thống thông thường biến các

tiết học về quyền con người thành các buổi thuyết giảng một chiều, khô cứng về

đạo đức và luân lý.

Một vấn đề tồn tại nữa liên quan đến tài liệu và phương tiện học tập. Hoạt

động giáo dục nói chung, giáo dục nhân quyền nói riêng muốn đạt được kết quả cao

đòi hỏi người giảng viên phải được cung cấp các tài liệu tham khảo và công cụ

giảng dạy thích hợp. Xét giáo dục nhân quyền, ở nhiều nước trên thế giới, ngoài

giáo trình, giảng viên được cung cấp thêm các sách chuyên khảo, sách hướng dẫn

về giảng dạy quyền con người và các loại giáo cụ đặc thù như bộ tranh tìm hiểu về

các quyền, băng đĩa phim hoạt hình về quyền…Các yếu tố này hiện chưa có điều

kiện đáp ứng trong bối cảnh của Việt Nam nói chung, Đắk Lắk nói riêng.

2.2.2. Hoạt động giáo dục quyền con người bên ngoài trường học

Giáo dục nhân quyền không chỉ bao gồm các hoạt động giảng dạy ở nhà

trường mà còn bao gồm các hoạt động bên ngoài hệ thống giáo dục trên địa bàn

tỉnh. Có thể phân thành 3 nhóm hoạt động chính.

- Nhóm hoạt động tập huấn, phổ biến về quyền con người: nhóm hoạt động

này chủ yếu được diễn ra trong “ngành dọc” nhằm nâng cao năng lực nhận thức và

khả năng công tác cho những chủ thể trong hệ thống. Hoạt động giáo dục nhân

quyền này được thực hiện ở nước ta, bởi nhiều chủ thể như các cơ quan giáo dục về

quyền, các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, nhằm vào nhiều dạng đối tượng

66

như các đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, cán bộ an ninh, cảnh sát,

cán bộ quản lý trại giam, người làm công tác xã hội, cán bộ của các đoàn thể xã hội,

giáo viên, thành viên của các nhóm xã hội dễ bị tổn thương…Nội dung tập huấn,

tuyên truyền khá đa dạng, bao gồm các vấn đề lý luận về quyền con người nói

chung, các tiêu chuẩn quốc tế và quy định quốc gia về quyền con người..., tuy

nhiên, các nội dung liên quan đến quyền con người của một số nhóm xã hội dễ bị

tổn thương (phụ nữ, trẻ em, người thiểu số, người sống chung với HIV/AIDS…)

chiếm dung lượng lớn. Các hoạt động tập huấn, tuyên truyền về quyền con người

theo kênh này thường được thực hiện trong khuôn khổ các dự án hợp tác giữa một

số bộ, ngành, tổ chức xã hội, cơ sở đào tạo ở Việt Nam với các nhà tài trợ nước

ngoài (bao gồm các tổ chức quốc tế, các cơ quan viện trợ quốc gia, các đại sứ quán

nước ngoài…).

Hoạt động tập huấn, phổ biến về quyền con người thường diễn ra theo chủ

đề, bởi các chủ đề có liên quan. Cụ thể, các cơ quan Nhà nước ở tỉnh thường tập

huấn nâng cao kiến thức về quyền con người liên quan đến lĩnh vực chuyên môn

của ngành cho các cán bộ trong hệ thống ngành dọc của mình (ví dụ, Tòa án nhân

dân tỉnh tập huấn cho các Thẩm phán về bảo đảm quyền con người trong hoạt động

xét xử, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh tập huấn cho các Kiểm sát viên về bảo đảm

quyền con người trong hoạt động truy tố và hoạt động tố tụng hình sự nói chung,

Công an tỉnh tập huấn cho các cán bộ công an về các tiêu chuẩn về quyền con người

của các quan chức thực thi pháp luật…). Tương tự, các tổ chức xã hội ở tỉnh cũng

hướng vào việc nâng cao kiến thức về quyền con người có liên quan cho các thành

viên của tổ chức mình (Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh Đắk Lắk tập trung vào các nội

dung về quyền phụ nữ, bình đẳng giới, phòng chống bạo lực gia đình cho phụ nữ,

Liên đoàn lao động tỉnh hướng vào phổ biến kiến thức về các quyền về lao động,

việc làm cho người lao động; Hội Luật gia tỉnh tổ chức tập huấn nâng cao kiến thức

về quyền con người cho các luật gia…).

- Nhóm các hoạt động giáo dục quyền con người thông qua chương trình

tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung của chính quyền địa

phương: Trên cơ sở chương trình của cơ quan nhà nước ở Trung ương (chủ yếu là

Chính phủ), hàng năm, UBND tỉnh thường ra Quyết định ban hành kế hoạch phổ

biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh, hoặc ban hành quyết định phổ biến, giáo

dục pháp luật theo chủ đề, được gọi là Đề án. Trên cơ sở đó, trách nhiệm tổ chức

thực hiện được phân giao cho các sở, ban ngành, đoàn thể các cấp. Trong công tác

67

phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung ở tỉnh Đắk Lắk, vai trò quan trọng được đặt

vào Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh, huyện, và Sở, Phòng Tư

pháp. Nội dung quyền con người thường được giáo dục một cách gián tiếp thông

qua phổ biến quy định Hiến pháp 2013, các văn bản luật liên quan nhiều đến quyền

con người, quyền công dân như: Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng chống bạo lực gia

đình, Pháp lệnh bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Bộ luật lao động; Luật Bảo

hiểm y tế, Luật Bảo hiểm xã hội; các Đề án thuộc Chương trình hành động về phổ

biến giáo dục pháp luật giai đoạn 2012-2016 của Chính phủ (ban hành kèm theo

Quyết định số 409/QĐ-TTg ngày 09/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết

định số 2464/QĐ-UBND ngày 26/10/2012 của UBND tỉnh), ví dụ như: Đề án 01

“Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người dân nông thôn và đồng bào dân tộc

thiểu số”; Đề án 03 “Nâng cao chất lượng công tác PBGDPL trong nhà trường”;

Đề án 04 “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người lao động và người sử dụng

lao động trong các loại hình doanh nghiệp”; Đề án “Tiếp tục tăng cường công tác

PBGDPL về khiếu nại, tố cáo ở xã, phường, thị trấn giai đoạn 2013 - 2016”; Đề án

“Tăng cường công tác PBGDPL nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu

niên giai đoạn 2011 - 2015”; Đề án "Đẩy mạnh phổ biến nội dung cơ bản của

Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và pháp luật Việt Nam về các

quyền dân sự, chính trị cho cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân" trên địa bàn

tỉnh giai đoạn 2016 – 2020 (ban hành kèm theo Quyết định số 3023/QĐ-UBND

ngày 13/11/2015 của UBND tỉnh Đắk Lắk). Nhóm hoạt động này chủ yếu hướng

tới đại bộ phận nhân dân ở tỉnh nên có sức lan tỏa rộng.

- Giáo dục quyền con người cho nhân dân thông qua hoạt động chuyên

môn của cơ quan bảo vệ pháp luật như Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân

dân: Hoạt động giáo dục quyền con người theo nhóm này được thực hiện tập trung

nhất trong quá trình tố tụng, nhất là tại phiên tòa xét xử.

Theo Hiến pháp 2013, Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà

xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp; Tòa án nhân dân có nhiệm vụ

bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ

nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân

(Điều 102); Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư

pháp; có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo

vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp

của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và

68

thống nhất (Điều 107). Bằng hoạt động chuyên môn của mình, cán bộ, công chức

Tòa án, Viện kiểm sát trực tiếp diễn giải, áp dụng quy định về quyền con người,

quyền công dân vào quá trình tố tụng, hay tại phiên xét xử, các bên được tranh luận

công khai, sử dụng các quyền, các biện pháp hỗ trợ được quy định để bảo vệ quyền,

lợi ích chính đáng của mình. Cuối cùng, một phán quyết công minh của Tòa án

nhân dân sẽ được tuyên áp dụng, thi hành, qua đó, ý thức pháp luật nói chung, ý

thức pháp luật về quyền con người, quyền công dân nói chung sẽ được nâng lên rõ

rệt. Tổng kết công tác xét xử năm 2015 của ngành Tòa án tỉnh Đắk Lắk cho thấy,

Tòa án hai cấp thụ lý 9.650 vụ việc các loại; đã giải quyết 9.266 vụ việc; đạt tỷ lệ

96,02%. Trong đó các Tòa chuyên trách, Phòng giám đốc kiểm tra thuộc Tòa án

nhân dân tỉnh thụ lý 1.033 vụ việc; giải quyết 1.031 vụ việc; Tòa án nhân dân cấp

huyện thụ lý 8.617 vụ việc; giải quyết 8.235 vụ việc. So với cùng kỳ năm 2014, số

vụ việc thụ lý tăng 531 vụ việc; số vụ việc đã giải quyết tăng 626 vụ việc. Công tác

giải quyết các loại vụ án của Tòa án hai cấp trong năm 2015 đều vượt chỉ tiêu, kế

hoạch công tác đã đề ra, các vụ án cơ bản đều được đưa ra xét xử đúng pháp luật.

Việc nâng cao chất lượng tranh tụng tại Tòa án được triển khai sâu rộng, đảm bảo

cho người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền, nghĩa vụ của họ, đặc biệt

trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ

trước Tòa án. Người bào chữa được tạo điều kiện thuận lợi trong tham gia tố tụng

tại Tòa án: việc cấp giấy chứng nhận người bào chữa, giấy chứng nhận người bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự luôn được Tòa án hai cấp thực hiện kịp

thời, đúng quy định của pháp luật; gửi gấy báo đúng thời gian quy định để có đủ

điều kiện chuẩn bị và tham gia phiên tòa. Để nâng cao chất lượng xét xử, Ban cán

sự Đảng và lãnh đạo Tòa án nhân dân tỉnh đã quán triệt, chấn chỉnh việc nghiên cứu

hồ sơ, chuẩn bị cho phiên xét xử. Hội đồng xét xử đã chú trọng xây dựng kế hoạch

xét hỏi và tranh luận, đảm bảo cho các bên tham gia tố tụng bình đẳng trong việc

trình bày toàn bộ ý kiến liên quan đến việc giải quyết vụ án, đưa ra các chứng cứ,

yêu cầu và tranh luận dân chủ tại phiên tòa. Phán quyết của Hội đồng xét xử đều

căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng và trên cơ sở xem xét toàn diện, khách quan

các chứng cứ của vụ án được thẩm tra tại phiên toà. Vì vậy, chất lượng xét xử các

loại vụ án của Toà án nhân dân hai cấp được nâng cao [47]. Đây là những kết quả

cụ thể nhằm đạt được mục đích giáo dục quyền con người thông qua hoạt động tư

pháp ở Đắk Lắk.

Nhìn chung, hoạt đông hoạt động giáo dục nhân quyền bên ngoài hệ thống

69

nhà trường ở Việt Nam nói chung, ở Đắk Lắk nói riêng khá sôi động, phong phú và

ở mức độ nhất định, mang tính “chuyên nghiệp” hơn so với hoạt động giáo dục

nhân quyền trong hệ thống nhà trường. Đó là bởi khác với giáo dục nhân quyền

trong hệ thống nhà trường, hoạt động giáo dục nhân quyền bên ngoài có sự tham gia

của rất nhiều chủ thể, hướng vào rất nhiều vấn đề và khía cạnh của quyền con

người, nội dung giáo dục gắn liền với thực tế và mang tính “ứng dụng” hơn. Tính

chuyên nghiệp thể hiện ở chỗ phương pháp giảng dạy cùng tham gia đã được sử

dụng phổ biến trong giáo dục nhân quyền ngoài nhà trường, đội ngũ giảng viên

được “cọ xát” và học hỏi kinh nghiệm từ các chuyên gia nước ngoài nên năng động

và ít “giáo điều”, cứng nhắc như giáo viên, giảng viên ở các trường học, trường đại

học; tài liệu bổ trợ và phương tiện trợ giúp giảng dạy hiện đại hơn do được cung cấp

bởi các nhà tài trợ. Nói cách khác, tuy vẫn còn những hạn chế nhất định, hoạt động

giáo dục nhân quyền ở ngoài xã hội ở Việt Nam có sự chuyển biến theo hướng hiện

đại hóa nhanh hơn so với giáo dục nhân quyền trong hệ thống nhà trường.

2.3. NHỮNG THÀNH TỰU, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN TRONG

GIÁO DỤC VỀ QUYỀN CON NGƯỜI Ở ĐẮK LẮK HIỆN NAY.

