
XÃ HỘI Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ● Số 13.2023
380
KINH T
Ế
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH LỰA CHỌN VIỆC LÀM KHÔNG ĐÚNG CHUYÊN NGÀNH SAU KHI RA TRƯỜNG CỦA SINH VIÊN KHOA KẾ TOÁN - KIỂM TOÁN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
RESEARCH OF FACTORS AFFECTING DECISIONS TO CHOOSE IMPORTANT JOBS AFTER GRADUATION OF STUDENTS OF FACULTY OF ACCOUNTING-AUDITING, HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Nguyễn Thị Hải Vân1,*, Lê Thị Hồng Anh1, Lê Thị Sen1, Lê Thị Thu Trà1, Trịnh Thị Thùy Hoa1, Trần Thị Thùy Trang2 TÓM TẮT Hiện nay, có rất nhiều nghiên cứu trong nước và nước ngoài đề cập đế
n tình
trạng làm việc không đúng chuyên ngành của sinh viên sau khi ra trường, đặc biệ
t
là các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn việ
c làm không đúng chuyên
ngành. Nghiên cứu lựa chọn phạm vi là sinh viên khóa 12 và khóa 13 khoa Kế
toán
- Kiểm toán trường Đại học Công nghiệp Hà Nội nhằm đánh giá các yếu tố ả
nh
hưởng đến quyết định lựa chọn việc làm không đúng chuyên ngành củ
a sinh viên
sau khi ra trường bằng cách sử dụng bảng câu hỏi. Kết quả phân tích mô hình hồ
i
quy tuyến tính đa biến đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn việ
c
làm không đúng chuyên ngành (bao gồm: Bản thân, Nhà trường, Xã hộ
i, Ngành
nghề). Kết quả nghiên cứu có thể làm cơ sở để xây dựng phương hướng và đề xuấ
t
các giải pháp thiết thực thiết thực để nâng cao tỷ lệ việc làm
đúng chuyên ngành
cho sinh viên khoa Kế toán - Kiểm toán trong thời gian tới sau khi tốt nghiệp. Từ khóa: Không đúng chuyên ngành; việc làm; sau khi ra trường; Trường Đạ
i
học Công nghiệp Hà Nội. ABSTRACT
Currently, there are many domestic and foreign studies that refer to the working
status of students in the wrong major after graduation, especially the factors
affecting the decision to choose the wrong job. branch. The study selects the scope
of alumni of the 12th and 13th class of the accounting-
auditing faculty of Hanoi
University of Industry to assess the factors affecting the student's decision to choose
a job that is not in the right major. students after graduation using questionnaires.
The results o
f multivariable linear regression model analysis have shown the factors
affecting the decision to choose a job that is not in the right major (including: Self,
School, Society, Industry). The research can serve as a basis for building directions
and propos
ing practical solutions to improve the employment rate in the right major
for accounting and auditing students in the near future after graduation. Keywords: Wrong major; job; after graduation; Hanoi University of Industry. 1Lớp Kiểm toán 02 - K14, Khoa Kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội2Khoa kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội *Email: nthvan203@gmail.com CHỮ VIẾT TẮT BT Bản thân ĐHCNHN Đại học Công nghiệp Hà Nội DN Doanh nghiệp GĐ Gia đình KTKT Kế toán kiểm toán NCKH Nghiên cứu khoa học NN Ngành nghề NT Nhà trường QĐ Quyết định TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh XH Xã hội 1. GIỚI THIỆU Việt Nam đang phát triển theo hướng hội nhập nền kinh tế thế giới, theo đó sức ép cạnh tranh thị trường lao động càng cao. Trong 15 năm trở lại đây, sự gia tăng đột biến về số lượng sinh viên tốt nghiệp đại học đã dẫn đến sự mất cân đối trên thị trường lao động khi cung lao động vượt quá cầu lao động. Lao động Việt Nam phải đối mặt với yêu cầu khắt khe của nhà tuyển dụng, sự cạnh tranh khốc liệt của nguồn lao động nước ngoài dẫn đến sự gia tăng tình trạng thất nghiệp, làm cho sinh viên mới ra trường bị cuốn vào mê cung “ không đúng chuyên ngành”. Trong đó, sinh viên mới ra trường đóng vai trò quan trọng trong lực lượng lao động trong nền kinh tế hiện nay. Là lực lượng đông đảo có chuyên môn cao, kiến thức sâu rộng, khả năng thích nghi và có tư duy tốt. Ngoài ra là thành phần lao động có sức khỏe, nhiệt huyết và tầm nhìn mới lạ, tư duy đổi mới. Sinh viên là nhóm lực lượng đem lại nguồn lực kinh tế và xã hội tương lai cho đất nước.

