BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Phạm Thị Thủy Ngân
ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG NGÔN NGỮ
TRONG TIỂU PHẨM CỦA LÊ HOÀNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Phạm Thị Thủy Ngân
ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG NGÔN NGỮ
TRONG TIỂU PHẨM CỦA LÊ HOÀNG
Chuyên ngành
: Ngôn ngữ học
Mã số
: 60 22 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HUỲNH THỊ HỒNG HẠNH
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu
trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên
cứu nào khác.
Tác giả luận văn
Phạm Thị Thủy Ngân
1
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến TS. Huỳnh Thị Hồng Hạnh, người đã tận tình hướng
dẫn, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn quý thầy cô giáo đã giúp đỡ và truyền đạt những kiến thức
và kinh nghiệm quý báu để tôi thực hiện luận văn này.
Tôi cũng xin cảm ơn Phòng Sau đại học Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh
đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình và bạn bè tôi, những người đã
quan tâm, động viên, giúp đỡ tôi về nhiều mặt trong quá trình học tập và nghiên cứu.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 9 năm 2013
Tác giả
Phạm Thị Thủy Ngân
2
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
QUY ƯỚC TRÌNH BÀY ............................................................................................ 5
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................... 6
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................ 6
2. Lịch sử vấn đề ................................................................................................................. 6
3. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................................... 7
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu................................................................................. 8
5. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................................. 8
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn ................................................................ 8
7. Kết cấu của luận văn ...................................................................................................... 9
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG .............................................................. 10
1.1. Một số vấn đề về thể loại tiểu phẩm ........................................................................ 10
1.1.1. Quan niệm về tiểu phẩm ....................................................................................... 10
1.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của thể loại tiểu phẩm ...................................... 12
1.1.3. Đặc trưng của tiểu phẩm....................................................................................... 14
1.1.4. Kết cấu của tiểu phẩm .......................................................................................... 16
1.1.5. Ngôn ngữ của tiểu phẩm ...................................................................................... 16
1.2. Khái quát về tiểu phẩm Lê Hoàng ........................................................................... 17
1.2.1. Vài nét về tác giả Lê Hoàng ................................................................................. 17
1.2.2. Các vấn đề xã hội được phản ánh trong tiểu phẩm Lê Hoàng ............................. 18
1.2.3. Các hình thức thể hiện trong tiểu phẩm Lê Hoàng .............................................. 21
1.3. Tiểu kết ....................................................................................................................... 25
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG TỪ NGỮ, CÚ PHÁP TRONG TIỂU PHẨM CỦA LÊ HOÀNG ......................................................................................... 26
2.1. Đặc điểm sử dụng các lớp từ ngữ ............................................................................ 26
2.1.1. Sử dụng lớp từ khẩu ngữ ...................................................................................... 26
2.1.2. Sử dụng lớp từ ngữ gốc Âu .................................................................................. 31
2.1.3. Sử dụng lớp từ ngữ địa phương và tiếng lóng ...................................................... 34
2.1.4. Sử dụng thành ngữ và chất liệu văn học .............................................................. 38
2.2. Đặc điểm cú pháp ...................................................................................................... 42
2.2.1. Về cấu tạo ngữ pháp ............................................................................................. 42
3
2.2.2. Về mục đích phát ngôn ......................................................................................... 51
2.3. Tiểu kết ....................................................................................................................... 61
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC VĂN BẢN VÀ CÁC PHÉP TU TỪ TRONG TIỂU PHẨM CỦA LÊ HOÀNG .............................................................. 63
3.1. Đặc điểm tổ chức văn bản ........................................................................................ 63
3.1.1. Dung lượng văn bản ............................................................................................. 63
3.1.2. Cách đặt tiêu đề văn bản ....................................................................................... 63
3.1.3. Kết cấu văn bản .................................................................................................... 64
3.1.4. Các phương thức liên kết văn bản ........................................................................ 70
3.2. Các phép tu từ ........................................................................................................... 73
3.2.1. So sánh.................................................................................................................. 74
3.2.2. Nhân hóa ............................................................................................................... 77
3.2.3. Ngoa dụ ................................................................................................................ 79
3.2.4. Liệt kê và tăng cấp ................................................................................................ 81
3.2.5. Phép điệp .............................................................................................................. 83
3.3. Tiểu kết ....................................................................................................................... 86
KẾT LUẬN ................................................................................................................ 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 90
NGUỒN DẪN LIỆU .................................................................................................. 95
4
QUY ƯỚC TRÌNH BÀY
- Tên tài liệu tham khảo và tên tác phẩm trích dẫn, chúng tôi in nghiêng và để trong
dấu ngoặc kép. Trường hợp liệt kê tên tác phẩm, chúng tôi in nghiêng và không đặt trong
dấu ngoặc kép.
- Các trích dẫn từ tài liệu tham khảo và các ví dụ được trình bày theo quy ước sau:
1. Các trích dẫn từ tài liệu tham khảo được đặt trong dấu ngoặc kép. Dấu ngoặc
vuông [ ] đặt sau các trích dẫn, bao gồm các chi tiết: số thứ tự trong danh mục tài liệu tham
khảo, số trang trích dẫn.
Ví dụ: Các tác giả của “Từ điển tiếng Việt” định nghĩa “Thành ngữ là tập hợp từ cố
định đã quen dùng mà nghĩa thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng
nghĩa các từ tạo nên nó.” [38, tr.915]
Đối với các trích dẫn không nguyên văn, trong dấu [ ] chỉ có số thứ tự tài liệu tham
khảo mà không có số trang.
2. Các ví dụ được trình bày theo số thứ tự, in thường và gạch chân dưới những chữ
cần nhấn mạnh. Dấu ngoặc đơn ( ) đặt sau các ví dụ gồm những chi tiết: số thứ tự ngữ liệu,
số trang trích dẫn.
Ví dụ: (36) Ở đây nhận đề-dzai bìa đĩa nhạc. (3, 412)
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử thể loại báo chí, tiểu phẩm đã xuất hiện từ hơn hai trăm năm trước. Ngay
từ khi mới ra đời, tiểu phẩm đã mang tính chiến đấu cao, nó là vũ khí sắc bén trong cuộc
đấu tranh với cái xấu, cái cũ, cái lạc hậu, vì một xã hội công bằng, tiến bộ và văn minh hơn.
Ngày nay, thể loại này ngày càng phát triển và trở nên quen thuộc hơn với công chúng. Trên
các phương tiện truyền thông, các cuộc thi,… ở đâu cũng thấy có sự góp mặt của tiểu phẩm.
Đây cũng là điều dễ hiểu, bởi khi cuộc sống trở nên hối hả, gấp gáp hơn, con người đòi hỏi
lượng thông tin cao hơn, nhanh gọn hơn thì với đặc điểm ngắn gọn, hài hước, cập nhật và vô
cùng sâu sắc, tiểu phẩm luôn là một “món ăn” thú vị với người đọc, người xem.
Nhắc tới những cây bút nổi tiếng ở thời kì đổi mới như Hữu Thọ, Lý Sinh Sự, Thảo
Hảo, Lê Văn Nghĩa,…, người ta không thể không nhắc đến Lê Hoàng. Ông không chỉ được
biết đến với tư cách là một đạo diễn nổi tiếng mà còn là một cây bút quen thuộc với độc giả
trên các báo An ninh thế giới cuối tháng, Tuổi trẻ cười, Thể thao văn hóa, Thanh niên dưới
bút danh Lê Thị Liên Hoan. Bằng ngòi bút thép luôn bám sát hơi thở của cuộc sống, tác giả
đã không ngần ngại vạch mặt chỉ tên những điều trái tai gai mắt trong xã hội dưới một cái
nhìn nhân bản. Với bốn cuốn sách gồm hàng trăm tiểu phẩm đã được xuất bản, Lê Hoàng
thực sự đã khẳng định tên tuổi của mình ở địa hạt này. Đây là một tác giả có bút lực dồi dào,
phong cách độc đáo. Đặc biệt, Lê Hoàng có một kho từ vựng vô cùng phong phú, được sử
dụng rất linh hoạt và sắc sảo với một giọng điệu đặc trưng không thể lẫn vào đâu được. Đọc
tiểu phẩm của Lê Hoàng, không ít người đã “ưu ái” gọi tác giả là một “gã” “đanh đá”,
“chua ngoa”, “cay nghiệt” nhưng cũng không kém phần “đôn hậu”.
Tiểu phẩm của Lê Hoàng đã mang lại một hiệu quả xã hội đặc biệt mà không ai có thể
phủ nhận được. Tuy nhiên, cho đến nay, có rất ít công trình nghiên cứu về tiểu phẩm của tác
giả này, đặc biệt, ngôn ngữ trong tiểu phẩm của ông vẫn chưa được nghiên cứu một cách cụ
thể và hệ thống. Chúng tôi thấy đây là vấn đề khá lý thú và bổ ích nên quyết định chọn đề
tài “Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong tiểu phẩm của Lê Hoàng” để nghiên cứu.
2. Lịch sử vấn đề
Ở Việt Nam, cho đến nay, có rất ít công trình nghiên cứu chung về tiểu phẩm báo chí.
Công trình tiêu biểu nhất hiện nay là giáo trình “Các thể loại báo chí chính luận nghệ thuật”
của Dương Xuân Sơn (2012), Nxb Giáo dục, Hà Nội. Trong cuốn sách này, tác giả đã dành
6
một chương để nói về tiểu phẩm. Ngoài ra, thể loại này còn được nhắc đến trong một số
giáo trình của Phân viện Báo chí tuyên truyền và trong tiểu luận của các tác giả khác.
Về một tác giả tiểu phẩm cụ thể, hầu hết các công trình trước đây đều chỉ tập trung
nghiên cứu về hai tác giả nổi tiếng đầu thế kỉ XX là Nguyễn Ái Quốc và Ngô Tất Tố. Chẳng
hạn như “Tiểu phẩm văn học và báo chí của Ngô Tất Tố” của Hà Minh Đức (1998), tạp chí
Văn học số 11; “Tiểu phẩm báo chí Hồ Chí Minh” của Tạ Ngọc Tấn (2000), Nxb Văn hóa –
Thông tin, Hà Nội; “Di sản báo chí Ngô Tất Tố - ý nghĩa lý luận và thực tiễn” của Phan Cự
Đệ (2005), Nxb Văn học, Hà Nội… Gần đây, một số tiểu phẩm của tác giả khác như Lê Văn
Nghĩa, Thảo Hảo (Phan Thị Vàng Anh), Lý Sinh Sự (Trần Đức Chính), Lê Thị Liên Hoan
(Lê Hoàng)… cũng được quan tâm nghiên cứu nhưng chủ yếu trên bình diện phong cách, ví
như luận văn thạc sĩ của Trần Xuân Thân (2006) “Phong cách hài trong các tiểu phẩm báo
chí hiện đại qua ba nhà báo Lý Sinh Sự, Lê Thị Liên Hoan, Thảo Hảo”, Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn, Hà Nội.
Riêng về tác giả Lê Hoàng, hiện nay có rất ít công trình nghiên cứu về tiểu phẩm của
ông. Ở cấp độ luận văn thạc sĩ mới chỉ có công trình của Trần Xuân Thân (2006) đã nhắc
đến ở trên. Trong công trình này, tác giả chủ yếu nghiên cứu về phong cách hài của Lê
Hoàng trong tương quan so sánh với các tác giả khác, bình diện ngôn ngữ tuy có đề cập đến
nhưng chưa được tìm hiểu một cách cặn kẽ, thấu đáo. Ngoài ra, vào năm 2012, trên blog cá
nhân của mình, Nguyễn Bùi Khiêm có viết một tiểu luận với đề tài “Tiểu phẩm báo chí của
Lê Hoàng - hiệu quả của một hướng đi riêng”. Ở bài viết này, tác giả chỉ tìm hiểu tiểu phẩm
của Lê Hoàng trong phạm vi 29 bài phỏng vấn giả tưởng, từ đó, rút ra những điểm tích cực
và hạn chế của nó chứ chưa tìm hiểu toàn bộ tiểu phẩm của Lê Hoàng. Bên cạnh đó, các bài
báo viết về chân dung nhà báo Lê Thị Liên Hoan cũng xuất hiện trên một số tờ báo. Tuy
nhiên, các bài viết này chỉ mang tính riêng lẻ, chưa hệ thống.
Như vậy, nghiên cứu về tiểu phẩm Lê Hoàng đã có những cơ sở nhất định. Tuy nhiên,
việc nghiên cứu về đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong tiểu phẩm của tác giả này vẫn là một
vấn đề còn bỏ ngỏ. Trên cơ sở kế thừa kết quả nghiên cứu của những công trình nghiên cứu
trước đây, luận văn này sẽ xem xét vấn đề sử dụng ngôn ngữ trong tiểu phẩm Lê Hoàng một
cách đầy đủ và toàn diện hơn.
3. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là tập trung nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống những
đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong tiểu phẩm của Lê Hoàng để thấy được những ưu điểm và
7
nhược điểm trong cách sử dụng ngôn ngữ ở nhà báo này. Từ đó, rút ra bài học cho hoạt
động viết tiểu phẩm và chỉ ra xu hướng vận động, phát triển của thể loại này.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn lấy 358 tiểu phẩm của Lê Hoàng đã được xuất bản trong bốn cuốn sách sau
đây làm ngữ liệu nghiên cứu: Thư của bà vợ gửi cho bồ nhí (2009), Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí
Minh; Phỏng vấn con bò (2011), Nxb Hội nhà văn, Hà Nội; Thư của Trứng Gà gửi Chứng
Khoán (2011), Nxb Thanh Niên, TP. Hồ Chí Minh; Xuất khẩu cười (2011), Nxb Thanh
Niên, TP. Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Tiểu phẩm của Lê Hoàng được viết bằng cả văn xuôi và văn vần. Tuy nhiên, vì số
lượng tiểu phẩm được viết bằng văn vần quá ít (8/358 tác phẩm) nên trong công trình này,
chúng tôi lấy những tiểu phẩm được viết bằng văn xuôi làm ngữ liệu chính và chỉ tập trung
nghiên cứu ngôn ngữ trên các mặt: từ ngữ, cú pháp, văn bản và tu từ.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
5.1. Phương pháp miêu tả - phân tích – tổng hợp
Phương pháp này dùng để miêu tả và phân tích các đơn vị ngôn ngữ trong tiểu phẩm
của Lê Hoàng như từ ngữ, câu văn, văn bản và tu từ. Trên cơ sở đó, luận văn sẽ tổng hợp,
khái quát lên những đặc điểm sử dụng ngôn ngữ ở nhà báo này.
5.2. Phương pháp so sánh đối chiếu
Phương pháp này dùng để so sánh đối chiếu tiểu phẩm của Lê Hoàng với tiểu phẩm
của một số tác giả khác (Hữu Thọ, Ba Thợ Tiện, Lý Sinh Sự) trên các phương diện khác
nhau để làm nổi bật đặc điểm riêng trong tiểu phẩm của ông.
Ngoài những phương pháp vừa kể trên, để có được những số liệu minh chứng đáng tin
cậy, chúng tôi còn sử dụng thủ pháp khảo sát, thống kê.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận, luận văn sẽ góp phần làm rõ thêm và hệ thống hóa lại những đặc điểm
sử dụng ngôn ngữ trong tiểu phẩm, một thể loại đang rất được ưa chuộng hiện nay.
8
Về mặt thực tiễn, với những kết quả đạt được ở quá trình nghiên cứu, luận văn hi vọng
sẽ thúc đẩy hơn nữa quá trình gia tăng sáng tạo trong hoạt động báo chí. Đồng thời, luận văn
sẽ là tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm nghiên cứu tiểu phẩm nói chung và tiểu phẩm
của Lê Hoàng nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương.
Chương 1. Những vấn đề chung
Chương này trình bày những vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài nghiên cứu như:
quan niệm về tiểu phẩm, lịch sử ra đời và phát triển của tiểu phẩm, đặc trưng, kết cấu, ngôn
ngữ của tiểu phẩm. Bên cạnh đó, chúng tôi còn dành một phần để nói về tác giả Lê Hoàng,
những vấn đề xã hội và các hình thức thể hiện trong tiểu phẩm của ông.
Chương 2. Đặc điểm sử dụng từ ngữ, cú pháp trong tiểu phẩm của Lê Hoàng
Ở chương này, thông qua những dữ liệu thu thập, chúng tôi sẽ khảo sát, phân loại,
miêu tả để làm rõ những đặc điểm sử dụng các phương tiện từ ngữ, cú pháp trong tiểu phẩm
Lê Hoàng.
Chương 3. Đặc điểm tổ chức văn bản và các phép tu từ trong tiểu phẩm của Lê
Hoàng
Chương này trình bày về cách đặt tiêu đề, kết cấu, dung lượng, các phép liên kết văn
bản và các biện pháp tu từ được tác giả sử dụng.
9
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1. Một số vấn đề về thể loại tiểu phẩm
1.1.1. Quan niệm về tiểu phẩm
Tiểu phẩm tiếng Latinh là “Satira” tiếng Pháp là “feuilleton” gốc ở từ “feuille” nghĩa
là “tờ giấy, chiếc lá”.
Trong cuốn “Dictionary of Literary Terms and Literary Theory”, khái niệm
“feuilleton” được hiểu là “một bổ sung ban hành kèm theo một tờ báo. Nó được khai sinh
bởi Julien Louis Geoffroy – chủ bút của tờ báo Journal des Débats. Đó là một loại phụ
trương, được in ở phần dưới cùng của một trang báo và có thể tháo rời.” [58, tr.340]
Ở Séc, người ta còn gọi tiểu phẩm là “bài dưới vạch” (podcara) hay khu vực “phi
kiểm duyệt”. Ở Đức, “khái niệm “feuilleton” được dùng để chỉ tất cả các bài báo ngắn in
trên các trang phụ trương, viết về văn hóa, xã hội, giới thiệu và phê bình văn học nghệ thuật,
kể cả những bài bình luận chính trị và không tính tới chất hài hước, châm biếm ở đó có hay
không.” [dẫn theo 27, tr.193]
Trong sự vận động và phát triển của mình, tiểu phẩm có sự giao thoa loại hình và ngày
càng xích lại gần văn học. Chính vì thế, nhà nghiên cứu J. Táborská cho rằng “đây chỉ là
một thể loại văn học xuất hiện và phát triển nương nhờ trên đất báo.” [dẫn theo 27, tr.193]
Nhìn chung, tùy từng khu vực mà có những quan điểm khác nhau về tiểu phẩm.
“Người Trung Quốc xem các loại tự, bạt, ký, truyện, văn tế, thư tín,… có ngôn ngữ trau
chuốt, tình cảm phong phú đều là văn tiểu phẩm. Người phương Tây xem văn tiểu phẩm
(tiếng Anh: essay) là thể loại văn xuôi nhỏ, kết cấu tự do, thiên về thể hiện các ấn tượng và
ý kiến cá nhân trước các sự việc và vấn đề cụ thể, không nhằm đưa ra cách lý giải bao quát
và xác định hoàn toàn, điều cốt yếu là có cách kiến giải mới mẻ, gây ấn tượng sâu đậm.” [19,
tr.422]
Ở Việt Nam, có rất nhiều quan niệm khác nhau về tiểu phẩm. Theo tổng hợp của
chúng tôi, có thể chia thành hai quan niệm chính sau:
Quan niệm thứ nhất được không ít các nhà nghiên cứu, đặc biệt là các nhà lý luận văn
học tán đồng. Các tác giả theo quan niệm này cho rằng tiểu phẩm là một thể loại văn học
đặc biệt, rất gần gũi với báo chí, mang tính thời sự và tính chiến đấu cao. “Văn tiểu phẩm là
văn tố cáo, vạch trần, châm biếm, đả kích, có khi phải đả kích thật mạnh.” [28, tr.432]
10
Theo Đức Dũng, “tiểu phẩm là thể loại văn học tồn tại trong môi trường báo chí, thể
hiện những tính chất báo chí rất mạnh mẽ và năng động. Nói cách khác, tiểu phẩm là thể
loại văn học tồn tại và phát huy sức mạnh của nó trong môi trường báo chí.” [60]
Tác giả Phan Cự Đệ cho rằng “Loại văn châm biếm này phù hợp với yêu cầu kịp thời,
gọn nhẹ, súc tích của thể loại văn học chiến đấu trên báo chí hàng ngày, khuôn khổ của nó
phù hợp với điều kiện thì giờ của cả người viết lẫn người đọc.” [35, tr.395]
Bên cạnh đó, các tác giả của “Từ điển thuật ngữ văn học” còn xem tiểu phẩm là “thể
loại tản văn ngắn gọn, xinh xắn nhưng giàu chất trữ tình (…) Văn tiểu phẩm có loại thiên về
triết lý, có loại thiên về tiểu sử, phong tục, phong cảnh; có loại nghiêng về phê bình văn học;
có loại nghiêng về phổ biến khoa học, lại có loại thuần túy trữ tình. Phong cách chung của
văn tiểu phẩm là tính hình tượng cô đọng, tính ngụ ý, ngữ điệu trò chuyện, tâm tình, bộc lộ
trực tiếp nhân cách cá tính của tác giả, để lại ấn tượng nhẹ nhàng, khoáng đạt.” [19, tr.422]
Quan niệm thứ hai cho rằng tiểu phẩm là một thể loại báo chí, mang tính văn học. Đại
diện tiêu biểu cho quan niệm này là Bùi Đình Khôi, Dương Xuân Sơn… Theo Bùi Đình
Khôi, “Tiểu phẩm là một thể loại tác phẩm báo chí ngắn gọn, mang tính văn học, được diễn
đạt bằng một ngôn ngữ châm biếm hoặc hài hước về một sự việc có thực, cụ thể, hoặc khái
quát, mà thông qua đó tác giả biểu hiện quan điểm của mình trước những sự việc hoặc hiện
tượng đó.” [34, tr.248]
Tác giả Dương Xuân Sơn [41, tr.120] cho rằng “Tiểu phẩm là một thể loại báo chí ở
nhóm chính luận – nghệ thuật, mang tính văn học, được diễn đạt bằng ngôn ngữ châm biếm,
đả kích hoặc hài hước về một sự kiện, sự việc, hiện tượng có thực, cụ thể hoặc khái quát,
qua đó tác giả thể hiện quan điểm của mình về sự kiện, hiện tượng đó.” Quan điểm này về
cơ bản không khác với Bùi Đình Khôi.
Cũng theo quan điểm này, khái niệm “tiểu phẩm” được các tác giả của “Từ điển tiếng
Việt” định nghĩa: “1. Bài báo ngắn về vấn đề thời sự, có tính chất châm biếm, 2. Màn kịch
ngắn mang tính chất hài hước, châm biếm hoặc đả kích.” [38, tr.1269]
Như vậy hầu hết các tác giả theo quan niệm này đều dựa vào ba tiêu chí: ngắn, thời sự,
có tính châm biếm để định nghĩa tiểu phẩm. Về cơ bản, tiểu phẩm là một thể loại báo chí
nhưng ít nhiều vẫn mang tính văn học.
Ngoài hai quan niệm trên, tác giả Tạ Ngọc Tấn trong cuốn “Tiểu phẩm báo chí Hồ Chí
Minh” lại khẳng định không có ranh giới tồn tại giữa “tiểu phẩm báo chí” và “tiểu phẩm văn
11
học”, mà chỉ có một thể loại được gọi với những tên gọi khác nhau như: “tiểu phẩm”, “tiểu
phẩm báo chí” hay “tiểu phẩm văn học”.
Những tranh cãi xung quanh các quan niệm về tiểu phẩm cho đến nay vẫn chưa đến
hồi kết. Lý giải về điều này, Đức Dũng [60] cho rằng nguyên nhân cơ bản là do “sự năng
động và linh hoạt của tiểu phẩm trong quá trình phản ánh hiện thực”. Chính sự đa dạng về
hình thức thể hiện (văn xuôi, văn vần, thơ, ca dao, tranh biếm họa,…) cùng với việc vận
dụng linh hoạt các thủ pháp nghệ thuật đã dẫn đến những quan niệm khác nhau về tiểu
phẩm nói trên.
Theo quan điểm của chúng tôi, dù có vay mượn một số yếu tố, thủ pháp của văn học
nhưng tiểu phẩm vẫn là một thể loại báo chí bởi sự ra đời của tiểu phẩm nằm trong sự vận
động của báo chí. Hơn nữa, chức năng chính của nó là chức năng thông tin, phản ánh trực
tiếp các vấn đề của đời sống xã hội một cách khách quan. Tính lý luận, lập luận sắc bén là
yếu tố thuyết phục người đọc, cũng là yếu tố tạo nên bản lĩnh, chính kiến của người viết.
Còn tính châm biếm, tính hài và một số thủ pháp vay mượn của văn học là cái vỏ hình thức
để tăng thêm tính hấp dẫn cho tác phẩm. Nguyễn Thị Minh Thái đã từng khẳng định: “Khi
làm báo thì tư cách nhà báo là số một. Anh có thể vay mượn phương pháp từ các loại hình
khác nhưng phải nhận thức rằng mình là người đưa thông tin, đưa cái mới.” [67] Chính bởi
lẽ đó, chúng tôi coi tiểu phẩm là một thể loại báo chí thuộc nhóm chính luận nghệ thuật.
Tóm lại, tuy quan niệm của các tác giả chưa có sự thống nhất, nhưng dựa vào những ý
kiến trên, chúng tôi rút ra những nhận xét cơ bản về thể loại này như sau:
Thứ nhất, tiểu phẩm là một thể loại báo chí thuộc nhóm chính luận nghệ thuật.
Thứ hai, tiểu phẩm có dung lượng nhỏ, ngắn gọn, cô đọng.
Thứ ba, tiểu phẩm có tính chiến đấu cao thông qua nghệ thuật trào phúng, đả kích,
châm biếm.
Thứ tư, tiểu phẩm thể hiện rất rõ thái độ, quan điểm, lập trường của người viết đối với
vấn đề được đề cập.
1.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển của thể loại tiểu phẩm
1.1.2.1. Trên thế giới
Nhiều tài liệu nghiên cứu cho rằng tiểu phẩm ra đời trong thời kì cách mạng dân chủ
tư sản Pháp lần thứ nhất - cuối thế kỉ thứ XVIII. Lúc bấy giờ, tiểu phẩm được gọi là
“feuilleton" với đặc điểm ngắn gọn và có tính châm biếm. Ngay từ khi ra đời, tiểu phẩm đã
trở thành “tiếng nói của giai cấp cách mạng, tiếng nói của khuynh hướng vận động tích cực
12
hợp quy luật lịch sử chống lại giai cấp phản động, những thế lực cản trở bánh xe lịch sử.”
[42, tr.5]
Một số tài liệu báo chí Xô Viết lại ghi nhận sự ra đời của tiểu phẩm vào những năm
60-70 của thế kỉ XVIII với sự xuất hiện các bài viết châm biếm sắc sảo của N. I. Novikov và
A. I. Gercen trên báo chí Nga. Quan điểm này cho rằng ở Pháp tiểu phẩm xuất hiện muộn
hơn vì phải đến đầu thế kỉ XIX mới xuất hiện các bài viết của cố đạo Julien Louis Geoffroy
trên báo chí Pháp.
Lịch sử tiểu phẩm thế giới đã ghi nhận nhiều tác giả nổi tiếng dùng ngòi bút của mình
như một vũ khí đấu tranh, cải tạo xã hội như: A. I. Gercen, A. P. Chekhov, Maxim Gorky,
Anatole France, Voltaire, Lỗ Tấn,…
1.1.2.2. Ở Việt Nam
Do báo chí ở nước ta ra đời khá muộn – khoảng giữa thể kỉ XIX nên tiểu phẩm cũng
xuất hiện muộn hơn so với thế giới. Theo các tài liệu nghiên cứu, những bài viết trào phúng
ban đầu chỉ mang tính “hài” đơn thuần, về sau mới hình thành nên dạng thức tiểu phẩm.
Đến những năm đầu thế kỉ XX, tiểu phẩm mới xuất hiện trên báo chí.
Vào những năm hai mươi của thế kỉ này, khi hoạt động ở nước ngoài, Nguyễn Ái
Quốc đã viết nhiều bài trên những tờ báo Pháp như Le Paria (Người cùng khổ), L’Humanité
(Nhân đạo). Với tinh thần chiến đầu không khoan nhượng, Người đã vạch trần bộ mặt tàn
bạo của chủ nghĩa thực dân Pháp và thức tỉnh các dân tộc thuộc địa đấu tranh giành độc lập.
Ở trong nước, cũng trong thời kì này, nhiều tiểu phẩm in trên báo đã gây được tiếng vang
lớn. Ngô Tất Tố là một trong những cây bút tiêu biểu đó. Ông được Vũ Trọng Phụng đánh
giá là “một tay ngôn luận xuất sắc trong đám làng Nho”, có những đóng góp quan trọng cho
sự phát triển thể loại
tiểu phẩm.
Đến thời kì Mặt Trận Dân Chủ (1936-1939), khi báo chí hoạt động công khai, bên
cạnh Nguyễn Ái Quốc và Ngô Tất Tố, ngày càng xuất hiện nhiều cây bút viết tiểu phẩm đặc
sắc như: Tam Lang, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Thông Reo. Với kết cấu ngắn
gọn, linh hoạt, bám sát những vấn đề thời sự, tiểu phẩm thời kì này đã lật tẩy bản chất xấu
xa của chế độ thực dân phong kiến, cỗ vũ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc.
Đến thời kì chống Mỹ, tiểu phẩm phát triển mạnh với những cây bút như Xích Điểu,
Lê Kim, Lã Vọng, Tú Mỡ, Hoàng Trung Thông,… Nội dung của các tác phẩm thời kì này
13
chủ yếu hướng vào đả kích, châm biếm, vạch trần những âm mưu thâm hiểm, những thủ
đoạn đê tiện của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai.
Khi đất nước thống nhất, hòa bình được lập lại, những tệ nạn xã hội như tham ô, hối lộ,
cửa quyền, hách dịch,… mỗi ngày một tinh vi và phức tạp hơn, đòi hỏi tiểu phẩm phải đa
dạng, linh hoạt hơn. Chính vì thế, nội dung và hình thức thể hiện của tiểu phẩm thời kì này
ngày một phong phú và hấp dẫn. Những cây bút “ăn khách” hiện nay như Hữu Thọ, Lê Văn
Nghĩa, Thảo Hảo (Phan Thị Vàng Anh), Lý Sinh Sự (Trần Đức Chính), Lê Thị Liên Hoan
(Lê Hoàng),… đã bắt kịp với yêu cầu của thời đại, biến ngòi bút thành con dao mổ sắc nhọn
để chích vào những ung nhọt của cuộc sống, góp phần bồi dưỡng cái tốt đẹp, tích cực, vì sự
phát triển của xã hội.
1.1.3. Đặc trưng của tiểu phẩm
1.1.3.1. Tính ngắn gọn, súc tích
Ngắn gọn, súc tích là yếu tố nhận diện quan trọng và cũng là một yêu cầu khắt khe đối
với thể loại này. Tiểu phẩm rất kị lối viết kể lể dài dòng vì như vậy sẽ kém hấp dẫn, dễ lạc
đề, mất điểm nút. Một tiểu phẩm thông thường chỉ độ 300 - 1500 chữ, thậm chí có tiểu
phẩm cực ngắn - dưới 300 chữ (tiểu phẩm của Bút Bi). Ngắn gọn, cô đọng nhưng phải nêu
bật những thông tin có ý nghĩa thời sự, qua đó thể hiện được quan điểm, lập trường của
người viết là một yêu cầu khó. Vì thế, để viết một tiểu phẩm thành công, ngoài vốn sống
phong phú, tác giả phải làm chủ được ngôn ngữ, có khả năng quan sát tinh tế và trình độ
khái quát cao mới có thể chuyển tải được những thông điệp có ý nghĩa theo kiểu “ý tại ngôn
ngoại”. Do đó, những tác giả thành công ở thể loại này thường là những cây bút cứng cỏi,
có tài hoạt ngôn.
Tóm lại, tiểu phẩm càng ngắn gọn, súc tích càng gây được ấn tượng mạnh. Trong thời
đại thông tin hiện nay, đặc trưng này chính là là một ưu thế của tiểu phẩm trong các thể loại
báo chí.
1.1.3.2. Tính châm biếm, đả kích
Vì đối tượng phản ánh của tiểu phẩm là những thói hư tật xấu, những điều trái tai gai
mắt, những cái ác, cái lạc hậu còn tồn tại trong xã hội, cho nên tính châm biếm đả kích là
một đặc điểm rất quan trọng của thể loại này. Châm biếm – đả kích là dùng lời lẽ thâm thúy
để phê phán, vạch trần bản chất của đối tượng, hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Tuy nhiên,
tùy vào đối tượng phản ánh mà sự châm biếm, đả kích có những sắc thái khác nhau. Nếu là
14
bài đánh địch, người viết phải chiến đấu không khoan nhượng để đánh gục, hạ bệ đối
phương bởi có những kẻ “thân lừa ưa nặng”, “mặt trơ trán bóng”, nếu không quyết liệt
chúng sẽ vẫn nhơn nhơn tự đắc. Nếu là bài phê phán những mặt trái trong nội bộ dân tộc,
người viết phải châm biếm – đả kích trên tinh thần “chống để xây” nhằm định hướng người
đọc ủng hộ lẽ phải, xây dựng một xã hội văn minh, tốt đẹp hơn.