2.3.1. Những thành tựu

Xét từ bình diện quốc gia, thành tựu nổi bật của Việt Nam trên lĩnh vực nhân

quyền trước hết là việc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật, bao gồm cả

Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013, pháp lệnh, nghị định, hướng vào việc

xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Theo thống kê, từ năm 1986 đến

nay, Quốc hội Việt Nam đã thông qua trên 80 bộ luật các luật, trong đó có những

bộ luật lớn trực tiếp bảo đảm các quyền con người như: Bộ luật Hình sự, Bộ luật

Tố tụng hình sự; Bộ luật Lao động; Luật đầu tư, Luật Đất đai; Luật Bảo vệ, Chăm

sóc và Giáo dục trẻ em; Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo; Luật Bình đẳng giới, Luật

Phòng chống bạo lực gia đình,...

Trong thời gian vừa qua, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu trong giáo dục

quyền con người. Thành tựu này có được là nhờ đường lối, chính sách đúng đắn,

kịp thời của Đảng và Nhà nước. Gần đây nhất, có thể kể đến Quyết định số

366/QĐ-TTg ngày 14/03/2011 ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số

44-CT/TW ngày 20/7/2010 của Ban Bí thư về công tác nhân quyền trong tình hình

mới, và Quyết định số 3821/QĐ-BTP ngày 12/09/2011 của Bộ Tư pháp phê duyệt

Đề án tổng thể “Thực hiện Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/7/2010 của Ban Bí thư về

công tác nhân quyền trong tình hình mới và thực hiện các khuyến nghị được Hội

70

đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thông qua theo cơ chế kiểm điểm định kỳ (UPR)”,

trong đó có nhiệm vụ “Xây dựng và triển khai kế hoạch tuyên truyền, phổ biến,

giáo dục pháp luật trong nước về quyền con người”. Tiểu Đề án “Tuyên truyền,

phổ biến, giáo dục pháp luật trong nước về quyền con người” cũng đã được thông

qua tại Quyết định số 1875/QĐ-BĐH của Bộ Tư pháp ngày 28/06/2012 cho giai

đoạn 2012 – 2014. Thực hiện đề án, công tác giáo dục quyền con người đã đạt

được nhiều thành tựu chính như sau:

Thứ nhất: Biên soạn các tài liệu pháp luật phục vụ hoạt động phổ biến, giáo

dục pháp luật về quyền con người phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến, tập

huấn, bồi dưỡng. Các tài liệu này đã được biên soạn như:

- Sách nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người;

- Tài liệu bồi dưỡng kiến thức pháp luật, nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp

luật về quyền con người cho cán bộ, công chức, viên chức;

- Sổ tay tìm hiểu pháp luật về quyền con người [7];

- Tài liệu pháp luật phục vụ tuyên truyền trên hệ thống loa truyền thanh cơ

sở (tiếng Việt và tiếng dân tộc thiểu số);

- Tờ gấp phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người, tập trung một số

đối tượng cụ thể là phụ nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người

cao tuổi…

Thứ hai: Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên các tổ

chức đoàn thể và người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số đã được tổ chức

bồi dưỡng, tập huấn kiến thức pháp luật và nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật

về quyền con người.

Bộ Tư pháp cùng các cơ quan cấp Trung ương của các tổ chức như Hội Bảo

vệ quyền trẻ em Việt Nam, Hội Bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi Việt Nam, Hội

Người cao tuổi Việt Nam, Hội Cứu trợ trẻ em tàn tật, Hội Người mù, Hội nạn nhân

chất độc da cam/Dioxin Việt Nam và các cơ quan liên quan đã tổ chức bồi dưỡng,

tập huấn cho đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp trung ương của các tổ chức, đoàn thể;

đồng thời đã phối hợp với Ủy ban Dân tộc và các cơ quan liên quan tổ chức tập

huấn, bồi dưỡng cho đối tượng là người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số

(theo Quyết định số 18/2011/QĐ-TTg ngày 18/03/2011 của Thủ tướng Chính phủ).

Cùng với các tỉnh, Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức bồi dưỡng cho đội

ngũ Lãnh đạo các Sở, ban, ngành, tổ chức đoàn thể thuộc tỉnh, Lãnh đạo của Ủy

ban nhân dân huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, báo cáo viên pháp luật cấp tỉnh,

71

cấp huyện; đồng thời, đã hướng dẫn các Sở, ban, ngành, huyện, thị xã, thành phố

thuộc tỉnh và các tổ chức đoàn thể tổ chức bồi dưỡng cho cán bộ, công chức, viên

chức, hội viên của tổ chức.

Phòng Tư pháp các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đã tổ chức bồi dưỡng

cho cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan, đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân

huyện; cán bộ, công chức cấp xã; Trưởng thôn, Già làng, Trưởng bản, Tổ trưởng

Tổ dân phố và cán bộ chủ chốt của các tổ chức đoàn thể trên địa bàn.

Thứ ba: Tổ chức thực hiện một số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật

về quyền con người tại các xã thuộc huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-

CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và

bền vững đối với các huyện nghèo, với các nội dung phong phú như:

- Lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người vào sinh hoạt

của Câu lạc bộ pháp luật tại cơ sở, bao gồm:

+ Bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật và

kiến thức pháp luật về quyền con người cho Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ;

+ Đa dạng hóa các hình thức sinh hoạt của Câu lạc bộ pháp luật tìm hiểu về

quyền con người như: tổ chức thi hái hoa dân chủ, mời báo cáo viên pháp luật phổ

biến trực tiếp, phát hành tài liệu pháp luật, tổ chức sinh hoạt văn hóa, văn nghệ,

sáng tác văn thơ, bài hát để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền

con người…

- Lồng ghép phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người vào hoạt động

của tổ hòa giải ở cơ sở:

+ Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật về

quyền con người thông qua công tác hòa giải cho đội ngũ hòa giải viên;

+ Cung cấp tài liệu pháp luật, xây dựng các tình huống hòa giải liên quan

đến pháp luật về quyền con người làm tài liệu mẫu cho hòa giải viên.

- Tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật lưu động, trực tiếp những nội dung

pháp luật về quyền con người có liên quan mật thiết với đời sống của người dân cơ

sở.

Thứ tư: Thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền con người trên các

phương tiện thông tin đại chúng và hệ thống loa truyền thanh cơ sở

Sơ Tư pháp, Sở Thông tin và Truyền thông, các cơ quan báo chí của tỉnh

Đăk Lăk đã tổ chức thực hiện các chuyên trang, chuyên mục phổ biến, giáo dục

pháp luật về quyền con người, trong đó tập trung giới thiệu, giải đáp, đăng tải các

72

tin, bài, hình ảnh, phóng sự về việc thực hiện pháp luật về quyền con người; biểu

dương đối với các cá nhân, tập thể tích cực trong việc thực hiện pháp luật về quyền

con người và lên án, đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật về quyền con

người.

Thứ năm: Lồng ghép việc dạy và học kiến thức pháp luật về quyền con

người vào chương trình học môn giáo dục công dân, môn pháp luật trong nhà

trường, việc học tập pháp luật, giáo dục công dân của phạm nhân, học văn hóa của

học sinh trường giáo dưỡng.

- Bộ Tư pháp, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện các hoạt động sau:

+ Rà soát chương trình, tài liệu, sách giáo khoa môn giáo dục công dân,

pháp luật liên quan đến việc học tập và giảng dạy pháp luật về quyền con người;

+ Biên soạn tài liệu tham khảo phục vụ việc dạy và học tập pháp luật về

quyền con người cho đội ngũ nhà giáo và người học.

- Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng đã hướng dẫn, chỉ đạo lồng ghép

việc học tập pháp luật về quyền con người trong chương trình học tập pháp luật,

giáo dục công dân của phạm nhân, học văn hóa của học sinh trường giáo dưỡng

thông qua các hoạt động:

+ Tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật về quyền con người cho

đội ngũ cán bộ thực hiện việc dạy pháp luật, giáo dục công dân cho phạm nhân,

giáo viên trường giáo dưỡng;

+ Biên soạn tài liệu tham khảo phục vụ việc dạy và học pháp luật, giáo dục

công dân về quyền con người cho phạm nhân và học sinh trường giáo dưỡng.

Thứ sáu: Tổ chức hội thảo, tọa đàm, các sự kiện nhằm nâng cao nhận thức

chung của cộng đồng về quyền con người

Các diễn đàn, hội nghị, hội thảo, tọa đàm, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm đã

được tổ chức nhằm đẩy mạnh việc thực hiện pháp luật về quyền con người; các

phong trào, các sự kiện có ý nghĩa thiết thực, tác động trực tiếp tới nhận thức chung

của cộng đồng về việc bảo đảm và thực hiện quyền con người đối với từng đối

tượng cụ thể, gắn với các sự kiện như: Tháng hành động vì trẻ em, Ngày Người cao

tuổi, Ngày quốc tế phụ nữ...

Thứ bảy: Vấn đề xây dựng nhà nước pháp quyền, bảo vệ quyền con người,

quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013 đang được phổ biến và nhận thức ngày

càng sâu rộng trong nhân dân, đang được vận dụng như một nguyên tắc hoạt động

73

của bộ máy nhà nước, cán bộ, công chức.

Đợt lấy ý kiến nhân dân về dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 2013, sau đó là

tuyên truyền, phổ biến nội dung Hiến pháp là một đợt sinh hoạt chính trị, pháp lý

rộng lớn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, đã góp phần nâng cao nhận thức của người dân

về pháp quyền, về bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

2.3.2. Những tồn tại

Bên cạnh những thành tựu đạt được, giáo dục quyền con người ở nước ta nói

chung, Đắk Lắk nói riêng trong thời gian qua cũng bộc lộ và phát sinh những tồn

tại sau:

- Việc giảng dạy tại các cơ sở đào tạo

Chương trình giáo dục quyền con người trong hệ thống giáo dục quyền con

người chưa đáp ứng được yêu cầu. Chúng ta mới có chương trình chính thức các

môn học như đạo đức, giáo dục công dân, pháp luật đại cương... mà chưa có

chương trình chính thức về giáo dục quyền con người để áp dụng giảng dạy trong

các trường học từ cấp tiểu học đến các cấp cao hơn. Để thực hiện hoạt động giáo

dục quyền con người cũng đòi hỏi phải có cán bộ giảng dạy, tuy nhiên, hiện nay

mới chỉ có giáo viên dạy giáo dục công dân, giảng dạy pháp luật, các nhà nghiên

cứu về quyền con người chứ chưa có giáo viên giảng dạy về quyền con người (nếu

có là kiêm nhiệm).

Một vấn đề tồn tại nữa liên quan đến tài liệu và phương tiện học tập. Hoạt

động giáo dục nói chung, giáo dục nhân quyền nói riêng muốn đạt được kết quả cao

đòi hỏi người giảng viên phải được cung cấp các tài liệu tham khảo và công cụ

giảng dạy thích hợp. Xét giáo dục nhân quyền, ở nhiều nước trên thế giới, ngoài

giáo trình, giảng viên được cung cấp thêm các sách chuyên khảo, sách hướng dẫn

về giảng dạy quyền con người và các loại giáo cụ đặc thù như bộ tranh tìm hiểu về

các quyền, băng đĩa phim hoạt hình về quyền…Các yếu tố này hiện chưa có điều

kiện đáp ứng trong bối cảnh của Việt Nam.

- Về mạng lưới trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học

Ở cấp độ đại học, ở nước ta, mới chỉ có một số cơ sở đào tạo đại học Luật đã

và đang triển khai nhiều hơn nội dung giảng dạy/môn học về nhân quyền.

Ở các trường cao đẳng, trung cấp, ngoài môn Pháp luật đại cương vốn đã ít

về thời lượng, gần như không có môn học nào có khả năng chuyển tải về nhân

quyền. Cả hai loại cơ sở đào tạo nêu trên, ở Đắk Lắk đều không có. Giáo dục nhân

74

quyền chủ yếu diễn ra ở trường học, diễn ra thông qua các chương trình tập huấn

của các tổ chức, ban ngành, thông qua phổ biến, giáo dục pháp luật và qua công tác

tư pháp (tố tụng).