ECONOMICS - SOCIETY Số 13.2023 ● Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 381
Nhận thức được vấn đề này, nhóm tác giả tiến hành thực hiện nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn việc làm không đúng chuyên ngành sau khi ra trường của sinh viên khoa Kế toán - Kiểm toán, trường ĐHCNHN với mong muốn chỉ rõ những nguyên nhân chính của việc quyết định lựa chọn việc làm không đúng chuyên ngành của sinh viên khoa Kế toán - Kiểm toán, trường ĐHCNHN. Nhóm tác giả sẽ phân tích sâu các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề nghiên cứu từ đó đưa ra những kiến nghị, giải pháp giúp sinh viên có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này để làm giảm tình trạng quyết định lựa chọn việc làm “Không đúng chuyên ngành” của sinh viên khoa Kế toán - Kiểm toán, trường ĐHCNHN. 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1. Cơ sở lý thuyết Việc làm theo Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994 định nghĩa: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. Việc làm không đúng chuyên ngành: Theo CEFT WORKS năm 2019 làm trái ngành có nghĩa là làm khác công việc với chuyên môn được đào tạo. Mức độ trái ngược chuyên môn phải khá cao, đôi khi là đối lập nhau thì mới được gọi là trái ngành. Lý thuyết về hành vi: Theo thuyết hành động hợp lý (I. Ajzen và Fishbein, 1975): “Hành vi phải được xác định rõ ràng theo bốn khái niệm sau: Hành động, Mục tiêu, Bối cảnh và Thời gian”. Thuyết này cho rằng ý định hành vi: “Động lực chính của hành vi, trong khi hai yếu tố quyết định chính đối với ý định hành vi là thái độ và chuẩn chủ quan của con người. Bằng cách kiểm tra thái độ và chuẩn chủ quan, các nhà nghiên cứu có thể hiểu được một cá nhân thực hiện hành động dự định hay không”. Lý thuyết về ra quyết định: Thuật ngữ lí thuyết ra quyết định được Luce và Raiffa sử dụng lần đầu tiên trong tác phẩm Games and Decision (1957) của họ. Lí thuyết ra quyết định là một tập những mô hình kinh tế có mục đích công thức hoá hành vi lựa chọn của một tác nhân kinh tế giữa nhiều hành động có thể trong một bối cảnh không chắc chắn. 2.2. Tổng quan nghiên cứu Nguyễn Thị Cẩm Nhung và cộng sự nghiên cứu về “Nguyên nhân làm việc trái ngành của sinh viên Việt Nam”, kết quả chỉ ra rằng các nhân tố ảnh hưởng đó là: Tâm lý, sự thiếu kiên trì của sinh viên; Can thiệp quá sâu của xã hội; Định hướng không rõ ràng từ phía gia đình. Trong đó, tâm lý, sự thiếu kiên trì của sinh viên là nhân tố có tác động mạnh nhất. Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Nghĩa và cộng sự, trường Đại học Mở TP.HCM về “Sinh viên với việc làm trái ngành”, kết quả chỉ ra rằng các nhân tố ảnh hưởng đó là: Thu nhập; Khả năng tìm kiếm việc tìm; Sở thích. Phạm Mạnh Hà nghiên cứu “Ảnh hưởng của các nhân tố tới hành vi chọn nghề nghiệp”. Tác giả đã chỉ ra rằng các nhân tố ảnh hưởng là: Hoạt động hướng nghiệp, Gia đình, Bạn bè, Truyền thông. Trong đó yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất là Hoạt động hướng nghiệp trong trường học, tiếp đến là gia đình, bạn bè và cuối cùng là truyền thông. Nghiên cứu “Đánh giá tình trạng việc làm của sinh viên chính quy tốt nghiệp trường Đại học Kinh tế Quốc dân” của Nguyễn Quang Đông, Lê Anh Đức đã chỉ ra rằng việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp bị ảnh hưởng bởi 3 nhân tố: Chất lượng đào tạo của nhà trường, Nhu cầu thị trường lao động, Điều kiện sinh viên sau khi tốt nghiệp. Từ việc nhận rõ ảnh hưởng của các yếu tố này, nhóm tác giả đã đưa ra giải pháp để giải quyết các vấn đề việc làm còn tại. Nghiên cứu “What factors influence a career choice” của Melissa Venable, Đại học Ohio, Mỹ nhận thấy một số rào cản có ảnh hưởng đến việc việc lựa chọn nghề. Nghiên cứu của Melissa đánh giá toàn diện các tài liệu liên quan đến các rào cản mà sinh viên phải đối mặt bao gồm Ước mơ, Văn hóa, Giới tính, Sở thích, Điều kiện kinh tế, Tính cách, Kinh nghiệm, Kỹ năng và tài năng. Từ việc nhận rõ ảnh hưởng của các yếu tố này, tác giả đã đưa ra giải pháp để giải quyết các vấn đề việc làm còn tồn đọng. Nghiên cứu “Asian American’s Career Choices: A path Model to Examine Factor Influencing Their Career Choices” của Mei Tang, Nadya A. Fouad và Philip L. Smith năm 1999 thì các nhân tố ảnh hưởng mà nhóm tác giả đưa ra là: Chất lượng đào tạo, Địa vị kinh tế -xã hội của gia đình. Thông qua kết quả cuộc điều tra, có thể thấy rằng đối với nhóm người Mỹ gốc Á đặc biệt bị ảnh hưởng bởi yếu tố Gia đình. Nhóm tác giả cũng chỉ ra sự tương quan giữa các yếu tố gia đình và văn hóa tới bản thân những người tham gia khảo sát khi lựa chọn việc làm. Nghiên cứu “Career choice of undergrate Engineering Students” của Hagit Mishkin, Niva Wangrowicz, Dov Dozi, Yehudit Judy Dori, 2016 thì các nhân tố ảnh hưởng là: Giới tính, Lựa chọn nghề nghiệp, Thái độ, Định mức, Nhận thức kiểm soát. 2.3. Khoảng trống nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu và tổng quan các nghiên cứu nước ngoài và ở Việt Nam, nhóm tác giả nhận thấy rằng nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn việc làm không đúng chuyên ngành hay còn gọi trái ngành của sinh viên sau khi ra trường là một chủ đề khá phổ biến và được nhiều nhà chuyên gia, tác giả nghiên cứu, xong các kết quả nghiên cứu còn chưa thống nhất và còn nhiều tranh cãi điều này cũng dễ hiểu khi các nghiên cứu sử dụng quy mô mẫu, phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu,… là khác nhau. Chưa có nghiên cứu nào về các nhân tố ảnh hưởng quyết định lựa chọn việc làm không đúng chuyên ngành sau khi ra trường của sinh viên khoa Kế toán - Kiểm toán, trường ĐHCNHN. 2.4. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu tài liệu Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan tới nội dung đề tài nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn việc làm không đúng chuyên ngành sau khi ra trường.