Tuy nhiên, châm biếm, đả kích như thế nào để người đọc hả hê, không cảm thấy bài
viết mang tính giáo huấn khô khan, nặng nề là một điều không dễ. Chính vì thế, để khắc sâu
ấn tượng trong lòng độc giả, người viết đã sử dụng cái hài như một vũ khí đắc lực để truyền
tải thông điệp của mình.
1.1.3.3. Tính hài hước
Trong tiểu phẩm, cái hài gắn liền với phạm trù Mỹ học, phản ánh những nghịch lý,
những mâu thuẫn đáng cười của các sự vật, hiện tượng trong đời sống. Tùy theo thái độ,
quan điểm của tác giả đối với đối tượng phản ánh mà tiếng cười mang những cung bậc, ý
nghĩa khác nhau. Đối với kẻ thù, đó là tiếng cười khinh bỉ, tiếng cười đả kích để đánh đổ cái
ác. Đối với những thói hư tật xấu trong xã hội, đó là tiếng cười chua chát, cười nghiêm khắc
để phê bình cái xấu, xây dựng cái đẹp. Dù ở cung bậc nào, cái hài cũng được tạo thành từ ba
yếu tố cơ bản:
- Bản chất mang tính hài hước của đối tượng mà ai cũng dễ dàng cảm nhận được.
- Sự cường điệu của những đường nét, kích thước và những liên hệ của chúng trong việc
mô tả đối tượng.
- Sự sắc bén, ý nhị, hóm hỉnh của người thể hiện nhằm làm tăng thêm hiệu quả của tiếng
cười.
Nhìn chung, tiếng cười trong tiểu phẩm không khoa trương, lộ liễu mà kín đáo, thâm
trầm với cách nói hàm ngôn nhiều ẩn ý. Hiệu quả mà tiếng cười mang lại là khiến cho kẻ
“có tật” phải “giật mình”, còn người khác thì bật cười thích thú vì được tác giả “gãi đúng
chỗ ngứa”. Đó không phải là tiếng cười mang tính giải trí thuần túy mà là tiếng cười giáo
dục, tiếng cười của trí tuệ, cười để chiến đấu vì sự trong sạch, văn minh của xã hội. Chính vì
thế, nếu thiếu đi cái hài, tiểu phẩm chỉ còn là một ý kiến ngắn, một bài giáo huấn khô khan.
Hài hước chính là một đặc điểm quan trọng góp phần tạo nên linh hồn của một tiểu phẩm.
15
1.1.4. Kết cấu của tiểu phẩm
Kết cấu của tiểu phẩm rất ngắn gọn và chặt chẽ. Một tiểu phẩm thường có 3 phần: vào
đề, diễn giải, kết luận.
- Phần vào đề: Đây là phần có tính chất gợi mở vấn đề cần bàn, kích thích sự tò mò của
người đọc.
- Phần diễn giải: Là phần người đọc vào cốt lõi của vấn đề, tạo sự thắt nút và cởi nút
hoặc tạo tình huống rồi giải đáp tình huống đó.
- Phần kết luận: Là phần khái quát vấn đề đang bàn, đưa ra lời bình (nếu cần thiết), lời
bình có khi là của tác giả, có khi là của nhân vật.
Theo sự vận động, phát triển của xã hội truyền thông, các cây bút viết tiểu phẩm ngày
nay luôn cố gắng tìm tòi, xây dựng những kiểu kết cấu độc đáo, ngắn gọn, linh hoạt dưới
nhiều hình thức khác nhau. Có kết cấu dưới hình thức một bài phỏng vấn hoặc một cuộc trò
chuyện, lại có kết cấu dưới dạng một bản tin, một bức thư,…
Nhìn chung, một tiểu phẩm thành công phải có kết cấu kịch tính. Nghĩa là người viết
phải biết lựa chọn, sắp xếp các chi tiết một cách hợp lý, biết cài đặt mâu thuẫn “tự nhiên
một cách hữu ý”, đẩy mâu thuẫn lên đỉnh điểm rồi mới mở nút để tạo sự bất ngờ và cuốn hút
độc giả, khiến độc giả “thích mà nhớ, nhớ mà suy ngẫm, cười mà ghét, biết mà đánh giá,
hoặc để cảnh tỉnh, cảnh báo, cảnh giác.” [64]
1.1.5. Ngôn ngữ của tiểu phẩm
Ngôn ngữ được sử dụng trong tiểu phẩm rất đa dạng, linh hoạt. Đó là sự kết hợp đầy
ngẫu hứng giữa ngôn ngữ thông tin chính luận với ngôn ngữ hình tượng, thâm thúy, hàm
súc của văn học.
Trong các tiểu phẩm, người viết không dùng ngôn ngữ theo kiểu hàn lâm, bác học mà
sử dụng ngôn ngữ bình dân, mộc mạc, hóm hỉnh với sự vận dụng linh hoạt, thông minh,
sáng tạo vốn thành ngữ, tục ngữ, ca dao của văn học dân gian,… Đôi lúc, những điển tích,
điển cố và tiếng lóng cũng được đưa vào rất tự nhiên. Điều này làm cho tiểu phẩm gần gũi
với đại chúng, đem lại hiệu quả thông tin cao.
Bên cạnh đó, những thủ pháp văn học như lối ví von, so sánh, ẩn dụ, ngoa dụ, phúng
dụ, cài bẫy,… cũng được vận dụng triệt để trong tiểu phẩm để tạo nên lối diễn đạt sinh động,
giàu hình ảnh và hài hước, làm “mềm” cách truyền tải thông tin.
16
Mỗi tác giả tiểu phẩm đều có một phong cách ngôn ngữ riêng nhưng muốn thành công,
người viết phải có một kho ngôn từ khổng lồ, đặc biệt, phải biết lựa chọn và vận dụng khéo
léo, sáng tạo các yếu tố ngôn ngữ để chiêu đãi người đọc một “món ăn” tinh thần bổ dưỡng.
Tiểu phẩm muốn hay, ngôn ngữ phải được lựa chọn kĩ càng và hấp dẫn. Nếu không, tác
phẩm sẽ nhạt nhẽo, khô khan như một bản tin thời sự.
1.2. Khái quát về tiểu phẩm Lê Hoàng
1.2.1. Vài nét về tác giả Lê Hoàng
Lê Hoàng sinh ngày 20 tháng 1 năm 1956 tại Hà Nội. Ông là người có vốn hiểu biết sâu
rộng và là một nghệ sĩ đa tài trên nhiều lĩnh vực: nhà biên kịch, đạo diễn, nhà báo. Ngoài ra,
ông còn là một giám khảo đắt “show” trong các chương trình truyền hình.
Lê Hoàng học Đại học Xây dựng Hà Nội, sau chuyển sang Đại học Sân khấu điện ảnh,
Khoa Quay phim. Năm 1982, ông tốt nghiệp và chuyển vào thành phố Hồ Chí Minh làm
việc cho Hãng phim Giải Phóng.
Trong thập niên 1980, Lê Hoàng khởi nghiệp với tư cách là một nhà biên kịch. Một số
vở kịch của ông được nhiều người biết đến như: Tôi chờ ông đạo diễn (1985), Ngụ ngôn
năm 2000 (1986), Đi tìm những gì đã mất (1987),… Năm 1990, bộ phim Vị đắng tình yêu
do ông viết kịch bản đã gây được tiếng vang lớn, đoạt khá nhiều giải thưởng và bắt đầu từ
đây sự nghiệp của ông “lên như diều gặp gió”.
Trong vai trò là một đạo diễn, ông đã gặt hái được nhiều thành công trong liên hoan
phim Việt Nam với các tác phẩm nổi tiếng như Lưỡi dao (1995), Ai xuôi vạn lý (1996).
Nhưng phải đến Gái nhảy (2002), tên tuổi của Lê Hoàng mới thực sự “nổi như cồn”. Bộ
phim đã đem về doanh thu khoảng 12 tỷ đồng - con số kỉ lục của điện ảnh Việt Nam tính từ
khi đổi mới. Có thể nói, ông là một trong những đạo diễn xuất sắc có ảnh hưởng lớn đến nền
điện ảnh Việt Nam lúc bấy giờ. Tuy nhiên, sau thành công vang dội của Gái nhảy, sự
nghiệp điện ảnh của ông không được khởi sắc như trước.
Ngoài vai trò là một đạo diễn kiêm nhà biên kịch nổi tiếng, Lê Hoàng còn là một cây
bút “nhẵn mặt”, “nhẵn tên” trên các báo Tuổi trẻ cười, Thể thao & Văn hóa, An ninh thế
giới cuối tháng, Thanh Niên… Dưới bút danh Lê Thị Liên Hoan, Lê Hoàng đã “múa bút”
và gây không ít “sóng gió”, khiến cho nhiều “vị” phải tức anh ách. Tính đến thời điểm này,
ông đã xuất bản 6 cuốn sách với rất nhiều tiểu phẩm có giá trị: Phỏng vấn một anh hề
(2007), Thư của bà vợ gửi cho bồ nhí (2009), Thư của Trứng gà gửi Chứng khoán (2009),
17
Xuất khẩu cười (2010), Phỏng vấn con bò (2011), Sao trong mắt Lê Hoàng (2013). Bằng
ngòi bút thâm thúy hài hước, tài hoạt ngôn, châm biếm sắc sảo đi kèm với cái giọng chua
ngoa, “đanh đá cá cày”, tác giả đã phản ánh, mổ xẻ nhiều vấn đề thú vị, kịch tính của đời
sống xã hội, đem đến những trận cười hả hê và những chiêm nghiệm sâu sắc cho người đọc.
Độc giả Lê Thị Mẫu Hậu đã dành nhiều lời khen tặng cho Lê Hoàng: “Giọng điệu của Lê
Hoàng luôn tỏ ra là kẻ “ngốc một cách sâu sắc và toàn diện”, chính vì vậy mà những bài viết
của ông luôn có trí tuệ và luôn được bạn đọc tranh nhau chăm sóc như chăm sóc hoa hậu.
Văn của ông là loại “nam phụ lão ấu đều dùng được”, vừa hài hước vừa ý nghĩa, đọc rất
khoái. Ông viết có khi còn hay hơn làm phim.”
Trong vài năm trở lại đây, Lê Hoàng còn là gương mặt quen thuộc với vai trò giám
khảo ngồi “ghế nóng” hay làm MC cho các chương trình truyền hình. Ông nổi tiếng với rất
nhiều phát ngôn gây “sốc” và vấp phải không ít những ý kiến trái chiều từ dư luận và những
người trong nghề. Nhiều người cho rằng Lê Hoàng kém duyên, thậm chí ông từng bị gắn
“mác” “pêđê” bởi chất giọng ẻo lả, lắt léo như đàn bà. Đương nhiên, một cá tính mạnh như
Lê Hoàng không thể ngồi im nhận “gạch đá”, “búa rìu” của dư luận. Ông đã thẳng thắn đáp
trả “tại sao tôi phải sợ búa rìu dư luận khi bản thân tôi cũng là một thứ búa rìu” hay “tôi
không sợ bị ghét, chỉ sợ bị coi là hèn”,… Tất cả những điều đó tạo nên độ “hot” cho tên tuổi
Lê Hoàng. Và dù bị đánh giá là một kẻ “khó tính, cau có, chua cay, độc ác”, nhưng ông vẫn
khẳng định mình là “một người không ác tâm, thậm chí hiền lành”. Đôi lúc, ông cũng tự
trào “Tôi ác một cách đặc biệt, tôi ngu một cách phi thường, tôi đẹp trai một cách ngây thơ,
tôi tham lam một cách lộ liễu và tôi ngớ ngẩn một cách thường xuyên.”
Có thể thấy, dù gặp không ít “xì-căng-đan” nhưng ở lĩnh vực nào, Lê Hoàng cũng tạo
dựng cho mình một thương hiệu riêng. Tuy nhiên, ở đây, chúng tôi không bàn về Lê Hoàng
với tư cách là một đạo diễn, nhà biên kịch, giám khảo hay MC truyền hình mà chỉ tìm hiểu
ông ở vai trò là một tác giả viết tiểu phẩm “ăn khách”, có uy tín. Hi vọng thông qua việc tìm
hiểu tiểu phẩm của ông, chúng ta sẽ hiểu hơn về Lê Hoàng – một người mà nếu thiếu đi sẽ
để lại rất nhiều khoảng trống buồn tẻ.
1.2.2. Các vấn đề xã hội được phản ánh trong tiểu phẩm Lê Hoàng
Lê Hoàng là người có bút lực mạnh mẽ, ông viết nhanh, viết nhiều, duy trì được
“phong độ” khá ổn định qua mỗi bài viết. Tiểu phẩm của ông luôn bám sát hơi thở của cuộc
sống, đề cập đến đủ mọi vấn đề thú vị, kịch tính. Từ những vấn đề thời sự nóng hổi như
những bất cập trong công tác quản lý, điều hành xã hội; những biến đổi về đời sống tinh
18
thần dân tộc; nạn tham nhũng, cửa quyền, hách dịch,… đến những câu chuyện về người nổi
tiếng trong giới “showbiz” như Việt Trinh, Xuân Lan, Phương Thanh, Hiền Thục,… hay
thậm chí là những câu chuyện vụn vặt đời thường như chuyện phụ nữ đi gội đầu ở tiệm, phụ
nữ ăn quà, phụ nữ ngồi lê đôi mách,… cũng đều được tác giả đưa vào bài viết của mình một
cách tự nhiên, sinh động, hài hước. Với tư duy lật xới vấn đề nhanh nhạy và con mắt sắc sảo,
tinh tế của một người trải đời, lúc nào Lê Hoàng cũng nhanh chóng tìm thấy những sự vật,
hiện tượng “có vấn đề”, chứa đựng những mâu thuẫn, nghịch lý cần được tháo gỡ. Cho nên,
chưa bao giờ ông bí đề tài. Dưới đây là những mảng đề tài chính được Lê Hoàng đề cập đến.
1.2.2.1. Về văn hóa - nghệ thuật
Ở mảng đề tài này, đạo diễn Gái nhảy đã phân tích, mổ xẻ kĩ lưỡng những vấn đề về
điện ảnh, âm nhạc, sân khấu, văn chương, sự bùng nổ các cuộc thi nhan sắc hay vấn đề bảo
tồn di sản văn hóa truyền thống dân tộc.
Với tư cách là một người có thâm niên hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật giải trí, Lê
Hoàng đã phơi bày một hiện thực đáng buồn của nền nghệ thuật nước ta. Đó là một sân
khấu kịch mà “một số nhà quản lý đã không có khả năng tổ chức và khả năng thẩm định ra
những kịch bản vừa nghiêm túc vừa nóng bỏng như cuộc sống hôm nay.”(2, 142), một nền
văn học “âm thầm trong hiệu sách nhưng lại sôi động trên diễn đàn, mà sự sôi động thường
thiên về những chuyện cá nhân!” (2, 93), một nền điện ảnh thiếu chuyên nghiệp, một nền
âm nhạc “thiếu hẳn tính hàn lâm, tính chuyên môn và tính định hướng.” (4, 52)
Bên cạnh đó, thế giới của những người nổi tiếng trong làng giải trí, sự bùng nổ của các
cuộc thi hoa hậu mà thực chất là kinh doanh thương hiệu cũng được Lê Hoàng mổ xẻ kĩ
lưỡng.
Trong nhiều tiểu phẩm khác, tác giả còn đề cập đến hiện tượng sùng ngoại, bài nội
đáng báo động ở nước ta. Cùng với đó là “cuộc xâm lăng văn hóa” đang ngày càng diễn ra
khốc liệt. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để bảo vệ được truyền thống văn hóa của dân tộc, để
hòa nhập mà không bị hòa tan.
1.2.2.2. Về kinh tế - thị trường
Đây cũng là một đề tài hấp dẫn trong tiểu phẩm Lê Hoàng. Ở đề tài này, tác giả đề cập
đến các vấn đề như: việc đầu tư ngân sách nhà nước không đúng chỗ, nạn thất nghiệp, vấn
đề tăng giá xăng dầu, cuộc sống người dân trong cơn bão giá,…
19
Trong tiểu phẩm “Giá tăm và giá xăng”, tác giả đã miêu tả rất chân thật, hóm hỉnh
cuộc sống của vợ chồng anh Tư trong cơn bão giá:
(1) Gia đình chị Tư, cũng như hàng ngàn gia đình khác trong thành phố này, đang
vật lộn, chống chọi, kháng cự và cố thủ trong cơn bão giá… Mới đây, xăng lại bất ngờ lên
giá. Chị Tư lập tức đề ra kế hoạch cắt giảm tất cả những gì liên quan tới xăng trong sinh
hoạt gia đình. Hai vợ chồng đi chung một xe máy, không dùng xăng chùi vết bẩn trên quần
áo, không châm xăng vào hộp quẹt, thậm chí lúc cãi nhau nặng với chồng, chị sẽ không còn
dọa sẽ … tự thiêu. (3, 48)
Ngoài các vấn đề trên, Lê Hoàng còn đề cập đến những vấn đề liên quan đến sự bất ổn
của thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản,… Đặc biệt, những vấn đề về thị trường
thực phẩm được tác giả mổ xẻ rất kĩ lưỡng, nhất là tình trạng thực phẩm bị nhiễm độc nặng
nề, ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe người tiêu dùng. Ví dụ: sữa có mê-la-min, nước
tương có chất gây ung thư, nước mắm có u-rê, cà phê có bột bắp, trái cây có thuốc trừ
sâu,…
1.2.2.3. Về giáo dục, thể thao, giao thông
Ở đề tài về giáo dục, Lê Hoàng đề cập đến những bất cập như: tình trạng dạy thêm,
học thêm tràn lan, những bi hài khi phụ huynh đổ xô chạy trường điểm cho con, việc nhận
hối lộ của giáo viên,… Không dừng lại ở việc phê phán, tác giả còn lý giải nguyên nhân vì
sao nền giáo dục nước nhà lại kém chất lượng. Trong tiểu phẩm “Cuộc trò chuyện giữa một
thầy giáo và học sinh”, Lê Hoàng đề cập đến phương pháp dạy học theo khuôn mẫu, giết
chết khả năng sáng tạo của học sinh.
Thầy giáo: giáo dục không bao giờ có mặt trái, nhưng phương pháp giáo dục (2)
thì có. Phương pháp thuận tiện, có ý nghĩa nhất, dễ làm nhất và đơn giản nhất của giáo dục
là dạy học sinh phải làm giống cái này hoặc làm làm giống cái kia. Nó có cái lợi là tiện và
nhanh, lại an toàn, nhưng phương pháp đó sẽ thủ tiêu sự sáng tạo – vốn là hành vi quan
trọng nhất của mọi con người.
Học sinh: Chính vì thế mà…
Thầy giáo: Thầy khuyên em đọc sách để biết thôi. (2, 186)
(những chỗ in nghiêng là cách trình bày trong tác phẩm)
Ở đề tài về thể thao, tác giả đã đề cập đến những vấn đề như: văn hóa cỗ vũ thể thao,
sự ngây thơ vô lý của một vận động viên khi tham gia thế vận hội Bắc Kinh mà dùng
20
dopping (chất kích thích bị cấm dùng trong thi đấu thể thao),… Trong một số tiểu phẩm, tác
giả còn đưa ra chính kiến của mình về việc tuyển cầu thủ ngoại là không cần thiết,…
Bên cạnh giáo dục và thể thao, tác giả còn luận bàn về vấn đề giao thông. Đó là việc
người điều khiển xe không nắm luật giao thông, chủ xe “cứ hễ vi phạm là năn nỉ”, cảnh sát
xử phạt cũng chưa nghiêm. Ngoài ra, tình trạng kẹt xe, ùn tắc giao thông, lấn chiếm vỉa hè
để kinh doanh, bán hàng rong ảnh hưởng đến việc đi lại của người dân cũng được phản ánh
rất cụ thể, sinh động.
1.2.2.4. Về tình yêu, hôn nhân – gia đình
Đây là mảng đề tài rất hấp dẫn và thú vị. Từ những câu chuyện yêu đương, lãng mạn
cho đến những hờn giận, ghen tuông, ngoại tình, những mâu thuẫn trong cuộc sống vợ
chồng hay xung đột giữa mẹ chồng – nàng dâu,… đều được tác giả miêu tả một cách hóm
hỉnh và sinh động.
Nhìn chung, đề tài trong tiểu phẩm Lê Hoàng khá đa dạng và phong phú. Tuy nhiên,
nhiều lúc Lê Hoàng quá sa đà vào những câu chuyện tủn mủn, nhỏ nhặt của đời sống mà bỏ
qua những vấn đề thời sự nóng hổi, khiến cho hàm lượng thông tin trong tiểu phẩm của ông
ít nhiều bị giảm sút .
1.2.3. Các hình thức thể hiện trong tiểu phẩm Lê Hoàng
Hình thức là một yếu tố quan trọng góp phần định hình và biểu hiện nội dung tác phẩm.
Đối với một thể loại năng động như tiểu phẩm, sự sáng tạo về hình thức luôn được đề cao
bởi đây là một yếu tố góp phần tạo nên sức hút với người đọc. Sự phát triển mạnh mẽ của
báo chí hiện đại đã làm xuất hiện các hình thức tiểu phẩm khác nhau. Ngoài hình thức
truyền thống là văn xuôi, thơ trào phúng, còn có ca dao, kịch ngắn, phim hài, tranh biếm
họa,… Ở mỗi hình thức lại chia thành nhiều tiểu loại khác nhau.
Xét riêng tiểu phẩm Lê Hoàng, chúng tôi nhận thấy tiểu phẩm của ông rất đa dạng về
hình thức thể hiện. Điều đặc biệt là tác giả luôn cố gắng bước ra khỏi những khuôn mẫu,
những lối mòn để có những phá cách, “xé rào” trong việc tìm ra hình thức thể hiện hiệu quả
nhất. Dưới đây là một số hình thức thể hiện chủ yếu trong tiểu phẩm của ông.
1.2.3.1. Hình thức diễn đạt thông thường
Theo thống kê, có 150/358 (41, 9%) tiểu phẩm sử dụng hình thức này. Trong hầu hết
tác phẩm, Lê Hoàng thường đóng vai trò là người thứ ba, lắng nghe và kể lại. Đôi khi tác
giả cũng hóa thân vào nhân vật, kể về những vấn đề mà mình chứng kiến hoặc trải nghiệm.
21
Các cuộc hội thoại, chuyện trò giữa hai hay nhiều người xuất hiện với mật độ dày đặc trong
tác phẩm.
Một số tác phẩm tiêu biểu: Trận đấu cuối cùng, Tượng tham nhũng, Giấc mơ ngoại
tình, Vì tương lai bóng đá,…
1.2.3.2. Hình thức cách tân, sáng tạo
Theo thống kê, Có 208/358 (58,1%) tiểu phẩm được diễn đạt dưới nhiều hình thức mới
lạ khác nhau. Dưới đây, chúng tôi sẽ trình bày cụ thể từng hình thức.
a. Phỏng vấn giả tưởng
Phỏng vấn là hình thức trò chuyện có mục đích rõ ràng giữa hai hoặc nhiều người,
trong đó câu hỏi đưa ra nhằm thu nhận thông tin trả lời. Tuy nhiên, khác với phỏng vấn
thông thường, Lê Hoàng đã có những cách tân riêng để sáng tạo ra một dạng thức phỏng
vấn khác - phỏng vấn giả tưởng. Đây là kiểu bài được tác giả rất ưa thích sử dụng. Lý giải
về điều này, trong một lần phỏng vấn, ông phát biểu như sau:
“Thể loại phỏng vấn phiếm chủ theo tôi rất tạo biện. Nó cho phép người viết được
quyền tự tranh luận với mình, được quyền dồn bản thân vào thế bí. Nó lật đi lật lại vấn đề,
xét vấn đề ở nhiều mặt. Nó cũng không phụ thuộc vào trình độ người trả lời nếu như anh
ta … dốt. Tôi không biết mình có phải là người “phát minh” ra thể loại này hay không,
nhưng ở Việt Nam có lẽ tôi xài kiểu này nhiều hơn ai hết.”
Trong kiểu bài phỏng vấn giả tưởng, Lê Hoàng đã “tự biên tự diễn” sắm luôn cả hai
vai người hỏi và người trả lời. Tuy nhiên, trên bề nổi của câu chuyện, cái tôi của tác giả bị
ẩn đi, nhường chỗ cho sự tranh luận của các nhân vật. Điều này đã tạo nên một không gian
thoải mái, không áp đặt cho tác phẩm. Thông tin được nêu ra trở nên khách quan, có chiều
sâu và đáng tin cậy.
Trong các cuộc phỏng vấn giả tưởng, phóng viên chỉ đóng vai trò là người dẫn dắt,
còn nhân vật được hỏi là trung tâm của bài báo. Các nhân vật được hư cấu, có tính điển hình
cao, thường đại diện cho một tầng lớp nào đó trong xã hội. Đó là một nhà văn, một đạo diễn,
một giám khảo, giáo sư hay cô Tấm, bà Huyện, Hoạn Thư, vua hề Sạc –lô, thậm chí ngay cả
chảo, bông hoa đào, con mèo, con bò, con tê giác cũng được Lê Hoàng đem ra phỏng vấn.
Đặc biệt, con bò đã được tác giả ưu ái phỏng vấn đến 7 kỳ.
Có thể thấy, Lê Hoàng đã kết hợp rất nhuần nhuyễn kiểu bài phỏng vấn (báo chí thông
tấn) với ngôn ngữ châm biếm, hài hước, đả kích của thể loại tiểu phẩm (nhóm chính luận
nghệ thuật) tạo nên một diện mạo mới cho báo chí nói chung và tiểu phẩm nói riêng. Thông
22
qua hàng loạt những câu hỏi có tính gài bẫy, khiêu khích hoặc ngẫu hứng của người phỏng
vấn cùng với cách trả lời tự nhiên, dí dỏm, thông minh của đối tượng bị phỏng vấn, hình
thức này đã tạo nên một hiệu quả thông tin cao và sức hấp dẫn đặc biệt với độc giả. Việc
sáng tạo ra kiểu bài phỏng vấn giả tưởng là một đóng góp không nhỏ của Lê Hoàng đối với
sự phát triển của thể loại tiểu phẩm.
b. Trò chuyện giả tưởng
Tiểu phẩm Lê Hoàng thường xuyên xuất hiện những mẩu đối thoại, những cuộc trò
chuyện giữa hai hay một nhóm người. Ví dụ: Cuộc trò chuyện giữa Bụt và cô bé bán hàng
rong, Cuộc trò chuyện giữa Nhà văn và ông Đồ, cuộc trò chuyện giữa báo điện tử và báo
giấy,…
Với hình thức này, Lê Hoàng đã tạo nên một không gian thân mật, gần gũi trong tác
phẩm. Đây chính là một đặc điểm quan trọng thể hiện xu thế chung của báo chí hiện nay:
ngôn ngữ báo chí ngày càng được “hội thoại hóa”, xích lại gần với ngôn ngữ đời sống.
c. Thư từ
Đây là hình thức trao đổi thông tin gián tiếp giữa các nhân vật. Thư đi, thư lại đã trở
thành một mô típ quen thuộc trong tiểu phẩm Lê Hoàng. Có những bức thư đã trở nên nổi
tiếng như: Thư của bồ nhí gửi cho bà vợ, Thư của bà vợ gửi cho bồ nhí, Thư của ông chồng
gửi vợ và bồ nhí,…
Ở kiểu bài này, tác giả đã “múa bút”, thể nghiệm nhiều vai diễn khác nhau và vai nào
cũng rất thành công, từ cô bồ nhí, bà vợ, ông chồng, thầy giáo, học trò, ông già Noel cho
đến con gấu, con chó, con cóc, quả trứng gà,… Các bức tâm thư thường dùng để “trần tình”
một cách đau khổ và hài hước về những bất công mà nhân vật gặp phải. Đó là nỗi khổ của
ông chồng khi bị vợ và bồ nhí kiểm soát, là niềm mong mỏi được giải cứu của một chú chó
bị bắt trộm,…
Hình thức này đã tạo thuận lợi cho các nhân vật giãi bày những vấn đề tế nhị, riêng tư.
Giọng điệu của các bức thư rất đa dạng, biến hóa linh hoạt nhưng nhìn chung đều hài hước,
thâm thúy, và tính “khẩu chiến” rất cao.
d. Tin tường thuật
Tin là thể loại cơ bản và nổi bật nhất của loại tác phẩm báo chí thông tấn. Nó đưa ra
một thông điệp mới, ngắn gọn, xác định, có ý nghĩa chính trị - xã hội nhất định và được
nhiều người quan tâm.
23
Trong tiểu phẩm Lê Hoàng, các bản tin không hề khô khan mà rất sinh động, hấp dẫn.
Có được điều này là nhờ tài hoạt ngôn sắc sảo cùng với việc vận dụng rất linh hoạt các thủ
pháp nghệ thuật, làm “mềm” cách truyền tải thông tin.
Một số tác phẩm tiêu biểu: Tường thuật tại chỗ cuộc thi Hoa hậu năm 1996, Tường
thuật trực tiếp cuộc thi chạy trường giải vô địch Châu Á lần 1,…
e. Các hình thức thể hiện khác
Ngoài những hình thức cơ bản nói trên, tiểu phẩm của Lê Hoàng còn sử dụng các hình
thức thể hiện dưới đây:
- Nhật kí, hồi kí: Nhật kí của một con heo, Nhật kí của một ông chồng có bồ,…
- Truyện trinh thám: Vụ án thứ ba, Vô tội,…
- Truyện cổ tích, ngụ ngôn: Thỏ và Rùa, Aladin và cây đèn thần, Câu chuyện cổ tích thứ
nhất,…
- Bảng thống kê – so sánh: Từ điển phụ nữ, Vì sao bão mang tên phụ nữ, Chồng Mỹ -
Chồng Việt, 32 điểm khác nhau,…
- Ký chân dung: Việt Trinh: Đúng hẹn và lỡ hẹn, Hiền Thục – hổng ngán đâu!, Mít – tơ
Đàm trong mắt Lê Hoàng,…
- Lời kêu gọi: Lời kêu gọi gửi phụ nữ nhân ngày 8/3, Lời kêu gọi đàn ông nhân ngày 8-
3,…
- Đơn, điếu văn, diễn văn, lời tường trình: Đơn xin ngu, Điếu văn của anh Ổi đọc trong
lễ tiễn anh Me về nơi an nghỉ cuối cùng, Lời giải trình của ban tổ chức cuộc thi hoa hậu áo
ngắn gửi báo phụ nữ,…
- Văn vần: Bài ca giải phẫu, Bài ca thời trang,…
Trên đây, chúng tôi đã giới thiệu những hình thức thể hiện trong tiểu phẩm Lê Hoàng.
Có thể thấy, tiểu phẩm Lê Hoàng có sự chệch chuẩn, thể hiện khá rõ nét sự giao thoa thể
loại. Tác giả không phải là “người thợ khéo tay làm theo một vài khuôn mẫu” mà ông dám
“khơi những nguồn chưa ai khơi”, sáng tạo ra nhiều hình thức thể hiện mới mẻ, thể hiện một
lối đi riêng, một cá tính riêng của mình trong việc truyền tải thông tin đến công chúng.
24
1.3. Tiểu kết
Trong chương 1, chúng tôi vừa trình bày một cách khái quát về thể loại tiểu phẩm nói
chung và tiểu phẩm của Lê Hoàng nói riêng. Qua những nội dung vừa trình bày, chúng tôi
tóm lại một số điểm như sau:
- Các nhà nghiên cứu vẫn chưa có một quan niệm thống nhất về tiểu phẩm. Tuy nhiên,
các tác giả là đều thừa nhận tiểu phẩm là một thể loại có kết cấu ngắn gọn, mang tính chiến
đấu cao, được diễn đạt bằng ngôn ngữ châm biếm, đả kích, hài hước về một nhân vật, sự
việc, hiện tượng có thực, cụ thể hoặc khái quát, qua đó bộc lộ chính kiến, quan điểm của
người viết.
- Xét về hiệu quả xã hội mà tiểu phẩm mang lại, chúng tôi thấy đây là một món ăn tinh
thần bổ ích cho công chúng, góp phần cải tạo và thúc đẩy xã hội phát triển. Nó định hướng
người đọc hướng đến cái Chân – Thiện – Mỹ.
- Về tác giả Lê Hoàng, trên phương diện là một nhà báo viết tiểu phẩm, chúng tôi thấy
đây là cây bút sắc nhạy, cứng cỏi và có cá tính. Tiểu phẩm của ông đề cập đến nhiều vấn đề
nóng hổi của đời sống xã hội và được thể hiện bằng nhiều hình thức phong phú, mới mẻ. Có
khi đó là bài văn xuôi thuần túy, có khi lại thể hiện dưới hình thức đối thoại, phỏng vấn giả
tưởng, hình thức bức thư, bản tin, lá đơn, bài báo cáo, văn vần,... Trong đó, hình thức trò
chuyện, phỏng vấn giả tưởng được xem là một hướng đi rất mới, một đóng góp của tác giả
đối với sự phát triển của thể loại tiểu phẩm.
Với óc hài hước, thâm thúy, vốn hiểu biết sâu rộng, khả năng làm chủ ngôn ngữ và tài
hoạt ngôn sắc sảo, Lê Hoàng đang có một vị trí khá vững chắc ở thể loại này. Vì thế, việc
phân tích đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong tiểu phẩm của Lê Hoàng hứa hẹn sẽ có nhiều
điều thú vị. Vấn đề này chúng tôi sẽ triển khai ở những chương tiếp theo trên các bình diện:
từ ngữ, cú pháp, văn bản và tu từ.