- Về nhận thức xã hội

Mặc dù đã đáp ứng điều kiện thể chế và thiết chế, song có một thực tế đáng

buồn là quyền con người chưa được đưa vào giáo dục một cách chính thức, đầy đủ,

bài bản trong hệ thống giáo dục cũng như trong cộng đồng xã hội, do đó, nhận thức

về quyền con người của đại đa số người dân Việt Nam còn hạn chế. Sự nhận thức

hạn chế về quyền con người ở mỗi cá nhân đồng thời đã kéo theo tính thiếu chủ

động trong việc đấu tranh tự bảo vệ quyền con người của mỗi cá nhân đó, bởi

không biết về quyền con người thì không thể đấu tranh tự bảo vệ. Không ít trường

hợp chị em phụ nữ bị bạo hành trong gia đình nhưng âm thầm chịu đựng để níu giữ

sự tồn tại của gia đình, vì sợ điều tiếng, dư luận; hoặc những hiện tượng bạo hành

trẻ em hiện nay cũng đang làm nhức nhối dư luận xã hội.

Vấn đề giáo dục quyền con người đang rất cần được quan tâm bởi các chính

sách, biện pháp chúng ta ban hành nhằm đảm bảo quyền con người được thực hiện

rất tích cực nhưng sự tồn tại của quyền con người trong đời sống xã hội thì lại chưa

tương xứng. Vấn đề hạn chế trong nhận thức không chỉ xuất phát từ phía người dân

mà chính ngay từ phía cán bộ, công chức, đúng như nhận định của TS. Phạm Ngọc

Anh khi đánh giá về nhận thức của cán bộ, công chức về quyền con người: “Hiểu

biết về nhân quyền ở nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế, dẫn đến có những hành

động cố ý hoặc vô ý vi phạm các quyền hợp pháp của công dân, đặc biệt là ở một số

cơ quan công quyền và một số cơ quan tư pháp” [1]. Ở một số cơ quan chức năng,

một bộ phận cán bộ còn mang nặng ý thức ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ kinh phí từ

bên ngoài, chưa tích cực chủ động, chưa có sự quan tâm đúng mức, chưa phối hợp

chặt chẽ, chủ động để thực hiện tốt các hoạt động tuyên truyền giáo dục quyền con

người theo mục tiêu mà các kế hoạch hành động quốc gia đã đề ra.

Khi nhắc đến giáo dục quyền con người, cụ thể là quyền tự do tín ngưỡng,

tôn giáo, nhiều người dân thường tỏ thái độ “né tránh”. Và cũng vì lý do như vậy

mà thuật ngữ quyền con người trong đời sống xã hội còn là một vấn đề nhạy cảm,

chưa được đề cập nhiều từ các cơ quan, đơn vị đến người dân thường, dù chính

nhiều trong số đó đã làm được nhiều việc mà trong đó đã và đang đảm bảo quyền

con người trên thực tế. Từ đó để thấy rằng quan niệm, nhận thức về thuật ngữ quyền

75

con người của số đông cơ quan, đơn vị và người dân còn chưa đầy đủ thì khó đề cập

tới thực hiện giáo dục quyền con người. Vì thế, việc nhận thức vai trò việc giáo dục

quyền con người chưa thỏa đáng.

Ngoài ra, sự tồn tại của nhiều quan niệm, hủ tục lạc hậu từ thời kỳ phong

kiến hàng nghìn năm, sự chi phối của hệ tư tưởng phong kiến lấy đạo Khổng làm

chủ đạo; các phong tục, tập quán cổ hủ của người đồng bào dân tộc; trình độ dân trí

thấp cũng là một trở ngại cho việc thực hiện giáo dục quyền con người ở Việt Nam

nói chung và ở Đăk Lăk nói riêng. Vấn đề này dễ dàng nhận thấy trong lĩnh vực

quyền con người về bình đẳng giới và hôn nhân gia đình. Tư tưởng “trọng nam,

kinh nữ”, hạ thấp vai trò của người phụ nữ trong gia đình khó có thể thay đổi một

sớm, một chiều.

Những yếu tố trên ảnh hưởng lớn đến việc tổ chức thực hiện các hoạt động

giáo dục quyền con người, đồng thời, cũng sẽ quy định những đặc thù của hoạt

động này tại Việt Nam, như nhận định của TS. Nguyễn Thị Báo công tác Viện

Nghiên cứu Quyền con người, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí

Minh trên Tạp chí Cộng sản số 168 năm 2008 “Sự khác biệt về điều kiện lịch sử,

kinh tế, văn hóa, xã hội dẫn đến mỗi quốc gia có cách tiếp cận, phạm vi, mức độ,

phương pháp và hình thức giáo dục về quyền con người khác nhau.”

- Phạm vi giáo dục quyền con người

Việt Nam đã phê chuẩn hoặc gia nhập nhiều điều ước quốc tế về nhân quyền,

tuy nhiên, trong thực tế Việt Nam mới chỉ tập trung giáo dục, tuyên truyền, phổ

biến hai công ước là: "Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử

với phụ nữ" (công ước CEDAW) và “Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em”

(công ước CRC). Việc giáo dục quyền con người chưa gắn kết với nhau, ngay cả

trong một số trường hợp Công ước quốc tế đã được chuyển hóa thành luật quốc gia

như Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em và Luật bảo vệ chăm sóc và giáo

dục trẻ em. Khi tuyên truyền phổ biến, giáo dục thường chỉ chú ý đến tuyên truyền

giáo dục Công ước quốc tế nhiều hơn Luật quốc gia.

Ngay cả trong giáo dục quyền phụ nữ, quyền trẻ em dù đã có rất nhiều cố

gắng như vậy, thì vẫn còn những tồn tại. Chẳng hạn, việc giáo dục quyền phụ nữ

mới chủ yếu dừng lại ở cán bộ làm công tác quản lý, hội đoàn và một số vùng có

điều kiện thuận lợi, mà chưa được thực hiện sâu rộng trong toàn thể xã hội, nhất là

đối với phụ nữ ở vùng sâu, vùng xa và phụ nữ dân tộc thiểu số. Việc tuyên truyền,

giáo dục, chủ yếu được thực hiện theo từng đợt, thiếu tính thường xuyên, liên tục.

76

Việc giáo dục quyền và bổn phận của trẻ em Việt Nam mới chỉ được thực hiện

mang tính thử nghiệm ở một bộ phận trẻ em, học sinh tiểu học, trung học cơ sở (cấp

1 – 2). Còn đa số trẻ em, nhất là trẻ em ở các vùng sâu, vùng xa, trẻ em dân tộc

thiểu số vẫn chưa được quan tâm thực hiện thường xuyên. Đời sống kinh tế - xã hội,

xét ở bình diện chung ảnh hưởng tới việc đầu tư kinh phí cho hoạt động này, xét ở

bình diện cụ thể, đặc biệt là một số vùng núi, vùng sâu, vùng xa và biên giới, hải

đảo còn gặp nhiều khó khăn cũng đặt ra nhiều trở ngại từ phía người dân. Giống

như công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, vấn đề cuộc sống mưu sinh của người

dân cũng là một thách thức không nhỏ khi thực hiện các hoạt động này. Bởi thực tế

hết sức đơn giản là người dân phải quan tâm trước tiên tới việc mưu sinh, tới đời

sống vật chất hàng ngày thay vì ưu tiên dành thời gian và sự quan tâm tới những

vấn đề chưa làm họ buộc phải biết đến [15].

Ngoài ra, Việt Nam có 54 dân tộc, ở Đắk Lắk có 47 dân tộc, trong đó có

nhiều dân tộc thiểu số (trên 20 dân tộc) có tiếng nói, chữ viết riêng; nhưng đến nay

công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em mới chỉ được dịch sang tiếng phổ thông

và 4 tiếng dân tộc (Thái, H’mông, Êđê, Bana). Điều này sẽ rất hạn chế việc thực

hiện giáo dục quyền trẻ em trong dân tộc thiểu số. Sự đa dạng về văn hóa, ngôn ngữ

trong một chừng mực nhất định cũng ảnh hưởng tới giáo dục quyền con người. Nó

đòi hỏi phải có nhiều sự đầu tư hơn cho việc tìm ra phương pháp, hình thức phù

hợp, phải tính đến yếu tố văn hóa trong thực hiện giáo dục quyền con người.

- Hạn chế của phương tiện thông tin đại chúng

Hệ thống các phương tiện thông tin đại chúng có vai trò hết sức quan trọng

trong hoạt động giáo dục quyền con người, nhưng còn khá thụ động. Theo TS.

Phạm Ngọc Anh, “nhân quyền được coi là một vấn đề nhạy cảm, ít khi những vấn

đề nhân quyền trong nước được đề cập một cách trực tiếp trên các phương tiện

thông tin đại chúng [1]. Giáo dục quyền con người qua hệ thống truyền thông cần

được cải thiện, giảm bớt tính giáo khoa, hàn lâm, truyền giảng mà nên được thông

tin dưới nhiều hình thức sáng tạo, sinh động, cuốn hút khán giả, thính giả, độc giả.

Những hình thức phóng sự, đối thoại, sân khấu hóa, trò chơi giải trí... cần được phát

huy sáng tạo, phong phú, thiết thực. Muốn tuyên truyền giáo dục quyền con người

tốt, người làm công tác thông tin đại chúng, cơ bản là các nhà báo cũng phải được

giáo dục về quyền con người. Nhà báo cần nghiên cứu, nắm vững hệ thống luật

pháp về quyền con người để những thông tin giáo dục pháp luật phải chính xác, hệ

77

thống, đầy đủ, rõ ràng, dễ hiểu, dễ nhớ.

Cùng với việc tuyên truyền giáo dục quyền con người, các phương tiện thông

tin đại chúng cũng cần tập trung phê phán, phân tích, tìm nguyên nhân của những cá

nhân, tập thể vi phạm quyền con người một cách thẳng thắn, sắc bén. Đó là những

hiện tượng xảy ra trong cuộc sống hàng ngày chung quanh ta. Tình trạng quan liêu,

hách dịch, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân vẫn khá nghiêm trọng ở nhiều nơi

khiến nhân dân bất bình, làm giảm sút lòng tin vào các cơ quan Đảng, chính quyền

sở tại. Những vấn đề như vậy nếu cứ để kéo dài, không dám phê phán công khai

hoặc chỉ phê phán chung chung sẽ không có tác dụng góp phần làm chuyển biến

tình hình, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với chính quyền.

2.3.3. Nguyên nhân rút ra từ thực tiễn giáo dục quyền con người ở Đắk

Lắk trong thời gian qua

Nhìn từ bình diện quốc gia, tương tự như các quốc gia khác trên thế giới,

giáo dục nhân quyền đã và đang thực hiện ở cả trong và ngoài hệ thống nhà trường

ở Việt Nam. Đây là một tiền đề quan trọng cho việc thúc đẩy hoạt động giáo dục

nhân quyền ở Việt Nam trong thời gian tới.

Tuy nhiên, so sánh với mặt bằng chung trên toàn quốc, phạm vi và trình độ

giáo dục nhân quyền tại Đăk Lăk vẫn còn ở mức thấp. Mặc dù đã có những tiến

triển nhanh chóng trong hai thập kỷ qua song giáo dục nhân quyền ở Đăk Lăk vẫn

chưa bắt kịp với xu hướng phát triển chung của cả nước và trên thế giới, chưa đáp

ứng nhu cầu giáo dục nhân quyền ở trong tỉnh. Những trở ngại chính trong giáo dục

nhân quyền ở Đăk Lăk hiện nay liên quan đến các vấn đề như trình độ hạn chế và

sự thiếu hụt giáo viên, giảng viên; phương pháp giảng dạy lạc hậu; sự thiếu hụt các

nguồn tài liệu tham khảo...Nguyên nhân sâu xa của những hạn chế này có lẽ là từ

nhận thức chưa đầy đủ về tầm quan trọng của giáo dục nhân quyền của các nhà

hoạch định chính sách cũng như của cộng đồng. Kinh nghiệm của nhiều nước trên

thế giới cho thấy, các vấn đề về nguồn nhân, vật lực, kiến thức, kinh nghiệm và tài

liệu là quan trọng nhưng nhận thức về vai trò và ý nghĩa của giáo dục nhân quyền

của các nhà hoạch định chính sách và của toàn thể công chúng trong xã hội mới là

yếu tố có tính chất quyết định đến việc thúc đẩy hoạt động trên lĩnh vực này. Một

khi có nhận thức phù hợp và quyết tâm chính trị cao trong việc thúc đẩy hoạt động

giáo dục nhân quyền, các vấn đề còn lại sẽ được giải quyết một cách tốt đẹp và

nhanh chóng. Bởi vậy, để tiếp tục đẩy mạnh hoạt động giáo dục nhân quyền ở Việt

Nam nói chung và ở Đăk Lăk nói riêng, trước hết, các nhà hoạch định chính sách

78

của quốc gia cần nhận thức rõ hơn về vai trò của giáo dục nhân quyền, các yêu cầu

và ý nghĩa của hoạt động này với sự phát triển của tỉnh, của đất nước trong bối cảnh

hội nhập và toàn cầu hóa.