XÃ HỘI Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ● Số 13.2023
382
KINH T
Ế
- Phương pháp điều tra, khảo sát Thảo luận, phân tích để xây dựng mô hình nghiên cứu và phiếu khảo sát. Sau khi xác định được các nhân tố tác động của sinh viên khoa Kế toán - Kiểm toán, tiến hành khảo sát thử và khảo sát chính thức. Nghiên cứu tiến hành thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua phiếu điều tra khảo sát bằng câu hỏi (Phiếu thu thập thông tin). Đối tượng là sinh viên khoa Kế toán - Kiểm toán. Phiếu điều tra sử dụng thang đo của Likert với 5 mức độ thể hiện từ thấp đến cao được sắp xếp từ 1-5 như sau: (1) Hoàn toàn không đồng ý, (2) Không đồng ý, (3) Bình thường, (4) Đồng ý và (5) Hoàn toàn đồng ý. Tổng số phiếu phát ra là 300 phiếu, thu về 208 phiếu, số phiếu hợp lệ để đưa vào xử lý dữ liệu là 200 phiếu. - Phương pháp xử lý dữ liệu Số liệu thu thập được chủ yếu được thống kê và xử lý thông qua phần mềm EXCEL và SPSS 20.0. Nghiên cứu kiểm định độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha, là một phép kiểm định thống kê về mức độ chặt chẽ mà các mục hỏi trong thang đo tương quan với nhau. Sau đó, tiến hành phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) để kiềm tra tính đơn hướng của các thang đo trong nghiên cứu. Cuối cùng, nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy đa biến nhằm đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định lựa chọn việc làm không đúng chuyên ngành sau khi ra trường của sinh viên khoa Kế toán - Kiểm toán, trường ĐHCNHN: Bản thân, Gia đình, Nhà trường, Xã hội, Ngành nghề. 2.5. Mô hình nghiên cứu Nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như hình 1.
Sự cấp thiết của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
Xây dựng mô hình
nghiên cứu
Nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định lượng
Mô hình và thang đo hiệu
chỉnh
Khảo sát điều tra
Thống kê và xử lý dữ liệu
Kiểm định độ tin cậy của
thang đo
Kết luận và kiến nghị
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1. Thực trạng sinh viên khoa Kế toán - Kiểm toán, trường ĐHCNHN sau khi ra trường Căn cứu vào kết quả khảo sát nhóm nghiên cứu đã thu được 200 phiếu khảo sát hợp lệ trong số 300 phiếu khảo sát phát ra trong đó có 66 phiếu sinh viên K12 (30 phiếu khảo sát sinh viên ra trường làm việc đúng ngành, 36 phiếu khảo sát sinh viên ra trường làm việc không đúng chuyên ngành) và 134 phiếu sinh viên K13 (trong đó có 56 phiếu khảo sát sinh viên ra trường làm việc đúng ngành và 78 phiếu khảo sát sinh viên ra trường làm việc không đúng chuyên ngành). Qua đó cho thấy tình hình việc làm không đúng chuyên ngành của sinh viên khóa 12, 13 sau khi ra trường khoa Kế toán - Kiểm toán, trường ĐHCNHN chiếm tỷ lệ khá cao khoảng 50 - 60%. Hình 2. Biểu đồ thể hiện tình hình việc làm của sinh viên khoa Kế toán - Kiểm toán, trường ĐHCNHN sau khi ra trường 3.2. Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu Với số phiếu hợp lệ là 200, nhóm tác giả đã tiến hành xử lý và phân tích thông qua EXCEL và phần mềm SPSS 20.0. Quá trình khảo sát được thực hiện thông qua phiếu khảo sát. Ban đầu, nhóm tác giả sẽ đánh giá xử lý sơ bộ qua thống kê tần số. Bảng 1. Bảng kết quả thống kê mô tả Tiêu chí Tần số Tần suất Giới tính Nam 56 28 Nữ 144 72 Khóa Khóa 12 66 33 Khóa 13 134 67 Chuyên ngành Kế toán 137 68,5 Kiểm toán 63 31,5 Việc làm hiện tại Đúng ngành 86 43 Không đúng chuyên ngành 114 57 Nguồn: Thống kê mẫu nghiên cứu của nhóm tác giả 3.3. Kiểm định độ tin cậy thang đo Kết quả kiểm tra độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha cho thấy tất cả các hệ số Cronbach’s Alpha của các nhóm

ECONOMICS - SOCIETY Số 13.2023 ● Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 383
biến quan sát đều lớn hơn 0,6. Tất cả các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3 trừ QĐ2. Nhìn chung các biến quan sát đều đảm bảo độ tin cậy để thực hiện các phân tích của nghiên cứu. Như vậy, tất cả các biến quan sát sẽ được sử dụng tiếp tục cho sự phân tích nhân tố khám phá EFA. 3.4. Phân tích nhân tố khám phá EFA Kết quả phân tích nhân tố khám phá trên phần mềm SPSS 20.0 đối với các nhóm độc lập được trình bày như bảng 2. Bảng 2. Hệ số KMO và kiểm định Bartlett’s KMO and Bartlett's Test Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy. 0,682 Bartlett's Test of Sphericity Approx. Chi-Square 1088,270 df 136 Sig. 0,000 Nguồn: Kết quả xử lý số liệu SPSS 20.0 Bảng cho thấy hệ số KMO đạt 0,692 lớn hơn 0,5 chứng tỏ các biến quan sát cần thiết để tạo thành một nhân tố, độ phù hợp của mô hình cao và tất cả các biến quan sát đều có mối tương quan với nhau trong tổng thể và phân tích nhân tố thích hợp với dữ liệu nghiên cứu (Sig = 0,000 < 0,05), thỏa mãn các điều kiện của phân tích nhân tố và dữ liệu dùng để phân tích nhân tố là hoàn toàn phù hợp. 3.5. Kết quả tương quan Kết quả kiểm tra cho thấy “Hệ số tương quan” giữa biến phụ thuộc với các nhân tố cao nhất là 0,296 (thấp nhất là 0,007 ). Các biến độc lập đều có tương quan tuyến tính khá mạnh với biến phụ thuộc, các hệ số tương quan đều có ý nghĩa thống kê (p < 0,01). Sơ bộ có thể kết luận rằng các biến độc lập này có thể đưa vào mô hình để giải thích cho biến phụ thuộc. 3.6. Kết quả phân tích hồi quy đa biến Kết quả phân tích hồi quy đa biến đã xác định được các nhân tố độc lập đều tác động đến nhân tố quyết định lựa chọn việc làm không đúng chuyên ngành sau khi ra trường của sinh viên khoa Kế toán - Kiểm toán, trường ĐHCNHN. Bảng 3. Kết quả phân tích hồi quy đa biến Coefficientsa Model
Unstandardized
Coefficients
Standardized
Coefficients
t Sig. Collinearity Statistics B Std. Error Beta Tolerance
VIF 1
(Constant)
13,878
1,275
10,888
0,000
BT 0,126 0,062
0,153 2,019 0,045
0,770 1,299
GĐ 0,056 0,077
0,051 0,729 0,467
0,891 1,122
NT 0,157 0,073
0,152 2,147 0,033