25
CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM SỬ DỤNG TỪ NGỮ, CÚ PHÁP TRONG
TIỂU PHẨM CỦA LÊ HOÀNG
2.1. Đặc điểm sử dụng các lớp từ ngữ
Trong phần này, chúng tôi sẽ trình bày những lớp từ ngữ tiêu biểu nhất trong tiểu
phẩm Lê Hoàng.
2.1.1. Sử dụng lớp từ khẩu ngữ
2.1.1.1. Khái niệm từ khẩu ngữ
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về từ khẩu ngữ. Trong cuốn “Từ và vốn từ tiếng
Việt hiện đại”, các tác giả cho rằng từ khẩu ngữ “là những từ dùng trong việc thông tin hàng
ngày về đời sống, về công việc gia đình, xã hội. Những từ này gần với những từ viết, không
bao gồm tiếng lóng và từ địa phương.” [50, tr.221]
Trong “Từ điển tiếng Việt”, khái niệm khẩu ngữ được hiểu là “ngôn ngữ nói thông
thường, dùng trong cuộc sống hàng ngày, có đặc điểm phong cách đối lập với phong cách
viết.” [38, tr.642]
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “777 khái niệm ngôn ngữ học” cho rằng khẩu
ngữ là “lời nói thường ngày, thoải mái, không nghi thức.” [17, tr.228]
Như vậy, tuy có nhiều ý kiến đưa ra, nhưng nhìn chung các tác giả đều xem từ khẩu
ngữ là những đơn vị từ vựng đặc trưng cho phong cách ngôn ngữ nói trong giao tiếp thân
mật, tự nhiên hàng ngày, nhất là trong giao tiếp hội thoại. Lớp từ này khá tự do, phóng túng,
không được trau chuốt, gọt giũa kĩ càng nhưng rất cụ thể, thân mật, gần gũi với đời sống của
người lao động. Trong văn học, có rất nhiều nhà văn đưa ngôn ngữ bình dân vào trong tác
phẩm của mình như Nam Cao, Chu Lai, Nguyễn Huy Thiệp, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn
Ngọc Tư,…
Trong báo chí hiện nay, xu hướng “hội thoại hóa” ngôn ngữ, sử dụng từ khẩu ngữ,
cách diễn đạt mộc mạc, giản đơn ngày càng trở nên phổ biến. Với tư cách là một thể loại
báo chí, tiểu phẩm cũng không nằm ngoài xu thế đó. Hầu hết các cây bút tiểu phẩm đều có ý
thức đưa ngôn ngữ đời thường vào trong tác phẩm của mình. Tuy nhiên, tùy vào phong cách,
cá tính của mỗi người mà việc sử dụng lớp từ này ở mỗi tác giả có những nét độc đáo riêng.
26
2.1.1.2. Lớp từ khẩu ngữ trong tiểu phẩm Lê Hoàng
Trong tiểu phẩm Lê Hoàng, từ khẩu ngữ xuất hiện với mật độ dày đặc. Những từ ngữ
này mang tính chất tự nhiên, thân mật, không gò bó, nhưng có sự chọn lọc, gắn liền với từng
đối tượng cụ thể và được đặt trong những ngữ cảnh nhất định.
Trong cách xưng hô của các nhân vật, Lê Hoàng thường dùng những từ mang tính chất
suồng sã, thân mật, thậm chí là bỗ bã, thông tục: mình, bố nó, anh - em, tớ - cậu, em yêu,
anh yêu, tao - mày, mụ, lão, tui, thằng cha, con nhỏ,…
(1) Ối trời, các bà ơi, lo đẹp để mà giữ chồng. Bọn gái trẻ bây giờ kinh khiếp lắm.
Các lão dạng chúa tham lam. (1, 254)
(2) Ngồi chờ bồ nhé, đó đó. (1, 185)
(3) Cậu phải làm thế nào giúp tớ với. (1, 389)
Thằng cha ấy kia kìa. Và con nhỏ ấy kia kìa (1, 160) (4)
(5) Bố nó không đi mua hoa sao? (1, 271)
(6) Ông già cháu vẫn khỏe chứ (3, 320)
Qua cách xưng hô, người đọc có thể thấy được thái độ, tình cảm của người nói với đối
tượng được nhắc đến. Có thế thấy rõ điều này qua ví dụ sau:
(7) Vội vã đánh răng rửa mặt. Từ trong phòng “mụ” hỏi vọng ra” “Anh ăn sáng rồi
hãy đi, có cơm nguội trong nồi đấy”! Trời ơi, nhà này cái gì chả nguội. “Thôi, anh vội lắm,
anh phải đến công ty”. Phi thật nhanh ra khỏi nhà. Thoát, thoát, thoát… Đến cà phê ngồi với
em yêu. (2, 201)
Ở ví dụ trên, nếu tình cảm yêu thương, quan tâm đến chồng của người vợ được thể
hiện rõ qua từ “anh” thì chỉ với một từ “mụ”, chúng ta có thể cảm được sự chán chường,
tình cảm kém mặn mà của anh chồng với người vợ, bởi anh ta đang đang dồn hết tâm trí,
tình cảm vào cô bồ nhí được gọi bằng cái tên thân mật - “em yêu”.
Trong nhiều tiểu phẩm, Lê Hoàng thường đặt những từ “thằng”, “con”, “mụ” đứng
trước tên riêng nhân vật như: con Hồng, con Thắm, con Ba, mụ Hằng,… hoặc đem những
đặc điểm cụ thể, riêng biệt đặt sau tên nhân vật như anh Tư xe ôm, bà Tám ú, cô Sáu xoài,
Hiển “đầu bò”, Hai “mặt ngựa”, Hùng “thần chết”, Tuyến “bốn răng”, Đạt “Ram-bô”,
Tèo đau khổ,… cách làm này không những cụ thể hóa đặc điểm của nhân vật mà còn tạo
nên không khí thân mật, gần gũi trong giao tiếp.
Không dừng lại ở đó, những từ khẩu ngữ còn được Lê Hoàng sử dụng như một công
cụ lợi hại để kể, miêu tả, tái hiện lại bức tranh đời sống với sự đa dạng và phức tạp của nó.
27
Dường như tác giả không cố công mài giũa chữ nghĩa hay tìm những cách diễn đạt bóng
bẩy, màu mè. Ngôn từ trong tác phẩm của ông gần gũi, tự nhiên, mang được hơi thở của
cuộc sống thường nhật với cách diễn đạt giàu cảm xúc:
Tôi không chúi mũi vô bếp như cô tưởng và như lão tưởng chút nào. Tôi say mê (8)
đánh bài.
(9) Nếu bà thứ nhất sểnh ra là lại chạy tót sang nhà hàng xóm, nghe thiên hạ kể về
chồng thiên hạ, sau đó tự khai báo về chồng mình, thì bà thứ hai sểnh mắt ra là phóng thẳng
tới quán cà phê, nghe thứ nhạc cả thiên hạ nghe tuy chả đứa nào hiểu được câu nào. (1, 339)
(10) Và điều kỳ quái nhất, đã là khoa học thì phải chính xác, thậm chí chính xác tới
từng xu, nhưng đầu tiên các ông hô lên hai trăm tỷ, bây giờ rút xuống còn một trăm tỷ, vô
cùng tùy tiện, vô cùng cẩu thả, chả coi tiền bạc Nhà nước ra cái đinh gì! (2, 169)
(11) Công ty nước ngoài cũng không tiếp khách bừa bãi, không xài xe công vô tội vạ
và không có nạn nhậu nhẹt cuối năm. (2, 78)
Ngay cả sự kiện trọng đại của đất nước như việc mở rộng Thủ đô Hà Nội cũng được
ông miêu tả bằng thứ ngôn ngữ rất đời thường:
(12) Ngày nay, tôi không đếm nhưng đoán rằng phố Hà Nội phải có hàng trăm. Thế
mà Thủ đô vẫn bị coi là nhỏ. Nhỏ đến mức sắp phải “xơi” cả Hà Tây, phải phình ra gấp ba
lần mà nghe đâu còn chưa đủ. (2, 219)
Từ “xơi” làm cho câu văn trở nên sinh động và cụ thể, gây ấn tượng mạnh với người
đọc.
Bên cạnh đó, tác giả còn thường xuyên sử dụng những từ, tổ hợp từ có tính biểu cảm
cao như: chua lòm, quát lạc giọng, say bí tỉ, ế rề, dễ ợt, đẹp mê hồn, ngã quay lơ, rét thấu
xương, chết dí, sướng mê tơi, im thin thít, đầy ngồn ngộn, nằm đứ đừ, dài lê thê, lăn lông
lốc,…
(13) Còn đám công nhân thì kinh ngạc khi thấy chiếc ô tô vẫn cũ xì, mà tài xế thì trở
thành đẹp mê hồn, chả nhận ra được. (3, 201)
(14) Có vài công nhân bị đuổi việc ngang xương, đang thất nghiệp, kêu nhiều lần mà
công ty không giải quyết, anh có lòng tốt thì cứ đưa ra. (4, 33)
(15) Anh Tư nghe nói mà sướng mê tơi giây phút thư giãn, nghĩ tới cái ngày mà
những lao động vất vả của anh bao năm tháng sẽ được đền bù. (1, 287)
28
Đặc biệt, Lê Hoàng rất ưa dùng những từ ngữ thể hiện ý nghĩa đánh giá cực cấp,
cường điệu. Ví dụ: khi miêu tả về cái nghèo, tác giả đã dùng những từ ngữ như: “nghèo
khủng khiếp”, “nghèo tận cùng”, “vô địch nghèo”, “nghèo không đối thủ”
Các phó từ “hết sức”, “cực kì”, “vô cùng” cũng được sử dụng thay cho “rất” nhằm
tô đậm sự đánh giá cực cấp của người nói.
(16) Những câu hỏi hết sức thông minh và những nhận xét cực kì sâu sắc.
(3, 12)
Những cấu trúc có dạng láy hoặc lặp lại từ như: béo tròn béo trục, bao bồ bao bịch, đi
đi lại lại, mồ hôi mồ kê, thi hoa thi nụ, tuổi thơ tuổi thiếc, đoán già đoán non, tỷ nọ tỷ kia,
dùng đi dùng lại,…cũng được sử dụng phổ biến làm tô đậm giọng điệu khẩu ngữ, góp phần
tăng thêm hiệu quả biểu đạt cho lời văn. Chẳng hạn, khi miêu tả về tâm trạng của một anh
chàng chờ đợi người yêu, Lê Hoàng đã sử dụng cấu trúc lặp lại từ ngữ như sau:
(17) Tôi bồn chồn. Tôi gầm thét, rồi tôi lo lắng, đi đi lại lại trong nhà như con sư tử
đi đi lại lại trong chuồng. (1, 151)
Cụm từ “đi đi lại lại” được nhấn lại hai lần kết hợp với những từ láy miêu tả cảm xúc
đã khắc họa sâu sắc sự sốt ruột, lo lắng, đứng ngồi không yên của nhân vật.
Hay khi miêu tả thân hình không được thon thả của các người đẹp, Lê Hoàng đã không
tiếc lời chê bai:
(18) Ô kìa, sao lại thế kia: các người đẹp quốc tế ai cũng béo tròn béo trục, phì nộn
như vôi, thậm chí có cô phải hai ba người đàn ông khiêng lên sân khấu.
(4, 111)
Vì chủ yếu sử dụng hình thức phỏng vấn, thư từ và đối thoại để phản ánh hiện thực đời
sống, cho nên các từ ngữ gọi - đáp được sử dụng với mật độ dày đặc. Ví dụ: bà ơi, này, kìa,
thưa bà, thưa cô, thưa ông, thưa anh, dạ thưa,…
(19) Này anh Bò ạ, tài và cá tính, những phẩm chất chả phải lúc nào cũng đem thuận
lợi cho nhau (2, 62)
(20) Bà ơi, sao tim bà đập nhanh thế? (4, 10)
(21) Kìa, đạo diễn, ông đi đâu đấy? (2, 167)
(22) Dạ thưa anh, anh sẽ lăng-xê em kiểu gì? (3, 421)
Những từ ngữ này tuy không tham gia vào việc diễn đạt nội dung thông tin của câu,
nhưng nó có vai trò quan trọng trong việc tạo lập, duy trì cuộc hội thoại.
29
Ngoài từ ngữ gọi - đáp, những từ ngữ cảm thán với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau
cũng xuất hiện nhiều trong tác phẩm: trời ơi, than ôi, ái chà, eo ôi, ối chao, ôi dào, á, ô, ủa,
ối giời ơi, ối chà chà, chu cha, rõ khổ, chết mẹ, ở hén,…
(23) Trời ơi là trời, mất cả cơ nghiệp đến nơi rồi mà vẫn muốn coi em nào vô chung
kết. (1, 389)
Ở ví dụ trên, từ cảm thán “trời ơi là trời” thể hiện thái độ tức giận của người vợ đối với
ông chồng thích xem hoa hậu ngay cả khi xảy ra hỏa hoạn.
(24) A, thì ra cũng có một số người giống bò, có khả năng nhai lại, nhưng không
phải nhai lại cỏ mà nhai lại văn hóa. (2, 49)
Trong ví dụ này, từ cảm thán “a” chứa đựng một sự reo mừng của nhân vật khi có
thêm một phát hiện mới về con người.
(25) Uả, về hồi nào, khá không? (3, 74)
Ở câu trên, từ “ủa” thể hiện sự ngạc nhiên của nhân vật khi tình cờ gặp lại bạn cũ.
Cùng với những từ cảm thán, sự xuất hiện không ít từ ngữ khí đã bổ sung thêm những
sắc thái cảm xúc cho câu văn, làm câu văn thêm nhuần nhị, biểu cảm.
(26) Chu cha, cái này mới à nha. (3, 75)
(27) Tội nghiệp mày ghê. (3, 187)
(28) Cậu không biết đánh bài hả? (3, 176)
(29) Rất nhiều cái cũ là thiêng liêng, nhưng thật buồn nếu hiện tại chẳng có gì thiêng
liêng sất. (2, 120)
Ngoài ra, tiểu phẩm của Lê Hoàng còn sử dụng khá nhiều từ ngữ đưa đẩy, rào đón,
chêm xen, có tác dụng nhấn mạnh hoặc chuyển ý trong câu: của đáng tội, trộm nghĩ, suy
cho cùng, nói thật, nói dại, thú thực, đúng là, đùng một cái, may mà, rõ ràng là, suýt nữa, à
quên,… Vì không ngại nói thẳng, nói thật suy nghĩ của mình về các vấn đề xã hội nên những
cụm từ nói thẳng ra, nói thật được lặp lại rất nhiều lần.
(30) Thú thực cháu cũng chả hiểu tại sao người ta bây giờ toàn nói tới tỷ nọ tỷ kia
mà mấy cái số nhà thì cứ dùng đi dùng lại. (4, 310)
(31) Có thể nói thẳng ra, đã mấy năm nay rồi, ít có tác phẩm nào gây được chú ý, cả
tiểu thuyết lẫn phê bình. (2, 90)
Nhìn chung, Lê Hoàng đã sử dụng ngôn ngữ của đời sống hàng ngày một cách rất tự
nhiên, nhuần nhuyễn, khéo léo. Lớp từ này đã góp phần tô đậm thêm chất hiện thực cho tác
phẩm, làm cho đối tượng, sự việc được miêu tả trở nên cụ thể, sinh động hơn. Lối đưa đẩy,
30
chêm xen, nhả chữ khéo léo đã làm cho cuộc đối thoại không bị khô cứng, sáo mòn mà linh
hoạt, uyển chuyển, gần gụi, dễ thấm, níu bạn đọc về gần tác phẩm. Tiểu phẩm của Lê Hoàng
“nam phụ lão ấu” đều đọc mà không hề thấy xa lạ bởi họ đang tiếp xúc với tiếng nói quen
thuộc hàng ngày, có thể nghe được “tiếng đời lăn náo nức” qua những cuộc trò chuyện sinh
động và nghe được cả tiếng nói của lòng mình trong đó.
2.1.2. Sử dụng lớp từ ngữ gốc Âu
2.1.2.1. Khái niệm từ ngoại lai
Từ ngoại lai “là những từ nước ngoài được vay mượn đã đi vào hệ thống của tiếng
dân tộc để chỉ những đối tượng, hiện tượng riêng có trong tiếng nước ngoài đó.” [31, tr.44]
Hầu như tất cả các ngôn ngữ trên thế giới đều có từ vay mượn. Trong tiếng Việt, lớp từ
ngoại lai được phân thành hai lớp nhỏ là: lớp các từ ngữ gốc Hán và lớp các từ ngữ gốc Ấn-
Âu.
Trong tiểu phẩm của Lê Hoàng, chúng tôi nhận thấy, bên cạnh lớp từ thuần Việt, tác
giả còn sử dụng khá nhiều từ Hán Việt và từ gốc Âu. Tuy nhiên, luận văn này chỉ quan tâm
đến lớp từ thứ hai, bởi nó có nhiều điểm đặc sắc trong việc tái hiện bức tranh đời sống xã
hội, đem lại sự hiện đại, sinh động trong phong cách ngôn ngữ của tác giả.
2.1.2.2. Đặc điểm sử dụng từ ngữ gốc Âu trong tiểu phẩm Lê Hoàng
Qua khảo sát, có 365 từ ngữ gốc Âu trong tiểu phẩm Lê Hoàng, bao gồm thuật ngữ và
tên riêng. Sự vay mượn được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.
Bảng 2.1. Bảng thống kê các từ ngữ gốc Âu trong tiểu phẩm Lê Hoàng
Phiên âm Giữ nguyên dạng Viết tắt
315 (86,3%) 39 (10,7%) 11 (3,0%)
Tổng số: 365 (100%)
Dựa vào bảng trên có thể thấy, đa số các từ ngoại lai trong tiểu phẩm Lê Hoàng đều
được phiên âm, nghĩa là phỏng theo âm đọc của từ gốc Âu rồi ghi lại bằng cách đọc, cách
viết của tiếng Việt. Ví dụ:
lancée lăng xê
demi-garçon đờ-mi-gạc-xông
World cup huơ cúp, von cúp
Batistuta Ba-tít-tu-ta
31
sport xì-po
photoshop phô-tô-sốp
sing gum doublemint sing-gum đúp-bồ-min-tờ
Đối với một số từ đa âm tiết, tác giả thường có xu hướng rút gọn âm tiết.
catalogue các-ta-lô
massage mát-xa
television ti vi
Các từ vay mượn có thể có hoặc không có dấu nối, có thể đặt hoặc không đặt trong dấu
ngoặc kép. Ví dụ:
(32) Nó tung lên “bờ-lốc” một lời tuyên bố là đúng 8 giờ sáng hôm sau, sẽ cho toàn
thể loài người nhìn thấy hình ảnh thực của tôi, một kẻ mà bao nhiêu năm nói về đạo đức và
phương pháp sống. (3, 434)
(33) Đang ủi đồ thì con Thắm phôn, hỏi có ảnh anh Kim Tiểu Long cho nó một tấm.
(1, 72)
Bên cạnh những từ phiên âm, một số từ gốc Âu được giữ nguyên dạng cách viết. Hình
thức này chỉ có ở những từ gốc Anh với số lượng khiêm tốn. Ví dụ: valentine, vitamin,
Oscar, yes, sex, production, ok, matrix, internet, album,…
Ngoài các hình thức trên, tiểu phẩm của Lê Hoàng còn xuất hiện một số từ gốc Anh
được viết tắt theo quy tắc ghi in hoa chữ cái đầu mỗi thực từ. Ví dụ:
ATM Automated Teller Machine: máy rút tiền tự động
LCD Liquid Crystal Display: màn hình tinh thể lỏng
PR Public Relations: Quan hệ công chúng
U25 Under 25: dưới 25 tuổi
CD Compact Disc: đĩa ghi tiếng, không có hình
Nhìn chung, lớp từ gốc Âu trong tiểu phẩm Lê Hoàng khá phong phú và đa dạng. Việc
sử dụng lớp từ này đã mang đến một hiệu ứng nghệ thuật cao. Trước hết, nó phản ánh thực
trạng sử dụng ngôn ngữ hiện nay của người Việt, đó là sính dùng từ nước ngoài, dẫn đến
tiếng Việt đang bị Âu hóa. Hãy xem cuộc đối thoại sau:
(34) “Tao bây giờ là “Đi-rếch-tơ”. Là sếp rồi.
- Mày sếp gì?
- Sếp “com-pa-ny” nhập khẩu rác!” (3, 75)
32
Không dừng lại ở đó, trong cách đặt tên nhân vật, tác giả cũng chêm xen từ nước ngoài
vào tạo thành những cái tên nửa Ta nửa Tây. Ví dụ: Đạt “Ram-bô”, Tina Bích, Hen-ri Lò,
Julia Bô, Hăng-ri Dê, Ma-ni Nga, Rô-be Tèo, Mai-cơn Bo. Những cái tên này đều hàm chứa
sự mỉa mai, châm biếm. Nó khiến ta liên tưởng đến những cái tên đang rất “hót” trong làng
giải trí Việt Nam như: Noo Phước Thịnh, Tina Tình, Angela Phương Trinh, Elly Trần, …
Nếu trước đây người ta chỉ sùng hàng ngoại, đồ ngoại thì giờ đây, ngay cả cái tên được cha
sinh mẹ đẻ đặt cho cũng bị “Âu hóa” cho hợp “mốt”.
Qua những ví dụ trên, có thể thấy từ ngoại lai đang du nhập vào đời sống hàng ngày
với tốc độ rất nhanh. Các từ này được Việt hóa cả về âm và nghĩa:
- scandal xì-căng-đan (vụ tai tiếng, bê bối)
(35) Nếu nói mình Hưng cũng làm nên một xì-căng-đan, tôi càng tin hơn.
(2, 176)
- design đề-dzai (thiết kế)
(36) Ở đây nhận đề-dzai bìa đĩa nhạc (3, 412)
- professional prồ (chuyên nghiệp)
(37) Dân chuyên nghĩ kịch bản là dân prồ mà (3, 405)
- event ì ven
(38) Có thời, thiên hạ đồn Hiền Thục là nữ hoàng của những “ì ven” (2, 167)
- public relations PR
(39) Cũng cần kết hợp để làm một chiến dịch PR, qua đó cô kể với báo chí là mình
lớn lên ở một miền quê mang truyền thống quét dọn. (3, 23)
Hầu hết những từ gốc Âu trong tiểu phẩm Lê Hoàng đều được sử dụng khá phổ biến,
đọc lên ai cũng thấy quen thuộc nên tác giả không có sự chú thích. Việc Việt hóa âm đọc tạo
nên màu sắc khẩu ngữ cho tác phẩm. Ví dụ:
(40) Hôm nay “ông bô” gọi mình ra, ổng nói sẽ lo cho mình du học, muốn thế phải
học Anh văn. “Ôkê. Gút, gút”. Tưởng gì. (3, 214)
Lối phiên âm này còn tạo nên chất hài hước cho tác phẩm. Độc giả không khỏi bật
cười thích thú khi đọc những câu sau:
(41) Khi khói tan, Aladin thấy mình đang bận com-pờ-lê, xách cặp táp, trong túi có
một tập giấy Ăng-tét đàng hoàng: Mítxtơ Aladin tổng giám đốc cùng với số phôn, số phác
xờ, số imeo chằng chịt. (4, 34-35)
33
(42) Một con người cũng có một địa chỉ e-mail, một con người cũng có thể lập một
trang goép-bờ-sai và một con người cũng có thể nói bằng máy tính cho cả thế giới cùng
nghe. (4, 327)
Bên cạnh đó, trong một số trường hợp, việc sử dụng từ vay mượn còn tiết kiệm những
lý lẽ dài dòng, ẩn đi sắc thái “phạm thượng”. Ví dụ:
- Anh kia, anh quý ta như gì? (43)
Chàng trai đáp:
- Dạ tâu bệ hạ, như Viagra. Có nó, bệ hạ sẽ có thêm công chúa mãi mãi, nhất
định truyền ngôi được!”
(Viagra: thuốc trị chứng liệt dương ở nam giới)
Tóm lại, Lê Hoàng rất có ý thức trong việc sử dụng lớp từ ngữ gốc Âu trong tác phẩm
của mình. Việc sử dụng lớp từ ngữ này đã tiết kiệm được những cách giải thích dài dòng,
làm cho thông tin được truyền tải với nhiều sắc thái đa dạng. Hầu hết các từ ngữ gốc Âu đều
được tác giả Việt hóa tối đa âm đọc. Nó không chỉ là công cụ để phản ánh đời sống văn hóa
xã hội mà còn tạo nên chất hài hước cũng như tô đậm thêm màu sắc khẩu ngữ cho tác phẩm.
2.1.3. Sử dụng lớp từ ngữ địa phương và tiếng lóng
2.1.3.1. Từ ngữ địa phương
Theo tác giả Hoàng Thị Châu, “phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự
biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nét khác biệt của nó
với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác.” [5, tr.24] Các nhà nghiên cứu
thường chia phương ngữ thành 3 nhóm: phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung và phương
ngữ Nam.
Trong tiểu phẩm của Lê Hoàng, tác giả thường sử dụng phương ngữ Bắc và phương
ngữ Nam. Đây cũng là điều hợp lý, bởi vốn dĩ Lê Hoàng là người gốc Bắc lại sinh sống ở
miền Nam, cho nên tác giả có những trải nghiệm và hiểu biết nhất định đối với phương ngữ
ở hai vùng này.
Bảng 2.2. Bảng thống kê các từ ngữ địa phương trong tiểu phẩm Lê Hoàng
Từ ngữ địa phương Nam Bộ Từ ngữ địa phương Bắc Bộ
411 (80.9%) 97 (19.1%)
Tổng số: 508 (100%)
34
a. Từ ngữ địa phương Nam Bộ
Theo khảo sát, so với phương ngữ Bắc Bộ, phương ngữ Nam Bộ được tác giả sử dụng
nhiều hơn. Dễ thấy nhất là cách đặt tên nhân vật theo thứ tự của người miền Nam: anh Hai,
anh Ba, anh Tư, bà Tám, cô Sáu, chú Bảy,…Trong cách xưng hô, tác giả thường dùng
những từ ngữ: ba, má, má nó, tao, mầy, ổng, sắp nhỏ, bả, cổ, thằng cha,… Ví dụ:
(44) Dùng điện thoại gọi về quê. Má không có nhà, chỉ gặp ngoại ê a nói dài dòng,
dặn phải ngoan, phải đề phòng cạm bẫy. (1, 72)
(45) Hồi xưa tao với ổng là chỗ bồ tèo, cùng đá cho đội “Ngôi Sao”, hồi mày chưa ra
đời lận. (3, 321)
(46) Sắp nhỏ quê ta mạnh lắm. Thế nào cũng thắng. (3, 324)
Ngoài ra, nhiều động từ, tính từ cũng mang đậm sắc thái Nam Bộ:
(47) Bà chủ vừa đi làm về, mặt mũi chù ụ (chù ụ là trạng thái thường xuyên trong cái
nhà này). (1, 70)
(48) Trời ơi, đang rầu muốn chết đây, còn sức đâu mà cười! (4, 295)
(49) Người ta thấy cặp tay nhau đi xà nẹo đàng hoàng. (1, 98)
(50) Xạo quá, kiểm dịch là đóng một con dấu tím vào mông ư ? (3, 55)
Ngoài ra, không thể không nói đến những tiểu từ tình thái đặt ở cuối câu. Những tiểu
từ này rất đặc trưng cho giao tiếp của người miền Nam:
(51) Tư đó hả? Giàu rồi nghen! (3, 111)
(52) Còn gần tháng lên đường nhưng tui chẳng huấn luyện gì ráo. (3, 303)
Dưới đây là một số từ địa phương Nam Bộ xuất hiện nhiều trong tiểu phẩm Lê Hoàng:
Từ địa phương Số lần xuất hiện
chả 198
má 31
ba 24
tui 19
xạo 14
ổng 11
b. Từ ngữ địa phương Bắc Bộ
Bên cạnh phương ngữ Nam Bộ, tác giả còn sử dụng phương ngữ Bắc Bộ. Tuy nhiên,
số lượng từ không đáng kể.
35
(53) Ối giời, cải lương chết là do vi-đi-ô tràn lan, do bi-da máy lạnh hạ giá, do thiếu
kịch bản, do rạp xuống cấp… (4, 257)
(54) Pháo hoa bắn đầy trời và âm thanh cất lên ròn rã. (1, 24)
(55) Đừng tưởng gặp họ hàng khi có ai đó gọi mình là “anh giai”. (2, 227)
Nhìn chung, phương ngữ Nam Bộ được Lê Hoàng vận dụng nhiều hơn cả. Có lẽ, sống
lâu với người dân Nam Bộ nên ngôn ngữ của họ ít nhiều cũng ngấm vào trang văn của ông.
Nhìn một cách tổng thể, tuy hệ thống từ ngữ địa phương xuất hiện không nhiều, những nó
cũng góp phần tạo nên màu sắc khẩu ngữ cho tác phẩm, làm cho bức tranh đời sống thêm
phong phú, sinh động.
2.1.3.2. Tiếng lóng
Tiếng lóng (slang) là một hiện tượng ngôn ngữ mà bất kì quốc gia nào cũng có.
Nghiên cứu về vấn đề này, trong Việt ngữ học tồn tại hai quan điểm đối lập nhau.
Những người theo quan điểm thứ nhất cho rằng tiếng lóng là thứ tiếng làm vẩn đục sự
trong sáng của tiếng Việt. Đại diện cho quan điểm này là Nguyễn Văn Tu, Cù Đình Tú.
Trong cuốn “Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại”, tác giả Nguyễn Văn Tu có viết: “Tiếng “xã
hội” là một hiện tượng không lành mạnh trong ngôn ngữ. Nó không làm giàu cho ngôn ngữ
mà làm cho ngôn ngữ thêm tối tăm. Nó chỉ tồn tại trong xã hội có giai cấp và mất dần đi. Vì
vậy chúng ta kiên quyết chống các hiện tượng không tốt đẹp này và gạt nó ra khỏi ngôn ngữ
văn hóa.” [50, tr.231]
Đối lập với quan điểm trên, những người theo quan điểm thứ hai cho rằng tiếng lóng là
một hiện tượng ngôn ngữ bình thường, một sản phẩm văn hóa tất yếu của một xã hội hiện
đại, phức tạp. Tác giả Đỗ Hữu Châu coi “hiện tượng lóng là phổ biến với mọi tập thể xã hội.
Hầu như tất cả các tập thể xã hội nào đã có cái gì chung đó về sinh hoạt hay về sản xuất,
làm việc… thì đều có tiếng lóng của mình.” [4, tr.253]
Chúng tôi theo quan điểm thứ hai, xem tiếng lóng là một sản phẩm tất yếu của ngôn
ngữ xã hội. Trong những năm gần đây, việc sử dụng tiếng lóng đang trở thành một trào lưu
của giới trẻ.
Trong tiểu phẩm Lê Hoàng, từ lóng xuất hiện không nhiều. Theo thống kê, có 126 từ
lóng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau.
- Tiếng lóng của giới làm ăn buôn bán: xịn (đồ tốt), bèo (rẻ), hàng độc (hàng đặc
biệt), zin (mới), mềm (giá rẻ), chém (bán với giá cao), hét (ra giá), hàng luộc lại (hàng cũ đã
được làm mới), cò (người môi giới),…
36
(56) Tôi đang đạp xe trên phố với tâm trạng yêu đời thì có người xông ra dang tay
chặn tôi lại theo kiểu “cò cơm”. (4, 284)
(57) Chủ nhật nào cả nhà cũng đi dạo chợ trời. Bố giảng cho tôi thứ nào cũ, thứ nào
mới, thứ nào là hàng luộc lại, nghĩa là cũ mà nom như mới. (4, 233)
- Tiếng lóng của dân ăn chơi: phê (say thuốc), bi (thuốc lắc), rụng (bị bắt) đại ca
(người cầm đầu), xã hội đen (thế giới ngầm làm việc phi pháp), bắt (cá cược), bốc lửa (ăn
mặc khêu gợi), phi (bay),…
(58) Tối qua bắn có hai “bi” thôi mà (3, 212)
(59) Tối “phi” tại quán “hoàng mũ đỏ”. Rệp. Khi bồi tính tiền đứa nào cũng giả bộ
“phê” khiến mình phải trả. (3, 213)
- Tiếng lóng trong học đường: cúp cua (trốn học), phao (tài liệu), nổ (ba hoa),
phô-tô (xem bài), trứng ngỗng (điểm 0), tám (nói chuyện phiếm), ông bô (bố), bà bô (mẹ),
sổ thiên tào (sổ liên lạc),…
(60) Con ơi, phải ra sức tu luyện mới thành chánh quả, nếu có sổ thiên tào (tức sổ
liên lạc của giáo chủ gửi về nhà) cũng đừng phù phép giấu đi.
(61) Không đau khổ sao được khi mà tiền điện còn có thể giảm bớt bằng cách cúp
điện, tiền điện thoại có thể hạ xuống bằng cách cúp máy, còn tiền học có thể trốn bằng cách
“cúp cua” nhưng tiền đám cưới chẳng thể chạy thoát dù cúp bất cứ cái gì, thậm chí không đi
cũng phải gửi quà đến dự.