2.4. PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC VỀ

QUYỀN CON NGƯỜI Ở ĐẮK LẮK HIỆN NAY

2.4.1. Phương hướng chung

Tất cả những thuận lợi và khó khăn mà thực tiễn đưa lại đặt ra yêu cầu phải

có những giải pháp để giáo dục quyền con người được thực hiện trên thực tế. Để có

được những giải pháp đúng hướng, cần xác định mục tiêu của hoạt động giáo dục

quyền con người theo hướng:

Thứ nhất, chuyển tải những nội dung cơ bản về quan điểm của Đảng, chính

sách pháp luật của Nhà nước về quyền con người đến mọi công dân, mặt khác tuyên

truyền các thành tựu cơ bản về quyền con người mà Việt Nam nói chung, Đắk Lắk

nói riêng đã nỗ lực đạt được nhằm làm cho bạn bè quốc tế hiểu rõ hơn về Việt Nam,

phản bác lại các luận điệu vu cáo, bôi nhọ chế độ trên cơ sở lợi dụng các vấn đề về

dân chủ, nhân quyền của các thế lực thù địch, hai mục tiêu này cũng là đòi hỏi đặt

ra khi thực hiện hoạt động giáo dục quyền con người trong bối cảnh thực tế tại Việt

Nam.

Thứ hai, quyền con người luôn luôn gắn với lịch sử, truyền thống và phụ

thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước, của tỉnh, do vậy không

thể áp đặt hoặc sao chép máy móc các tiêu chuẩn, mô thức của nước này, nơi này

cho nước khác, nơi khác. Cũng từ đó, khi đưa các chính sách, biện pháp thực hiện

giáo dục quyền con người trong tỉnh cũng cần chú ý tới yếu tố lịch sử, truyền thống

đặc thù của địa phương, thậm chí ngay khi đặt ra yêu cầu đối với hoạt động giáo

dục quyền con người.

Cùng với việc quán triệt theo quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của

Nhà nước giúp định hướng trong nhận thức đúng đắn về quyền con người, để thay

đổi được thái độ của xã hội, cơ quan Nhà nước, công dân ở trong tỉnh trước hết phải

tập trung tuyên truyền thông tin để làm sao đơn giản hóa vấn đề quyền con người

trong cách nhận thức, cách hiểu, từ đó làm cho cán bộ, người dân không còn tâm lý

ngại ngùng, e dè. Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức, đoàn

thể trong hoạt động giáo dục quyền con người, hình thành cơ chế phối hợp giữa các

cơ quan, vì hoạt động giáo dục quyền con người đòi hỏi phải có tính chất liên

ngành. Kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng phối hợp

79

việc giáo dục quyền con người từ Trung ương đến địa phương, từ tỉnh đến huyện

theo hướng bảo đảm tính thiết thực, tránh hình thức; đồng thời xác định rõ vị trí,

phát huy vai trò của Hội đồng phối hợp giáo dục quyền con người là tổ chức phối

hợp chỉ đạo giữa các cơ quan, ban, ngành, tổ chức ở Trung ương và địa phương về

việc giáo dục quyền con người. Đổi mới, kiện toàn tổ chức làm nhiệm vụ tuyên

truyền, phổ biến giáo dục quyền con người theo hướng đảm bảo số lượng, nâng cao

chất lượng nguồn lực cán bộ, công chức làm nhiệm vụ này; xác định rõ khoản ngân

sách hàng năm cho hoạt động này theo hướng tăng thêm để đáp ứng kịp thời, đầy

đủ về kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện hoạt động cho việc giáo dục quyền con

người.

Thứ ba, kết hợp có hiệu quả việc giáo dục quyền con người với việc thực

hiện các nghị quyết của Đảng, các chương trình, đề án của Nhà nước về phát triển

kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo… Phối hợp chặt chẽ với

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các tổ chức thành viên, các tổ chức khác

trong việc vận động, giáo dục quyền con người, quần chúng nhân dân tích cực

nghiên cứu, tìm hiểu quyền con người và tham gia các hoạt động pháp luật về

quyền con người. Phối hợp với Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh, Tòa án Nhân dân tỉnh

đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục quyền con người cho cán

bộ và nhân dân thông qua hoạt động điều tra, truy tố, xét xử trên địa bàn của tỉnh.

Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tuyên truyền, phổ biến, giáo dục quyền

con người.

Thứ tư, giáo dục quyền con người gắn với giáo dục pháp luật, nói cách khác

là gắn với giáo dục quyền và nghĩa vụ công dân. Những nội dung của giáo dục pháp

luật chính là góp phần thực hiện giáo dục các quyền con người. Do đó, trong thời

gian tới bên cạnh khắc phục những hạn chế, tồn tại trong giáo dục pháp luật, việc

tiếp tục đẩy mạnh hoạt động này là rất cần thiết, nhất là giáo dục pháp luật trong hệ

thống trường học trên địa bàn của tỉnh vì đây là hình thức đã và đang thực hiện có

hiệu quả; cần sớm có chủ trương đưa giáo dục quyền con người thành một môn học

trong chương trình chính thức hoặc có thể là tự chọn trong hệ thống giáo dục của

tỉnh, đồng thời với việc xây dựng tài liệu, giáo trình, đào tạo giáo viên về nội dung

này. Ở mức độ của tỉnh cũng như trên phạm vi toàn quốc, chương trình giáo dục

quyền con người phải được bảo đảm tính hiện đại, tính ổn định, tính thống nhất; kế

thừa giữa các cấp học, các trình độ đào tạo và tạo điều kiện cho sự phân luồng, liên

thông, chuyển đổi giữa các trình độ đào tạo, ngành đào tạo và hình thức giáo dục

80

quyền con người trong hệ thống giáo dục quốc dân về quyền con người. Yêu cầu về

nội dung kiến thức và kỹ năng quy định trong chương trình giáo dục quyền con

người phải được cụ thể hóa thành sách giáo khoa ở giáo dục quyền con người phổ

thông; giáo trình và tài liệu giảng dạy ở giáo dục quyền con người nghề nghiệp,

giáo dục quyền con người đại học, giáo dục quyền con người thường xuyên. Sách

giáo khoa, giáo trình và tài liệu giảng dạy phải đáp ứng yêu cầu về phương pháp

giáo dục quyền con người. Chương trình giáo dục quyền con người được tổ chức

thực hiện theo năm học đối với giáo dục quyền con người mầm non và giáo dục

quyền con người phổ thông; theo năm học hoặc theo hình thức tích lũy tín chỉ đối

với giáo dục quyền con người nghề nghiệp, giáo dục quyền con người đại học. Kết

quả học tập môn học hoặc tín chỉ mà người học tích lũy được khi theo học một

chương trình giáo dục quyền con người được công nhận để xem xét về giá trị

chuyển đổi cho môn học hoặc cho tín chỉ tương ứng trong chương trình giáo dục

quyền con người khác khi người học chuyển ngành nghề đào tạo, chuyển hình thức

học tập hoặc học lên ở các cấp học, trình độ đào tạo cao hơn. Bộ trưởng Bộ Giáo

dục và Đào tạo quy định việc thực hiện chương trình giáo dục quyền con người theo

hình thức tích lũy tín chỉ, việc công nhận để xem xét về giá trị chuyển đổi kết quả

học tập môn học hoặc tín chỉ.

Thứ năm, cần nghiên cứu, khảo sát nhu cầu, đặc điểm, phân loại đối tượng

theo nhóm để có những biện pháp, hình thức giáo dục quyền con người phù hợp,

hiệu quả. Sử dụng, khai thác và vận dụng linh hoạt các hình thức, phương pháp phổ

biến, giáo dục quyền con người bảo đảm tính phù hợp, hiệu quả; kết hợp giữa phổ

biến, giáo dục quyền con người với tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, hòa giải cơ

sở, giải quyết tranh chấp, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật trong

từng vụ việc cụ thể. Đặc biệt đẩy mạnh các hoạt động giáo dục quyền con người

trực tiếp thông qua đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật, huy động sức

mạnh và lợi thế sẵn có của các phương tiện đại chúng để nâng cao hoạt động tuyên

truyền, phổ biến, giáo dục quyền con người.

Ngoài ra, việc đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, nâng cao hiệu quả

thực thi pháp luật cũng là một giải pháp góp phần thực hiện giáo dục quyền con

người. Pháp luật có được thực hiện nghiêm thì ý thức tuân thủ, chấp hành pháp luật

của cán bộ, nhân dân trên địa bàn của tỉnh mới được nâng cao, từ đó, giúp họ nhận

thức được về quyền, nghĩa vụ công dân.

Thứ sáu, giáo dục quyền con người phải phù hợp với mục đích của nó. Vì

81

vậy, quá trình giáo dục quyền con người phải được tiến hành trên cơ sở tăng cường

sự tôn trọng đối với quyền con người và phẩm giá con người, cho phép họ tham gia

đầy đủ và tích cực vào quá trình giáo dục. Giáo dục quyền con người phải chú trọng

đến cả những người làm nhiệm vụ bảo vệ hoặc liên quan đến quyền con người, cả

những người dân bình thường trong xã hội. Giáo dục quyền con người phải trên

bình diện rộng (cả các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn) và có chiều sâu

(cả về thời gian và nội dung giáo dục, cả về lý thuyết và thực hành). Giáo dục quyền

con người đặc biệt có ý nghĩa đối với: 1) Những người dễ bị xâm hại bởi các hành

vi vi phạm quyền con người; 2) Những người có khả năng nhất trong việc bảo vệ

hoặc xâm phạm quyền con người; 3) Những người có trách nhiệm bảo vệ quyền con

người và 4) Những người dẫn dắt hoặc định hướng công chúng, có khả năng ảnh

hưởng và giáo dục công chúng.

2.4.2. Các giải pháp tăng cường giáo dục quyền con người ở Đắk Lắk

hiện nay

Bảo đảm thực hiện quyền con người được đặt ra trước hết xuất phát từ mục

tiêu, bản chất của chế độ; đó cũng là một trong những nội dung và đặc trưng rất cơ

bản và quan trọng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang

xây dựng; đồng thời, trước xu thế dân chủ hóa, giao lưu và hội nhập quốc tế ngày

càng gia tăng, đòi hỏi quyền con người và các quyền tự do cơ bản của cá nhân công

dân phải được tôn trọng và tăng cường hơn nữa. Trước yêu cầu đó, trong điều kiện

của tỉnh Đăk Lăk và của cả nước ta hiện nay, bảo đảm hiện thực hóa quyền con

người cần phải áp dụng một hệ thống đồng bộ các nhóm giải pháp như sau:

2.4.2.1. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến về quyền con người

Công tác tuyên truyền pháp luật về nhân quyền được thực hiện trên cơ sở tư

tưởng, pháp lý và tổ chức bởi hệ thống các văn/loại bản sau:

- Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003, Kết luận số 04-KL/TW ngày

19/4/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng

trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân;

- Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/7/2010 của Ban Bí thư về công tác nhân

quyền trong tình hình mới;

- Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật;

- Các quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tuyên truyền pháp luật;

- Quyết định của UBND tỉnh Đắk Lắk ban hành kế hoạch tuyên truyền, phổ

82

biến giáo dục pháp luật;

- Quyết định số 918/QĐ-TTg ngày 11/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ quy

định nhiệm vụ, quyền hạn và thành phần Ban Chỉ đạo về Nhân quyền;

- Quyết định của UBND tỉnh Đắk Lắk về Kiện toàn, quy định chức năng,

nhiệm vụ và quyền hạn của Ban Chỉ đạo về Nhân quyền tỉnh;

- Quyết định số 366/QĐ-TTg ngày 14/03/2011 ban hành kế hoạch triển khai

thực hiện Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/7/2010 của Ban Bí thư về công tác nhân

quyền trong tình hình mới;

- Quyết định số 3821/QĐ-BTP ngày 12/09/2011 của Bộ Tư pháp phê duyệt

Đề án tổng thể “Thực hiện Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/7/2010 của Ban Bí thư về

công tác nhân quyền trong tình hình mới và thực hiện các khuyến nghị được Hội

đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thông qua theo cơ chế kiểm điểm định kỳ (UPR)”,

trong đó có nhiệm vụ “Xây dựng và triển khai kế hoạch tuyên truyền, phổ biến,

giáo dục pháp luật trong nước về quyền con người”;

- Tiểu Đề án “Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nước về

quyền con người” do Bộ Tư pháp ban hành (theo Quyết định số 1875/QĐ-BĐH của

Bộ Tư pháp ngày 28/06/2012 cho giai đoạn 2012 – 2014).