0,874 1,145
XH 0,202 0,094
0,148 2,150 0,033
0,923 1,083
NN 0,287 0,074
0,290 3,892 0,000
0,787 1,271
Biến “GĐ” có giá trị sig kiểm định t bằng 0,467 lớn hơn 0,05, do đó biến này không có ý nghĩa trong mô hình hồi quy, hay nói cách khác, biến này không có sự tác động lên biến phụ thuộc QĐ. Các biến còn lại gồm “BT”, “NT”, “XH” , “NN”đều có sig kiểm định t nhỏ hơn 0,05, do đó các biến này đều có ý nghĩa thống kê, đều tác động lên biến phụ thuộc QĐ. Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình đã xây dựng phù hợp và được ước lượng như sau: QĐ = 0,153BT + 0,152NT + 0,148XH + 0,29NN 4. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Theo kết quả nghiên cứu định lượng và định tính cho thấy có 4 nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn việc làm không đúng chuyên ngành sau khi ra trường của sinh viên khoa Kế toán - Kiểm toán, trường ĐHCNHN được sắp xếp theo thứ tự có ảnh hưởng giảm dần: (1) Ngành nghề, (2) Bản thân, (3) Nhà trường, (4) Xã hội. Vì vậy,việc tự bồi dưỡng kỹ năng, chuyên môn của bản thân trong việc quyết định lựa chọn việc làm cũng là điều vô cùng quan trọng. Qua đó cần sự kết hợp giữa nhà trường, xã hội và ngành nghề và bản thân sinh viên góp phần hình thành, phát triển ý thức cũng như quyết định cho sinh viên và giúp cho sinh viên có khả năng quyết định lựa chọn việc làm đúng chuyên ngành đã học thực tế. Với sự phát triển của xã hội, thì rất nhiều ngành nghề mới xuất hiện cũng như ngày càng phát triển. Việc quan trọng hiện nay là sinh viên cần tự trang bị cho mình chắc kiến thức và kỹ năng để đáp ứng nhu cầu của xã hội nói chung và nhà tuyển dụng nói riêng. Đứng trước những thách thức đó, sinh viên trường ĐHCNHN nói chung và sinh viên khoa Kế toán - Kiểm toán, trường ĐHCNHN nói riêng cần tự giác nhắc nhở và hoàn thiện bản thân luôn có ý thức học tập và tu dưỡng đạo đức. Do đó, thông qua kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp và kiến nghị đối với phía hiệp hội ngành nghề, nhà trường, xã hội cũng như chính bản thân mỗi các nhân sinh viên cụ thể như sau: Đối với sinh viên Thứ nhất, sinh viên cần tích cực học tập rèn luyện tiếp thu kiến thức chuyên môn nghiệp vụ. Ngoài những kiến thức được học tại trường, sinh viên cần phải thường xuyên tham gia các hoạt động xã hội, nghề nghiệp, để nâng cao các kỹ năng cơ bản như: kỹ năng giao tiếp, thuyết trình cùng với một số kỹ năng mềm khác cần có đó là: kỹ năng xử lý tình huống, kỹ năng quản lý, lãnh đạo, giao tiếp tự tin, làm việc theo nhóm Thứ hai, tôn trọng thầy, cô giáo, nghiêm túc trong học tập, trung thực trong thi cử, năng động trong việc tham gia các hoạt động của nhà trường, ham thích tìm tòi, nghiên cứu khoa học, có phương pháp học tập khoa học, hiệu quả… Thứ ba, cần trau dồi, học hỏi thêm các kiến thức, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin và ngoại ngữ. Thứ tư, xác định lại sở thích và thế mạnh của bản thân.