- Tiếng lóng trong tình yêu, hôn nhân gia đình: câu (tán tỉnh), xiếc (lừa), giả nai
(giả vờ ngây thơ), cho leo cây (thất hẹn), quỷ cái (vợ) sư tử (vợ), bồ nhí (người tình của
chồng), bà la sát (người khó tính), Hoạn Thư (ghen tuông), tắc kè bông (phụ nữ ăn diện lòe
loẹt), yêu tinh (phụ nữ lắm chiêu), ăn vụng (ngoại tình), …
(62) Tạt về nhà ăn cơm trưa cho phải phép. Sư tử báo có mấy nhân viên đến đưa quà,
đều từ chối cả. (4, 228)
(63) Chết cha, ai như thằng Hùng? Đúng rồi, nó đi với ai không phải vợ. Chắc cũng
ăn vụng như mình (2, 202)
- Một số từ lóng khác: ảnh nóng (ảnh ăn mặc hở hang), gu (phong cách), phổi bò
(ruột để ngoài da), quỹ đen (khoản tiền bí mật), bóng (ái nam ái nữ), rệp (xui xẻo), phim heo
(phim đồi trụy), ram-bô (người cao lớn), chạy (tìm mọi cách để đạt được mục đích),…
Qua những điều vừa trình bày ở trên, có thể thấy tiếng lóng trong tiểu phẩm Lê Hoàng
được sử dụng có mức độ và có sự chọn lọc, không làm cản trở quá trình tiếp nhận thông tin
37
của người đọc. Việc sử dụng tiếng lóng cho thấy tác giả am hiểu sâu sắc đời sống của mọi
tầng lớp trong xã hội. Tiếng lóng đã đem lại cho ngôn ngữ Lê Hoàng tính chân thật, màu sắc
khẩu ngữ, đồng thời nó cũng là một trong những yếu tố làm cho bức tranh đời sống, xã hội
hiện lên đa dạng và sống động.
2.1.4. Sử dụng thành ngữ và chất liệu văn học
2.1.4.1. Thành ngữ
Có nhiều quan niệm khác nhau về thành ngữ. Dưới đây, chúng tôi chỉ dẫn ra những
quan niệm tiêu biểu.
Theo Nguyễn Văn Tu, “thành ngữ là cụm từ cố định mà các từ trong đó đã mất đi tính
độc lập đến một trình độ cao về nghĩa, kết hợp làm thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh.
Nghĩa của chúng không phải do nghĩa từng thành tố (từ) tạo ra. Những thành ngữ này cũng
có tính hình tượng hoặc cũng có thể không có. Nghĩa của chúng đã khác nghĩa của những từ
nhưng cũng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học.” [50, tr.185]
Tác giả Đỗ Hữu Châu lại không nói riêng về thành ngữ mà ông đặt thành ngữ trong
ngữ cố định và cho rằng: “Nói ngữ cố định là các cụm từ cố định hóa là nói chung. Sự thực
thì trong các ngữ cố định, có nhiều ngữ có hình thức cấu tạo là các câu như: Chuột sa chĩnh
gạo, Cha truyền con nối,... Bởi vậy, cái quyết định để xác định ngữ cố định là tính tương đối
với từ của chúng về chức năng cấu tạo. Chúng ta nói ngữ cố định tương đương với từ không
phải chỉ vì chúng có tính sẵn có, bắt buộc… như từ mà còn vì ở trong câu chúng có thể thay
thế cho một từ, ở vị trí của từ, hoặc có thể kết hợp với từ để tạo câu.” [6, tr.73]
Các tác giả của “Từ điển tiếng Việt” định nghĩa: “thành ngữ là tập hợp từ cố định đã
quen dùng mà nghĩa thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa các từ
tạo nên nó.” [38, tr.915]
Từ những khái niệm trên có thể thấy thành ngữ là một cụm từ cố định có tính hoàn
chỉnh về nghĩa và mang sắc thái biểu cảm cao. Thành ngữ bắt nguồn từ lời ăn tiếng nói hàng
ngày của nhân dân lao động. Chính vì vậy, sử dụng thành ngữ sẽ làm cho tác phẩm trở nên
sinh động, gần gũi với công chúng.
Trong thể loại tiểu phẩm, các tác giả Hồ Chí Minh, Ngô Tất Tố, Lê Văn Nghĩa, Lý
Sinh Sự,…đều sử dụng thành ngữ rất linh hoạt. Đối với Lê Hoàng, tác giả không chỉ vận
dụng nhuần nhuyễn mà còn sáng tạo ra những biến thể thành ngữ nhằm mục đích châm
biếm hoặc tạo nên tính hài hước cho tác phẩm.
38
Bảng 2.3. Bảng thống kê các thành ngữ trong tiểu phẩm Lê Hoàng
Thành ngữ nguyên dạng Thành ngữ cải biến
135 (83.3%) 27 (16.7%)
Tổng số: 162 (100%)
a. Thành ngữ nguyên dạng
Đa số các thành ngữ được dùng nguyên vẹn như chúng vốn có, không bị thêm hoặc
bớt thành tố nào. Ví dụ: của đi thay người, con ông cháu cha, đứng núi này trông núi nọ,
ông ăn chả bà ăn nem,… Đặc biệt, các thành ngữ so sánh được Lê Hoàng ưu ái sử dụng với
tần suất cao. Ví dụ: đông như kiến, dốt như bò, tươi như hoa, ướt như chuột lột,…
Đa số các thành ngữ được sử dụng như một phương tiện để miêu tả đặc điểm ngoại
hình, tính cách, tâm trạng nhân vật. Ví dụ:
(64) Các cô bây giờ được cái nọ mất cái kia. Cũng có cô hội đủ tiêu chuẩn thì lại
đứng núi này trông núi nọ. (1, 32)
(65) Chị Tư lồng lộn. Chị Tư bầm gan tím ruột. Chị cố gắng tươi như hoa và không
để lộ ra tí gì, âm thầm thu thập thêm bằng chứng. (1, 324)
Trong ví dụ này, thành ngữ “bầm gan tím ruột” diễn tả sự tức giận của chị Tư khi nghe
thấy chồng mình gọi tên cô gái trong mơ. Thế nhưng, bề ngoài chị vẫn cố “tươi như hoa” để
tìm chứng cớ ngoại tình của chồng.
(66) Chẳng qua anh không quen bị con gái cưỡng bức thôi. Chứ đàn ông các anh,
bằng địa vị, bằng tiền bạc, và bằng trăm mưu nghìn kế, đã làm điều đó bao nhiêu lần rồi. (1,
158)
Ở đây, thành ngữ “trăm mưu nghìn kế” được đặt rất đúng chỗ, nó chỉ rõ những mưu
mô, toan tính của rất nhiều đàn ông đối với phụ nữ.
Bên cạnh đó, còn có những thành ngữ dùng để miêu tả sự tình:
(67) Anh nổ máy ra đầu đường và anh thấy gì? Thấy mọi người đang xúm đen xúm
đỏ cạnh cây xăng, và kêu gọi nhau hãy mua nhanh kẻo hôm sau xăng lên giá mười bảy ngàn
đồng. (1, 148)
Đáng chú ý là, có những câu tác giả sử dụng liên hoàn nhiều thành ngữ nhằm làm nổi
bật vấn đề, đem lại tính nhạc cho câu văn:
(68) Chúng tôi xin khẳng định bổn hãng không phải là một công ty thuộc hàng khẩu
hiệu “đục nước béo cò”, “giậu đổ bìm leo” hay “thừa nước đục thả câu”.
(4, 337)
39
b. Thành ngữ cải biến
Ngoài những thành ngữ nguyên dạng, Lê Hoàng còn cải biến thành nhiều biến thể
thành ngữ khác nhau tạo nên sự đa dạng và linh hoạt trong cách sử dụng.
Thành ngữ cải biến trong tiểu phẩm Lê Hoàng được tạo thành theo hai cách: thêm từ
và thay từ ngữ này bằng từ ngữ khác có ý nghĩa tương đương hoặc đối lập.
THÀNH NGỮ PHƯƠNG NGUỒN
THỨC DẪN GỐC CẢI BIẾN
Trắng như tuyết Trắng mịn như tuyết (1, 296)
Thêm từ Vững như thành Vững chắc như thành trì (4, 312)
Nhẹ dạ cả tin Nhẹ dạ và cả tin (3, 250)
Gậy ông đập lưng ông Gậy bà đập lưng bà (3, 126) Thay từ ngữ này Hiền như bụt Hiền như ma sơ (2, 258) bằng từ ngữ khác Đi đến nơi về đến chốn Đi đến nơi về đến đích (4, 199)
Việc cải biến thành ngữ đã tạo nên những biến thể đặc biệt về mặt cấu trúc và ý nghĩa.
So với thành ngữ gốc, ý nghĩa của thành ngữ cải biến được cụ thể, nhấn mạnh hơn hoặc
được bổ sung thêm những nét nghĩa mới. Ví dụ:
Trắng như tuyết Trắng mịn như tuyết
Mười phân vẹn mười Mười phân vẹn tới mười lăm
Tuy nhiên, một số thành ngữ cải biến lại có ý nghĩa hoàn toàn khác với thành ngữ gốc.
Ví dụ:
Hiền như Bụt Hiền như masơ
Học tài thi phận Học tài thi hồi hộp
Nhìn chung, việc cải biến thành ngữ đã làm cho vấn đề phản ánh trở nên cụ thể, sinh
động, thu hút sự chú ý của người đọc. Ví dụ: Trong tiểu phẩm “Kinh doanh trên thân xác…
báo”, thành ngữ “trăm người bán vạn người mua” và “nhắm mắt đưa chân” đã được tác
giả cải biến như sau:
(69) Cuộc sống khó khăn, trăm người bán, vài người mua, bọn em bắt đầu phải moi
móc đời tư, phải sống nhờ những vụ giết người cướp của, theo dõi chém thuê, điều tra tạt a-
xít… rồi nhắm mắt đưa… trang cho người ta kinh doanh lúc nào không biết.
Ở ví dụ trên, thành ngữ cải biến “trăm người bán, vài người mua” và “nhắm mắt đưa
trang” đã tô đậm hiện trạng của báo chí Việt Nam hiện nay: Đa phần độc giả thường lên
40
mạng xem tin tức chứ không mua báo giấy; các phóng viên thường “kinh doanh trên thân
xác báo” bằng những những đề tài giật gân, những tin tức rẻ tiền…
Có thể thấy, với Lê Hoàng, thành ngữ không phải là một thứ “bất di bất dịch”. Trong
nhiều trường hợp, ông đã tu tạo lại thành ngữ dân gian cả về nội dung lẫn hình thức. Việc sử
dụng thành ngữ một cách khéo léo, sáng tạo đã làm cho nhân vật, sự tình được miêu tả trở
nên cụ thể, tinh tế và biểu cảm hơn. Đồng thời, nó cũng làm cho ngôn ngữ Lê Hoàng vừa có
chất dân gian, vừa có tính hiện đại.
2.1.4.2. Chất liệu văn học
Văn học chính là nguồn chất liệu dồi dào và quý giá cho việc sáng tạo tác phẩm báo
chí. Trong tiểu phẩm Lê Hoàng, tác giả sử dụng khá nhiều chất liệu văn học, bao gồm: tục
ngữ, ca dao, tên các tác phẩm và nhân vật quen thuộc trong văn học,...
- Tục ngữ, ca dao:
(70) Được tin anh gặp tai nạn, em rất buồn. Thôi anh ạ, sông có khúc, người có lúc
và lợn có thời kỳ. (3, 62)
(71) Mua cho em một cái áo da. Hơi đắt, nhưng mình ra dáng thản nhiên. Em mặc
vào, nổi rõ eo thon. Mình nhói lên. Ừ, cái áo cuối cùng mua cho “mụ” là năm nào nhỉ? Tôi
xấu hổ quá, tôi ơi. “Gió đưa cành bưởi sau hè, anh mê vợ bé bỏ bầy con thơ”. Câu ca dao
phảng phất như mưa xuân. Một giọt nước mắt lăn trong lòng. (2, 204)
- Tên của các nhân vật văn học
(72) Phỏng vấn Hoạn Thư (1, 401)
(73) Phỏng vấn Hòn vọng phu (1, 354)
(74) Thư của Chí Phèo gửi cho Thị Nở (1, 146)
(75) Thư của Rô-mê-ô gửi Juy-li-ét (1, 214)
(76) Trạng Quỳnh tân biên tạp lục (4, 39)
- Tên của các tác phẩm văn học
(77) Cô bé quàng khăn đỏ (4, 7)
(78) Thỏ và Rùa (4, 11)
(79) Aladin và cây đèn thần (4, 30)
Ngoài ra, Lê Hoàng còn dẫn khá nhiều thơ văn vào trong tác phẩm của mình:
(80) Chính cha ông chúng ta còn viết trong sử sách “Núi sông bờ cõi đã chia, phong
tục Bắc Nam cũng khác”. Vậy mà giờ đây chúng ta tự hào mình hiểu biết hơn, có tinh thần
độc lập, giữ gìn bản sắc hơn thì lại xử sự kém vậy sao? (2, 46)
41
Trong một tiểu phẩm khác Lê Hoàng cũng dẫn một câu nói rất triết lý:
(81) Tôi rất thích một câu trong truyện ngắn của Nam Cao “Hạnh phúc là cái chăn
hẹp, người này đắp kín thì người kia hở”. Tôi có thể tự hào nói rằng tôi chưa bao giờ đắp
kín chăn, vì phải chừa chỗ cho người khác thò chân vào… (4, 240)
Nhiều lúc Lê Hoàng còn tếu táo cải biên thơ ca để phản ánh chân thực những vấn đề
tiêu cực của xã hội, chẳng hạn như nạn kẹt xe, ùn tắc giao thông dưới đây:
“Ngoài thềm rơi chiếc lá đa.
Giữa đường dừng lại bởi là kẹt xe.” (4, 202)
Hay
“ Mau lên chứ vội vàng lên với chứ
Em em ơi đèn xanh sắp bật rồi.” (4, 202)
Nhìn chung, các chất liệu văn học đều quen thuộc với độc giả và được sử dụng linh
hoạt, sáng tạo. Điều này đã làm cho vấn đề phản ánh trở nên hấp dẫn, sinh động, gây ấn
tượng với người đọc.
2.2. Đặc điểm cú pháp
Trong phần này, chúng tôi sẽ tìm hiểu đặc điểm câu văn trong tiểu phẩm Lê Hoàng
trên hai bình diện: về cấu tạo ngữ pháp và về mục đích phát ngôn.
2.2.1. Về cấu tạo ngữ pháp
Trong tiểu phẩm Lê Hoàng, tác giả sử dụng đầy đủ các kiểu câu theo cấu tạo ngữ pháp:
câu đơn, câu đặc biệt, câu ghép. Do đặc trưng cơ bản của tiểu phẩm là tính ngắn gọn, hàm
súc, cho nên hầu hết các câu văn đều ngắn gọn, đơn giản. Dưới đây chúng tôi chỉ đi vào
những cấu trúc câu đặc trưng cho phong cách ngôn ngữ của Lê Hoàng.
2.2.1.1. Câu đơn tỉnh lược
a. Khái niệm
Tỉnh lược là hiện tượng phổ biến ở nhiều ngôn ngữ. Đến nay đã có khá nhiều công
trình nghiên cứu đề cập đến vấn đề này dưới nhiều tên gọi khác nhau: câu rút gọn, câu đơn
phần, câu dưới bậc, câu tỉnh lược, ngữ trực thuộc,… Tuy có nhiều cách tiếp cận, lý giải
khác nhau nhưng có thể chia làm hai xu hướng chính:
Các tác giả theo xu hướng thứ nhất cho rằng câu tỉnh lược thuộc câu song phần. Đại
diện tiêu biểu của xu hướng này là Nguyễn Kim Thản, Hoàng Trọng Phiến. Theo tác giả
Nguyễn Kim Thản, “trong thực tiễn ngôn ngữ, có những câu có thể dựa vào hoàn cảnh sử
42
dụng ngôn ngữ mà bớt đi một hay cả hai thành phần chủ yếu của câu. Ta gọi đó là câu rút
gọn (hoặc câu tỉnh lược). Câu rút gọn khác câu một thành phần ở chỗ người ta có thể dựa
vào hoàn cảnh ngôn ngữ mà điền vào đó thành phần đã bị bớt đi và khôi phục lại bộ mặt
hoàn chỉnh của câu.” [44, tr.610]
Tác giả Hoàng Trọng Phiến cho rằng “Trong tiếng Việt câu không đầy đủ thành phẩn
thường là câu không có chủ ngữ hoặc câu có chủ ngữ zêrô”, “câu vắng chủ ngữ (còn gọi là
câu vô chủ) về mặt cấu trúc cũng như ý nghĩa cũng có tính hoàn chỉnh như câu đầy đủ, vắng
chủ ngữ là vắng có ý nghĩa.” [40, tr.175]
Những người theo xu hướng thứ hai tách câu tỉnh lược thành một loại câu riêng. Đại
diện tiêu biểu của xu hướng này là Cao Xuân Hạo, Diệp Quang Ban.
Cao Xuân Hạo nghiên cứu câu theo quan điểm ngữ pháp chức năng. Ông coi cấu trúc
câu là cấu trúc thông báo với hai phần chính là đề và thuyết. Thuyết là phần bắt buộc phải
có, còn đề có thể lược bỏ lâm thời nhờ ngữ cảnh, có tác dụng bảo toàn sự mạch lạc của câu.
Câu lược bỏ phần đề là loại câu riêng.
Tác giả Diệp Quang Ban cho rằng “phần bị tỉnh lược có thể được phục hồi để cho câu
được trọn vẹn một cách tự nhiên. Do đó chuỗi từ trong đó có bộ phận bị tỉnh lược vẫn có
đầy đủ tư cách của một câu. Câu chứa bộ phận tỉnh lược vẫn là một câu có thể gọi tắt là câu
tỉnh lược để tiện làm việc.” [1, tr.278]
Tuy có nhiều kiến giải khác nhau nhưng điểm chung của các tác giả là: nếu xem xét
trên bình diện phát ngôn, thì một phát ngôn chỉ được coi là câu tỉnh lược khi một trong hai
(hoặc cả hai) thành phần nòng cốt của câu bị lược bỏ.
Theo quan điểm của chúng tôi, câu tỉnh lược vốn dĩ là câu đơn có đầy đủ thành phần,
nhưng trong một ngữ cảnh nào đó, có những thành phần bị lược bớt đi mà người nghe,
người đọc vẫn hiểu được. Dựa vào ngữ cảnh này, các thành phần bị tỉnh lược có thể được
khôi phục lại đầy đủ.
b. Câu đơn tỉnh lược trong tiểu phẩm Lê Hoàng
Ngôn ngữ trong tiểu phẩm Lê Hoàng thiên về ngôn ngữ nói, ngôn ngữ hội thoại. Chính
điều này đã làm câu đơn tỉnh lược xuất hiện với mật độ dày đặc. Việc sử dụng câu đơn tỉnh
lược không chỉ tiết kiệm về mặt ngôn từ, rút ngắn độ dài văn bản mà còn giúp cho cuộc hội
thoại có tiết tấu nhanh hơn, sôi nổi hơn, hướng người đọc vào trọng tâm của vấn đề.
Câu đơn tỉnh lược trong tiểu phẩm Lê Hoàng có ba dạng: câu đơn tỉnh lược chủ ngữ,
câu đơn tỉnh lược vị ngữ và câu đơn tỉnh lược chủ ngữ và vị ngữ.
43
b1. Câu đơn tỉnh lược thành phần chủ ngữ
- Tình hình chỗ cậu thế nào? (82)
- Thưa, còn khổ lắm. (4, 150)
(83) Mình lén dậy, nhìn qua khe cửa thấy mẹ chồng đang làm đồ ăn sáng. Bèn nhón
chân về giường trùm chăn tiếp. Và lấy cuốn sách, thả rơi xuống cạnh đầu mình. Miên
man nghĩ về chiếc áo đầm hôm qua con Mai mặc. (1, 301)
b2. Câu đơn tỉnh lược thành phần vị ngữ
(84) – Kẻ nào phát ngôn bừa bãi vậy?
- Kẻ này! (3, 147)
(85) PV: Cách nào hay được chọn nhất?
Đạo diễn: Cách thứ hai. (2, 116)
(86) Tôi run rẩy: - Ai bán?
Nàng sôi nổi: - Nhà xe. (1, 152)
b3. Câu đơn tỉnh lược cả chủ ngữ và vị ngữ
(87) – Tôi cực kì không đồng tình với cách nói đó.
- Vì sao? (2, 139)
(88) PV: Khi mẹ kế có một hành động bất công với cô, cô có mách cha không?
Cô gái: Không. (1, 343)
(89) – Cô phụ trách trang gì của báo?
- Trang gia đình. (3, 113)
Trong ba tiểu loại này, câu đơn tỉnh lược thành phần chủ ngữ xuất hiện với mật độ dày
đặc, hai tiểu loại còn lại có số lượng hạn chế hơn, nhất là câu đơn tỉnh lược thành phần vị
ngữ.
Việc sử dụng câu đơn tỉnh lược bên cạnh câu đơn đầy đủ thành phần có tác dụng làm
cho cho vấn đề được triển khai ngắn gọn, có điểm nhấn, ý nọ nối tiếp ý kia tạo nên một sự
liền mạch, nhất quán, hướng người đọc vào nội dung thông báo trọng tâm. Ví như cuộc
phỏng vấn một cảnh sát giao thông dưới đây:
(90) PV: Thưa anh, tình trạng giao thông của chúng ta như thế nào?
CS: Như thế nào thì chắc mọi người đã biết.
PV: Có nghĩa là không tốt?
Bò: Phải.
PV: Và một trong những nguyên nhân của tình trạng không tốt này?
44
Bò: Là do việc chúng ta xử phạt chưa thật nghiêm.
PV: Và biểu hiện rõ nhất của sự chưa nghiêm đó?
Bò: Là cảnh sát thường hay nghe đương sự trình bày.
PV: Trình bày ư?
CS: Phải.
(2, 7)
Có thể thấy, các câu trong đoạn hội thoại này được móc nối, liên kết với nhau một
cách chặt chẽ để làm nổi bật thực trạng giao thông của nước ta hiện nay. Người phỏng vấn
đưa ra câu hỏi một cách dồn dập còn người được phỏng vấn không quanh co, dông dài mà
trả lời trực tiếp vào vấn đề, không một chút đắn đo, cân nhắc. Điều này tạo nên một không
khí khẩn trương, căng thẳng cho cuộc hội thoại, lôi cuốn người đọc vào vấn đề “nóng” của
xã hội.
Bên cạnh đó, việc sử dụng câu đơn tỉnh lược còn làm cho cuộc hội thoại trở nên thân
mật, gần gũi, thể hiện được thái độ, tình cảm của nhân vật tham gia giao tiếp. Chẳng hạn,
qua cuộc đối thoại ở trên, chúng ta có thể cảm nhận được sự ngao ngán, bất bình của anh
cảnh sát trước tình trạng giao thông Việt Nam. Hay trong tiểu phẩm “Giải độc đắc”, nhân
vật Tèo khi trúng số đã không thể kìm chế được sự vui sướng của mình:
(91) Trúng rồi, cậu ơi.
Tôi sửng sốt: - Trúng gì?
Tèo hớn hở: - Trúng xổ số. Giải độc đắc. (3, 375)
Tóm lại, việc sử dụng câu tỉnh lược khiến cho các đối thoại luôn gắn chặt với ngôn
cảnh. Muốn hiểu được đầy đủ nội dung câu văn, phải dựa vào ngôn cảnh để lý giải. Câu tỉnh
lược phù hợp với ngôn ngữ hội thoại, nó làm cho vấn đề được nhấn mạnh, xoáy sâu, giúp
thông tin được truyền đi một cách nhanh chóng.
2.2.1.2. Câu đặc biệt
a. Khái niệm
Trong tiếng Việt có những câu do một từ hoặc một cụm từ đảm nhận, loại câu này
được gọi là câu đặc biệt. Thuật ngữ “câu đặc biệt” được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau ở
những tác giả khác nhau: câu đơn phần (đối lập với câu song phần – Nguyễn Kim Thản),
câu đặc biệt (đối lập với câu bình thường – Hồng Dân, Đái Xuân Ninh, Hồ Lê, Lưu Vân
Lăng), câu một thành phần (đối lập với câu hai thành phần – Hoàng Trọng Phiến, Hữu
Quỳnh)
45
Theo Đái Xuân Ninh [37, tr.273], “câu đặc biệt, đối lập với câu bình thường là câu mà
những yếu tố hiện thực hóa chủ yếu là ngữ cảnh, ngữ điệu. Nó bao gồm trước hết là những
câu nghi vấn, cảm thán, mệnh lệnh, trả lời.”
Trong cuốn “Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng”, tác giả Cao Xuân Hạo cho rằng
“trong tiếng Việt có những phát ngôn không thể phân tích như “sự thể hiện ngôn ngữ học
của một mệnh đề”, nghĩa là như một nhận định về một sự tình hay một hình thức phái sinh
của một nhận định như thế. Những phát ngôn như thế có thể gọi tạm là những câu đặc biệt.”
[22, tr.381] Thuộc vào câu đặc biệt có: thán từ (ái!, trời ơi!), hô ngữ và ứng ngữ (ê!, này!,
dạ!), các tiêu đề (tạp chí văn học, bão biển).
Trong sách giáo khoa phổ thông, người ta xem câu đặc biệt là câu diễn đạt ý trọn vẹn
mà không xác định được thành phần chính của câu là chủ ngữ hay vị ngữ. Câu đặc biệt có
tác dụng biểu đạt cảm xúc, xác định thời gian, nơi chốn, thông báo về sự xuất hiện của sự
vật, hiện tượng và dùng để gọi đáp.
Có thể thấy, xung quanh vấn đề câu đặc biệt có rất nhiều khái niệm và cách phân loại
khác nhau. Tuy nhiên, phần lớn các tác giả cho rằng câu đặc biệt là những câu có cấu tạo là
một từ hoặc một cụm từ, không thể xác định được chủ ngữ và vị ngữ. Câu đặc biệt thường
đi kèm với một ngữ điệu đặc biệt và được dùng trong cả văn phong trang trọng và không
trang trọng.
b. Câu đặc biệt trong tiểu phẩm Lê Hoàng
Theo thống kê, tiểu phẩm Lê Hoàng có 684 câu đặc biệt. Về mặt cấu tạo, câu đặc biệt
thường do danh từ, ngữ danh từ, động từ, ngữ động từ, tính từ, ngữ tính từ, thán từ, số từ
đảm nhiệm. Câu đặc biệt được tác giả sử dụng một cách hợp lý, đúng đắn với nhiều mục
đích khác nhau.
Trước hết, kiểu câu này được dùng để chỉ sự tồn tại hoặc xuất hiện của sự vật, hiện
tượng.
(92) Báo đây, báo đây! (3, 468)
(93) Phóng sự! Phóng sự! Phóng sự! Cuộc điều tra về những bóng ma trong phòng
xử án. (3, 106)
(94) Cháy! Cháy! (1, 390)
Trong một số trường hợp, để nhấn mạnh thời gian xảy ra sự kiện, tác giả cũng sử dụng
câu đặc biệt. Ví dụ:
(95) Ngày tháng trôi qua. Thời hạn World Cup sắp đến gần. (3, 293)
46
(96) Cho tới tận đêm qua. Đêm qua trời nóng, chị trằn trọc mãi mà không ngủ được.
(1, 324)
Ở ví dụ (89), tác giả nhấn mạnh vào khoảng thời gian chờ đợi, tìm kiếm thủ môn cho
mùa World Cup của huấn luyện viên. Còn ở (90), tác giả muốn nhấn mạnh đến khoảng thời
gian người vợ bị mất ngủ và chứng kiến “giấc mơ ngoại tình” của ông chồng.
Bên cạnh đó, nhiều câu đặc biệt trong tiểu phẩm Lê Hoàng còn dùng để gọi – đáp. Ví
dụ:
(97) Các bạn thân mến. (4, 85)
(98) Đào ơi, Đào ơi! (1, 324)
(99) Bò: Nói cách khác, việc giữ gìn bản sắc là việc của tất cả các quốc gia, các nền
điện ảnh chân chính chứ đâu phải chỉ riêng ta.
PV: Vâng (2, 59)
Những câu đặc biệt dùng để mô phỏng âm thanh của người, sự vật, hiện tượng cũng
xuất hiện khá nhiều:
(100) Reng. Reng. Reng… Tiếng chuông vang lên như súng ngoài cổng.
(4, 109)
(101) Hừm. (2, 98)
(102) Rầm. Một tiếng nổ khủng khiếp vang lên trong đêm vắng. (4, 344)
Đáng chú ý nhất là những câu đặc biệt dùng để miêu tả tâm trạng, tình cảm, thái độ
của nhân vật trước một vấn đề cụ thể. Loại câu này có số lượng nhiều nhất trong tổng số câu
đặc biệt.
(103) Mình chạm nhẹ vào tay em. Dịu dàng, thơ mộng, ngất ngây. (1, 47)
Ba tính từ được đặt cạnh nhau đã thể hiện được tâm trạng sung sướng, ngất ngây của
một ông chồng có bồ.
(104) Ngày ấy xảy ra cách đây đã hơn hai mươi năm rồi, và mỗi khi nhớ lại, anh Tư
lại tràn ngập một cảm giác trào dâng. Ôi tình yêu, ôi hạnh phúc, ôi người vợ bé bỏng. (1,
274)
Câu đặc biệt cảm thán ở ví dụ trên là xúc cảm mãnh liệt của anh Tư khi hoài niệm về
thời gian đầu của cuộc hôn nhân hạnh phúc.
Điểm nổi bật trong tiểu phẩm Lê Hoàng là tác giả cố ý sắp xếp nhiều câu đặc biệt đứng
cạnh nhau nhằm nhấn mạnh, khắc sâu đặc điểm, tính chất, trạng thái của đối tượng, xoáy
người đọc vào một tâm điểm cần chú ý. Câu văn vì thế cũng trở nên sắc, gọn, gân guốc hơn.
47
(105) Xa lộ. Gió. Mát. Lạnh. Bốn năm chiếc xe lao như bay trên đường, thỉnh thoảng
mình lại gào lên như ống “pô” bị nghẹt. Nhớ lung tung những kỉ niệm ập về. Nhạc Mai-Cồ,
xe su “xì-bo”, điện thoại “sờ-ta-tắc”. (3, 214)
Các câu đặc biệt đứng ở đầu đoạn văn nêu lên bối cảnh cho những sự kiện tiếp theo
xuất hiện. Mặc dù mỗi câu chỉ cấu tạo bằng một từ ngắn gọn nhưng lại hàm chứa, dồn nén
nhiều thông tin khác nhau: địa điểm, không gian, cảm giác của con người.
(106) Chiều về “mụ” khen cái bếp gas sau khi hỏi giá. “Mụ” nhìn nó say đắm trong
khi chẳng nhìn mình. Tủi thân. Buồn. Tức tối. Nhếch môi. (2, 203)
Bốn câu đặc biệt đứng cạnh nhau đã tô đậm những xúc cảm tiêu cực đan xen, hòa trộn
lẫn nhau trong tâm trạng của người chồng khi người vợ chỉ quan tâm đến giá trị vật chất mà
chẳng đoái hoài gì đến mình.
(107) Chị Tám ơi, nguy rồi. Tai họa rồi. Tan nát rồi. (1, 97)
Ở ví dụ này, các câu đặc biệt được sắp xếp theo mức độ tăng tiến nhằm nhấn mạnh
tâm trạng lo lắng, hốt hoảng của cô Sáu Xoài khi nhận được “tin sét đánh” - chồng chị Tám
có bồ nhí.
Nhìn chung, câu đặc biệt được Lê Hoàng sử dụng với nhiều mục đích khác nhau. kiểu
câu này không chỉ xuất hiện ở hình thức đối thoại mà còn xuất hiện trong những kiểu bài
văn xuôi thông thường. Câu đặc biệt đã tạo điểm nhấn trong lời văn, làm cho thông tin được
dồn nén và nhấn mạnh, gây ấn tượng với độc giả.
2.2.1.3. Câu ghép
a. Khái niệm
Trong Việt ngữ học, từ trước đến nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về câu ghép.
Đa số các tác giả đều cho rằng câu ghép là kiểu câu do hai hay nhiều cụm chủ - vị không
bao chứa nhau tạo thành, mỗi cụm chủ - vị làm thành một vế câu, có quan hệ chặt chẽ với
nhau về ý nghĩa và được nối bằng các liên từ, dấu câu.
Về cơ bản, câu ghép được chia làm hai loại: câu ghép đẳng lập và câu ghép chính phụ.
Câu ghép đẳng lập là câu ghép mà các vế câu có quan hệ bình đẳng với nhau. giữa các
vế thường được nối với nhau bằng dấu phẩy hoặc liên từ (và, còn, hoặc, thì,…).
Ví dụ: Mình đọc hay tôi đọc (Nam Cao).
Câu ghép chính phụ là câu ghép mà các vế phụ thuộc lẫn nhau. Câu ghép chính phụ
được nối với nhau bằng các cặp từ hô ứng: vì… nên…, tuy…nhưng…, nếu…thì…, để… thì…,
Ví dụ: Vì tên Dậu là thân nhân của hắn cho nên chúng con bắt nộp thay. (Ngô Tất Tố)
48
Dựa vào lý thuyết trên, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu đặc điểm sử dụng câu ghép trong
tiểu phẩm Lê Hoàng.
b. Câu ghép trong tiểu phẩm Lê Hoàng
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy Lê Hoàng sử dụng rất phong phú, đa dạng các kiểu
câu ghép.
b1. Câu ghép chính phụ
Câu ghép chính phụ ít được dùng hơn câu ghép đẳng lập. Tác giả thường sử dụng kiểu
câu này để tranh biện, phân tích, lý giải về vấn đề nào đó.