Để thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn

tỉnh năm 2016 và cho các năm tiếp theo, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban ban hành

Quyết định số 1281/QĐ-UBND ngày 09/5/2016 về việc kiện toàn Hội đồng phối

hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh Đắk Lắk, Quyết định số 116/QĐ-UBND ngày

12/01/2016 của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc ban hành Kế hoạch thực hiện công tác

phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở, hương ước, quy ước năm 2016, Sở

Tư pháp đã ban hành Kế hoạch số 02/KH-STP ngày 25/01/2016 của Sở Tư pháp

tỉnh Đắk Lắk thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở,

hương ước, quy ước trong ngành Tư pháp năm 2016.

Trên cơ sở các biện pháp tổ chức của chính quyền tỉnh đã được thiết lập

thành văn bản, theo chúng tôi, giáo dục về quyền con người ở Đắk Lắk thông qua

các biện pháp tuyên truyền pháp luật nói chung cần tập trung vào những nhiệm vụ,

nội dung, hình thức tuyên truyền sau đây:

Thứ nhất, tiếp tục tuyên truyền, phổ biến Hiến pháp năm 2013, các luật mới

được Quốc hội khóa XIII thông qua để cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 , trong đó

tập trung vào các luật về tổ chức bộ máy nhà nước, các luật liên quan đến quyền

con người, quyền công dân; các văn bản pháp luật quan trọng khác liên quan đến

83

hoạt động và đời sống của các tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh.

Các cơ quan, đơn vị, địa phương trên địa bàn của tỉnh cần tiếp tục đẩy mạnh

công tác tuyên truyền, phổ biến Hiến pháp năm 2013, các văn bản luật mới được

Quốc hội khóa XIII thông qua, tập trung vào các luật về tổ chức bộ máy nhà nước

(Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, Luật Tổ

chức chính quyền địa phương năm 2015, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp

luật năm 2015, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015…), các luật liên quan

đến quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (Bộ luật Dân sự

năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Bộ luật Tố

tụng Hình sự năm 2015, Luật Tố tụng hành chính (sửa đổi); Luật Tạm giữ, tạm

giam, Luật Trưng cầu ý dân ...), các văn bản pháp luật về kinh tế, đất đai, tài

nguyên, môi trường, quốc phòng, an ninh, biển, hải đảo và văn bản khác liên quan

trực tiếp đến hoạt động và đời sống của các tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh hoặc

gắn với sự kiện chính trị của sở, ban, ngành, địa phương.

Thứ hai, tăng cường tuyên truyền về quyền con người thông qua các hoạt

động, chương trình tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật đang được triển

khai tại tỉnh.

Các Ban, Ngành trên địa bàn tỉnh cần tập trung lồng ghép nội dung nhân

quyền vào các chương trình tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đang được

triển khai như:

- Đề án 01 “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người dân nông thôn và

đồng bào dân tộc thiểu số” theo Kế hoạch số 8834/KH-UBND ngày 6/12/2013 của

UBND tỉnh. Đề án này do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp

với các sở, ngành liên quan thực hiện.

- Đề án “Tiếp tục xây dựng và đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động

chấp hành pháp luật trong cộng đồng dân cư giai đoạn 2013 - 2016” do Ủy ban

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh chủ trì, triển khai theo Kế hoạch ban hành kèm

theo Quyết định số 2162/QĐ-UBND ngày 17/10/2013 của UBND tỉnh.

- Đề án “Tiếp tục tăng cường công tác PBGDPL về khiếu nại, tố cáo ở xã,

phường, thị trấn giai đoạn 2013 - 2016” do Thanh tra tỉnh chủ trì, triển khai theo

Kế hoạch số 673/KH-UBND ngày 24/01/2014 của UBND tỉnh.

- Đề án “Tăng cường PBGDPL cho cán bộ, nhân dân vùng biên giới giai

đoạn 2013 - 2016” do Bộ chỉ huy đội Biên phòng tỉnh chủ trì, thực hiện theo Kế

hoạch số 6736/KH-UBND ngày 27/9/2013 của UBND tỉnh.

84

- Đề án “Tăng cường công tác PBGDPL tại một số địa bàn trọng điểm về vi

phạm pháp luật giai đoạn 2013 - 2016” Sở Tư pháp chủ trì, thực hiện theo Kế

hoạch số 7345/KH-UBND ngày 18/10/2013 của UBND tỉnh.

- Đề án “Xã hội hóa công tác PBGDPL và trợ giúp pháp lý giai đoạn 2013 -

2016” Hội Luật gia tỉnh chủ trì, thực hiện theo Quyết định số 2162/QĐ-UBND

ngày 17/10/2013 và Quyết định số 2148/QĐ-UBND ngày 15/10/2013 của UBND

tỉnh.

- Đề án “Tăng cường công tác PBGDPL trên Đài Truyền hình giai đoạn

2013 - 2016” Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh chủ trì, thực hiện theo Kế hoạch số

6745/KH-UBND ngày 27/9/2013 của UBND tỉnh.

Về mặt tổ chức thực hiện, các sở, ngành, tổ chức, đơn vị ở tỉnh và địa

phương, các cơ quan Báo, Đài của tỉnh cần thực hiện thường xuyên trong năm đẩy

mạnh phổ biến quyền con người trên các phương tiện thông tin đại chúng, như:

Tăng cường xây dựng và thực hiện các chuyên mục tuyên truyền, PBGDPL mang

tính chuyên ngành của các cơ quan, đơn vị, địa phương trên Báo Đak Lak, Đài Phát

thanh - Truyền hình tỉnh, Đài Truyền thanh các huyện, thị xã, thành phố.

Sở Thông tin và Truyền thông; Báo ĐakLak, Đài Phát thanh và Truyền hình

tỉnh; các sở, ngành, đơn vị có trang tin điện tử và xuất bản bản tin, tạp chí; UBND

cấp huyện, cấp xã cần phối hợp, duy trì và phát huy hiệu quả tuyên truyền pháp luật

trên sóng phát thanh - truyền hình, trang tin điện tử, bản tin, tạp chí của các sở, ban,

ngành, đơn vị, địa phương trên địa bàn tỉnh và hệ thống loa truyền thanh ở cơ sở.

Cơ quan Tư pháp, các đơn vị, địa phương cần thực hiện thường xuyên trong

năm việc biên soạn, phát hành và cấp phát tài liệu tuyên truyền, phổ biến pháp luật:

Căn cứ điều kiện, tình hình thực tế, các cơ quan, đơn vị, địa phương chủ động biên

soạn, phát hành để cấp phát các loại tài liệu tuyên truyền pháp luật (tờ gấp, chuyên

đề pháp luật...) đến cán bộ, nhân dân phục vụ công tác tuyên truyền.

Tiếp tục triển khai có hiệu quả các hình thức PBGDPL khác: Trên cơ sở yêu

cầu nhiệm vụ và tình hình thực tế, các đơn vị, địa phương chủ động lựa chọn thực

hiện các hình thức, phương pháp tuyên truyền phong phú, phù hợp như: Tổ chức

hội nghị chuyên đề, lồng ghép phổ biến các văn bản pháp luật mới ban hành trong

giao ban công tác, cuộc họp cơ quan, sinh hoạt Đảng, đoàn thể, họp dân; lồng ghép

trong các hoạt động giáo dục, các phong trào phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói

giảm nghèo, Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn

2010 - 2020; thông qua sinh hoạt của các Câu lạc bộ thanh niên với pháp luật, nông

85

dân với pháp luật, phụ nữ với pháp luật, phòng chống tội phạm, phòng chống buôn

bán người, chống phân biệt đối xử, phòng chống bạo lực gia đình…; phát huy hiệu

quả PBGDPL thông qua các hoạt động hòa giải ở cơ sở, trợ giúp pháp lý, khai thác

tủ sách pháp luật, thực hiện hương ước, quy ước, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố

cáo, xét xử lưu động, thi hành án,...

Nói chung, các cấp các ngành ở Đắk Lắk cần tích cực huy động sức mạnh và

lợi thế sẵn có của các phương tiện thông tin đại chúng trong việc giáo dục quyền

con người; tăng thời lượng phát sóng, bảo đảm vừa chuyển tải nội dung, đồng thời,

hình thức thể hiện phong phú, hấp dẫn nhằm thu hút sự quan tâm của người xem.

Nâng cao tính định hướng, hướng dẫn dư luận xã hội khi phổ biến, thông tin pháp

luật về quyền con người trên báo chí bằng tiếng dân tộc thiểu số và tiếng nước

ngoài và sử dụng tối đa các phương tiện phát thanh và truyền hình của tỉnh cũng

như các huyện, các xã, các địa phương trong việc giáo dục quyền con người để đảm

bảo hoạt động giáo dục quyền con người được triển khai đồng bộ, rộng khắp trên

phạm vi cả tỉnh, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

Nhà nước cần có chính sách đầu tư nguồn lực, kỹ thuật thích hợp cho các cơ

quan thông tin tuyên truyền, đặc biệt là các cơ quan phát thanh, truyền hình, báo chí

để các cơ quan này có điều kiện thuận lợi thực hiện hoạt động của mình. Đồng thời,

các cơ quan thông tin đại chúng cần coi hoạt động tuyên truyền, giáo dục quyền con

người là trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, từ đó xây dựng các chuyên mục, chương

trình thường xuyên, liên tục và rộng khắp cho hoạt động này.

2.4.2.2. Lồng ghép nội dung giáo dục về quyền con người vào chương

trình đào tạo ở tất cả các cấp giáo dục

Việc đưa chương trình giáo dục quyền con người vào hệ thống giáo dục Nhà

nước, từ cấp tiểu học đến cấp trung học phổ thông trên địa bàn của Đăk Lăk cũng

như trên phạm vi cả nước sẽ đảm bảo tính thống nhất, tính liên thông của chương

trình, tránh tình trạng trông chờ vào các nguồn tài chính, các dự án đầu tư... Với tư

cách là một quá trình chính khóa, trách nhiệm của chủ thể giảng dạy (giáo viên) và

đối tượng thụ hưởng (học sinh) đều được nâng cao. Khi đưa chương trình giáo dục

này vào giảng dạy chính thức, nội dung của nó có thể được lồng ghép, tích hợp

trong nội dung của các môn học có liên quan đến giáo dục đạo đức, giáo dục công

dân, giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục pháp luật... Chẳng hạn, có thể xem xét, tổ

chức lại thời gian và nội dung môn học Giáo dục công dân, chuyển thành bộ môn

Giáo dục quyền con người. Ngoài ra, cần biên soạn giáo trình, sách và tài liệu giáo

86

dục cho từng nhóm đối tượng giáo dục cụ thể. Hiện nay, chúng ta chưa có giáo trình

chung, thống nhất; chưa có đầy đủ tài liệu cho việc giáo dục quyền con người theo

từng nhóm đối tượng. Vì thế, rất cần phải xây dựng các tài liệu giáo dục quyền con

người cho từng nhóm chủ thể, từng nhóm đối tượng giáo dục cụ thể, trên cơ sở tính

hệ thống, tính liên thông của tài liệu và đảm bảo gắn kết cả nội dung giáo dục quyền

con người và nội dung giáo dục quyền công dân. Đối với dân tộc thiểu số, cần dịch

nội dung giáo dục sang tiếng dân tộc. Dân tộc có chữ viết thì thực hiện cả dịch viết

và dịch nói, dân tộc không có chữ viết thì diễn giải nội dung giáo dục bằng chính

ngôn ngữ của họ. Đội ngũ tuyên truyền, giáo dục cho dân tộc thiểu số chính là

những già làng, trưởng bản, những cán bộ người dân tộc đã được đào tạo trở thành

cốt cán. Hình thức giáo dục có thể thông qua các hoạt động văn hóa của làng, xã,

bằng tranh ảnh, panô, áp phích, tờ rơi, đài truyền thanh, đài phát thanh truyền hình,

phim và các loại hình nghệ thuật khác.