XÃ HỘI Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ● Số 13.2023
384
KINH T
Ế
Đối với nhà trường Thứ nhất, nâng cao chất lượng đào tạo bằng việc triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp (Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy, xây dựng đội ngũ giảng viên, đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, cải tiến công tác quản lý và trường cần mở thêm các ngành đào tạo phù hợp với nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương và nhu cầu xã hội. Thứ hai, gắn kết chặt chẽ giữa Nhà trường với các cơ quan, doanh nghiệp, công ty, cơ sở sản xuất trong các hoạt động tìm hiểu nhu cầu lao động, bổ sung, điều chỉnh nội dung chương trình đào tạo cho phù hợp, phối hợp trong công tác thực tập và hỗ trợ tìm việc làm cho sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường. Thứ ba, xây dựng chương trình trải nghiệm nghề nghiệp: Các chương trình trải nghiệm nghề nghiệp còn có thể được tiến hành thông qua quá trình thực tập giữa kỳ, cuối kỳ. Thứ tư, thống kê về tình hình việc làm của cựu sinh viên, học viên của khoa cũng như toàn trường ĐHCNHN. Đối với xã hội Thứ nhất, huy động nguồn lực xã hội trong và ngoài nước tham gia giáo dục hướng nghiệp, định hướng phân luồng trong giáo dục. Thứ hai, chỉ đạo đẩy mạnh đào tạo nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu xã hội, gắn đào tạo nghề nghiệp với việc làm; chú trọng xã hội hóa công tác dạy nghề, khuyến khích doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề; đổi mới nội dung, chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy nhằm đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp. Thứ ba, tăng cường thông tin, tuyên truyền về các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề nghiệp, hỗ trợ tạo việc làm cho thanh niên. Đối với hiệp hội ngành nghề Thứ nhất, nâng cao năng lực dự báo nhu cầu lao động theo ngành, nghề trong tương lai; xây dựng các buổi toạ đàm. Thứ hai, hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động, đẩy mạnh ứng dụng thông tin trong thu thập, cập nhập và phổ biến thông tin thị trường lao động. Thứ ba, tìm hiểu nguyên nhân của những áp lực và rủi ro của ngành nghề để đề ra các biện pháp khắc phục; giải quyết những vấn đề còn hạn chế cho người đi làm. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Nguyễn Ngọc Hà Trân, 2022. Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến quyết định việc làm trái ngành và trái trình độ, trường Đại học Kinh tế TP. HCM. Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế và Kinh doanh Châu Á, 104-128. [2]. Thanh Hùng, 2022. Thống kê số liệu sinh viên làm việc trái ngành sau khi tốt nghiệp. https://vietnamnet.vn/mot-loat-nganh-dao-tao-co-hon-60-sinh-vien-tot-nghiep-lam-trai-nganh-2063713.html [3]. Lê Quỳnh Anh và cộng sự, 2018. Nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn làm trái ngành nghề của sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân. Đề tài nghiên cứu khoa học, Đại học Kinh tế quốc dân. [4]. Nguyễn Hữu Nghĩa và cộng sự, 2013. Sinh viên với việc làm trái ngành. Đề tài nghiên cứu khoa học trường Đại học Mở TP.HCM [5]. Nguyễn Thị Cẩm Nhung, 2014. Nguyên nhân làm việc trái ngành của sinh viên Việt Nam. [6]. Bùi Hà Phương và cộng sự, 2020. Yếu tố ảnh hưởng đến định hướng nghề nghiệp của sinh viên khoa Thư viện - Thông tin học, Trường Đại học KHXH &NV, ĐHQG TPHCM. Tạp chí Thông tin và tư liệu, số 6, 13-20 [7]. Nguyễn Quang Đông, Lê Anh Đức, 2013. Đánh giá tình trạng việc làm của sinh viên chính quy tốt nghiệp trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Tạp chí Kinh tế và Phát triển số 189, 90-99. [8]. Phạm Mạnh Hà, 2012. Ảnh hưởng các nhân tố tới hành vi chọn nghề nghiệp. Tạp chí Tâm lý học, số 3, 54-58. [9]. Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008. Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS. NXB Hồng Đức. [10]. Nguyễn Đình Thọ, 2011. Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh. NXB Lao động - Xã hội. [11. ] Hagit Mishkin, Niva Wangrowicz, Dov Dozi, Yehudit Judy Dori 2016. Career choice of undergrate Engineering Students. The Procedia-social and Behavioral Sciences, 22-228. [12]. Mei Tang, Nadya A. Fouad, Philip L. Smith, 1999. Asian American’s Career Choices: A path Model to Examine Factor Influencing Their Career Choices. The Journal of Vocational Behavior, 142-157 [13]. Melissa Venable, 2021. What factors influence a career choice. Ohio University, USA.