- Câu ghép chính – phụ chỉ quan hệ đối chiếu
Đây là kiểu câu được tác giả sử dụng nhiều nhất để so sánh, làm nổi bật vấn đề cần
bàn. Kiểu câu này thường sử dụng cặp từ quan hệ nếu…thì…
(108) Nếu như ở nhiều quốc gia cư hễ vi phạm Luật Giao thông là phải nộp phạt,
thậm chí phải ở tù thì ở ta cứ hễ vi phạm là … năn nỉ. (2, 8)
Ở ví dụ này, tác giả đã so sánh tình trạng giao thông ở Việt Nam với nhiều quốc gia
trên thế giới để nhấn mạnh luật giao thông ở nước ta chưa nghiêm.
Trong tiểu phẩm “Thư của ông chồng gửi vợ và gửi bồ nhí”, để chứng minh ông
chồng là nạn nhân của hai bà, tác giả đã sử dụng liên tiếp các câu ghép có quan hệ đối chiếu.
(109) Nếu bà thứ nhất đay nghiến tôi bao giờ về thì bà thứ hai hỏi tôi bao giờ đi. Nếu
bà thứ nhất kêu rằng tiền điện, tiền ga đã tăng thì bà thứ hai than son môi và phấn hồng sao
không giảm giá. Nếu bà thứ nhất khảo tôi về tiền lương thì bà thứ hai khảo tôi về quà tặng.
(1, 339)
- Câu ghép chính phụ chỉ điều kiện – giả thiết
(110) Từ nay, hễ em gọi tới là nó sẽ báo chính xác rằng anh đang ở đâu.
(1, 315)
- Câu ghép chính phụ chỉ ý nhượng bộ
(111) Mặc dù giá niêm yết là 2 ngàn đồng, nhưng nhân dịp này, nhân viên đã tăng
giá lên 5 ngàn đồng. (4, 83)
(112) Tôi không phải hoa hậu, không phải người mẫu, cũng chẳng có ảnh nóng để lộ
nhưng hiện tại tôi nổi như cồn, không vui sao được. (2, 17)
- Câu ghép chính phụ chỉ nguyên nhân – kết quả
(113) Thú thực với thầy, con bỏ học vì con chưa biết học mãi để làm gì.
(4, 321)
49
Trong số các loại câu ghép chính phụ vừa kể trên, câu ghép chính phụ chỉ quan hệ đối
chiếu có số lượng nhiều hơn cả.
b2. Câu ghép đẳng lập
So với câu ghép chính phụ, câu ghép đẳng lập được Lê Hoàng sử dụng nhiều hơn.
Loại câu ghép này thường có nhiều vế câu, được dùng với nhiều mục đích khác nhau.
Phổ biến nhất là câu ghép dùng để miêu tả, liệt kê các sự việc, sự kiện, hình ảnh hoặc
hành động của nhân vật. Ví dụ:
(114) Rồi họ cho phẩm vào, rồi họ cho nước mắm vào, rồi họ cho va-ni, húng lìu và
hàng trăm thứ khác thuộc về bí mật quân sự. (3, 65)
Ví dụ trên được rút ra từ tiểu phẩm “Thư của Lợn Quay gửi Lợn Tai Xanh”. Với ba vế
câu liên tiếp, tác giả đã liệt kê quá trình tẩm ướp gia vị với nhiều giai đoạn phức tạp để biến
thịt heo bẩn thành thịt heo sạch bán cho người tiêu dùng. Mặc dù chỉ liệt kê hành động
nhưng câu văn thể hiện rõ thái độ phê phán, đả kích.
(115) Nào phở có phoọc-môn, nước tương có chất gây ung thư, bánh cuốn có hàn the,
cà phê có bột bắp, trái cây có thuốc trừ sâu,…(3, 71)
Chỉ bằng một câu ghép chất chồng các sự việc, tác giả đã đem đến cho người đọc một
bức tranh rất đáng sợ về thực trạng ô nhiễm thực phẩm tràn lan ở nước ta.
(116) Mắt anh trợn trừng, mũi anh cau cau, trán anh nhăn nhăn, má anh giật giật. (1,
371)
Mỗi vế của câu ghép trên đều đặc tả một bộ phận trên gương mặt nhân vật. Tất cả đều
như dị dạng, méo mó đi bởi nhân vật đang rất tuyệt vọng, đau khổ.
(117) Theo như ông tiết lộ một cách đầy thành kính, bà nấu ăn ngon, bà rửa bát sạch,
bà lau nhà bóng và bà đi chợ rẻ. (1, 331)
Câu ghép trên có sự mở rộng thành phần câu (trạng ngữ), các vế được liên kết với
nhau bằng dấu phẩy và từ nối đã liệt kê một loạt ưu điểm của người vợ trong mắt chồng.
Bên cạnh những câu ghép đẳng lập dùng để liệt kê các sự vật, hành động,… còn có
những câu ghép dùng để bộc lộ cảm xúc hoặc nêu lên một nhận định, đánh giá của nhân vật.
Trong “Điếu văn của anh Ổi đọc trong lễ tiễn anh Me về nơi an nghỉ cuối cùng”, để bày tỏ
niềm thương tiếc đối với anh Me Việt bị Me Thái Lan giết chết, anh Ổi đã ai điếu bằng
những câu văn giàu cảm xúc:
50
(118) Anh Me ơi, tôi gọi tên anh, các em nhỏ gọi tên anh, các nhạc sĩ gọi tên anh và
hơn hết các bà nội trợ gọi tên anh. Nồi canh cá thiếu anh sẽ ra sao, tuổi học trò thiếu anh sẽ
ra sao? (3, 104)
Trong một tiểu phẩm khác, khi được tin nàng Juy-li-ét phải nhập viện vì bị tiêu chảy
cấp, để lỡ tiệc đính hôn, Rô-mê-ô đã ai oán thốt lên:
(119) Hạnh phúc thật là mong manh, cuộc đời thật bất công. (1, 218)
Hay trong “Thư của Lợn Quay gửi Lợn Tai Xanh”, nhân vật Lợn Quay đã đưa ra một
nhận định rất thú vị:
(120) Thôi anh ạ, sông có khúc, người có lúc và lợn có thời kì. (3, 62)
Tóm lại, qua những ví dụ vừa phân tích ở trên, chúng tôi rút ra đặc điểm của câu ghép
đẳng lập trong tiểu phẩm Lê Hoàng như sau:
Mỗi câu ghép gồm nhiều vế ngăn cách với nhau bằng dấu phẩy hoặc từ nối, hiện tưởng
mở rộng thành phần câu không nhiều, hầu hết các vế câu được sắp xếp theo kiểu liệt kê, cấu
trúc giữa các vế khá hài hòa.
Lê Hoàng sử dụng loại câu ghép này để tái hiện lại bức tranh đa dạng, phức tạp của
cuộc sống. Các chi tiết, sự kiện, hành động được miêu tả dồn dập, liên tiếp, thông tin được
dồn nén, chất chồng, tạo nên sự hấp dẫn trong diễn biến của câu chuyện, khơi gợi trí tưởng
tượng phong phú cho độc giả. Đồng thời, việc sử dụng nhiều câu ghép đẳng lập còn làm cho
câu văn chắc gọn, khỏe khoắn, giàu nhạc tính.
2.2.2. Về mục đích phát ngôn
Khi phân loại câu theo mục đích phát ngôn, các nhà ngôn ngữ học thường chia làm
bốn loại: câu tường thuật (declarative), câu nghi vấn (interrogative), câu cảm thán
(exclamative) và câu cầu khiến (imperative).
Trong luận văn này, chúng tôi chỉ đi sâu vào hai loại câu có số lượng nhiều nhất và
hiệu quả biểu đạt cao nhất là câu tường thuật và câu nghi vấn. Dưới đây, chúng tôi lần lượt
trình bày đặc điểm của hai loại câu này trong tiểu phẩm Lê Hoàng.
2.2.2.1. Câu tường thuật
a. Khái niệm
Theo tác giả Diệp Quang Ban, “câu tường thuật là câu có chức năng diễn giải, diễn đạt
niềm tin của người nói, được dùng để kể, mô tả một vật, việc, hiện tượng, để nhận định, xác
nhận, dùng trong quá trình suy nghĩ.” [2, tr.117]
51
b. Đặc điểm của câu tường thuật trong tiểu phẩm Lê Hoàng
Đây là kiểu câu xuất hiện nhiều nhất trong tiểu phẩm Lê Hoàng. Qua khảo sát, chúng
tôi nhận thấy câu tường thuật tồn tại ở hai dạng chính: câu tường thuật kể, miêu tả và câu
tường thuật nhận định, đánh giá.
b1. Câu tường thuật kể, miêu tả
Kiểu câu này thường dùng để kể về những sự việc, sự kiện, hiện tượng, nhân vật,…
Bằng sự quan sát tỉ mỉ và giọng văn hài hước, châm biếm, tác giả đã làm sống dậy bức tranh
muôn màu muôn vẻ của hiện thực đời sống. Dưới đây là bản tin “Tường thuật tại chỗ cuộc
thi hoa hậu năm 1996”
(121) Các bạn thân mến, chúng tôi đang đứng trước cổng vĩ đại của cung Hàng hóa
Hữu Nghị, nơi cuộc chung kết Hoa hậu sắp khai trương. Còn khoảng mười lăm phút nữa
mới mở màn, nhưng quan khách đã đến đông đủ trên những chiếc xe “Thiên thần may mắn”.
Chân đi dép “Bi-tit”, quần may tại nhà may “Minh Đoàn”, áo cắt tại “Tuấn Sài Gòn – Thời
Trang”, mặt bôi kem dưỡng da “Lan Hảo”, mồm ngậm sing-gum “Đúp-bồ-min-tờ”, mũi phà
khói ba số năm “Hương vị êm dịu khắp thế giới.”
Đoạn văn trên đã chứng minh “khả năng soi” đến tận cùng chân tơ kẽ tóc của tác giả.
Các chi tiết được liệt kê sinh động và hài hước, giúp độc giả hình dung được chân dung,
phong cách của các quan khách đến dự sự kiện.
Không dừng lại ở đó, tác giả lại tiếp tục đưa tin về cuộc chạy đua vào trường điểm của
các bậc phụ huynh:
(122) Một tốp vận động viên nữa không tin bảo vệ cũng chả tin cò, chỉ tin vào một số
giáo viên. Những giáo viên đó rất nhiệt tình, cùng chạy với phụ huynh tìm một quán hàng
cùng chia sẻ thức ăn và nước uống. Nhưng có được một đoạn, họ lại bảo phụ huynh đưa
thêm tiền để mua giày hi vọng chạy cho nhanh. Sau khi nhận vài chục triệu đồng, có giáo
viên chạy mất tăm mất tích, có giáo viên lại la làng là mình bị giật đồ, trong khi chúng tôi
không nhìn thấy một tên trộm nào. (4, 80)
Bằng những câu văn tường thuật kể, miêu tả tỉ mỉ, chi tiết, người đọc có thể hình dung
ra quang cảnh hỗn tạp, xô bồ của cuộc chạy trường: có người cò, có người đưa hối lộ, có
giáo viên nhận hối lộ…
Trong nhiều tiểu phẩm, Lê Hoàng không trực tiếp miêu tả hay kể về đối tượng mà để
nhân vật tự nói về mình. Dưới đây là lời tự sự của một con heo:
52
(123) Khi tôi nhỏ, họ quay tôi trên những lò lộ thiên, để ngay trước cửa quán ăn, thân
tôi bị nướng vàng trên than hồng, da tôi bị tẩm đủ thứ hương liệu không rõ nguồn gốc, sau
đó họ còn chặt tôi bằng những con dao to, không rửa, có thể dùng để bổ củi, và bày tôi lên
những chiếc đĩa được lau rửa sơ sài. Khi tôi lớn, họ giết tôi trong những lò mổ lậu, tối tăm,
thiếu xà bông và ánh sáng, sau đó bày tôi tên các phản thịt cả đời không rửa ở chợ. (3, 67)
Những câu văn kể lể có phần dài dòng nhưng đã miêu tả rất chân thực quy trình chế
biến, bày bán thịt heo dơ bẩn. Người đọc phải nổi da gà trước những thông tin mà nhân vật
cung cấp.
Bên cạnh những câu văn tường thuật về các sự kiện, sự việc diễn ra trong đời sống
hàng ngày, Lê Hoàng còn dựng lên những bức chân dung nhân vật sinh động. Ví như, trong
tiểu phẩm “Kem trị mụn”, “thân hình tuyệt hảo” của tiểu thư Mê-ri hiện lên thật sống động,
hài hước:
(124) Chân cô dài như quả đậu cô ve, lưng cô thon như trái me, thắt vào như của lạc
(tức củ đậu phộng). Mũi cô thẳng như một lưỡi dao và tóc thì đen như một đêm cúp điện.
Chỉ có mỗi khuyết điểm đáng bực mình, đáng căm ghét và duy nhất, đó là trên mặt cô có
một lớp mụn đỏ, đều, nhỏ như hạt vừng và bóng lên dưới ánh đèn như chùm hạt thủy tinh.
(3, 29)
Đọc đoạn văn này, hẳn độc giả nào cũng phải bật cười trước những hình ảnh so sánh
hài hước. Chân dung của vị tiểu thư này hiện lên giống như một bức tranh biếm họa.
Không chỉ miêu tả về ngoại hình nhân vật, Lê Hoàng còn miêu tả về tính cách nhân
vật. Đó là thú chơi trội, chơi sang của ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng:
(125) Quan sát Hưng, tôi biết anh thích tiêu tiền chứ không thích cất tiền. Ăn ngon,
mặc đẹp, đeo kim cương lấp lánh, Hưng tận hưởng cuộc sống và để cho cuộc sống tận
hưởng mình. (2, 278)
Hay tâm lý sợ vợ, nể bạn, kính thầy của Hiếu Hiền:
(126) Anh sợ vợ theo đúng luật lệ, nể bạn theo đúng lòng vị tha và kính Thầy theo
đúng lễ nghĩa. (2, 282)
Có thể thấy, dưới ống kính của đạo diễn Lê Hoàng, những thước phim quay chậm về
hiện thực đời sống hiện ra thật sắc nét. Tác giả đặc biệt xoáy sâu vào những mặt trái, những
mảng đen của xã hội để vạch trần, lên án chúng. Tuy nhiên, đôi chỗ tác giả quá tham chi tiết,
sa vào kể lể dài dòng hoặc chạy theo ngôn từ nghệ thuật khiến cho thông tin không được
khắc sâu. Ví dụ:
53
(127) Thế là đã rõ ràng, chúng ta có đường sá tuyệt hảo, có luật lệ giao thông tươi
sáng, có người điều khiển xe hai bánh văn minh, vậy thì tất cả tai nạn giao thông xảy ra là
do xe gắn máy, không còn nghi ngờ gì nữa. Cho nên vào một buổi sáng mùa xuân, tôi mặc
bộ com-pờ-lê đẹp nhất, thắt cà-vạt đỏ, bôi nước hoa khắp mình, chải đầu bóng loáng, rồi dắt
xe, nổ máy đi kiểm định. Trụ sở trạm kiếm định là một tòa nhà hiện đại nằm giữa trung tâm
thành phố. Khách vừa tắt máy xe thì đã có hai, ba cô người mẫu chạy vội ra, mời khách vào
phòng máy lạnh, ghế xa-lông êm ái, trên bàn để nước trà thơm phức, trên tường treo loa
vẳng ra tiếng nhạc cổ điển, thong thả chờ đến lượt mình. (3, 302)
Đây là câu chuyện của một người đi kiểm định xe máy. Thể loại tiểu phẩm vốn
chuộng sự ngắn gọn, súc tích nhưng ở đây, các câu văn trần thuật đều bị kéo dài một cách
cố ý, có câu lên tới 50 âm tiết. Việc tác giả quá sa đà vào những chuyện bên lề đã làm cho
câu chuyện thiếu điểm nút, kém sâu, không để lại những thông tin có giá trị trong lòng bạn
đọc.
Mặc dù có những hạn chế như vậy, nhưng nhìn chung, Lê Hoàng vẫn là một người kể
chuyện có duyên. Bằng sự quan sát tinh tế kết hợp với giọng điệu trần thuật hóm hỉnh, sâu
sắc, tiểu phẩm của ông vẫn hấp dẫn người đọc.
b2. Câu tường thuật nhận định, đánh giá
Bên cạnh những câu tường thuật kể, miêu tả, tiểu phẩm Lê Hoàng còn xuất hiện rất
nhiều những câu trần thuật thể hiện thái độ, cách nhìn nhận, đánh giá của tác giả đối với các
vấn đề của hiện thực đời sống.
Trước hết, đó là thái độ thẳng thắn vạch rõ những hiện tượng tiêu cực đang xảy ra
trong xã hội với một giọng điệu mỉa mai, châm biếm. Ví như, khi nói về tâm lý “sính ngoại”
của người Việt, Lê Hoàng đã dùng những ngôn từ mỉa mai như sau:
(128) Chúng ta có một thói quen đáng quý nhưng cũng… đang bị lạm dụng, đó là
kính trọng cái gì có chữ “quốc tế”. Bóng đá quốc tế, sân khấu quốc tế hay… lớp học Anh
văn tiêu chuẩn quốc tế đều mang lại vẻ sang trọng. Nhưng thực ra, với khả năng và tốc độ
toàn cầu hóa như hiện nay thì danh từ ấy cũng phổ thông lắm. Các quán ăn tiêu chuẩn quốc
tế cũng đã đầy. (2, 114)
Cũng bàn về vấn đề này, nhưng trong một tiểu phẩm khác ngôn từ của Lê Hoàng lại có
phần châm chích sâu cay hơn:
54
(129) Tinh thần ngoại đang tràn lan lấn át tinh thần nội đủ mọi bề. Một sự biết ơn lậu
thuế bền và rẻ hơn sự biết ơn trong nước tới ba bốn lần, còn chở một xe văn hóa qua biên
giới là đủ mua được hai tạ lòng tự hào đã sơ chế sẵn. (4, 210)
Trong thời kì bùng nổ các cuộc thi sắc đẹp, phần thi ứng xử của các thí sinh luôn thiếu
kịch tính, khiến người xem khó tính như Lê Hoàng phải thốt lên:
(130) Trong các cuộc thi này, phần gay go nhất và chán nhất luôn là phần thi ứng xử,
mà lý do chính không phải thí sinh nhát, kém hay hồi hộp. Chính cái lý do các câu hỏi ban
tổ chức đưa ra quá dở hơi. (4, 65)
Ở ví dụ này, chẳng cần phải quanh co, úp mở dài dòng, Lê Hoàng đã nói thẳng, nói
thật những suy nghĩ của mình về cách đặt câu hỏi của ban giám khảo quá nhàm chán và
thiếu thiết thực, bởi nó chỉ mang tính chất chung chung, không giúp thí sinh bộc lộ được cá
tính và kiến thức của mình. Thậm chí có nhiều câu hỏi có nội dung tương tự nhau được đặt
ra từ năm này qua năm khác khiến nhiều người lắc đầu ngán ngẩm.
Không dừng lại ở đó, trong một tiểu phẩm khác, cái giọng đanh đá, chua ngoa, giễu
cợt của Lê Hoàng lại được cất lên khi ông bắt gặp những cô gái ăn mặc thiếu vải, hở hang:
(131) Những cô gái giản dị, mặc ít quần áo, ít sử dụng dây buộc, rất được mến mộ.
Nghèo vải đôi khi là một tiêu chuẩn bắt buộc, và càng tiết kiệm độ dài của quần áo càng có
khả năng thành công trong một số lĩnh vực kinh doanh. (4, 216)
Dường như chưa bao giờ các cô gái Việt, lại ưa chuộng “mốt” ăn mặc hớ hênh, khoe
cơ thể khiến nhiều người phải “nóng mặt”, “bỏng mắt” như hiện nay. Đọc những câu văn
trên, độc giả dễ dàng liên tưởng đến những cô ca sĩ mặc mà như không mặc, hay điển hình
nhất là hiện tượng “Bà Tưng”, “Bà Tụt” cố ý tiết kiệm vải để được chen chân vào thế giới
của những người nổi tiếng. Có thể thấy, bên cạnh những mặt tích cực mà quá trình hội nhập
mang lại, đất nước ta đang phải đối diện với muôn ngàn thử thách. Trong đó, làm thể nào
bảo vệ, gìn giữ bản sắc, “thuần phong mỹ tục” của dân tộc không phải là điều dễ dàng.
Bên cạnh giọng văn đả kích có phần cay nghiệt, trong nhiều tiểu phẩm, sự châm biếm
thường đi kèm với chất giọng hài hước. Ví như, trong “Thư của ông chồng gửi vợ và bồ
nhí”, Lê Hoàng đã mượn lời của ông chồng để phê phán những tật xấu của phụ nữ như: sự
vụng về, cẩu thả, ăn mặc hở hang, lòe loẹt.
(132) Trong công cuộc tàn phá đời tôi, hai bà có rất nhiều điểm chung: Cùng nấu ăn
dở, cùng mua cho tôi những chai bia dở và cũng bắt tôi đi coi những bộ phim dở. Nhưng hai
bà, mỗi người cũng mang những đặc điểm riêng ghê rợn. Bà đầu tiên thích xuất hiện trong
55
nhà với bộ đồ nhàu nát, với tóc rối bù cùng với đôi dép chiếc nọ chiếc kia. Bà sau này xuất
hiện nơi công cộng với quần soóc chật căng, với áo thủng ở lưng cùng với mắt xanh viền đỏ.
Cả hai thứ ấy đều giết tôi, đều nện tôi chí tử về mặt tinh thần. (1, 339)
Hay khi nói về những người nổi tiếng, Lê Hoàng nhìn nhận những ưu, khuyết điểm
của họ dưới con mắt rất hài hước. Ví như, khi nói về Hiền Thục:
(133) Phút thứ hai gặp Hiền Thục, tôi phát hiện ra nàng là một thiếu nữ có nhan sắc
của con thiên nga, có đôi mắt của con bồ câu, có cái cổ mềm mại của con mèo nhưng có lá
phổi của ba con bò cộng lại. (2, 264)
Cách hành văn của tác giả ở ví dụ này gây bất ngờ với độc giả. Đầu tiên, ông đẩy nhân
vật lên cao sau đó buông lời chốt hạ đầy châm biếm. Trong mắt vị đạo diễn này, ca sĩ Hiền
Thục là một người xinh đẹp nhưng thiếu cân nhắc, “ruột để ngoài da”.
Ngoài những câu văn trần thuật thể hiện thái độ mỉa mai, châm biếm, Lê Hoàng còn
đưa ra những nhận định sắc sảo, giàu tính triết lý. Chẳng hạn như, khi luận bàn về nghề báo,
ông đã phát biểu như sau:
(134) Làm báo mà không nghĩ tới số phận từng con người nhỏ, sẽ chẳng khi nào hoàn
thiện cho một đám đông to. (2, 64)
Nói về tác hại của tư duy theo lối mòn, ông nhận định:
(135) Lối mòn là thứ nguy hiểm nhất của cuộc sống, làm giảm sự hưng phấn và sáng
tạo một cách khủng khiếp. (2, 36)
Nhận định này hoàn toàn đúng đắn. Tư duy theo lối mòn và hành động theo thói quen
là kẻ thù của sự tiến bộ và phát triển.
Là một người có cá tính mạnh mẽ, Lê Hoàng chẳng ngại nói thẳng, nói thật những
nghĩ suy, trăn trở của mình về mọi góc cạnh của cuộc sống. Đặc biệt, nhiều vấn đề được ông
nhìn nhận, đánh giá theo một hướng hoàn toàn khác biệt. Ví như, trong tiểu phẩm “Phỏng
vấn một chàng trai đi xem hoa hậu”, tác giả đã luận bàn về đức hi sinh của phụ nữ như sau:
(136) Phụ nữ cũng có cuộc đời như đàn ông, đã thế, do giới tính, họ còn gặp khó khăn
hơn đàn ông rất nhiều trong mọi mặt. Họ phải có quyền sung sướng, quyền hưởng thụ,
quyền vui chơi hơn tất cả chúng ta mới đúng… đã tới lúc không nên lạm dụng mãi điều đó,
và càng không nên coi đức hy sinh là một cái gì bất biến, cần phát huy, bảo tồn trong người
phụ nữ. (2, 83-84)
Ở đây tính chính luận được thể hiện rất rõ qua sự lập luận rất lô-gic, giàu tính thuyết
phục. Trong khi thiên hạ ca tụng đức hi sinh của người phụ nữ thì Lê Hoàng lại cho rằng
56
điều này không nên được bảo tồn, phát huy. Đặc biệt, đàn ông càng không nên sống dựa vào
sự hi sinh của người phụ nữ, đó là một nỗi nhục. Phụ nữ cần được bình đẳng, cần được
“giảm bớt hi sinh”. Qủa thật, đây là một cái nhìn hoàn toàn mới mẻ nhưng có lý, có tình,
khiến người đọc phải suy nghĩ.
Trong tiểu phẩm “Cái đẹp là gì?”, tác giả một lần nữa khiến người đọc bất ngờ trước
một định nghĩa hoàn toàn mới:
(137) Chả có gì ví dụ hùng hồn hơn về sự lôi thôi của Đẹp khi các cô đi chụp ảnh.
Yêu cầu đầu tiên khi chụp là phải giống mình… Nhưng mà giống quá cũng “toi”. Ông thợ
ảnh nào chụp giống 100%, ông ấy chắc chắn phải đóng cửa tiệm sớm. Phải là em, nhưng lại
Đẹp hơn em cơ! Từ hiện tượng vừa bực mình, vừa khôi hài lại vừa dễ thương đó, ta rút ra
cái gì, hỡi các bạn tội nghiệp của tôi: Rút ra chân lý “Cái Đẹp là cái của mình nhưng lại
mang trộn với người ta” (2, 212-213)
Trong ví dụ này, tác giả đã đưa ra những lý lẽ, dẫn chứng rất cụ thể, chi tiết rồi rút ra
một kết luận bất ngờ khiến người đọc vừa ngỡ ngàng vừa gật gù bởi cái chí lý, chí tình trong
đó.
Có thể thấy, hầu hết các câu trần thuật nhận định, đánh giá đều thể hiện một lối tư duy
phản biện đối với các vấn đề tiêu cực của xã hội. Trong các tiểu phẩm, tác giả rất ít khi trực
tiếp bộc lộ thái độ của mình mà thường gián tiếp gửi gắm qua những phát ngôn của nhân vật.
Đặc biệt, Lê Hoàng sử dụng linh hoạt nhiều giọng điệu trần thuật khác nhau, từ châm biếm
đả kích sâu cay đến dí dỏm, hài hước, thâm trầm, triết lý. Các giọng điệu không tồn tại như
những âm giai tách biệt mà đan cài vào nhau. Trong đó, giọng chủ đạo là giọng châm biếm
hài hước. Sự phức điệu trong giọng điệu đã thể hiện cái nhìn đa diện của ông đối với hiện
thực đời sống.
2.2.2.2. Câu nghi vấn
a. Khái niệm
Câu nghi vấn là câu vốn có chức năng hỏi, tức là người nói muốn người nghe cung cấp
cho mình tin mà mình chưa biết và hoài nghi.
Câu nghi vấn thường có những từ nghi vấn như: ai, gì, nào, tại sao, đâu, bao giờ, bao
nhiêu, à, ư, hả, chứ, (có)…không, (đã)…chưa,… hoặc có từ hay (nối các vế có quan hệ lựa
chọn).
Bên cạnh chức năng chính là dùng để hỏi, câu nghi vấn còn có những chức năng khác:
cầu khiến, khẳng định, phủ định, bộc lộ cảm xúc,…
57
b. Đặc điểm của câu nghi vấn trong tiểu phẩm Lê Hoàng
Tiểu phẩm của Lê Hoàng sử dụng rất đa dạng các kiểu câu nghi vấn khác nhau. Về cơ
bản, chúng tôi chia làm hai loại: câu nghi vấn chính danh và câu nghi vấn chuyển đổi tình
thái. Dưới đây chúng tôi sẽ tìm hiểu từng tiểu loại cụ thể.
b1. Câu nghi vấn chính danh
Câu nghi vấn chính danh là loại câu người nói thể hiện thái độ nghi vấn của mình về
một đối tượng cụ thể, mong muốn người nghe có sự hồi đáp về vấn đề đã được đặt ra theo
yêu cầu của người nói.
Trong tiểu phẩm của Lê Hoàng, dạng câu nghi vấn này có số lượng nhiều nhất. Đáng
chú ý là loạt câu nghi vấn trong các cuộc phỏng vấn, đối thoại giả tưởng. Ở loạt bài này, tác
giả thường xoáy vào những vấn đề nổi cộm của đời sống để chất vấn, tìm ra nguyên nhân,
bản chất của vấn đề, đồng thời bộc lộ được suy nghĩ của mình đối với các vấn đề được đề
cập đến. Ví dụ:
(138) PV: Mà tình hình văn học thì làm sao?
Nhà văn: có thể nói thẳng ra: Đã mấy năm rồi, ít có tác phẩm nào gây được chú
ý, cả tiểu thuyết lẫn phê bình.
PV: Nguyên nhân là do đâu, thưa ông?
Nhà văn: Tôi không trả lời câu hỏi này, vì trả lời thế nào cũng thành vô cùng cũ.
PV: Nhưng chắc ông đã biết, đang sắp tới đại hội nhà văn, tình hình trên diễn
đàn cũng nóng lên đấy chứ?
Nhà văn: Diễn đàn nào?
PV: Báo chí chẳng hạn.
Nhà văn: Tôi rất ngạc nhiên khi thấy nhiều vị chả viết gì cả, hoặc chả viết ra
trang nào hay ho, bỗng dưng “máu lửa” trên diễn đàn trước, trong và sau đại hội.
PV: Tại sao thế, thưa ông?
Nhà văn: Nói thực nhé, tại chả có gì dễ hơn là phê phán…Hội Nhà văn.
(2, 90-91)
Các câu hỏi trong cuộc phỏng vấn này rất ngắn gọn, mang tính chất vấn, làm rõ từng
khía cạnh của vấn đề. Qua cuộc đối đáp trên, người đọc có thể hình dung rõ nét về tình hình
văn học ở nước ta – một nền văn học “âm thầm trong hiệu sách nhưng lại sôi động trên diễn
đàn.”
58
Nhìn chung, các câu nghi vấn chính danh thường xuất hiện trong các cuộc hội thoại,
trò chuyện, phỏng vấn. Dạng câu này được nêu ra một cách tự nhiên và thường bị tỉnh lược
đi một số thành phần nên rất ngắn gọn.
b2. Câu nghi vấn chuyển đổi tình thái
Câu nghi vấn chuyển đổi tình thái là loại câu không đòi hỏi người nghe trả lời thẳng
vào nội dung được đề cập trên câu chữ. Mục đích của người nói là muốn thể hiện một ý
nghĩa hàm ẩn nhằm tác động đến người nghe một cách tinh tế. Qua khảo sát, dạng câu nghi
vấn này có những loại sau đây: câu nghi vấn khẳng định, câu nghi vấn phủ định, câu nghi
vấn cầu khiến, câu nghi vấn biểu cảm.
Câu nghi vấn khẳng định
Loại câu này có hình thức biểu đạt là câu nghi vấn nhưng mục đích lại nhằm để khẳng
định vấn đề. Ví dụ:
(139) Có bất công không khi trong suốt cuộc đời vất vả, nặng nhọc đầy gian lao
chúng ta không có một ngày dành riêng cho mình? (3, 123)
Trong ví dụ này, nhân vật khẳng định sự bất công của giới đàn ông so với phụ nữ. Phụ
nữ có ngày mùng 8 tháng 3 nhưng nam giới lại không có một ngày dành riêng cho mình.
(140) Ai, nếu không phải hai bà, chỉ sau mười mấy năm, đã biến một chàng trai khỏe
mạnh, đầy nhiệt tình, đầy sức sống như tôi thành một ông tuy chưa già (còn lâu tôi mới già!)
nhưng gầy yếu, còm nhom, sợ sệt? (1, 339)
Đây là lời buộc tội của ông chồng dành cho vợ và bồ nhí. Chính hai bà là người đã
hành hạ ông, biến ông thành một kẻ “gầy yếu, còm nhom, sợ sệt” như ngày hôm nay. Lời
buộc tội rất khôi hài khiến độc giả đọc lên phải phì cười.
Câu nghi vấn phủ định
Câu nghi vấn phủ định là câu có hình thức là một câu hỏi nhưng mục đích lại dùng để
phủ định một vấn đề nào đó. Đây là dạng câu dùng nhiều trong đối thoại. Ví dụ:
(141) Một gia đình căn cơ, yêu sản xuất, ghét phù du và ngại hội hè như thế liệu có
khả năng tiếp nhận, nuôi dưỡng và chứa chấp cô con dâu tên Vàng không?
(3, 175)
Đây là lý lẽ của ông Bố gửi đứa con trai về việc chọn con dâu. Câu văn mang hình
thức của một câu hỏi nhưng thực chất là lời ông bố không đồng ý chọn cô Vàng làm dâu.