2.4.2.3. Đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật Quốc tế về quyền

con người

Mục đích của nhóm giải pháp này là: nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết của

cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân trên địa bàn tỉnh, từ đó tích cực, chủ động

thực hiện đầy đủ, hiệu quả các quyền dân sự, chính trị của con người và công dân.

Đối tượng của giải pháp: Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và

nhân dân các dân tộc trên địa bàn tỉnh; đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền

viên pháp luật, phóng viên, biên tập viên báo chí viết về pháp luật, giáo viên giảng

dạy môn pháp luật, giáo dục công dân ở các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc

dân thuộc địa phương quản lý.

Nội dung phổ biến: Tinh thần, nội dung cơ bản và những quy định quan

trọng của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR); các quyền dân

sự, chính trị được quy định trong Hiến pháp năm 2013 và các đạo luật do Quốc hội

ban hành; tình hình thực hiện các quyền dân sự, chính trị được quy định trong Hiến

pháp năm 2013 và pháp luật, những thành tựu đạt được của Việt Nam về bảo đảm

quyền dân sự, chính trị.

Theo đó, hàng năm, Sở Tư pháp, UBND các huyện, thị xã, thành phố và các

cơ quan, đơn vị liên quan trên địa bàn của tỉnh cần Tổ chức phát hành, phổ biến sâu

rộng các tài liệu về nội dung cơ bản và những quy định quan trọng của Công ước

ICCPR, các quyền dân sự, chính trị được quy định trong Hiến pháp năm 2013 và

các đạo luật Quốc hội ban hành (do Bộ Tư pháp biên soạn) đến các đối tượng là cán

87

bộ, công chức, viên chức, nhân dân trên địa bàn tỉnh.

Các sở, ban, ngành, đơn vị, tổ chức ở tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành

phố phối hợp với Sở Tư pháp, hàng năm, biên soạn tài liệu phổ biến pháp luật về

quyền dân sự, chính trị thiết thực, phù hợp với đặc thù của cơ quan, đơn vị, địa

phương; hỗ trợ trang bị tài liệu tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quyền dân sự,

chính trị cho tủ sách pháp luật tại cơ quan, đơn vị, tủ sách pháp luật xã, phường, thị

trấn.

Sở Tư pháp, UBND các huyện, thị xã, thành phố phối hợp với Sở Nội vụ, Sở

Giáo dục và Đào tạo, Sở Thông tin và Truyền thông, Đài Phát thanh truyền hình

tỉnh, Báo Đắk Lắk tổ chức bồi dưỡng cho đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên

truyền viên pháp luật, phóng viên, biên tập viên báo chí viết về pháp luật, giáo viên

giảng dạy môn pháp luật, giáo dục công dân ở các trường thuộc hệ thống giáo dục

quốc dân trên địa bàn tỉnh; lồng ghép việc bồi dưỡng pháp luật về quyền dân sự,

chính trị trong chương trình đào tạo, bồi dưỡng hàng năm đối với cán bộ, công

chức, viên chức của địa phương; tùy theo điều kiện thực tế, các địa phương của tỉnh

tổ chức bồi dưỡng cho trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, những người có uy tín

trong đồng bào dân tộc thiểu số.

Tổ chức tuyên truyền, phổ biến nội dung cơ bản và những quy định quan

trọng của Công ước ICCPR, các quyền dân sự, chính trị được quy định trong Hiến

pháp năm 2013 và các đạo luật do Quốc hội ban hành, phản ánh tình hình thực hiện

pháp luật về quyền dân sự, chính trị trên Báo Đắk Lắk, Đài Phát thanh - Truyền

hình tỉnh, Trang thông tin điện tử thuộc các sở, ban, ngành, tổ chức ở tỉnh, UBND

các huyện, thị xã, thành phố và hệ thống loa truyền thanh cơ sở.

Tổ chức phát hành tài liệu tham khảo của Bộ Tư pháp về phục vụ việc dạy và

học pháp luật liên quan đến quyền dân sự, chính trị trong các cơ sở giáo dục thuộc

hệ thống giáo dục quốc dân phù hợp với nội dung pháp luật đối với từng cấp học và

trình độ đào tạo; tài liệu tham khảo của Bộ Tư pháp về phục vụ việc dạy và học

pháp luật, giáo dục công dân trong trại giam, trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt

buộc.

Thực hiện công tác tuyên truyền, ngoài sự chủ động, tích cực của hệ thống

các cơ quan hành chính nhà nước, cần sự phối hợp tích cực của nhiều ơ quan khác

trong hệ thống chính trị, nhất là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Tòa án, Viện kiểm

sát tỉnh. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh cần chỉ đạo, hướng dẫn Ủy ban

Mặt trận Tổ quốc các cấp, nhất là ở xã, phường, thị trấn tích cực vận động nhân dân

88

tự giác tìm hiểu, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật về quyền dân sự, chính trị kết

hợp với đẩy mạnh việc giám sát hoạt động thi hành pháp luật về quyền dân sự,

chính trị của các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức, kiến nghị với các cơ quan

chức năng xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật. Tòa án nhân dân tỉnh, Viện

Kiểm sát nhân dân tỉnh cần chỉ đạo, hướng dẫn việc phổ biến pháp luật về quyền

dân sự, chính trị cho cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân thông qua các hoạt

động truy tố, xét xử.

2.4.2.4. Tăng cường nhận thức của người dân về vấn đề giới, bình đẳng

giới, chống lại các định kiến xã hội và phân biệt đối xử về giới, sắc tộc, tôn giáo

Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và pháp luật Việt Nam về

các quyền dân sự, chính trị, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công

dân theo Hiến pháp 2013 là những giá trị phổ quát về quyền con người, là những

quy định cơ bản về quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam. Đây được xem là

những hiểu biết cơ bản về quyền con người ở Việt Nam cần được tuyên truyền, phổ

biến và nhận thức trên toàn quốc.

Tuy nhiên, ở khía cạnh cụ thể của nhân quyền, cũng như tùy đặc điểm lịch

sử, văn hóa, dân cư, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo mà nội dung giáo dục nhân quyền

cụ thể lại không giống nhau. Đắc Lắk là một điển hình. Tại đây, hơn bao giờ hết cần

phải tuyên truyền để tăng cường nhận thức của người dân về vấn đề giới, bình đẳng

giới, chống lại các định kiến xã hội và phân biệt đối xử về giới, sắc tộc, tôn giáo.

Bài học về nhân quyền thông qua sự kiện một bộ phận nhân dân đòi tách, thành lập

nhà nước Đê-Ga tự trị hồi năm 2004 vẫn còn nguyên giá trị. Sau ba vụ tổ chức gây

rối, bạo loạn của bọn phản động FULRO không thành công (năm 2001, 2004 và

2008), chúng đã chỉ đạo số cầm đầu bên trong lợi dụng vấn đề dân tộc gắn với tôn

giáo để kích động gây rối. Âm mưu của chúng là lợi dụng đạo để lôi kéo quần chúng,

dựng lên tổ chức phản động đội lốt tôn giáo có tên là “Tin lành Đêga” để lừa mị, tập

hợp quần chúng thực hiện ý đồ bạo loạn, lật đổ, chống phá cách mạng nước ta.

Từ những hạn chế trong công tác quản lý nhà nước, các địa phương trong

tỉnh cần tập trung đẩy mạnh công tác phát động quần chúng, xây dựng phong trào

bảo vệ an ninh Tổ quốc ở vùng đồng bào có đạo; tuyên truyền, giáo dục trong nhân

dân các chủ trương, chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc; vạch rõ âm mưu, thủ đoạn

của địch lợi dụng tôn giáo; nâng cao nhận thức quần chúng phân biệt rõ tín

ngưỡng, tôn giáo, quyền con người về tín ngưỡng, tôn giáo với việc lợi dụng tôn

89

giáo, các hoạt động tôn giáo trái pháp luật. Trên cơ sở đó đồng tình ủng hộ và

tham gia đấu tranh với những hành vi lợi dụng nhân quyền, tín ngưỡng, tôn giáo đi

ngược lại với lợi ích của tổ quốc, dân tộc.

Ở góc độ giáo dục và tôn trọng quyền con người về tôn giáo, tín ngường, để

nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tôn giáo trong thời gian tới ở Đắk Lắk, thiết

nghĩ các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân từ tỉnh đến

cơ sở cần đổi mới nội dung, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cho quần chúng nhân

dân, nhất là đội ngũ chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo hiểu và

nhận thức đúng đắn chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về chính sách tôn giáo, dân

tộc; chủ động đấu tranh làm thất bại những âm mưu, luận điệu tuyên truyền, xuyên

tạc, vu khống của các thế lực thù địch bên ngoài đối với tình hình nhân quyền, tôn

giáo và công tác tôn giáo ở nước ta. Tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động bình

thường; xem xét giải quyết kịp thời những nhu cầu sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng

chính đáng của nhân dân theo đúng các quy định của pháp luật; kiên quyết đấu

tranh và xử lý nghiêm những hoạt động tôn giáo trái phép.

Về vấn đề chống kỳ thị và phân biệt đối xử: kỳ thị và phân biệt đối xử tương

đối phổ biến ở Việt Nam, nhưng lại chưa phải là chủ đề được nghiên cứu thấu đáo.

Pháp luật nước ta đã có một hệ thống quy phạm tương đối đầy đủ nhằm chống kỳ

thị và phân biệt đối xử trong luật pháp Việt Nam. Do vậy, cần kết hợp tuyên truyền

những giá trị pháp lý của bảo vệ nhân quyền trong các chương trình tuyên truyền,

phổ biến, giáo dục pháp luật hàng năm ở tỉnh.

Hệ thống những quy định về chống kỳ thị và phân biệt đối xử trong luật pháp

Việt Nam cần được tuyên truyền ở Đắk Lắk là:

- Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam có nhiều điều bảo vệ quyền bình

đẳng và chống phân biệt đối xử. Cụ thể là điều 16 quy định (i) Mọi người đều bình

đẳng trước pháp luật; (ii) Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị,

dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Điều này có nghĩa bất kỳ ai sinh ra là nam hay nữ,

người dân tộc thiểu số hay đa số, già hay trẻ, sống ở thành thị hay nông thôn, có

khuyết tật hay không, theo tôn giáo hay không, đều có quyền bình đẳng trước pháp

luật, và không bị phân biệt đối xử trong đời sống.

Bên cạnh đó, Hiến pháp cũng có một số điều quy định về một số khía cạnh

cụ thể. Ví dụ, khoản 2 Điều 5 nhấn mạnh về sắc tộc: Các dân tộc bình đẳng, đoàn

kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ

dân tộc. Khoản 1 Điều 24 nhấn mạnh về tôn giáo: Mọi người có quyền tự do tín

90

ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng

trước pháp luật. Khoản 1 và 3 Điều 26 nhấn mạnh về giới: (i) Công dân nam, nữ

bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng

giới; (ii) Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới.

- Trong các luật chuyên ngành của Việt Nam cũng có một số điều liên quan

đến kỳ thị và phân biệt đối xử, mức độ chi tiết có khác nhau giữa các văn bản pháp

luật khác nhau. Ví dụ, trong Nghị định về công tác dân tộc (Nghị định số

05/2011/NĐ-CP), ở khoản 1 điều 7 có ghi “Mọi hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử,

chia rẽ, phá hoại đoàn kết các dân tộc” bị nghiêm cấm. Tuy nhiên, không có giải

thích rõ ràng thế nào là hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử với người dân tộc thiểu số.

Bên cạnh đó, không có những danh mục hành vi kỳ thị và phân biệt đối xử bị

nghiêm cấm.

Luật người khuyết tật (năm 2010) có khoản 2 và 3 điều 2 định nghĩa rất rõ

“Kỳ thị người khuyết tật là thái độ khinh thường hoặc thiếu tôn trọng người khuyết

tật vì lý do khuyết tật của người đó. Phân biệt đối xử người khuyết tật là hành vi xa

lánh, từ chối, ngược đãi, phỉ báng, có thành kiến hoặc hạn chế quyền của người

khuyết tật vì lý do khuyết tật của người đó”. Luật người khuyết tật cũng nhấn mạnh

đến việc thông tin, tuyên truyền, giáo dục để “chống kỳ thị phân biệt đối xử người

khuyết tật” [điều 13]. Đặc biệt khoản 1 Điều 14 có ghi rõ “kỳ thị phân biệt đối xử

người khuyết tật” là một hành vi bị nghiêm cấm. Tuy nhiên, Luật người khuyết tật

không nói rõ việc nghiêm cấm các hành vi kỳ thị và phân biệt đối xử trong nhà

trường, trong việc làm, mà chỉ tập trung vào việc “tạo điều kiện, giúp đỡ, và đảm

bảo” cho người khuyết tật.