(142) Rửa bát không có gì xấu, thậm chí rửa bát còn dễ thương và lãng mạn, nhưng
làm sao anh có thể rửa bát cơ chứ? (1, 221)
59
Câu hỏi “làm sao anh có thể rửa bát cơ chứ?” thực chất là lời phủ định của ông chồng:
“anh không rửa bát đâu”.
Câu nghi vấn biểu cảm
Câu nghi vấn biểu cảm là câu có hình thức là một câu hỏi nhưng mục đích là để bộc bộ
thái độ cảm xúc của người nói về một vấn đề nào đấy.
- Biểu cảm tức giận
(143) Cái chổi của em để đây, anh ném vào chỗ nào rồi? anh không quét thì cho
người khác quét, để rác ngập đến mũi thì làm sao sống được? (1, 238)
Ví dụ trên có hai câu hỏi. Câu hỏi đầu tiên là câu hỏi trực tiếp còn câu hỏi thứ hai là
câu hỏi gián tiếp bày tỏ thái độ tức giận, đay nghiến của bà vợ với ông chồng khi nhà cửa bề
bộn mà không tìm thấy chổi để quét nhà.
- Biểu cảm ngạc nhiên, thất vọng, đau khổ
(144) Tôi nhìn Tèo trừng trừng. Tôi không thể tin được. Trời ơi, thằng bạn quý của
mình đây sao? Người mà mình hết lòng tin tưởng đây sao? Có thể trở thành độc ác, có thể
trở thành tàn bạo như vậy sao? Tôi khóc nấc lên, tiếc cho những gì lãng mạn mà hai đứa đã
từng có. (3, 434)
Trong ví dụ trên, có 3 câu hỏi được lặp lại liên tiếp nhằm thể hiện sự ngạc nhiên, thất
vọng, đau đớn của nhân vật khi nhận ra người bạn thân thiết, hiền lành bấy lâu nay đã trở
thành một kẻ “độc ác, tàn bạo”.
- Biểu cảm tiếc nuối
(145) Hồ Gươm sẽ không còn là trung tâm nữa có tiếc không hở giời? (2, 219)
Câu văn trên bộc lộ sự tiếc nuối của tác giả về việc Hồ Gươm không còn là trung tâm của
thủ đô khi Hà Tây sáp nhập vào Hà Nội.
- Thái độ than vãn
(146) Trời ơi, tôi có phải là con ở đâu. (1, 201)
Nhìn chung, câu nghi vấn biểu cảm là dạng câu xuất hiện nhiều nhất trong tổng số
câu nghi vấn gián tiếp.
Câu nghi vấn cầu khiến
Đây là kiểu câu về hình thức là câu hỏi nhưng mục đích lại nhằm để đề nghị, khuyên
bảo. Ví dụ:
(147) Em có thể hát thêm một lần nữa được không? (3, 94)
(148) Tại sao hai vợ chồng mình khi đi ngoài phố không nắm tay nhau nhỉ?
60
(1, 391)
(149) Ông Tháp Rùa ơi, ông ngồi đấy mà suy tư ngân sách làm gì? Việc của ông là
soi mình và nghiêng bóng chứ! (2, 16)
Câu nghi vấn dùng để dẫn dắt
Đây là dạng câu hỏi được dùng trong lời nói diễn giảng, làm phương tiện hấp dẫn sự
chú ý và khêu gợi trí tưởng tượng của người đọc, người nghe. Dạng câu hỏi này thường kèm
theo câu trả lời. Ví dụ: Trong “Sự tích ông già Noel”, tác giả sử dụng hàng loạt câu hỏi kiểu
này để nêu vấn đề, gợi sự tò mò của người đọc:
(150) Đã bao giờ các bạn tự hỏi tại sao đêm Giáng sinh chỉ có các ông già Noel đi
phát quà? Thế các bà già đi đâu? Ai mà chả biết từ xưa tới nay, các bà mới gần gũi trẻ con
hơn, hay chăm sóc hơn và chu đáo hơn. Vậy lý do gì khiến các bà đánh mất một dịp quan
trọng như dịp Giáng sinh để chứng tỏ khả năng thưởng lũ trẻ của mình? Lý do gì các bà bị
các ông giành mất chỗ? Căn nguyên là như sau…
Hay trong tiểu phẩm “Lời kêu gọi đàn ông nhân ngày mùng 8.3”, để tranh luận, tác
giả cũng đưa ra nhiều câu hỏi. Mỗi câu hỏi đều kèm theo câu trả lời:
(151) Anh em có sống sót qua một ngày như thế không? Tôi tin là không. Nhưng nổi
loạn à? Đường lối đấu tranh của chúng ta đã định hướng từ lâu là không manh động. Chạy
trốn à? Chưa từng có ai chạy thoát. (3, 126)
Nhìn chung, câu nghi vấn gián tiếp trong tiểu phẩm Lê Hoàng được dùng cả trong đối
thoại và độc thoại. Việc sử dụng linh hoạt, đa dạng các kiểu câu này đã làm cho sự diễn đạt
thêm uyển chuyển, tăng thêm tính đa nghĩa cho lời văn.
2.3. Tiểu kết
Qua việc tìm hiểu đặc điểm sử dụng từ ngữ, câu văn ở chương 2, chúng tôi rút ra
những kết luận sau:
Về từ ngữ, tiểu phẩm của Lê Hoàng sử dụng linh hoạt nhiều lớp từ khác nhau, trong đó
lớp từ khẩu ngữ được ưu ái sử dụng với tần số cao. Điều này rất hợp với xu hướng chung
của báo chí hiện nay, đó là đưa ngôn ngữ báo chí xích lại gần với ngôn ngữ của cuộc sống
thường ngày.
Bên cạnh đó, sự xuất hiện của từ ngữ địa phương, tiếng lóng, từ vay mượn đã làm cho
thông tin được truyền tải sinh động và hấp dẫn hơn. Các từ ngữ này được ông chọn lọc kĩ
càng và sử dụng có chừng mực, đa phần chúng đều là những từ quen thuộc, dễ hiểu, không
làm cản trở sự tiếp nhận thông tin của công chúng. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng linh hoạt
61
và sáng tạo thành ngữ. Các chất liệu văn học được dùng có liều lượng, làm tăng thêm sức
biểu cảm cho lời văn, thu hút sự chú ý của bạn đọc.
Về đặc điểm câu văn, xét theo cấu tạo ngữ pháp, Lê Hoàng sử dụng đầy đủ các kiểu
câu nhưng nổi bật nhất là câu tỉnh lược, đặc biệt là câu tỉnh lược thành phần chủ ngữ. Việc
sử dụng câu tỉnh lược phù hợp với xu hướng “hội thoại hóa” của ngôn ngữ báo chí hiện nay,
bởi loại câu này xuất hiện nhiều trong các cuộc đối thoại. Câu tỉnh lược đã làm cho nội dung
thông báo được diễn đạt ngắn gọn, xoáy sâu vào tâm điểm. Bên cạnh câu tỉnh lược, câu đặc
biệt cũng được tác giả sử dụng rất linh hoạt nhằm tăng thêm tính biểu cảm cho lời văn.
Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng nhiều câu ghép, nhất là câu ghép đẳng lập để liệt kê sự việc.
Xét theo mục đích phát ngôn, câu tường thuật và câu nghi vấn được sử dụng nhiều
nhất. Câu tường thuật không chỉ dùng để miêu tả, kể chuyện mà còn dùng để bộc lộ quan
điểm, thái độ của tác giả trước mọi vấn đề của hiện thực đời sống. Các câu tường thuật
không khô khan mà được thể hiện với nhiều giọng điệu khác nhau, làm cho thông tin được
truyền tải sinh động, cuốn hút bạn đọc. Tuy nhiên, đôi chỗ tác giả hơi lạm dụng ngôn ngữ
văn chương nghệ thuật, khiến cho lời văn màu mè, kém thuyết phục.
Bên cạnh câu tường thuật, Lê Hoàng còn sử dụng câu nghi vấn với nhiều mục đích
khác nhau. Trong đó, câu nghi vấn dùng để hỏi có số lượng nhiều nhất. Ngoài ra, còn có câu
nghi vấn khẳng định, câu nghi vấn phủ định, câu nghi vấn cầu khiến, câu nghi vấn biểu cảm,
câu nghi vấn dùng để dẫn dắt. Các câu nghi vấn được sử dụng đa dạng, linh hoạt làm cho sự
diễn đạt thêm uyển chuyển, sinh động.
Nhìn chung, câu văn trong tiểu phẩm Lê Hoàng khá ngắn gọn. Tuy nhiên, nhiều lúc
tác giả quá tham chi tiết hoặc đưa đẩy quá đà, làm cho câu văn bị rườm, nghèo thông tin.
62
CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC VĂN BẢN VÀ CÁC PHÉP TU
TỪ TRONG TIỂU PHẨM CỦA LÊ HOÀNG
3.1. Đặc điểm tổ chức văn bản
3.1.1. Dung lượng văn bản
Tiểu phẩm của ông có độ dài trung bình từ 600 đến 1000 âm tiết. Có tiểu phẩm bị
chệch chuẩn, lên tới 4000 âm tiết (Hồi kí của một quan tham). Dưới đây là bảng so sánh độ
dài văn bản trong tiểu phẩm Lê Hoàng và một số tác giả khác:
Bảng 3.1. Bảng so sánh độ dài trung bình trong tiểu phẩm của các tác giả Hữu Thọ, Ba
Thợ Tiện (Hoàng Thoại Châu), Lý Sinh Sự (Trần Đức Chính), Lê Hoàng
Độ dài trung bình của tác phẩm Tác giả (âm tiết)
Bút Bi 150 - 300
Lý Sinh Sự 300 - 600
Ba Thợ Tiện 500 – 700
Hữu Thọ 600 - 800
Lê Hoàng 600- 1000
Nhìn vào bảng trên có thể thấy, tiểu phẩm của Lê Hoàng thường dài hơn tiểu phẩm của
các tác giả khác. Đây là một điểm riêng trong phong cách viết tiểu phẩm của nhà báo này.
Tuy nhiên, như đã nói ở mục 1.1.3, tiểu phẩm rất kị lối viết kể lể dài dòng. Ngắn gọn, súc
tích là đặc trưng quan trọng của thể loại này. Chính vì thế, lối viết dài hơi cũng là một điểm
hạn chế của Lê Hoàng.
3.1.2. Cách đặt tiêu đề văn bản
Tiêu đề (tít, nhan đề) là tên gọi của tác phẩm, là cơ sở để phân biệt bài báo này với bài
báo khác, giúp độc giả xác định được mức độ quan trọng của thông tin và chọn đọc.
Đặt tiêu đề là công việc quyết định đến số phận của bài báo, tiêu đề phải hấp dẫn thì
mới thu hút được bạn đọc.
Trong tiểu phẩm báo chí, hầu hết các tác giả đều có sự cân nhắc kĩ càng trong việc đặt
tiêu đề, tránh sự rập khuôn, máy móc. Tuy nhiên, tiêu đề trong tiểu phẩm Lê Hoàng lại khá
đơn giản. Phần lớn các tiêu đề được đặt theo các khuôn mẫu nhất định. Nó gồm có những
63
những dạng thức phổ biến sau: “Phỏng vấn…”, “Cuộc trò chuyện giữa…”, “Thư của…
gửi…”, “Nhật kí…”, “Lịch sử…”, “Lời kêu gọi…”, “Tường thuật...”, “Khi…”
Ngoài ra, khá nhiều tiêu đề còn được đặt dưới dạng một câu hỏi: Vì sao Bạch Tuyết
không chết?, Hiểu chưa? Chứng khoán là gì?, Có urê? Không có urê?,… Bên cạnh đó, một
số tiêu đề còn được đặt theo tên của các tác phẩm văn học như: Thỏ và Rùa, Aladin và cây
đèn thần, Cô bé quàng khăn đỏ, Giấc mộng đêm hè,…
Các tiêu đề trong tiểu phẩm Lê Hoàng không ngắn gọn và hàm ý như tiêu đề của các
tác giả khác. Nếu độ dài trong tiêu đề tiểu phẩm của Ba Thợ Tiện là 1 – 4 âm tiết, của Lý
Sinh Sự trung bình từ 2 - 5 âm tiết, thì các tiêu đề trong tiểu phẩm Lê Hoàng lại khá dài, từ
1 – 17 âm tiết.
Bảng 3.2. Bảng thống kê độ dài các tiêu đề trong tiểu phẩm Lê Hoàng
Số âm tiết Số lượng Tỷ lệ phần trăm
0,6% 1 2
9,1% 2 32
10,8% 3 38
31,4% 4 110
9,1% 5 32
13,1% 6 46
9,4% 7 33
4,0% 8 14
3,7% 9 13
3,1% 10 11
2,0% 11 7
1,4% 12 5
1,1% 13 4
0,3% 15 1
0,6% 17 2
Theo bảng thống kê này, có 214 tiêu đề có độ dài từ 1 - 5 âm tiết và 136 tiêu đề có độ
dài từ 6 – 17 âm tiết. Như vậy, khá nhiều tiểu phẩm của Lê Hoàng sử dụng tiêu đề dài trên 5
âm tiết. Đây là một đặc điểm riêng trong cách đặt tiêu đề của Lê Hoàng.
3.1.3. Kết cấu văn bản
Tiểu phẩm của Lê Hoàng có kết cấu đa dạng và có độ co giãn khá linh hoạt. Nếu là bài
phỏng vấn, trò chuyện giả tưởng, tác giả sử dụng kết cấu hỏi – đáp, để các nhân vật tranh
64
luận về vấn đề nào đấy. Nếu là kiểu bài tự sự, kết cấu lại theo trình tự thời gian và được thể
hiện dưới hình thức thư từ, nhật kí hoặc “truyện cổ tân trang”,… Dù ở kiểu bài nào, tiểu
phẩm của Lê Hoàng cũng được triển khai theo các phần: mở đầu – diễn giải – kết luận.
3.1.3.1. Phần mở đầu
Tiểu phẩm của Lê Hoàng thường vào đề theo hai cách: trực tiếp và gián tiếp.
a. Vào đề trực tiếp
Cách vào đề trực tiếp thường được Lê Hoàng sử dụng trong các bài kí chân dung các
bản tin tường thuật hoặc trong các câu chuyện tự sự. Ví dụ:
Khi viết về Hiền Thục, tác giả vào đề trực tiếp bằng cách miêu tả ngoại hình của nhân
vật:
(152) Phút đầu tiên gặp Hiền Thục, tôi sững sờ vì vẻ trẻ trung của nàng. Da Hiền
Thục trắng, răng Hiền Thục trắng và vô số thứ khác cũng trắng luôn. (2, 263)
Trong tiểu phẩm “Tường thuật trực tiếp lễ trao giải Oscar của một thị xã”, tác giả vào
đề như sau:
(153) Thưa các bạn, nhóm phóng viên truyền hình chúng tôi đứng trước cổng của
cung văn hóa thị xã, nơi chỉ một lúc nữa thôi, lễ trao giải Oscar, giải thưởng cao quý nhất
của vùng này, sắp bắt đầu. (3, 83)
b. Vào đề gián tiếp
Đa số tiểu phẩm của Lê Hoàng đều vào đề theo lối gián tiếp. Trong loạt bài phỏng vấn,
trò chuyện giả tưởng, tác giả thường mở đề bằng vài ba câu hỏi đáp xa xôi sau đó mới liên
hệ đến vấn đề trọng tâm. Ví dụ:
(154) PV: Thưa anh Bò, có việc gì mà nom anh buồn thế?
Bò: Nhà báo ạ, Bò tuy là động vật nổi tiếng vô tư nhưng thực ra tâm trạng trầm
ngâm là tâm trạng chủ yếu của Bò. Và từ trầm ngâm tới buồn là chỉ là một bước rất ngắn.
Có lẽ cho tới phút này, chỉ có trên hộp phô-mai là Bò mới cười thôi.
PV: À, tôi biết. Phô-mai là một món ăn ngoại.
Bò: Tôi cũng đang suy nghĩ về ngoại đấy, anh ạ.
PV: Vì sao anh suy nghĩ?
Bò: Vì sau thất bại vừa rồi của đội tuyển bóng đá Việt Nam, lại rộ lên một số ý
kiến nói rằng ta cần đưa vào những cầu thủ ngoại nhập tịch.
(2, 66)
65
Ở đoạn phỏng vấn này, từ “món ăn ngoại” tác giả đã khéo léo hướng sang vấn đề
chính là việc tuyển “cầu thủ ngoại nhập tịch”. Cách dẫn dắt rất nhẹ nhàng, uyển chuyển, gây
bất ngờ cho độc giả.
Trong một số tiểu phẩm khác, Lê Hoàng còn vào đề bằng cách mượn xưa để nói nay
hoặc miêu tả nhân vật, hoàn cảnh làm nảy sinh vấn đề. Ví dụ, trong tiểu phẩm “Chuyến xe
đầu xuân”, tác giả mở đầu như sau:
(155) Những ngày Tết vô cùng sôi nổi đã qua. Tèo, người bạn thân tội nghiệp của tôi
buồn như cắt ruột. Nó nhớ mãi những giây phút tràn ngập tiếng cười, tiếng chúc tụng và
tiếng mở nút chai. Đã tới lúc phải rời quê lên thành phố. Tèo xách chiếc túi du lịch nhỏ lèo
nhèo bên trong có một đòn bánh tét và vài bộ quần áo cũ, lảo đảo ra bến xe với con tim cháy
bỏng. (3, 363)
Ở đây, phải qua khá nhiều câu kể, miêu tả, tác giả mới đi vào vấn đề cần bàn: việc đi
lại của người dân sau dịp tết.
Nhìn chung, cách vào đề của Lê Hoàng dù trực tiếp hay gián tiếp cũng đều rất tự
nhiên, uyển chuyển, linh hoạt.
3.1.3.2. Phần diễn giải
Trong phần này, tác giả đưa đẩy vấn đề lên đến cao trào, tạo kịch tính cho câu chuyện,
hệ thống luận điểm, luận cứ được xâu chuỗi rất khéo léo trong sự luận bàn, phân tích rất
logic và hài hước, vừa có lý, vừa có tình. Ví dụ:
Trong “Thư của cha gửi con trai”, khi nghe tin con mình đang yêu và cân nhắc giữa
hai cô gái Nguyễn Thị Vàng và Linh Đa Chứng Khoán, người cha đã vội vàng viết một bức
thư phân tích rõ cả hai cô đều bất ổn và khuyên con nên chọn cô gái khác. Lý lẽ ông đưa ra
như sau:
(156) Cô Vàng có nhan sắc, có độ bền và độ chịu nhiệt, chịu co kéo, lại dễ dát mỏng
nhưng có khả năng ỷ vào dòng dõi và quá kiêu kỳ, chưa kể đôi lúc quá lòe loẹt. Gia đình ta
là gia đình lao động bao nhiêu thế hệ… Cha sợ rằng nếu ta không thất vọng về Vàng thì
Vàng cũng nhanh chóng thất vọng về ta, Vàng cảm thấy đã lọt vào một tư gia không xứng
đáng, bất lợi cho một mối quan hệ lâu dài.
Còn Linh Đa Chứng Khoán cha lo ngại nhiều hơn. Với một cô con dâu tính khí bất
thường, thay đổi nhanh và nhiều giai đoạn trượt dài như thế, cha sợ không những con mà cả
nhà ta sẽ bị xuống dốc không phanh, chẳng những họ hàng, bạn bè mà cả nhà đầu tư trong
nước lẫn quốc tế đều rời bỏ, nếu không nói rằng tháo chạy. Cho nên, con trai ạ, sau khi cân
66
nhắc, suy nghĩ, trên cơ sở tôn trọng và bình đẳng, hai bên cũng có lợi, cha thấy chả có lý do
gì không giới thiệu thêm cho con một người con gái nữa, tên là Lê Thị Đất. (3, 175-176)
Có thể thấy, lập luận của người cha trong ví dụ trên rất thấu tình đạt lý. Lối dẫn
chuyện thông minh, hóm hỉnh của Lê Hoàng đã đưa người đọc đi từ thú vị này đến thú vị
khác.
Trong cách triển khai vấn đề, Lê Hoàng thường dùng phương pháp “đi xa, về gần rồi
xoáy vào trọng tâm”, xung quanh vấn đề chính, tác giả còn gợi mở, “lấn sân” sang nhiều
vấn đề khác nhau. Vì thế, để nắm được chủ đề chính, người đọc phải theo dõi hết tác phẩm.
Ví như, trong tiểu phẩm “Phỏng vấn một cảnh sát giao thông”, đọc phần đầu, độc giả lầm
tưởng vấn đề được triển khai là tình trạng giao thông ở nước ta. Nhưng thực ra, đó chỉ là
cách dẫn dắt để tác giả lái sang vấn đề chính là những hạn chế trong nền thể thao Việt Nam.
Một nét hấp dẫn trong cách triển khai vấn đề của Lê Hoàng là các tình tiết trong tác
phẩm được tác giả xây dựng rất thú vị và hài hước. Ví dụ, trong tiểu phẩm “Thỏ và Rùa”,
cuộc chạy thi giữa hai nhân vật này được miêu tả rất sinh động, kịch tính:
(157) Thỏ lại phóng vèo một cái, vượt qua mặt Rùa. Tới một sân khấu kịch, nó xem
liền ba vở có nội dung giống nhau, cùng là anh yêu em, em yêu anh, chỉ khác là nếu vở này
anh bị ung thư thì vở sau em bị…
Thỏ uể oải bước ra đường, vù một cái vượt qua mặt Rùa tới một quán ăn. Thỏ xơi liền
hai chiếc bánh Trung thu hạ giá, có nhân lông gà quay, sau đó ăn tiếp một gói cơm cháy, thứ
thường phơi ở vệ đường, bóng Rùa mới chậm rãi hiện ra nơi chân trời. Thỏ bèn quay vô xơi
thêm một cái chả lụa đầy hàn the và một tô bún măng đầy bột ngọt. Kết quả là Thỏ bị ngộ
độc thực phẩm, phải đi cấp cứu khẩn cấp…
Thỏ hồi tỉnh, đi tập dưỡng sinh, đi vật lý trị liệu, lúc ấy nhìn lên ti vi coi truyền hình
trực tiếp, thỏ mới nhận ra Rùa sắp đến nơi. Ngay tức khắc Thỏ phóng ra đường chạy vùn vụt
như sao băng… Đích kia rồi, chỉ cần một giây nữa là Thỏ vượt qua… còn hai bước nữa là
tới đích. Thỏ co chân nhảy phóc. “Rầm”! Thỏ ngã ngay xuống một cái hố mới đào ven
đường. Cái hố này là công trình của ông cấp nước và ông điện thoại cùng liên doanh để đào
mà chưa lấp đã sáu tháng nay. (4, 13)
Ở đoạn trích này, tác giả đã đề cập đến nhiều vấn đề còn tồn tại trong xã hội như: nền
sân khấu với những vở diễn nhàm chán, tình trạng thực phẩm bị nhiễm độc tràn lan, những
“hố tử thần” trên những tuyến đường giao thông. Các vấn đề được triển khai rất hấp dẫn, thu
hút sự chú ý của người đọc từ đầu đến cuối tác phẩm.
67
Nhờ khả năng xâu chuỗi tình tiết, sự kiện một cách khéo léo mà tiểu phẩm Lê Hoàng
có hàm lượng thông tin rất cao. Không những thế, khả năng đưa đẩy, lập luận vấn đề sắc sảo
kết hợp với với tài tung hứng ngôn ngữ thông minh, hư – thực, thật - đùa, nghiêm chỉnh -
hài hước, châm biếm - chân tình, Lê Hoàng luôn tạo ra tâm lý hồi hộp, thấp thỏm cho độc
giả, độc giả dường như chẳng biết mình bị dẫn dụ tới đâu.
Tuy nhiên, không phải lúc nào Lê Hoàng cũng thành công. Trong một số tiểu phẩm,
lối đưa đẩy quá đà, cùng với việc tập trung quá nhiều vào các chi tiết gây cười làm cho vấn
đề triển khai màu mè, lan man, thiếu kịch tính (Răng xào hành, Vụ án nửa đêm, Công nghệ
siêu mỏng, Kiệt tác,…)
3.1.3.3. Kết thúc
Nếu phần mở đầu có tác dụng khêu gợi, hấp dẫn trí tò mò của bạn đọc thì phần kết
thúc sẽ gói lại toàn bộ nội dung văn bản, khắc sâu vào tâm khảm người đọc toàn bộ vấn đề
đã được phản ánh trong phần triển khai. Có người ví một kết thúc dở giống như một bát
cơm có dính mấy hạt sạn dưới đáy, người ăn sẽ thất vọng, mất đi cảm giác ngon miệng lúc
ban đầu. Sự so sánh trên không phải là không có lý. Chính vì thế, muốn gây được ấn tượng
sâu sắc trong lòng người đọc, người viết phải có sự dụng công để xây dựng những cái kết
bất ngờ, độc đáo, thú vị.
Trong tiểu phẩm của Lê Hoàng chúng tôi thấy có những kiểu kết thúc sau:
- Kết thúc là lời nhận xét, đánh giá
Trong nhiều tiểu phẩm, vấn đề được kết thúc bằng lời nhận định, bình phẩm của nhân
vật, thực ra đó cũng chính là thái độ, cách nhìn của tác giả được gửi gắm qua nhân vật.
Chẳng hạn, kết thúc cuộc “Phỏng vấn con Bò (kì IV)”, nhân vật Bò phát biểu:
(158) Cái lối phê bình cứ lẫn lộn giữa tác giả và tác phẩm thật quá buồn cười. Nó chỉ
chứng tỏ nền nghệ thuật của chúng ta không chuyên nghiệp. Tôi xin phát biểu bằng trí tuệ
thấp kém của con Bò! (2, 56)
Trong “Phỏng vấn một cánh diều”, kết thúc tác phẩm, Diều đã bình phẩm về giải
“Cánh diều vàng” như sau:
(159) Một năm có sáu, bảy bộ phim, phần lớn đều không ra rạp mà cứ thổi phồng lên
giải này giải nọ, không nghiêm khắc ngồi xuống tự tìm cách phê bình thì đáng thương quá
đi thôi! (2, 99)
- Kết thúc là lời khuyên bảo, đề nghị
68
(146) Em đừng giận và cũng đừng ân hận khi đã chọn người đàn ông chân chính làm
chồng. (1, 223)
(160) Thưa các vị. Trong cuộc sống, ai cũng có lúc lầm lỡ. Song không phải vì thế mà
chúng ta lỡ chịu. Xã hội càng tiến lên, con người càng phát triển. Sự phát triển đó có thể thể
lỡ chệch từ hướng nọ sang hướng kia, song không thể nào ta lỡ để cho nó dừng lại. Lỡ
không đáng sợ, đáng sợ là không làm gì để lỡ. Xin quý vị ra về, và tránh lỡ mồm lỡ miệng,
vì đó là cái lỡ nguy hiểm nhất. (4, 137)
- Kết thúc là lời kêu gọi
(161) Tóm lại, hãy dùng “gậy bà đập lưng bà”. Hãy biến ngày 8.3 là ngày của chúng
ta. Hãy làm cho phụ nữ tiếc đứt ruột vì không có cơ hội nào trong giây phút ấy được sờ vào
dụng cụ gia đình, được tắm mình trong không khí bếp núc hội hè. Hãy khiến các cô gái
khắp nơi hiểu rằng chỉ có ý chí, sức mạnh, khả năng sáng tạo của đàn ông mới biến được
một ngày thành một đời. Nếu có một lá cờ thêu chữ 8.3, tôi muốn các anh em giật lấy nó,
cầm nó xông lên và vẫy cao như ngọn đuốc rực lửa.
Anh em tiến lên! Chiến thắng hay là chết! (3, 127)
(162) Vậy các bạn hãy vui lên! Hãy coi đám cưới như một thử thách dễ chịu, một cơ
hội để chứng tỏ sức kiên nhẫn, sức lãng mạn và khả năng đầu tư của mình. Trăm năm chỉ có
một lần, và nếu số phận của các bạn là phải đi dự thì hãy ngẩng cao đầu. (3, 181)
- Kết thúc là câu hỏi:
(163) Nếu trao giải “thuần Việt” cho phim ấy chắc cũng xứng đáng. Nhưng câu hỏi
đặt ra là tại sao phải có giải này, và ai là người người phải chịu trách nhiệm khi tính “Việt”
được chuyển từ hiển nhiên đến cần khen? (2, 60)
Các kiểu kết thúc mà chúng tôi phân loại trên đây chỉ có tính chất tương đối. Vì mỗi
kiểu kết thúc không phải lúc nào cũng tồn tại riêng lẽ, độc lập, mà nhiều khi tồn tại trong sự
phối hợp, đan xen với những kiểu khác. Có những trường hợp, tác giả cố ý không viết kết
thúc, để người đọc tự suy ngẫm. Nhìn chung, phần kết thúc trong tiểu phẩm Lê Hoàng được
viết khá cẩn thận, các kết thúc thường ngắn gọn, bất ngờ, hấp dẫn.
Tóm lại, kết cấu trong tiểu phẩm của Lê Hoàng không có sự gò bó, đi theo lối mòn mà
có độ co giãn khá linh hoạt. Tùy thuộc vào phương pháp thể hiện là hình thức phỏng vấn,
đối thoại giả tưởng, nhật kí, thư từ hay bản tin,… mà Lê Hoàng lựa chọn kiểu kết cấu phù
hợp. Thường thì tác giả không bao giờ “sổ toẹt” cái điều cần nói mà quanh co, vòng vèo,
đẩy vấn đề đến mức cao trào rồi “phang” một cái kết đắc địa. Hẳn nhiên, một số tác phẩm
69
vẫn chưa làm hài lòng bạn đọc, nhưng với tài năng và sự sáng tạo của mình, tiểu phẩm của
ông đã có được một chỗ đứng khá vững chắc trong lòng độc giả.
3.1.4. Các phương thức liên kết văn bản
3.1.4.1. Phép nối
Phép nối là cách dùng những phương tiện từ ngữ có tác dụng nối để liên kết các câu
hay các đoạn trong văn bản lại với nhau theo quan hệ lôgic – ngữ nghĩa: quan hệ bổ sung,
quan hệ tương phản, quan hệ nhân - quả, quan hệ thời gian,…
Phương tiện nối kết bao gồm:
- Quan hệ từ: và, còn, nhưng, hay, hoặc là, song, mặc dù, …
- Các từ ngữ chuyển tiếp :
+ Những đại từ: vậy, thế,…
+ Những tổ hợp: ngoài ra, vả lại, hơn nữa, mặt khác,…
+ Quan hệ từ + đại từ: do đó, tuy vậy, ấy thế nhưng, không những thế,…
Trong tiểu phẩm Lê Hoàng, chúng tôi thấy tác giả sử dụng rất đa dạng các phương tiện
nối kết. Trong đó các liên từ nhưng, còn, và, cho nên được sử dụng phổ biến nhất. Ví dụ:
(164) Cô nhìn lão trong quán cà phê hạng sang. Trong com-lê và cà vạt đắt tiền. Còn
tôi có khá nhiều dịp (nhiều hơn là cần thiết) nhìn lão trong quần đùi rộng, trong áo may ô
chả hiểu là màu gì.
Và tôi cam đoan rằng, cái tôi nhìn mới là cái thật. Cái cô nhìn là giả. Cô thừa biết thế,
chẳng qua cô đang tự dối mình. Cô chê tôi vì tôi chỉ biết rửa bát, nấu cơm. Cô thương tôi vì
tôi chỉ chăm chăm lo cái nhà sạch bóng. Nhưng tôi lại thích vậy. Vì đấy là nhà tôi và lão chỉ
có nửa phần. (1, 335-336)
Trong ví dụ trên, từ “còn” dùng để chỉ sự nghịch đối giữa cái “tôi nhìn” với cái “cô
nhìn”. Từ “nhưng” chỉ sự nghịch đối giữa việc “cô chê” nói ở câu trước với “tôi thích”
trong câu này. Từ “và” nối các đoạn với nhau chỉ sự bổ sung ý nghĩa cho đoạn trước đó. Từ
“vì” là phương tiện nối chỉ nguyên nhân cho câu đứng trước nó.
(165) Em cảm nhận một cách sâu sắc rằng lịch sử không phải chỉ là những gì đã qua,
mà còn đang hiện hữu. Lịch sử cũng như điện thoại di động và ti vi, tủ lạnh, đang mang tính
toàn cầu.
Cho nên việc em thiếu thốn kiến thức lịch sử Việt Nam, không hề ngăn cản em có
được kiến thức sâu rộng về lịch sử đủ thứ, và chuyện em kém cỏi về Trần Hưng Đạo không
hề có nghĩa rằng em kém cỏi về Jăng Don Gun. (4, 317)
70
Ở ví dụ này, từ “cho nên” nêu lên một kết luận được rút ra từ hai câu lập luận ở đoạn
trước.
Bên cạnh đó, tác giả còn sử dụng các từ ngữ chuyển tiếp như thứ nhất, thứ hai, vậy, do
đó, tóm lại,… liên kết câu, đoạn văn
(166) Em biết anh chả tiếc thân mình. Thứ nhất, thân anh xưa nay cũng chả phải của
anh (giống hệt như em vậy). Thứ hai, anh đã được giáo dục rằng thiên đường của chúng ta
không phải ở trong chuồng, mà trong cửa hiệu, rồi trong đĩa người xơi.
Do đó, việc bị tai xanh khiến anh đau buồn. Anh sợ rằng bị mất cơ hội cống hiến. Trên
đời có nhiều loại cống hiến. Có loại liên tục, có loại một năm xét một lần và có loại cả đời
một lần. Anh và em thuộc loại thứ ba. (3, 64)
Các tổ hợp từ “thứ nhất”, “thứ hai” dùng để chỉ quan hệ liệt kê. Từ “do đó” đảm nhiệm
chức năng kết tố trong lập luận, thực chất là chỉ điều kiện đã được nêu ở các câu trước.
(167) Bò: Vừa qua, tôi đọc một tờ báo lớn, có bài phê bình một bộ phim cổ trang khá
lớn khiến tôi buồn cười quá.
PV: Tại sao thế?
Bò: Tại bài báo được chia làm ba phần: phần đầu khen ngợi cái tâm của của
người đạo diễn làm phim, cứ như ông ấy là một hòa thượng của nghệ thuật vậy. Hai phần
còn lại, tác giả chê bộ phim rất dở. Tính cách nhân vật không rõ ràng, câu chuyện không có
cao trào kịch tính, quá nhiều chi tiết luộm thuộm, dài dòng. Tóm lại, bộ phim không hay. (2,
52)
Ở cuộc trò chuyện này, đại từ “thế” chỉ ý đã nói ở câu trước – bài phê bình phim cổ
trang làm bò buồn cười. Từ “tại” là phương tiện nối chỉ nguyên nhân khiến Bò cười. Còn từ
“tóm lại” có tác dụng nối toàn bộ nội dung của các câu trước với điều nói đến sau nó.
Nhìn chung, phép nối là phương thức liên kết được sử dụng phổ biến nhất trong tiểu
phẩm Lê Hoàng. Phép nối đã tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa các câu, các đoạn, duy trì sự
mạch lạc cho văn bản.
3.1.4.2. Phép tỉnh lược
Tỉnh lược là biện pháp lược bỏ một hay một số thành phần nào đó của một phát ngôn
nhằm tránh lặp lại chúng trong các phát ngôn khác. Chính nhờ sự lược bỏ này mà các phát
ngôn có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong phép tỉnh lược, yếu tố bị tỉnh lược có thể là bất cứ
thành phần nào đó của phát ngôn.
71
Trong tiểu phẩm Lê Hoàng, phép tỉnh lược được sử dụng phổ biến. Có trường hợp,
phép liên kết này được sử dụng trên toàn văn bản. Ví như, ở tiểu phẩm “Chân dung các
“nhà””, tác giả sử dụng câu tỉnh lược với số lượng rất lớn (67/72 câu) nhằm liệt kê, làm nổi
bật vấn đề. Dưới đây là chân dung nhà thơ:
(168) Nhà thơ: đầu tóc phải bù xù, ánh mắt phải man dại. Đi lại hơi lảo đảo, có khả
năng uống rượu. Sợ sự cô đơn nhưng thích nói về cô đơn. Khinh tiền bạc nhưng hay hỏi vay
tiền bạc. Yêu nhiều nhưng khi yêu luôn tìm ra cớ đau khổ. Nhạy cảm, không thích tắm cho
lắm. Kẻ thù của quần áo thời trang…” [3, 247]
Phép tỉnh lược được dùng nhiều trong các cuộc phỏng vấn, đối thoại, trò chuyện, nhật
kí.
Vì hiện tượng tỉnh lược đã được bàn đến khá kĩ trong chương 2, ở mục 2.2.1.1, nên ở
đây chúng tôi không đi sâu vào phân tích các trường hợp tỉnh lược. Nhìn chung, phép tỉnh
lược làm cho dung lượng văn bản được rút ngắn lại, các câu được liên kết chặt chẽ với nhau
cả về nội dung và hình thức.
3.1.4.3. Phép lặp từ vựng
Để đảm bảo tính liên kết chủ đề cho văn bản, nghĩa là các câu phải cùng hướng tới
việc thể hiện một chủ đề cho trước, thì biện pháp đơn giản nhất là lặp từ vựng. Theo Trần
Ngọc Thêm, “phép lặp từ vựng là một dạng thức của phương thức lặp mà ở đó chủ tố và lặp
tố là những yếu tố từ vựng (từ thực, cụm từ).” [47, tr.88]
Trong tiểu phẩm Lê Hoàng, phương thức này được sử dụng khá phổ biến nhằm duy trì
chủ đề của văn bản. Ví dụ:
(169) Chuyện Đẹp với người này mà không Đẹp với người kia là chuyện thường
trong xã hội. Tất nhiên thiên hạ đều muốn đấu tranh hướng đến vẻ đẹp chung, hoặc đấu
tranh để cái đẹp của riêng mình được công nhận là chung, (trong đấu tranh như thế, cũng
chả từ thủ đoạn nào!). Tuy nhiên, xét cho cùng, sự phong phú, khác nhau, thậm chí xung đột
nhau của cái đẹp là một ưu điểm. Nó khiến cho Đẹp đa dạng, Đẹp nhiều màu sắc và… ai
cũng có thể sắm được Đẹp cho mình. Ai cũng có khả năng Đẹp trên phim, Đẹp trong lao
động, Đẹp lúc đang tắm hoặc Đẹp lúc ra tòa. (2, 211)
Ở ví dụ này, để luận bàn về cái đẹp, tác giả đã lặp đi lặp lại từ đẹp đến lại 12 lần. Phép
lặp ở đây không chỉ duy trì chủ đề mà còn nhấn mạnh ý.
Trong tiểu phẩm “lỡ”, để nói về muôn vạn cái lỡ mà con người gặp phải, toàn văn bản
đã lặp lại từ “lỡ” đến 34 lần. Dưới đây, chúng tôi xin trích một đoạn tiêu biểu.
72
(170) Phong trào “lỡ” bắt đầu nổi lên trong cơ quan. Nhiều bữa tiệc, khách mời 20, lại
có đến 35 người lỡ tới. Cô tài vụ ôm vài triệu vì lỡ nhầm. Bác giám đốc được xóa tội tham ô
vì đã lỡ tiêu. Bà trưởng ban tự nhiên có thêm đứa cháu vì con gái lỡ dại. Ông phó phòng xin
phép có bồ nhí vì tuổi đã lỡ làng. Từ lầu trên xuống lầu dưới cơ quan, ai ai cũng hát bài
“Tình lỡ” bằng đủ các giọng:
“Một vầng trăng lỡ đã thôi không theo nhau.
Cuộc tình đã lỡ với bao nhiêu thương đau…”
Ở đây, từ “lỡ” được lặp lại 9 lần với hàm ý mỉa mai, châm biếm sâu sắc.
Trong các cuộc phỏng vấn, đối thoai, phép lặp từ vựng được sử dụng để duy trì nội
dung cuộc nói chuyện.
(171) Nhà văn: Ông ơi, ông phải có “tâm” với hiện tượng này chứ?
Ông Đồ: A, “Tâm”, đấy là chữ hiện nay nhiều người đang nói nhất. Cứ theo họ,
hình như chữ “Tâm” sắp cứu cả thế gian ấy.
Nhà văn: Không đúng hả ông?
Ông Đồ: không đúng. Theo tôi, tâm của con người, khéo cũng không hơn gì
tâm con gà mái. Gà mái cả đời hiền lành, cả đời chịu đựng, cả đời đẻ trứng và đâu có hại ai.
Nhưng tâm dày đặc như thế cũng không làm cho gà mái thoát cảnh vào nồi hoặc treo lủng
lẳng trong tiệm phở.
Nhà văn: Có nghĩa là?
Ông Đồ: Có nghĩa là chữ “Tâm” có thể là một điều kiện cần, nhưng chưa đủ.
Rất nhiều sản phẩm và hành động phục vụ hàng triệu người không xuất phát từ “Tâm” mà
từ nhiều lý do cao quý khác. Vậy đề cao “Tâm” một cách thái quá đâu phải là hay ho. (2,
192)
Ở ví dụ này, chữ “Tâm” là yếu tố được nhà văn và ông Đồ mang ra phân tích, mổ xẻ,
bình luận. “Chữ Tâm” được lặp lại 9 lần, đó là từ chủ đề trong cuộc trò chuyện này.
Nhìn chung, phép lặp từ vựng được tác giả sử dụng rất khéo léo, góp phần quan trọng
trong việc nhấn mạnh ý, duy trì chủ đề, nội dung của tác phẩm.
3.2. Các phép tu từ
Tiểu phẩm của Lê Hoàng sử dụng rất nhiều các phương thức tu từ: so sánh, nhân hóa,
điệp, ẩn dụ, hoán dụ, ngoa dụ, phúng dụ, dẫn ngữ, liệt kê và tăng cấp, … Dưới đây, chúng
tôi chỉ trình bày năm phép tu từ nổi bật nhất trong tiểu phẩm Lê Hoàng: so sánh, nhân hóa,
ngoa dụ, liệt kê và tăng cấp, phép điệp.
73
3.2.1. So sánh
3.2.1.1. Khái niệm so sánh
Khái niệm so sánh đã được các nhà Việt ngữ học như Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái
Hòa, Cù Đình Tú,… đề cập đến. Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung các
nhà nghiên cứu đều có cách hiểu khá thống nhất. Dưới đây, chúng tôi xin dẫn định nghĩa
của tác giả Đinh Trọng Lạc trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt”: “So
sánh (còn gọi: so sánh hình ảnh, so sánh tu từ) là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa, trong đó
người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực tế khách quan không đồng nhất với nhau
hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó, nhằm diễn tả bằng hình ảnh một lối tri giác
mới mẻ về đối tượng.” [31, tr.154]
Ở dạng thức đầy đủ nhất, so sánh tu từ gốm bốn yếu tố:
1. Cái so sánh 2. Cơ sở so sánh 3. Từ so sánh 4. Cái được so sánh
Mái tóc Đen như Một đêm cổ tích trong
thần thoại Hi Lạp
Tùy từng trường hợp, người ta có thể đảo trật tự so sánh, hoặc bớt một số yếu tố trong
mô hình trên.
So sánh tu từ được dùng nhiều trong khẩu ngữ, văn chương và trong ngôn ngữ chính
luận. Trong đó, hình thức so sánh phổ biến nhất là A như B. Ví dụ:
“Cổ tay em trắng như ngà
Con mắt em liếc như là dao cau”
Cách nói ví von, giàu hình ảnh làm cho đối tượng trở nên sinh động, gợi cảm hơn, tạo
nên những xúc cảm thẩm mỹ trong nhận thức của người đọc, người nghe.
3.2.1.2. Phép so sánh trong tiểu phẩm Lê Hoàng
Việc sử dụng phép so sánh trong tiểu phẩm báo chí hiện đại không có gì làm lạ. Tuy
nhiên, trong tiểu phẩm Lê Hoàng, phép so sánh được tác giả sử dụng rất đậm đặc và độc đáo,
đem lại hiệu quả biểu đạt to lớn.
Khi miêu tả về ngoại hình, tính cách của nhân vật, tác giả đều dùng những hình ảnh so
sánh rất mạnh và độc đáo. Ví như, trong tiểu phẩm “Sòng bạc hoàng gia”, Lê Hoàng đã
miêu tả thái độ vui mừng của ông đạo diễn khi gặp được diễn viên giỏi chẳng khác nào con
diều hâu vớ được miếng mồi ngon:
74
(172) Ngay từ phút đầu tiên nhìn thấy tớ, đạo diễn đã thét lên, đâm bổ tới như diều
hâu lao vào gà con. (4, 175)
Trong tiểu phẩm Lê Hoàng, phụ nữ luôn là đối tượng được đem ra so sánh nhiều nhất.
Không ít lần, tác giả đã dành cho phụ nữ những lời có cánh. Trong tiểu phẩm “Sân ga chỉ
có hai người”, chân dung của một cô gái xinh đẹp đã được tác giả vẽ bằng hàng loạt những
so sánh ấn tượng:
(173) Nàng có mái tóc đen như một đêm cổ tích trong thần thoại Hi Lạp và những
chiếc kẹp tóc lấp lánh toàn đầu nàng khiến cho đêm ấy đầy sao. Nàng có đôi chân dài như
một thế kỉ đợi chờ và sống mũi cao như danh tiếng của nữ hoàng Ai Cập. (1, 235)
Trong ví dụ trên, phép tu từ so sánh được tác giả sử dụng ba lần, hình ảnh so sánh rất
sáng tạo, gợi cảm và đầy chất văn chương. Cách so sánh không chỉ tô đậm sắc đen của mái
tóc, độ dài của đôi chân và độ cao của sống mũi mà còn gợi lên một vẻ đẹp quyến rũ, huyền
bí, kiêu sa của cô gái.
Trong khá nhiều tác phẩm, đối tượng so sánh được lặp lại rất nhiều lần nhưng mỗi lần
xuất hiện lại được so sánh với những hình ảnh khác nhau. Ví như: khi miêu tả về đôi mắt,
lúc thì tác giả ví “đôi mắt mỏng như miếng chả lụa rắc trên mấy tô mì tôm bán vào ban đêm”
(3, 91), lúc lại là đôi mắt “tròn xoe, trong vắt, sáng ngời như buổi sáng mùa xuân” hay
“mắt có hàng mi cong như cánh cung” (1, 235). Độc đáo và thú vị không kém là “con mắt
tròn xoe và trong veo như nước tinh khiết đóng chai” (3, 379) của Tèo trong tiểu phẩm “Sự
bí hiểm của phim truyền hình”. Đây đều là những hình ảnh so sánh mới lạ, dí dỏm khiến
độc giả khi đọc lên không khỏi bật cười trước sự liên tưởng độc đáo của tác giả.
Vì ngôn ngữ của tiểu phẩm báo chí rất gần với lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân,
cho nên các hình ảnh so sánh trong tiểu phẩm của Lê Hoàng không bóng bẩy, xa lạ, trừu
tượng mà rất gần gũi, thân quen:
(174) Nắm đấm to như quả bưởi (4, 169)
(175) Tóc đen như một đêm cúp điện (3, 29)
(176) Tình yêu không có ghen như tô bún bò không có ớt. (1, 402)
(177) Trái tim ta đã nát nhừ như canh bún (1, 218)
(178) Cuộc tình tan vỡ như bóng đèn dưới bánh xe hơi (1, 128)
Những hình ảnh được đem ra so sánh ở đây thường là những món ăn, vật dụng quen
thuộc trong đời sống hàng ngày. Cách so sánh này đã làm cho đối tượng miêu tả trở nên
sinh động, hài hước.
75
Bên cạnh những câu văn sử dụng biện pháp tu từ so sánh để miêu tả đặc điểm, tính
cách nhân vật, Lê Hoàng còn sử dụng biện pháp này để miêu tả nhiều đối tượng khác nhau.
Chẳng hạn như, một “tấm thiệp hồng” mời dự đám cưới trong thời bão giá được ông so sánh
với hàng loạt các hình ảnh độc đáo:
(179) Trong giây phút đầy kịch tính lúc xăng, vàng và tăm xỉa răng đều lên giá, tấm
thiệp hồng kia chả khác nào một nhát dao xuyên vào dạ dày, là một nhát búa đánh vô nồi
cơm và một tiếng chuông đánh vào tâm trí vốn đã quay cuồng bởi tiếng còi xe, tiếng vợ con
eo xèo và tiếng đập cửa của ông thu tiền đổ rác. (3, 179)
Ở ví dụ này, cơ sở so sánh bị lược bỏ, còn hình ảnh so sánh được mở rộng nhằm nhấn
mạnh nỗi khổ của nhân vật khi nhận được cánh thiệp hồng.
Trong tiểu phẩm “Thỏ và Rùa”, hình ảnh Thỏ và Rùa trong một cuộc thi chạy hiện
lên thật sống động:
(180) Rùa mới nhấc chân lên thì Thỏ phóng vọt đi, nhanh như một chàng lái mô tô
chạy mua nón bảo hiểm kịp cuối năm. Rùa vác cái mai vừa to vừa mốc, bước từng bước
nặng nhọc như một ông chồng không có lương bước về phía vợ. (4, 11)
Một sự so sánh bất ngờ và đầy tính phát hiện. Tác giả lấy những đặc điểm, tính cách
của con người để làm nổi bật đối tượng. Phải có một trí tưởng tượng phong phú và tư duy
ngôn ngữ sắc nhạy, Lê Hoàng mới phát hiện và chọn lọc ra những hình ảnh so sánh ít ai ngờ
đến như vậy.
Không dừng lại ở đó, khi phản ánh những vấn đề tiêu cực của xã hội, phép so sánh
một lần nữa đã làm cho vấn đề trở nên sinh động, hấp dẫn, góp phần không nhỏ trong việc
làm tăng tính châm biếm, phê phán cho tác phẩm, tác động sâu sắc tới nhận thức của người
đọc.
Trong tiểu phẩm “Chuyến xe đầu xuân”, khung cảnh của một bến xe hiện lên thật
sinh động và chân thực.
(181) Mỗi chiếc xe đò đều giống như những con nhím với người bám tua tủa bên
trong. (3, 364).
(182) Xe gầm lên như con cá voi khạc nhổ, rồi khật khừ ra khỏi bến. Trong khoang
hành lý, đám người vẫn xô đẩy và trộn vào nhau như đậu phộng rang.
(3, 366)
Qua những hình ảnh so sánh mới lạ, tác giả đã đặc tả bức tranh đông đúc, nhốn nháo ở
bến xe những ngày đầu xuân. Đó là hình ảnh những con người bị o ép, dồn đẩy, “trộn vào
76
nhau như đậu phộng rang” trong những cái xe quá tải, họ buộc phải vươn những cánh tay,
những cái đầu ra ngoài cửa để có chút không khí thở, do vậy, chiếc xe chẳng khác nào một
con nhím. Đây chính là nỗi ám ảnh kinh hoàng của nhiều hành khách, là vấn đề nan giải ở
đất nước ta.
Với tư cách là một đạo diễn nổi tiếng ở lĩnh vực điện ảnh, Lê Hoàng còn đưa ra những
so sánh rất thú vị về phim ảnh nước nhà:
(183) Thời buổi này, phim truyền hình đang tràn ngập, xâm chiếm và nở to như cái
bánh bao phủ đầy bột nở. (3, 379)
Rõ ràng tác giả đang phê phán thời kì phim Việt “mọc như nấm sau mưa”, nhưng chất
lượng thì chưa cao, nó chẳng khác gì một chiếc bánh bao phủ đầy bột nở, bề ngoài thì phồng
to, đẹp mắt, nhưng bên trong lại rỗng, nhạt, chưa thể hấp dẫn khán giả.
Qua những điều đã trình bày ở trên, có thể thấy phương thức so sánh trong tiểu phẩm
Lê Hoàng luôn chứa đựng những phát hiện mới lạ. Các hình ảnh so sánh vừa sinh động, hài
hước vừa gần gũi, quen thuộc, giúp độc giả nhận thức trọn vẹn và sâu sắc hơn về đối tượng.
3.2.2. Nhân hóa
3.2.2.1. Khái niệm
Theo tác giả Đinh Trọng Lạc, “nhân hóa (còn gọi: nhân cách hóa)là một biến thể của
ẩn dụ, trong đó người ta lấy những từ ngữ biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của con người để
biểu thị thuộc tính, dấu hiệu của đối tượng không phải con người, nhằm làm cho đối tượng
được miêu tả trở nên gần gũi dễ hiểu hơn, đồng thời làm cho người nói có khả năng bày tỏ
kín đáo tâm tư, thái độ của mình.” [31, tr.63]
Phép nhân hóa làm cho những sự vật vô tri vô giác trở nên có tính người, biểu thị được
những suy nghĩ, tình cảm của con người. Trong sinh hoạt hàng ngày cũng như trong lời nói
nghệ thuật, phép nhân hóa được sử dụng một cách rộng rãi.
3.2.2.2. Phép nhân hóa trong tiểu phẩm Lê Hoàng
Tiểu phẩm của Lê Hoàng sử dụng phép nhân hóa khá nhiều. Hầu hết những loài vật,
đồ vật như con bò, con heo, trứng gà, con tê giác, cánh diều, hoa đào, chảo, hòn vọng phu,
báo giấy, báo in,… đều được Lê Hoàng gọi bằng “anh” và phú cho một bộ óc tuyệt vời.
Thông qua đó, tác giả có quyền tự do bộc lộ những quan điểm, ý kiến mang tính phản biện,
đem đến cho người đọc những góc nhìn sâu sắc và toàn diện về những vấn đề “nóng” trong
xã hội .
77
Phép nhân hóa được tác giả vận dụng tài tình ở loạt bài phỏng vấn giả tưởng. Trong số
những đồ vật, loài vật được nhân cách hóa, bò là loài vật được tác giả nhân hóa cao nhất.
Nếu ở ngoài đời, bò được biết đến là động vật chậm chạp, ù lì, kém thông minh nhất thì
trong tiểu phẩm Lê Hoàng, bò lại là loài vật thông minh, thức thời và có kiến thức hàn lâm
nhất. Bò “bắt sóng” rất nhanh và am hiểu rất sâu các vấn đề của điện ảnh, báo chí, bóng đá.
Khi được phỏng vấn, bò đưa ra những nhận xét, đánh giá vô cùng “thẳng ruột bò” như:
phim cổ trang Việt chả khác gì phim cổ trang Trung Quốc từ nội dung cho đến phục trang.
Đạo diễn Việt giống như “bù nhìn rơm” khi phim Việt hợp tác sản xuất với nước ngoài, còn
giới phê bình điện ảnh Việt Nam thì toàn “khen hội đồng” hoặc “thờ ơ hội đồng”. Bên cạnh
đó, vấn đề melamin trong sữa bò, việc tuyển cầu thủ ngoại nhập tịch cũng được Bò mổ xẻ,
phân tích rất sâu sắc,…
Ngoài con bò, đạo diễn Gái nhảy còn nhân hóa cái chảo nấu ăn để nói về cuộc “xâm
lăng văn hóa” trên những cái chảo truyền thông, nhân hóa tháp Rùa để nói về tình trạng rải
ngân sách không đúng nơi, đúng chỗ, nhân hóa con heo để bàn đến tình trạng buôn bán và
giết mổ heo lậu diễn ra tràn lan,…Tuy nhiên, không phải lúc nào phương thức nhân hóa
cũng nhằm mục đích phê phán, đả kích. Đôi khi, độc giả vẫn vẫn gặp một bông “hoa đào”
mong manh, ngậm ngùi khi đọc “Đào ở xứ người” của Nguyễn Hữu Thọ, để rồi đồng cảm,
yêu thương, trân trọng tấm chân tình của những đồng bào Việt xa xứ.
Với nghệ thuật nhân cách hóa điêu luyện, tác giả dùng những từ ngữ chỉ tính chất, hoạt
động của con người để biểu thị tính chất, hoạt động của đối tượng không phải con người
một cách sinh động. Từ đó, làm cho đối tượng được miêu tả trở nên gợi cảm, có cá tính, có
hồn hơn. Ví như:
(184) Chiếc đồng hồ báo thức trên đầu giường nhăn nhó kêu réo một hồi như bị đau
răng. (4, 142)
(185) Hùng đi làm về. Chàng lê bước lên cầu thang, chán nản khi nghĩ đến căn phòng
bề bộn với đống quần áo mốc thếch, cùng đám chén dĩa chưa rửa đang ngái ngủ chờ mình
trong kiếp sống độc thân. (1, 27)
Có thể thấy, nghệ thuật nhân hóa được Lê Hoàng sử dụng rất tài tình và có màu sắc
riêng biệt. Dưới bàn tay phù thủy của Lê Hoàng, những sự vật vô tri vô giác đã được ông
đánh thức và trao cho chúng những linh hồn sống để cảm nhận về những hỉ, nộ, ái, ố của
cuộc đời. Phép tu từ này không chỉ làm tăng thêm sức biểu cảm cho lời văn mà nó còn là
phương tiện giúp tác giả phơi bày những mặt trái, những mảng đen của xã hội một cách
78
khách quan, tự nhiên. Bằng cách này, Lê Hoàng đã nhẹ nhàng truyền tải nhiều thông điệp
đến người đọc. Những đối tượng dù biết mình bị tác giả “chiếu tướng” cũng đành “ngậm
đắng nuốt cay” trước sự đả kích, mỉa mai của tác giả.
3.2.3. Ngoa dụ
3.2.3.1. Khái niệm
Ngoa dụ hay còn gọi là phóng đại, khoa trương, thậm xưng, cường điệu biện pháp tu
từ “dùng từ ngữ hoặc cách diễn đạt để nhân lên gấp nhiều lần những thuộc tính của khách
thể hoặc hiện tượng nhằm mục đích làm nổi bật bản chất của đối tượng cần miêu tả, gây ấn
tượng đặc biệt mạnh mẽ. Khác hẳn với nói điêu, nói khoác về tính chất, động cơ và mục
đích, phóng đại không phải là thổi phồng sự thật hay xuyên tạc sự thật để lừa dối. Nó không
làm người ta tin vào điều nói ra, mà chỉ cốt hướng cho ta hiểu được điều nói lên.” [31, tr.46]
Biện pháp ngoa dụ được sử dụng nhiều trong đời sống hàng ngày, ca dao, đặc biệt là
trong văn chương trào phúng.
Đối với tiểu phẩm báo chí, do có đặc điểm nổi bật là tính trào phúng, châm biếm, hài
hước nên ngoa dụ là phép tu từ được các tác giả sử dụng ở mức độ cao. Trong tiểu phẩm Lê
Hoàng, phương thức nghệ thuật này cho phép tác giả đẩy vấn đề lên mức cực đoan nhằm
mục đích lột tả chân tướng, châm chọc sâu cay những điều trái tai gai mắt trong xã hội, tạo
nên tiếng cười hả hê, sảng khoái cho độc giả.
3.2.3.2. Phép ngoa dụ trong tiểu phẩm Lê Hoàng
Ngoa dụ được sử dụng nhiều trong tiểu phẩm Lê Hoàng, từ những cuộc trò chuyện,
phỏng vấn đến những bức thư, nhật kí hay những câu chuyện vụn vặt trong đời sống hàng
ngày. Qua bút pháp cường điệu, những nhân vật, sự vật bình thường được khoác lên mình
một diện mạo mới, đối lập với bản chất vốn có của mình làm người đọc bật cười sảng khoái.
Ngoa dụ trong tiểu phẩm Lê Hoàng không chỉ thể hiện ở cấp độ từ ngữ, câu văn, đoạn văn
mà còn trên toàn văn bản. Do dung lượng không cho phép nên ở đây chúng tôi chỉ dẫn ra
những ví dụ tiêu biểu.
Trong tiểu phẩm “Có Vàng Anh rồi, chả sợ!”, chân dung nhà văn Phan Thị Vàng Anh
được miêu tả một cách cường điệu như sau:
(186) Về trí thông minh của Vàng Anh có nhiều giai thoại. Năm 1945, Mỹ ném một
quả bom nguyên tử xuống Nhật Bản. Nửa thế kỷ sau, tổng thống Mỹ hối hận, ông tuyên bố,
79
đáng ra không cần ném bom, mà chỉ cần ném Phan Thị Vàng Anh xuống, cũng đủ làm cho
Nhật đầu hàng. (2, 238)
Ở một chỗ khác, Lê Hoàng một lần nữa sử dụng phương thức này để tô đậm sự “dịu
dàng”, “nữ tính” của Vàng Anh:
(187) Cũng chả có cô nào nữ tính bằng Vàng Anh. Trước một người đàn ông đẹp (cỡ
Lê Hoàng) nàng yêu ngay lập tức bất kể chiều cao, cân nặng và khả năng tài chính. Danh
sách của nàng tới nay bao gồm một nhà thơ, ba giáo sư đoạt giải Nô-ben, ba lực sĩ cử tạ, hai
tướng cướp và một anh hề, đấy là chỉ tính những người mà nàng ra mắt chính thức và để
cho sống. Những anh nàng yêu sau đó thất vọng giết đi không tính.” (2, 241)
Kiểu bài viết về chân dung nhân vật thường dễ khô khan, nhàm chán. Thế nhưng ở đây,
nghệ thuật phóng đại với lối miêu tả lém lỉnh, hài hước đã làm chân dung nhà văn Phan Thị
Vàng Anh hiện lên thật sống động. Và thực sự nó cũng gây bối rối cho độc giả bởi người ta
không thể tách bạch rõ ràng Lê Hoàng đang khen hay chê nhân vật.
Đỉnh cao của việc sáng tạo và sử dụng ngoa dụ là tiểu phẩm “Giấc mộng đêm hè”.
Trong tiểu phẩm này, biện pháp ngoa dụ không chỉ xuất hiện trong một vài câu văn, đoạn
văn và bao trùm lên toàn bộ văn bản.
(188) Dạo này gia đình khó khăn vì phải dành dụm sắm thêm bốn chiếc xe hơi nữa vì
ba bắt đầu lớn tuổi, đi cày ruộng mà không ngồi xe máy lạnh thấy bực bội lắm. Bữa trước
trời không chịu mưa, em gái mày phải liên hệ với nhà máy mua nước ngọt Coca Cola về
tưới ruộng, chưa biết lúa mọc ra sao nhưng kiến làng mình uống nước ấy nhiều quá, chỉ cần
bắt một con thả vào nồi cơm là tất cả ngọt như chè.
(3, 187)
Đây là đoạn trích lá thư của người cha gửi lên cho cậu sinh viên. Giọng thư tỉnh táo
đến lạ. Những điều nghịch dị, khoa trương, khuếch đại đến mức khó tin lại gây ngạc nhiên,
thích thú cho độc giả. Ngẫm nghĩ kĩ ta mới hiểu đó là những giấc mơ của người nông dân
nghèo: giấc mơ có được xe hơi, giấc mơ có đủ nước tưới vào mùa hạn.
Chưa dừng lại ở đó, nghệ thuật phóng đại một lần nữa lại phát huy tác dụng khi nói về
ước mơ của sinh viên: ước mơ có người yêu, ước mơ có được một công việc ổn định, thu
nhập cao,… Đặc biệt, có một giấc mơ ám ảnh người đọc, giấc mơ ấy đã phơi bày hiện thực
kham khổ, thiếu thốn mà sinh viên đang đối diện hàng ngày, hàng giờ: “Sáng nay tao nằm
chơi trên đường, tự nhiên có chiếc xe chạy qua rồi de lại đưa tiền vì tài xế thấy bụng tao sát
vào da nên tưởng là đã cán qua, vội vã bồi thường. Sướng chưa?” câu hỏi bỏ lửng khép lại
80
tác phẩm khiến cho nhiều người phải trăn trở, nghĩ suy về sướng và khổ, thực và mộng của
con người. Biện pháp ngoa dụ kết hợp với lối nói ngược vừa châm chích, vừa thông cảm, an
ủi đã tác động mạnh vào nhận thức của người đọc. Tiếng cười bật lên trong câu chuyện này
không phải là tiếng cười giải trí mà là cười ra nước mắt.
Bên cạnh những tiểu phẩm sử dụng phép ngoa dụ một cách tài tình, trong một số
trường hợp phương thức nghệ thuật này vẫn chưa được Lê Hoàng vận dụng hiệu quả. Đôi
khi, tác giả sử dụng ngoa dụ chỉ nhằm mục đích gây cười, mua vui, một kiểu cười nhẹ
nhàng, mơn trớn, không có chức năng giáo dục hoặc thức tỉnh. Ví như, trong tiểu phẩm
“Công nghệ siêu mỏng”. Để nói về thời đại công nghệ phát triển cao hiện nay, tác giả miêu
tả chiếc ti vi mỏng đến mức có thể vò lại rồi ném đi như tờ giấy hay dùng làm dao cạo râu,
đắp chăn, xoắn lại làm dây thừng, hơn thế nữa, có thể làm chiếc áo trong suốt cho các cô
mặc. Tất cả những điều đó chỉ tô đậm độ mỏng của chiếc ti vi, nó khá nhạt, không gây được
hứng thú cho người đọc.
Nhìn chung, bên cạnh những hạn chế nhất định, việc sử dụng phép ngoa dụ thực sự là
một điểm đặc sắc và nổi bật trong tiểu phẩm Lê Hoàng. Phương thức tu từ này đã tạo nên
chất hài hước cũng như sức tố cáo, châm biếm cho tác phẩm. Điều này một lần nữa minh
chứng cho khả năng sáng tạo cũng như óc liên tưởng hài hước của tác giả.
3.2.4. Liệt kê và tăng cấp
3.2.4.1. Khái niệm
“Phép liệt kê là phương thức xếp đặt một loạt các khái niệm, sự vật, hình ảnh, có khi
chỉ là những tên riêng, những con số lạnh lùng để tự nó nói lên hay tự nó kích thích trí
tưởng tượng của người đọc.” [31, tr.212]
Phép tăng cấp thực chất cũng là một loạt liệt kê nhưng một sự sắp xếp có hướng hoặc
là tiến dần (tiệm tiến) hoặc là lùi dần (tiệm thoái) [31, tr.213]
3.2.4.1. Phép liệt kê và tăng cấp trong tiểu phẩm Lê Hoàng
Trong tiểu phẩm Lê Hoàng, phép liệt kê và tăng cấp được sử dụng rất nhiều và không
kém phần hài hước, độc đáo. Nó là phương thức giúp tác giả diễn tả một cách đầy đủ, sâu
sắc hơn những khía cạnh khác nhau của sự vật, hiện tượng, đồng thời làm cho câu văn trở
nên sinh động, nhịp nhàng.
81
Trong tiểu phẩm “Thư của bà vợ gửi cho bồ nhí”, để gây ấn tượng với độc giả về việc
“đào mỏ” của người vợ, tác giả đã khéo léo liệt kê một loạt các hành động theo hướng tăng
dần về sắc thái ý nghĩa và sắc thái biểu cảm.