Luật phòng chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc

phải ở người (HIV/AIDS) (gọi tắt là Luật phòng chống HIV/AIDS năm 2006) có

ghi ở khoản 4 và 5 điều 2 “Kỳ thị người nhiễm HIV là thái độ khinh thường hay

thiếu tôn trọng người khác vì biết hoặc nghi ngờ người đó nhiễm HIV hoặc vì người

đó có quan hệ gần gũi với người nhiễm HIV hoặc bị nghi ngờ nhiễm HIV. Phân

biệt đối xử với người nhiễm HIV là hành vi xa lánh, từ chối, tách biệt, ngược đãi,

phỉ báng, có thành kiến hoặc hạn chế quyền của người khác vì biết hoặc nghi ngờ

người đó nhiễm HIV hoặc vì người đó có quan hệ gần gũi với người nhiễm HIV

hoặc bị nghi ngờ nhiễm HIV”. Ở khoản 3 Điều 8 về những hành vi bị nghiêm cấm

có ghi “Kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV”.

Trong luật phòng chống HIV/AIDS có ghi khá cụ thể các điều khoản liên

91

quan đến việc phòng chống các hành vi kỳ thị và phân biệt đối xử với người có

HIV. Ví dụ, Điều 8 quy định rất rõ người sử dụng lao động không được chấm dứt

hợp đồng, thuyên chuyển công tác, từ chối nâng lương hoặc yêu cầu xét nghiệm

HIV. Điều 9 nghiêm cấm các cơ sở giáo dục từ chối tiếp nhận học sinh, sinh viên vì

lý do họ nhiễm HIV, tách biệt, hạn chế, hoặc cấm đoán học sinh, sinh viên tham gia

hoạt động vì họ nhiễm HIV, hoặc yêu cầu xét nghiệm HIV.

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam có nhiều nghị định xử phạt hành chính,

có những quy định cụ thể về các hành vi bị nghiêm cấm và xử phát. Ví dụ Nghị

định số 69/2011/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính về y tế dự phòng,

môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS. Trong nghị định này, có điều 22 quy

định phạt các hành vi “Vi phạm các quy định của pháp luật về chống kỳ thị, phân

biệt đối xử đối với người nhiễm HIV. Ví dụ, khoản 1 Điều 22 quy định: Phạt tiền từ

5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: a) Từ

chối tuyển dụng vì lý do người dự tuyển lao động nhiễm HIV, trừ trường hợp quy

định tại Điều 20 của Nghị định số 108/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2007 quy

định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng, chống nhiễm vi rút gây ra hội

chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS); b) Cản trở hoặc từ chối

tiếp nhận trẻ em, học sinh, sinh viên, học viên vào học trong các cơ sở giáo dục

thuộc hệ thống giáo dục quốc dân vì lý do người đó nhiễm HIV hoặc là thành viên

trong gia đình có người nhiễm HIV; v.v.

2.4.2.5. Tăng cường bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình

sự ở Đắk Lắk

Bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự, đó là trong quá trình

điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và cả quá trình giam giữ, cải tạo phạm nhân,

bảo đảm rằng mọi hành vi phạm tội đều được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm

minh, và suốt quá trình tiến hành tố tụng không được làm oan người vô tội. Người

phạm tội phải bị đưa ra xét xử, chịu hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội.

Những mục đích của hình phạt lại không phải chỉ là trừng trị mà giáo dục, cải tạo,

răn đe và phòng ngừa tội phạm là mục đích ưu tiên hàng đầu. Đây là yêu cầu rất cơ

bản để bảo đảm quyền con người trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Trong điều kiện ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay, đòi hỏi xây dựng được một đội ngũ

cán bộ tư pháp tận tâm, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, có khả năng hoàn

thành nhiệm vụ; đồng thời hoàn thiện kể cả về tổ chức với một cơ chế giám sát, chỉ

đạo điều hành chặt chẽ từ phía Đảng, cơ quan nhà nước, đoàn thể, nhân dân ở tỉnh

92

là rất cần thiết. Trước hết, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan tư

pháp. Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng không phải là can thiệp vào hoạt động điều

tra, truy tố, xét xử, mà bảo đảm sự lãnh đạo chỉ đạo bằng đường lối, chủ trương ở

tầm vĩ mô; về xây dựng tổ chức, bộ máy, về công tác cán bộ…Tăng cường sự giám

sát của Hội đồng nhân dân tỉnh, huyện đối với cơ quan tư pháp. Tăng cường sự

giám sát của đoàn thể quần chúng, các tổ chức chính trị xã hội đối với hoạt động tư

pháp ở tỉnh; bảo đảm sự tham gia trong lĩnh vực đấu tranh phát giác tội phạm và

tham gia hoạt động xét xử (cơ chế hội thẩm). Cuối cùng, nhưng chiếm vị trí quan

trọng là nâng cao vị trí, vai trò của luật sư trong hoạt động tư pháp. Luật sư phải là

người đại diện thực sự cho thân chủ. Sự tham gia của luật sư là để giúp cho cơ quan

nhà nước có thẩm quyền trong quá trình tiến hành tố tụng, nhanh chóng làm sáng tỏ

bản chất thật sự của vụ án, tránh và giảm thiểu đến mức thấp nhất oan sai, không vô

tư, khách quan trong hoạt động tố tụng. Về vấn đề này, ở tỉnh Đắk Lắk đã và đang

triển khai Đề án “Xã hội hóa công tác PBGDPL và trợ giúp pháp lý giai đoạn 2013

- 2016” theo Quyết định số 2162/QĐ-UBND ngày 17/10/2013 và Quyết định số

2148/QĐ-UBND ngày 15/10/2013 của UBND tỉnh, giao Hội Luật gia tỉnh chủ trì,

thực hiện. Vấn đề là cần lồng ghép hiệu quả nội dung quyền con người trong nội

2.4.2.6. Nâng cao chất lượng đội ngũ làm công tác giáo dục quyền

con người

dung chương trình Đề án.

Về lâu dài, ngành Giáo dục tỉnh Đắc Lắk cần đào tạo một đội ngũ cán bộ

giáo viên chuyên trách giảng dạy về quyền con người để có thể đưa nội dung giáo

dục quyền con người vào giảng dạy chính thức trong hệ thống giáo dục. Đội ngũ

giáo viên này cần phải được đào tạo ở tất cả các cấp, các hệ thống trường học.

Trước mắt có thể đào tạo giáo viên chuyên trách từ đội ngũ giáo viên giảng dạy các

môn học có liên quan như Giáo dục công dân. Giáo dục về quyền con người có mối

quan hệ mật thiết với giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục pháp luật, do đó, về

chiến lược có thể đào tạo đội ngũ giáo viên chuyên trách từ nguồn sinh viên tốt

nghiệp các trường luật, chính trị.

dục từ huyện đến cơ sở; bố trí cán bộ có trình độ, nhiệt tình và trách nhiệm

phụ trách công tác PBGDPL ở các cơ sở giáo dục theo Đề án 1928 “Nâng cao

chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường” giai đoạn

93

Bển cạnh đó, cần xây dựng đội ngũ báo cáo viên pháp luật ngành giáo

2013 – 2016 của UBND tỉnh Đắk Lắk (giao Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì tổ

chức, thực hiện).

2.4.2.7. Xóa đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội, giảm sự phân

hóa giàu nghèo, bảo đảm nền tảng cho phát triển bền vững

Để bảo đảm thực hiện quyền con người trong nhà nước pháp quyền thì quan

trọng nhất là nghèo đói phải được giải quyết về căn bản. Nền kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa phải là một xã hội người giàu với số lượng ngày càng đông

và người nghèo số lượng ngày càng giảm. Để thực hiện được điều đó, vấn đề quan

trọng hiện nay là Nhà nước với vai trò điều tiết vĩ mô, quản lý nền kinh tế, dùng

công cụ, sức mạnh thông qua chính sách thuế, thực hiện việc điều tiết, phân phối lợi

ích và bảo đảm phúc lợi xã hội, trong đó chú trọng đến các đối tượng hưởng chính

sách xã hội, đến vùng sâu, vùng xa; đồng thời, có chiến lược phát triển kinh tế vùng

miền, bảo đảm vùng sâu, vùng xa dần tiến kịp với các thành phố, đô thị…

Kinh nghiệm chỉ ra rằng, những bất ổn về chính trị, sự phân hóa và ly khai có

những nguyên nhân sâu xa của nó, nhưng đều bắt nguồn từ sự phân bổ không công

bằng về lợi ích vật chất, lợi ích tinh thần và sự phân cách giàu nghèo quá lớn trong

xã hội. Vì thế, để khắc phục tình trạng trên, cần thực hiện tốt chiến lược xóa đói,

giảm nghèo. Trong đó, việc đào tạo nghề, cho vay vốn, ưu tiên trong giáo dục, đào

tạo, trong đầu tư… đối với đối tượng nghèo, gia đình khó khăn, gia đình thuộc diện

chính sách, con em nông dân và đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc

thiểu số ở tỉnh Đăk Lăk nói riêng và trên cả nước nói chung phải là bước đi đầu tiên

trong hoạch định chính sách cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Và phát triển đồng đều phải

trở thành một nguyên tắc trong hoạch định chính sách xã hội, chính sách kinh tế.

Chỉ khi kinh tế được cải thiện thì người dân mới có nhu cầu quan tâm đến các

94

quyền của mình, và cụ thể là quyền con người.

KẾT LUẬN

Quyền con người là yếu tố cơ bản, nền tảng của một xã hội dân chủ, văn

minh. Tư tưởng về quyền con người đã hình thành từ rất sớm trong lịch sử nhân

loại; nhưng không phải trong bất cứ hình thái kinh tế - xã hội nào, trong bất cứ kiểu

Nhà nước nào nó cũng tồn tại và được thừa nhận một cách đầy đủ. Vì thế, quyền

con người là một phạm trù lịch sử và là kết quả của cuộc đấu tranh không ngừng

của toàn nhân loại vươn tới những ý tưởng, giải phóng hoàn toàn con người nhằm

xây dựng một xã hội thật sự công bằng, dân chủ, nhân đạo. Nguyên Thứ trưởng Bộ

Tư pháp Hoàng Thế Liên đã từng nói: “Quyền con người là một giá trị tinh hoa của

nhân loại, là khát vọng và thành quả đấu tranh của các dân tộc trên toàn thế

giới. Nhà nước Việt Nam luôn coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của

mọi chính sách phát triển kinh tế - xã hội và thực hiện nhất quán chính sách bảo

đảm và thúc đẩy các quyền con người”.

Giáo dục quyền con người là một chiến lược dài hạn, dành cho thế hệ tương

lai. Giáo dục quyền con người không dành cho những người thiếu kiên nhẫn, muốn

nhìn thấy sự thay đổi ngay lập tức. Giáo dục quyền con người nhằm xây dựng

những chương trình sáng tạo để thúc đẩy phát triển con người, hòa bình, dân chủ và

tôn trọng Nhà nước pháp quyền. Giáo dục quyền con người ở Việt Nam có vai trò

đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp giáo dục - đào tạo thế

hệ trẻ; đối với sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; là cơ sở

để quần chúng nhân dân hình thành nhận thức đúng đắn về quyền con người, củng

cố niềm tin của quần chúng đối với Đảng, Nhà nước; chống lại những kẻ lợi dụng

nhân quyền để xuyên tạc, vu khống chế độ, lừa dối, mua chuộc, vận động đồng bào

dân tộc ở tây nguyên thành lập cái gọi là “Nhà nước ĐêGa độc lập”; chống lại

những hoạt động lợi dụng chiêu bài "nhân quyền" của một số nước phương Tây và

các thế lực phản động, thù địch chống phá công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở

Việt Nam. Chính vì thế, nghiên cứu về giáo dục quyền con người, đánh giá thực

trạng, đề xuất giải pháp kịp thời đòi hỏi sự quan tâm hơn nữa của các nhà khoa học

trong thời gian tới.