(189) Nhưng trên, trong và dưới cái mỏ ấy, tôi đã đào, đã cuốc, đã đẽo, đã nổ mìn,
khai thác rầm rộ, quy mô mấy chục năm. Và giờ đây, mỏ chỉ còn khung, còn lại sự hoang
tàn. Chỉ có đôi mắt ngốc của cô, chỉ có cặp môi dại của cô và chỉ có tí não khờ của cô mới
không nhận ra điều đó. (1, 335)
Các giới từ “trên”, “trong”, “dưới” cùng các động từ “đào”, “cuốc”, “đẽo”, “nổ mìn”,
“khai thác rầm rộ” được sắp xếp tăng dần về mức độ khai thác và sắc thái biểu cảm; các ngữ
danh từ “đôi mắt ngốc”, “cặp môi dại”, “tí não khờ” cũng được sắp xếp một cách có chủ ý,
từ hình dáng bên ngoài đến trí tuệ bên trong. Những điều này đã tác động mạnh mẽ vào
nhận thức của người đọc, khiến người đọc không khỏi bật cười thích thú trước lối tư duy
nhạy bén và khả năng lập luận sắc sảo của tác giả. Biện pháp tu từ này cũng được tác giả
vận dụng thành công trong tiểu phẩm “Lời kêu gọi đàn ông nhân ngày 8.3”:
(190) Bao nhiêu đàn ông bị giam cầm trong các gia đình, bị ăn, ngủ, xem ti vi và cả
tắm cũng phải theo điều lệnh. Bao nhiêu trai trẻ bị áp tải đi chơi, bị ép phải mua quà, bị dồn
vào thế phải tặng hoa, tặng bánh sinh nhật, hoặc phải chờ đợi mềm nhũn dưới trời mưa như
rất nhiều bộ phim tình cảm đã tố cáo. Bằng các thủ đoạn quỷ quyệt như nhảy múa tung tăng,
chớp chớp mắt (có gắn lông mi) và kêu thét lên mỗi khi thấy chuột, phụ nữ làm đội ngũ đàn
ông tan tác, mất hết lý trí, không còn sáng suốt, quên mình, quên cả tiền bạc của mình. (3,
124-125)
Ở đây, phép liệt kê, tiệm tiến còn kết hợp với điệp ngữ để nhấn mạnh, mở rộng ý, làm
câu văn chặt chẽ trong lập luận, cân đối về nhịp điệu. Nỗi khổ của đấng mày râu đã được tác
giả đẩy lên mức cao trào và không kém phần sinh động, hài hước.
Bên cạnh lối liệt kê tiệm tiến, nhiều trường hợp Lê Hoàng còn khéo léo kết hợp phép
liệt kê và tiệm thoái:
(191) Đàn ông sinh ra là để đàn bà sai đi mua đồ, sai lái xe, sai trả tiền, sai đón con,
sai luôn cả việc…đi ngủ. (1, 340)
(192) Đã từ lâu, thế giới mỏng manh này có ngày chống thuốc lá, ngày phòng si-đa,
thậm chí có ngày cúm gà mà vẫn làm ngơ, không dành cho đàn ông một hôm nào cả. (3, 123)
Trong tiểu phẩm “Kem trị mụn”, tác giả liệt kê một loạt hành động tìm kiếm hộp kem,
từ cái vò đến cái chai và cuối cùng là cái hộp bé xíu:
82
(193) Bà chủ liếc qua lớp mụn như quạ già liếc trẻ con, rồi lôi dưới gầm tủ ra một cái
vò, sau đó mở vò lấy ra một cái chai, cuối cùng đập chai lôi ra một cái hộp.
(3, 30)
Cách liệt kê sự vật, sự việc theo chiều hướng từ lớn đến nhỏ ở các ví dụ trên đã tạo nên
tính bất ngờ, hài hước, gây hứng thú với người đọc.
Bên cạnh việc kết hợp linh hoạt phép tăng cấp và liệt kê, trong nhiều tiểu phẩm khác,
phép liệt kê còn được tác giả sử dụng trên toàn văn bản: 8 lý do điện tăng giá, Chồng Mỹ -
Chồng Việt, 32 điểm khác nhau, Những lý do để bạn tới Hà Nội,…
Qua những điều đã phân tích ở trên, có thể phép liệt kê và tăng cấp đã được Lê Hoàng
sử dụng rất đa dạng và linh hoạt. Phương thức tu từ này đã làm cho câu văn của ông trở nên
uyển chuyển, đa dạng về nhịp điệu, chứa đựng nhiều thông tin nhưng không kém phần hấp
dẫn bởi sự chọn lọc và xếp đặt khéo léo các từ ngữ, chi tiết gây ấn tượng và tạo tiếng cười
cho độc giả.
3.2.5. Phép điệp
3.2.5.1. Khái niệm
Phép điệp là biện pháp tu từ lặp lại một yếu tố diễn đạt (ngữ âm, từ ngữ, cấu trúc câu)
để nhấn mạnh ý nghĩa và cảm xúc, nâng cao khả năng biểu cảm, gợi hình cho lời văn.
Có nhiều cách phân chia phép điệp:
- Theo các yếu tố: điệp thanh, điệp từ, điệp ngữ, điệp câu
- Theo vị trí: điệp đầu câu, giữa câu, cách quãng, điệp liên tiếp
- Theo tính chất: điệp đơn giản, điệp phức hợp.
Phép điệp được sử dụng rộng rãi trong lời nói hàng ngày, văn nghệ thuật, khoa học,
chính luận và hành chính - công vụ. Với nhiều hình thức phong phú, phép điệp có khả năng
tạo hình, diễn tả nhiều sắc thái khác nhau của cảm xúc, làm cho câu văn nhịp nhàng, cân đối,
để lại ấn tượng sâu trong lòng bạn đọc.
3.2.5.2. Phép điệp trong tiểu phẩm Lê Hoàng
Trong tiểu phẩm của mình Lê Hoàng sử dụng phép điệp với tần số khá cao. Nhờ
phương thức tu từ này, tác giả có điều kiện mổ xẻ, lật đi lật lại các vấn đề, làm cho nội dung
phản ánh được nhấn mạnh, khắc sâu trong lòng độc giả.
Lê Hoàng sử dụng phép điệp ở nhiều cấp độ khác nhau. Ngay ở kiểu điệp thông
thường, phổ biến như điệp từ ngữ, ông vẫn cố gắng thể hiện một cái gì đó khác biệt. Khác
83
biệt thể hiện ở chỗ những yếu tố được lặp lại tưởng chừng không liên quan gì đến nhau,
nhưng qua cách lý giải logic của Lê Hoàng, những yếu tố ấy lại gắn kết, quan hệ chặt chẽ
với nhau đến không ngờ. Điển hình như, để chứng minh giữa xăng và tăm xỉa răng có quan
hệ mật thiết với nhau, tác giả đã sử dụng lối điệp vòng rất lôgic.
(194) Tăm làm bằng gỗ, mà gỗ phải chở từ rừng về thành phố bằng ô tô. Ô tô chạy
bằng xăng chứ không phải bằng nước lã, do đó lên giá là phải.
Tăm phải bỏ vào bịch. Bịch làm từ ni lông. Ni lông ép từ nhựa. Tất cả các máy cán
nhựa đều chạy điện. rất nhiều nhà máy điện chạy bằng dầu. Dầu là em ruột của xăng.
(3, 49-50)
Có thể thấy, nguyên nhân tăng tăng giá tăm được tác giả lý giải rất sáng tạo và hẳn
nhiên không kém phần cực đoan. Điều này phần nào cũng cho thấy cá tính của tác giả, thích
lật xới vấn đề đến tận gốc rễ của nó.
Trong một tiểu phẩm khác, tác giả cũng sử dụng lối điệp vòng để nhấn mạnh quá trình
gian khổ trong việc mua chung cư:
(195) Xếp lấy số. Rồi có số rồi xếp lấy phiếu. Sau khi có phiếu xếp lấy tờ khai, có tờ
khai xong xếp để nộp, nộp xong rồi xếp chờ nhận hóa đơn, có hóa đơn xếp bốc thăm chọn
tầng, sau khi có tầng xếp bốc thăm chọn căn hộ. (3, 370)
Ở ví dụ này, phép điệp và liệt kê nhiều hành động cùng một lúc đã làm câu văn trở nên
rườm rà, dài dòng. Điều này không phải do tác giả thiếu từ, bí từ mà đó là sự lặp lại có ý
thức với dụng ý khắc sâu vào người đọc những thủ tục hành chính rườm rà, rắc rối mà nhân
vật phải trải qua.
Bên cạnh lối điệp vòng, nhiều trường hợp tác giả cũng dùng điệp ngữ nối tiếp để giúp
người đọc hình dung một cách rõ ràng về những sự kiện hay vấn đề nóng hổi của xã hội. Ví
như trong tiểu phẩm “Nổ”, nhiều từ ngữ được lặp lại đứng cạnh nhau với mục đích châm
biếm, lên án:
(196) “Phải qua dịch vụ, phải qua dịch vụ.”
“Bận họp đến mai, bận họp đến mai, bận họp đến mai.” (3, 79)
Rõ ràng ở đây, tác giả đang muốn nhấn mạnh đến những bất cập trong công tác quản
lý, điều hành xã hội – một thực trạng nan giải ở nước ta.
Không dừng lại ở đó, trong tiểu phẩm “Thủ phạm không lẩn trốn”, phép điệp nối tiếp
đã châm biếm sâu cay một bộ phận nhà báo hiện nay đánh mất tư chất nghề nghiệp, suốt
ngày chỉ săn những tin tức giật gân, rẻ tiền để câu khách:
84
(197) Tiêu cực đây! Tiêu cực đây! Tiêu cực mới nguyên chưa ráo mực đây!
Phóng sự! Phóng sự! Phóng sự! Cuộc điều tra về những bóng ma trong phòng
xử án.
Chẳng có gì đây! Chẳng có gì đây, ngoài cuộc tình của nhạc sĩ Song Mây và cô
đào Rổ Rá. (3, 106-107)
Trong tiểu phẩm “Có urê? Không có urê?”, nỗi khổ của người tiêu dùng khi phải đối
mặt với nạn thực phẩm nhiễm bệnh được tác giả nêu lên rất chân thực và sâu sắc:
(198) Anh luôn rửa tay trước khi ăn, rửa chân trước khi leo lên giường và rửa mồm
trước khi đi chơi. Cho nên anh vô cùng đau khổ và choáng váng khi báo chí tới tấp đưa tin
về thực phẩm nhiễm bệnh. Nào phở có phoọc môn, nước tương có chất gây ung thư, bánh
cuốn có hàn the, cà phê có bột bắp, trái cây có thuốc trừ sâu.” (3, 71)
Phép liệt kê, điệp từ kết hợp với lối sóng đôi cú pháp đã được tác giả vận dụng rất
thành thục, làm cho câu văn trở nên dồn dập, gấp gáp, kịch tính. Từ “rửa” được lặp đi lặp lại
3 lần cùng với cụm từ “trước khi” nhằm nhấn mạnh sự cẩn thận, sạch sẽ của nhân vật. Thế
nhưng, từ “có” lại nhấn đến 5 lần nhằm tô đậm sự bất lực của nhân vật, anh không thể bảo
vệ mình trước tình trạng nhiễm độc thực phẩm đang diễn ra tràn lan với nhiều thủ đoạn tinh
vi hiện nay. Có thể thấy, tác giả đã thay người tiêu dùng gióng lên một hồi chuông kêu cứu.
Ngoài những ví dụ trên, rất nhiều tác phẩm khác cũng sử dụng hình thức điệp cú pháp,
sóng đôi cú pháp làm các câu trong chuỗi lời nói tạo thành một khối chặt chẽ, làm nổi bật
nội dung thông báo, thuyết phục người đọc.
(199) Tôi tuyệt vọng. Tôi chán nản. Tôi bất cần. (1, 194)
(200) Máy thì rung, máy thì lắc, máy thì vỗ, máy thì đánh, máy lại đập.
(3, 328)
(201) Mắt anh trợn trừng, mũi anh cau cau, trán anh nhăn nhăn, má anh giật giật. (1,
371)
Những hình thức điệp cú pháp như trên không những tạo nên sự cân đối, nhịp nhàng
cho lời văn mà còn thể hiện được sự phong phú và phức tạp trong suy nghĩ và tình cảm của
người nói.
Tóm lại, việc sử dụng phép điệp ở nhiều cấp độ khác nhau đã làm cho vấn đề nói đến
trong tiểu phẩm Lê Hoàng không trở nên khô khan, nhạt nhẽo mà được nhấn mạnh, lật xới
kĩ càng. Cách điệp từ, cụm từ, điệp cấu trúc cú pháp làm cho câu văn được liên kết chặt chẽ,
có điểm nhấn, giàu tính nhạc, để lại ấn tượng sâu sắc cho độc giả.
85
3.3. Tiểu kết
So với các tiểu phẩm của các tác giả khác, tiểu phẩm của Lê Hoàng có dung lượng khá
lớn, trung bình từ 600 đến 1000 âm tiết, có tác phẩm lên tới 4000 âm tiết (Hồi kí của một
quan tham). Cách đặt tiêu đề trong tiểu phẩm Lê Hoàng có những điểm riêng mà nhìn vào
đấy người ta có thể dễ dàng nhận ra tác phẩm của ông. Từ ngữ trong các tiêu đề đơn giản,
dễ hiểu, ít hàm ý, các tiêu đề thường đặt theo khuôn mẫu và thường dài hơn tiêu đề trong
tiểu phẩm của các tác giả khác,
Kết cấu trong tiểu phẩm Lê Hoàng rất đa dạng. Trong bài phỏng vấn, trò chuyện giả
tưởng tác giả sử dụng kết cấu hỏi đáp, đối thoại giữa hai hoặc ba nhân vật. Trong kiểu bài tự
sự, tác giả sử dụng kết cấu theo dòng thời gian, kết cấu dưới hình thức một bức thư, nhật kí
hoặc “truyện cổ tân trang”. Cấu trúc của một tiểu phẩm có ba phần: mở đề - diễn giải – kết
luận. Tác giả thường sử dụng phương pháp đi xa, về gần, xoáy vào trọng tâm rồi buông một
cái kết bất ngờ, thú vị.
Để văn bản có tính chặt chẽ về nội dung và hình thức, Lê Hoàng sử dụng nhiều phép
liên kết. Trong đó, ba phép liên kết được sử dụng nhiều nhất là phép lặp từ, phép nối và
phép tỉnh lược. Qua khảo sát, chúng tôi còn thấy tiểu phẩm của Lê Hoàng còn có tính liên
văn bản. Các tác phẩm có sự liên hệ mật thiết với nhau, tiêu biểu nhất là như hình thức thư
qua, thư lại giữa các nhân vật: Thư của bồ nhí gửi cho bà vợ, Thư của bà vợ gửi cho bồ nhí,
Thư của ông chồng gửi vợ và bồ nhí, Thư của một học trò gửi thầy giáo, Thư của một học
trò gửi thầy giáo (tiếp theo),…
Để truyền tải thông tin một cách hấp dẫn, Lê Hoàng sử dụng rất nhiều phép tu từ: phép
điệp, nhân hóa, so sánh, phóng đại, liệt kê và tăng cấp, ẩn dụ, dẫn ngữ,… Trong đó, phương
thức so sánh, nhân hóa, phóng đại, điệp, liệt kê và tăng cấp được sử dụng phổ biến làm cho
lời văn thêm uyển chuyển, giàu hình ảnh, nâng cao hiệu quả biểu đạt cho tác phẩm. Tuy
nhiên, việc sử dụng quá nhiều biện pháp tu từ cũng làm cho ngôn ngữ của ông trở nên bóng
bẩy, màu mè, đỏng đảnh, phô trương.
86
KẾT LUẬN
Trong báo chí nói chung và tiểu phẩm nói riêng, nhà báo Lê Hoàng (bút danh Lê Thị
Liên Hoan) là một cây bút “ăn khách” và có cá tính. Qua việc tìm hiểu đặc điểm sử dụng
ngôn ngữ trong tiểu phẩm của ông, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:
1. Tiểu phẩm của Lê Hoàng đề cập đến mọi vấn đề lớn bé của đời sống xã hội với một
tư duy phản biện có văn hóa: thẳng thắn phê bình công khai, có căn cứ chứ không chửi đổng.
Là một cây bút có cá tính, ông không bó mình theo những lối mòn, khuôn mẫu sẵn có mà có
sự “xâm lấn thể loại” để sáng tạo ra nhiều hình thức thể hiện mới mẻ: phỏng vấn, trò
chuyện giả tưởng, thư từ, nhật kí, hồi kí, tin tường thuật, truyện trinh thám, điếu văn, bảng
so sánh – thống kê,… Điều này đã làm cho tiểu phẩm Lê Hoàng mang một diện mạo hoàn
toàn mới so với tiểu phẩm của các tác giả khác. Đây là một đóng góp không nhỏ của Lê
Hoàng trong quá trình phát triển, hiện đại hóa thể loại tiểu phẩm, làm cho đời sống báo chí
trở nên phong phú, đa dạng và linh hoạt hơn.
2. Về mặt từ ngữ, tiểu phẩm của Lê Hoàng thể hiện rất rõ xu hướng vận động của báo
chí hiện nay, đó là đưa ngôn ngữ hội thoại, ngôn ngữ đời thường vào trong tác phẩm. Lớp từ
khẩu ngữ được tác giả vận dụng triệt để với cách nói cụ thể, giàu hình ảnh và biểu cảm. Bên
cạnh đó, tác giả còn sử dụng phong phú, đa dạng những kiểu từ ngữ khác nhau như: từ
ngoại lai, từ địa phương, tiếng lóng, hệ thống các thành ngữ, tục ngữ,… Chính sự đa dạng
về mặt từ ngữ đã làm cho ngôn ngữ trong tiểu phẩm Lê Hoàng “ngồn ngộn” chất sống của
hiện thực.
3. Về mặt câu văn, để chuyển tải nội dung thông tin một cách nhanh chóng, hấp dẫn,
Lê Hoàng đã sử dụng nhiều kiểu câu khác nhau.
Xét theo cấu tạo ngữ pháp, tác giả sử dụng đầy đủ các kiểu câu đơn, câu ghép, câu đặc
biệt. Trong đó, câu đơn tỉnh lược xuất hiện với mật độ dày đặc trong các cuộc hội thoại. Đó
là những lời đối đáp ngắn gọn, gấp gáp làm cho nhân vật của ông giống như những nhân vật
trên sân khấu. Ngoài ra, câu đặc biệt và câu ghép đẳng lập cũng có những nét đặc sắc riêng,
làm cho câu văn giàu tính nhạc, nâng cao hiệu quả biểu đạt cho tác phẩm.
Xét theo mục đích phát ngôn, Lê Hoàng sử dụng nhiều nhất là câu tường thuật và câu
nghi vấn. Các câu tường thuật không chỉ kể, miêu tả hiện thực bề bộn của đời sống mà còn
thể hiện thái độ, quan điểm của nhà văn. Bên cạnh đó, ông còn sử dụng khá nhiều câu nghi
vấn để truyền tải nội dung ý nghĩa và tình cảm khác nhau.
87
Việc sử dụng linh hoạt, đa dạng các kiểu câu khác nhau đã tạo nên chất giọng “đa
thanh” cho tác phẩm, lúc thì nhẹ nhàng, thâm thúy, lúc lại giễu cợt, đả kích sâu cay. Đặc
biệt, cái giọng châm biếm, triết lý, hài hước kết hợp với sở thích truy vấn gắt gao đến tận
cùng vấn đề đã phơi bày trần trụi mọi góc cạnh của hiện thực đời sống.
4. Về đặc điểm tổ chức văn bản, So với các tác giả khác, tiểu phẩm của Lê Hoàng có
dung lượng lớn hơn, trung bình từ 600 – 1000 âm tiết. Các nhan đề thường được đặt theo
khuôn mẫu, cho nên nhìn vào nhan đề người ta có thể nhận diện được đâu là tiểu phẩm của
ông. Kết cấu của văn bản thường có ba phần vào đề - diễn giải - kết luận. Các vấn đề được
triển khai theo phương thức “đi xa - về gần – xoáy vào trọng tâm”. Lối dẫn chuyện của tác
giả rất thông minh, hài hước. Ông thường giăng bẫy, “nhử” người đọc, đẩy vấn đề lên kịch
tính rồi mới chốt hạ bằng một cái kết bất ngờ, khiến người đọc thích thú. Phương pháp dẫn
chuyện này phần nào có sự ảnh hưởng của cách xử lý tình huống trong kịch bản sân khấu.
5. Về các biện pháp tu từ, Lê Hoàng sử dụng rất nhiều phép tu từ trong tiểu phẩm của
mình. Trong đó, nổi bật nhất là các phép: nhân hóa, ngoa dụ, so sánh, điệp, liệt kê và tăng
cấp,… Điều này đã làm cho ngôn ngữ của Lê Hoàng vừa có cái đanh, sắc, tỉnh, gân guốc
của ngôn ngữ chính luận, lại vừa có sự mềm mại, mượt mà, uyển chuyển của ngôn ngữ văn
học. Cũng nhờ thế, thông tin được truyền tải không bị khô cứng mà hấp dẫn, sinh động, níu
người đọc về gần với tác phẩm.
6. Đóng góp của Lê Hoàng đối với sự phát triển của thể loại tiểu phẩm là điều không
ai có thể phủ nhận. Tuy nhiên, không phải lúc nào tác giả cũng chiêu đãi người đọc những
“món ăn” ngon, thỉnh thoảng người ta vẫn nhặt được “sạn” trong đó.
Trong khâu chọn đề tài, nhiều khi tác giả quá ưu ái đến những vấn đề vụn vặt mà bỏ
qua những vấn đề nổi cộm trong cuộc sống, khiến cho tác phẩm nghèo thông tin, thiếu tính
thời sự.
Tiểu phẩm của Lê Hoàng không được ngắn gọn và hàm súc như của các tác giả khác
bởi ông sở hữu một lối viết khá dài hơi. Các nhan đề thường rập khuôn, thiếu sức hấp dẫn.
Bên cạnh đó, lối dẫn chuyện nhiều lúc cứ “con cà con kê”, đưa đẩy quá đà hoặc mải mê theo
các tình tiết vụn vặt, làm cho câu văn dài dòng, khó hiểu, vấn đề triển khai trở nên nhàm,
nhạt, không kịch tính.
Ngoài ra, việc tung hứng ngôn từ quá đà, lạm dụng quá nhiều phương thức tu từ khiến
cho tác phẩm nghiêng về nghệ thuật hơn là thông tin. Việc chú trọng quá nhiều vào hình
thức vô tình làm giảm đi hiệu quả biểu đạt của tác phẩm. Có không ít tiểu phẩm viết ra chỉ
88
để gây cười – một kiểu cười thuần túy giải trí, chứ không để lại những giá trị thông tin sâu
sắc trong lòng bạn đọc. Những tác phẩm đó chỉ đọc một lần rồi nhanh chóng chìm vào quên
lãng.
89
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Diệp Quang Ban (2008), Ngữ pháp Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
2. Diệp Quang Ban (2009), Ngữ pháp Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
3. Nguyễn Thanh Bình (2009), “Lê Hoàng và “vai diễn” Lê Thị Liên Hoan”, báo Văn nghệ
Công An, (107), ra ngày 27/07.
4. Đỗ Hữu Châu (1997), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Đại học Quốc gia, Hà Nội.
5. Hoàng Thị Châu (1989), Tiếng Việt trên mọi miền đất nước, Nxb Khoa học Xã hội, Hà
Nội
6. Đỗ Hữu Châu, Bùi Minh Toán (2009), Đại cương ngôn ngữ học (tập 1), Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
7. Chertưchơnưi A.A. (2004), Các thể loại báo chí, Đào Tấn Anh, Trần Kiều Vân dịch,
Nxb Thông tấn, Hà Nội.
8. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiêu, Hoàng Trọng Phiến (2006), Cơ sở ngôn ngữ học và
tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
9. Nguyễn Đức Dân (2007), Ngôn ngữ báo chí – những vấn đề cơ bản, Nxb Giáo dục, Hà
Nội.
10. Đức Dũng (1992), Kí báo chí, Nxb Thông tin, Hà Nội.
11. Hoàng Dũng, Bùi Mạnh Hùng (2007), Dẫn luận ngôn ngữ học, Nxb Đại học Sư phạm.
12. Phan Cự Đệ (2005), Di sản báo chí Ngô Tất Tố - ý nghĩa lý luận và thực tiễn, Nxb Văn
học.
13. Đinh Văn Đức (1986), Ngữ pháp tiếng Việt – từ loại, Nxb Đại học và Trung học chuyên
nghiệp, Hà Nội.
14. Hà Minh Đức, Đỗ Văn Khang, Phạm Quang Long (1997), Lý luận văn học, Nxb Giáo
dục, Hà Nội.
15. Hà Minh Đức (1998), “Tiểu phẩm văn học và báo chí của Ngô Tất Tố”, Văn học, (11),
tr.11.
16. Nguyễn Thiện Giáp (2010), 777 khái niệm ngôn ngữ học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
17. Nguyễn Thiện Giáp (2011), Vấn đề “từ” trong tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
18. Trần Ngọc Hà (2008), Sự vận động và phát triển của tiểu phẩm trong báo chí Việt Nam
hiện đại, Luận văn thạc sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội.
90
19. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2007), Từ điển thuật ngữ
văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
20. Hoàng Văn Hành (chủ biên) (1994), Từ điển từ láy tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
21. Lê Thị Đức Hạnh (1983), “Đặc sắc trong tiểu phẩm của Ngô Tất Tố”, Văn học, (6), tr
75.
22. Phan Thị Mỹ Hạnh (2007), Đóng góp của phóng sự và tiểu phẩm Ngô Tất Tố với văn
học Việt Nam 1930-1945, Luận văn thạc sĩ Văn học Việt Nam, Đại học Sư phạm
Thành phố Hồ Chí Minh.
23. Cao Xuân Hạo (2006), Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng, Nxb Khoa học Xã hội,
Thành phố Hồ Chí Minh.
24. Cao Xuân Hạo, Hoàng Dũng (2005), “Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học đối chiếu Anh -
Việt Việt – Anh”, Nxb Khoa học Xã hội, Thành phố Hồ Chí Minh.
25. Vũ Quang Hào (2001), Ngôn ngữ báo chí, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
26. Hoàng Ngọc Hiến (1999), Năm bài giảng về thể loại, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
27. Phạm Thành Hưng (2007), Thuật ngữ báo chí truyền thông, Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội.
28. Mai Hương, Tân Hương Lan (2001), Ngô Tất Tố về tác gia và tác phẩm, Nxb Giáo dục,
Hà Nội.
29. Nguyễn Văn Khang (2010), Tiếng lóng Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
30. Đinh Trọng Lạc (1998), 300 bài tập phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
31. Đinh Trọng Lạc (2002), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt (tái bản lần thứ 6),
Nxb Giáo dục, Hà Nội.
32. Đinh Trọng Lạc (chủ biên) - Nguyễn Thái Hòa (2008), Phong cách học tiếng Việt, Nxb
Giáo dục, Hà Nội.
33. Nguyễn Thế Lịch (1998), “Về các tính chất của ngôn ngữ nghệ thuật”, Ngôn ngữ, (4),
tr.22-23.
34. Nhiều tác giả (1992), Nghề nghiệp và công việc của nhà báo, Hội nhà báo Việt Nam,
Hà Nội.
35. Nhiều tác giả (1999), Văn học Việt Nam 1990 – 1945, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
36. Lê Thị Nhung (2010), Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong chương trình thời sự truyền
hình (qua tư liệu của đài PT-TH Thái Nguyên), Luận văn thạc sĩ, Đại học Sư phạm
Thái Nguyên.
91
37. Đái Xuân Ninh (1978), Hoạt động của từ tiếng Việt, Nxb Khoa học Xã hội.
38. Hoàng Phê (2010), Từ điển tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội.
39. Nguyễn Khắc Phi (tổng chủ biên), Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Minh Thuyết, Ngữ văn 7,
tập hai, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
40. Hoàng Trọng Phiến (1980), Ngữ pháp tiếng Việt: câu, Nxb Đại học và Trung học
Chuyên nghiệp, Hà Nội.
41. Dương Xuân Sơn (2012), Các thể loại báo chí chính luận nghệ thuật, Nxb Giáo dục, Hà
Nội.
42. Tạ Ngọc Tấn (2000) Tiểu phẩm báo chí Hồ Chí Minh, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà
Nội.
43. Nguyễn Thị Minh Thái (2009), Phê bình tác phẩm văn học nghệ thuật trên báo chí,
Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
44. Nguyễn Kim Thản (1997), Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
45. Võ Văn Thành (2009), Đặc điểm ngôn ngữ văn bản hành chính tiếng Việt trong lĩnh
vực thương mại, Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học, Đại học Sư phạm thành phố Hồ
Chí Minh.
46. Trần Xuân Thân (2006), Phong cách hài trong các tiểu phẩm báo chí hiện đại qua ba
nhà báo Lý Sinh Sự, Lê Thị Liên Hoan, Thảo Hảo, Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học,
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội.
47. Trần Ngọc Thêm (1999), Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
48. Nguyễn Minh Thuyết - Nguyễn Văn Hiệp (1998), Thành Phần câu tiếng Việt, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội.
49. Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), Nguyễn Văn Hiệp (1999), Tiếng Việt thực hành, Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội.
50. Nguyễn Văn Tu - Nguyễn Kim Thản (1976), Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại, Nxb Đại
học và Trung học Chuyên nghiệp, Hà Nội.
51. Cù Đình Tú (1982), Khảo sát từ vựng tiếng Việt theo bình diện phong cách ngôn ngữ,
Nxb Khoa học xã hội.
52. Cù Đình Tú (2001), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà
Nội.
53. Hoàng Tuệ (2001), Tuyển tập ngôn ngữ học, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp.
92
54. Bùi Tất Tươm (chủ biên), Nguyễn Văn Bằng, Hoàng Xuân Tâm (1997), Giáo trình cơ
sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
55. Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn Khang (1993), Từ điển thành ngữ Việt Nam, Nxb Văn hóa,
Hà Nội.
56. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (1999), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa Thông tin.
57. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (2003), Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Giáo
dục.
Tiếng Anh
58. J.A. Cuddon (1992), Dictionary of Literary Terms and Literary Theory (tái bản lần 3),
Penguin Books.
Website
59. Các mục từ “Lê Hoàng”, “Feuilleton” trên các website trực tuyến
http://vi.wikipedia.org/wiki/Lê_Hoàng
http://en.wikipedia.org/wiki/Feuilleton
60. Đức Dũng (2008), “Tiểu phẩm – một thể loại văn học năng động trong môi trường báo
chí”
http://www.songtre.tv/news/nghien-cuu-trao-doi/tieu-pham-mot-the-loai-van-hoc-nang-
dong-trong-moi-truong-bao-chi-45-1438.html
61. Kinh Khê (2013), “Lê Hoàng “bóc mẽ” sao Việt trong sách mới”
http://www.tintucngaynay.com/le-hoang-boc-me-sao-viet-trong-sach-moi_8-183259.html
62. Nguyễn Bùi Khiêm (2012), “Tiểu phẩm báo chí của Lê Hoàng - hiệu quả của một
hướng đi riêng”, Tiểu luận.
http://solitary2009.blogspot.com/2012/03/tieu-pham-bao-chi-le-hoang.html
63. Lý Sinh Sự (2008), “Hãy viết tiểu phẩm đi”, phần 2
http://vja.org.vn/vi/detail.php?pid=2&catid=39&id=177&dhname=Hay-viet-tieu-
pham-di-Phan-II-Tac-gia-Ly-Sinh-Su
64. Lý Sinh Sự (2008), “Hãy viết tiểu phẩm đi”, phần 4
http://vja.org.vn/vi/detail.php?pid=2&catid=39&id=172&dhname=Hay-viet-tieu-pham-di-
Phan-IV-Tac-gia-Ly-Sinh
65. Hồ Vân Thiên (2013), “Lê Hoàng có chua ngoa, đanh đá thật không”
http://m.nguoiduatin.vn/le-hoang-co-chua-ngoa-danh-da-that-khong-a53429.html
93
66. Lý Hải Vân (2005), “Nhà báo Lê Thị Liên Hoan: Gã Chí Phèo không chửi đổng”
http://vietbao.vn/Van-hoa/Nha-bao-Le-Thi-Lien-Hoan-Ga-Chi-Pheo-khong-chui-
dong/20456269/181/
67. “Nghệ thuật tổ chức ngôn ngữ báo chí trong dạng bài “phỏng vấn phiếm chủ” của nhà
báo Lê Thị Liên Hoan”
http://doan.edu.vn/do-an/luan-chung-ve-phong-cach-bao-chi-va-the-loai-bao-chi-1898/
94
NGUỒN DẪN LIỆU
1. Lê Hoàng (2009), Thư của bà vợ gửi cho bồ nhí, Nxb Trẻ, TP. Hồ Chí Minh
2. Lê Hoàng (2011a), Phỏng vấn con Bò, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội.
3. Lê Hoàng (2011b), Thư của Trứng gà gửi Chứng khoán (tái bản lần 1), Nxb Thanh
Niên, TP. Hồ Chí Minh.
4. Lê Hoàng (2011c), Xuất khẩu cười (tái bản lần 1), Nxb Thanh Niên, TP. Hồ Chí Minh.
95