Đắk Lắk là một tỉnh miền núi ở Tây Nguyên, về mặt bằng chung, còn gặp

nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội. Giáo dục về quyền con người ở tỉnh những năm

qua chủ yếu được thực hiện theo những phương cách chính thống như giáo dục

trong nhà trường, qua phổ biến, giáo dục pháp luật, qua hoạt động thi hành pháp

95

luật của cơ quan có thẩm quyền, và cũng đã đạt những thành tựu ban đầu. Hiện nay,

vấn đề giáo dục nhân quyền đã được quan tâm nhiều hơn, không chỉ bởi sự mở

mang dân trí, mà còn gắn liền với giảm nghèo bền vững, xây dựng nhà nước pháp

quyền, ổn định an ninh chính trị, ổn định và phát triển tín ngưỡng, tôn giáo theo chủ

trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đây cũng là những điểm đặc thù trong

96

nghiên cứu về nhân quyền, giáo dục nhân quyền ở Đắk Lắk./.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Phạm Ngọc Anh (2007), “Quyền con người ở Việt Nam hiện nay – Thực

trạng và giải pháp đảm bảo phát triển”, Tạp chí bảo hiểm xã hội, (8).

2. Ban Bí thư (2010), Chỉ thị số 44-CT/TW ngày 20/7/2010 của Ban Bí thư

về công tác nhân quyền trong tình hình mới.

3. Nguyễn Thị Báo (2008), “Một số vấn đề về giáo dục quyền con người ở

Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Cộng sản điện tử, (12).

4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Giáo dục công dân 6, 7, 8, 9, 10,

11 và Giáo dục công dân 12, NXB Giáo dục.

5. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Vở bài tập Đạo đức 3 và Đạo đức 5,

NXB Giáo dục.

6. Bộ Tư pháp (2011), Quyết định số 3821/QĐ-BTP ngày 12/09/2011 của

Bộ Tư pháp phê duyệt Đề án tổng thể “Thực hiện Chỉ thị số 44-CT/TW ngày

20/7/2010 của Ban Bí thư về công tác nhân quyền trong tình hình mới và thực hiện

các khuyến nghị được Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thông qua theo cơ chế

kiểm điểm định kỳ (UPR)”, trong đó có nhiệm vụ “Xây dựng và triển khai kế hoạch

tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nước về quyền con người”.

7. Bộ Tư pháp (2012), “Sổ tay tìm hiểu pháp luật trong nước về quyền con

người”, Tiểu đề án tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nước về quyền

con người, NXB Tư pháp.

8. Vũ Thị Minh Chi – Nguyễn Anh Đào (2008), “Giáo dục quyền con

người là giáo dục tính chủ thể đối với quyền”, Tạp chí Nghiên cứu con người, (5).

9. Chính phủ (2011), Nghị định số 05/2011/NĐ-CP Về công tác dân tộc.

10. Chính phủ (2011), Nghị định số 69/2011/NĐ-CP Quy định xử phạt vi

phạm hành chính về y tế dự phòng, môi trường y tế và phòng, chống HIV/AIDS.

11. Nguyễn Đăng Dung – Vũ Công Giao – Lã Khánh Tùng (2011), Giáo

trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.

12. Nguyễn Đăng Dung – Phạm Hồng Thái – Vũ Công Giao – Lã Khánh

Tùng (2012), Hỏi đáp về quyền con người, NXB Đại học quốc gia Hà Nội.

13. Nguyễn Văn Dũng (2011), “Những vấn đề thực tiễn đặt ra khi triển khai

các hoạt động giáo dục quyền con người tại Việt Nam”, Giáo dục quyền con người,

97

Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Khoa học xã hội.

14. Bùi Thị Đào (2008), “Lồng ghép vấn đề quyền con người trong giảng

dạy môn Luật Hành chính”, Tạp chí Luật học, (6).

15. Nguyễn Linh Giang (2011), “Giáo dục quyền con người – một quyền cơ

bản của con người”, Giáo dục quyền con người, Những vấn đề lý luận và thực tiễn,

NXB Khoa học xã hội.

16. Vũ Công Giao (2001), Cơ chế của Liên Hợp Quốc về nhân quyền, Luận

án thạc sỹ Luật học, Hà Nội.

17. Trương Thị Thu Hà (2011), Đánh giá các điều kiện đảm bảo cho giáo

dục quyền con người ở Việt Nam hiện nay, NXB Khoa học xã hội.

18. Đặng Ngọc Hoàng (2000), Thực trạng và phương hướng đổi mới giáo

dục pháp luật hệ đào tạo trung học chính trị ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sỹ

Luật học, Hà Nội.

19. Phạm Khiêm Ích – Hoàng Văn Hảo (1995), Quyền con người trong thế

giới hiện đại, Viện TTKHXH - TTNCQCN Hà Nội.

20. Bùi Nguyên Khánh (2011), “Phương pháp giáo dục quyền con người –

Kinh nghiệm từ các chương trình giáo dục quyền con người của Liên Hợp Quốc”,

Giáo dục quyền con người, Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Khoa học xã

hội.

21. Đỗ Minh Khôi (2011), “Giảng dạy và nghiên cứu về pháp luật quyền con

người tại trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh”, Giáo dục quyền con người,

Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Khoa học xã hội.

22. Nguyễn Hữu Lệ (1995), Một số vấn đề về Nhà nước pháp quyền, Luận

án chuẩn hóa trình độ thạc sỹ, Hà Nội.

23. Nguyễn Văn Mạnh – Nguyễn Thị Báo (2007), “Giáo dục quyền con

người trong các cơ sở đào tạo đại học không có chuyên ngành Luật – Vấn đề và giải

pháp”, Tạp chí Khoa giáo, (1).

24. Nguyễn Đức Minh (2010), “Giáo dục quyền con người ở Cộng hòa Liên

bang Đức”, Tạp chí Luật học, (4).

25. Phạm Hữu Nghị (2011), “Các tiền đề, điều kiện đảm bảo giáo dục quyền

con người”, Giáo dục quyền con người, Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB

Khoa học xã hội.

26. Cao Thị Oanh (2011), “Nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục

quyền con người”, Giáo dục quyền con người, Những vấn đề lý luận và thực tiễn,

98

NXB Khoa học xã hội.

27. Lê Khả Phiêu (2000), “Bảo vệ và phát triển quyền con người lý tưởng

phấn đấu của người cộng sản”, Thông tin quyền con người, Trung tâm Nghiên cứu

quyền con người - Học viện CTQG Hồ Chí Minh.

28. Hoàng Thị Kim Quế (2011), “Bàn về hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp

luật ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Khoa học pháp lý - Trường Đại học Luật Thành

phố Hồ Chí Minh, (4).

29. Hoàng Thị Kim Quế (2007), Lý luận chung Nhà nước và pháp luật,

NXB Đại học quốc gia Hà Nội.

30. Hoàng Thị Kim Quế (2012), “Những vấn đề đặt ra trong nghiên cứu, sửa

đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992 nhìn từ góc độ thực hiện Hiến pháp”, Tạp chí

Kiểm sát, (22).

31. Hoàng Thị Kim Quế (2012), “Trách nhiệm nhà nước trong việc thừa

nhận, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân”, Tạp chí Nhà nước và

pháp luật, (11).

32. Hoàng Thị Kim Quế (2012), “Văn hóa hiến pháp, Những giá trị nền tảng

của xã hội pháp quyền, dân chủ”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (4).

33. Hoàng Thị Kim Quế (2012), “Ý thức hiến pháp trong nhà nước pháp

quyền – nhận thức và những đặc trưng cơ bản”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (12).

34. Quốc hội (1992, 2001), Hiến pháp.

35. Quốc hội (2006), Luật phòng chống nhiễm vi rút gây ra hội chứng suy

giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS).

36. Quốc hội (2013), Hiến pháp.

37. Quốc hội (2010), Luật người khuyết tật.

38. Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk (2016), Kế hoạch số 02/KH-STP ngày

25/01/2016 của Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk thực hiện công tác phổ biến, giáo dục

pháp luật, hòa giải ở cơ sở, hương ước, quy ước trong ngành Tư pháp năm 2016.

39. Đinh Xuân Thảo (1996), Giáo dục pháp luật trong các trường Đại học

và Trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (không chuyên luật) ở nước ta hiện nay,

Luận án Tiến sỹ Luật học, Hà Nội.

40. Thủ tướng Chính phủ (2011), Quyết định số 366/QĐ-TTg ngày

14/03/2011 ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 44-CT/TW ngày

20/7/2010 của Ban Bí thư về công tác nhân quyền trong tình hình mới.

41. Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 409/QĐ-TTg ngày

99

09/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ Ban hành Chương trình hành động thực hiện

Kết luận số 04-KL/TW ngày 19 tháng 4 năm 2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng

(khóa XI) về kết quả thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09-12-2003 của Ban Bí

thư Trung ương Đảng (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công

tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ,

nhân dân từ năm 2012 đến năm 2016.

42. Thủ tướng Chính phủ (2013), Quyết định số 918/QĐ-TTg ngày

11/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn và thành phần

Ban Chỉ đạo về Nhân quyền.

43. Tỉnh Đoàn Đắk Lắk: “Khai mạc kỳ họp thứ 11, HĐND tỉnh Đắk Lắk

khóa VIII” (http://tinhdoandaklak.gov.vn/BaiViet/Index/3269).

44. Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk (2012), Báo cáo tổng kết công tác năm 2012

và triển khai nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2013, Đắk Lắk.

45. Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk (2013), Báo cáo tổng kết công tác năm 2013

và triển khai nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2014, Đắk Lắk.

46. Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk (2014), Báo cáo tổng kết công tác năm 2014

và triển khai nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2015, Đắk Lắk.

47. Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk (2015), Báo cáo tổng kết công tác năm

2015 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2016 của Tòa án nhân dân hai

cấp tỉnh Đắk Lắk, Đắk Lắk.

48. Nguyễn Hữu Trí (2001), Giáo dục quyền con người, quyền công dân ở

nước ta hiện nay – Thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sỹ Luật học, Hà Nội.

49. Trường ĐH Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật quốc tế, NXB Công an

Nhân dân.

50. UBND tỉnh Đắk Lắk (2012), Quyết định số 2464/QĐ-UBND ngày

26/10/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk Ban hành Kế hoạch thực hiện Quyết

định số 409/QĐ-TTg ngày 09/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương

trình hành động thực hiện Kết luận số 04-KL/TW ngày 19/4/2011 của Ban Bí thư

Trung ương Đảng (khóa XI) trên địa bàn tỉnh từ năm 2012 đến năm 2016;

51. UBND tỉnh Đắk Lắk (2014), Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát

triển kinh tế - xã hội năm 2014 và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2015

(nguồn: http://baochinhphu.vn/Dia-phuong-tong-ket-nam-2014/Bao-cao-tinh-hinh-

phat-trien-KTXH-nam-2014-tinh-Dak-Lak/216507.vgp).

52. UBND tỉnh Đắk Lắk (2015), Quyết định số 3023/QĐ-UBND ngày

100

13/11/2015 của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc ban hành “Kế hoạch triển khai thực

hiện Đề án “Đẩy mạnh phổ biến nội dung cơ bản của Công ước quốc tế về các

quyền dân sự, chính trị và pháp luật Việt Nam về các quyền dân sự, chính trị cho

cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân giai đoạn 2015 - 2020”.

53. UBND tỉnh Đắk Lắk (2016), Quyết định số 1281/QĐ-UBND ngày

09/5/2016 về việc kiện toàn Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật tỉnh

Đắk Lắk.

54. UBND tỉnh Đắk Lắk (2016), Quyết định số 116/QĐ-UBND ngày

12/01/2016 của UBND tỉnh Đắk Lắk về việc ban hành Kế hoạch thực hiện công tác

phổ biến, giáo dục pháp luật, hòa giải ở cơ sở, hương ước, quy ước năm 2016.

55. Phùng Thế Vắc – Đinh Thị Mai (2011), “Nghiên cứu giảng dạy quyền

con người, quyền công dân ở Học viện An ninh nhân dân”, Giáo dục quyền con

người, Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Khoa học xã hội.

56. Viện ngôn ngữ (1999), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin.

57. Võ Khánh Vinh (2011), Giáo dục quyền con người, Những vấn đề lý

luận và thực tiễn, NXB Khoa học xã hội.

58. Wolfgang Benedek (2008), Tìm hiểu về quyền con người – Tài liệu

hướng dẫn về giáo dục quyền con người, NXB Tư pháp.

59. http://thoibao.today, “Đăk(cid:0)Lăk mời doanh nghiệp đầu tư giáo dục

mầm”, (http://thoibao.today/paper/daklak-moi-doanh-nghiep-dau-tu-giao-duc-mam-

101

non-834774).