
ECONOMICS - SOCIETY Số 13.2023 ● Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 385
NGHIÊN CỨU TƯƠNG QUAN GIỮA NĂNG LỰC CỦA SINH VIÊN KẾ TOÁN - KIỂM TOÁN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI VỚI YÊU CẦU TUYỂN DỤNG CỦA DOANH NGHIỆP
RESEARCH ON THE CORRELATION BETWEEN THE CAPACITY OF ACCOUNTING AND AUDITING STUDENTS OF HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY AND THE RECRUITMENT REQUIREMENTS OF ENTERPRISES Nguyễn Thị Thanh Huyền1, Vũ Thị Lan Anh1, Nguyễn Thị Lan Anh2,* TÓM TẮT Nhu cầu về nhân lực trong lĩnh vực kế toán kiểm toán hiện nay là vô cùng lớ
n,
đặt ra hàng loạt vấn đề cấp bách cần giải quyết, trong đó chính là sự thiếu hụ
t
nguồn lao động chất lượng cao. Các doanh nghiệp đều đặt ra nhiều yêu cầu lớ
n và
gắt gao hơn đối với các ứng viên. Xuất phát từ thực tiễn, nhóm tác giả đã thực hiệ
n
nghiên cứu dựa trên các nguồn dữ liệu nghiên cứu bao gồm dữ liệu sơ cấp và d
ữ
liệu thứ cấp. Nghiên cứu với mục đích cung cấp những thông tin sơ lược về
năng
lực của sinh viên đáp ứng nhu cầu nhà tuyển dụng của sinh viên khoa Kế toán -Kiểm toán, trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. Hy vọng rằng sẽ có thể giúp trườ
ng
Đại học Công nghiệp Hà Nội cùng các doanh nghiệp, các sinh viên trường phầ
n nào
tìm ra được hướng đi mới, để có thể nâng cao được chất lượng dạy và học củ
a nhà
trường. Từ đó góp phần tạo ra được nguồn nhân lực có đủ năng lực để đáp ứ
ng
được các nhu cầu thực tế của doanh nghiệp và xã hội. Từ khóa: Năng lực; kế toán kiểm toán; yêu cầu tuyển dụng. ABSTRACT
The demand for human resources in the field of accounting and auditing
today is extremely large, posing a series of urgent problems that need to be
solved, of which the shortage of high-
quality human resources. Enterprises all
place
more and more demanding requirements on candidates. Stemming from
practice, we carried out research based on research data sources including primary
data and secondary data. We have conducted a survey of more than 200 students
and employers to come up with
the most objective results. We research project
aims to provide brief information about students' ability to meet the employer's
needs of students of the accounting and auditing faculty at Hanoi University of
Industry. Hopefully, it will be able to help H
anoi University of Industry, along with
businesses and students, to find a new direction to improve the quality of teaching
and learning of the school. Thereby contributing to the creation of qualified
human resources to meet the actual needs of businesses and society. Keywords: Capacity; accounting and auditing; recruitment requirements. 1Lớp Kế toán 5 - K14, Khoa Kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
2Khoa kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội *Email: nguyenthilananh35@gmail.com 1. GIỚI THIỆU Đất nước ta đang trong thời kỳ hội nhập, công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, biểu hiện là sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế tri thức, kỹ thuật công nghệ cao và quá trình toàn cầu hóa. Với bối cảnh đổi mới ấy, giáo dục ngày càng có vai trò, nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một thế hệ người Việt Nam năng động, sáng tạo, đáp ứng được các yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Ở phạm vi hẹp hơn là đáp ứng được các yêu cầu về công việc tại các doanh nghiệp, tổ chức. Hiện nay, nhu cầu về nhân lực hoạt động trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán là vô cùng lớn, điều này đặt ra hàng loạt các vấn đề cấp bách cần giải quyết, trong đó chính là sự thiếu hụt nguồn lao động chất lượng cao trong lĩnh vực này. Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, sự biến động của môi trường kinh doanh, sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động. Để có thể tồn tại, yêu cầu đặt ra cho các doanh nghiệp đó là làm sao có được nhiều người tài cống hiến cho doanh nghiệp mình, khi tuyển dụng các doanh nghiệp sẽ đặt ra nhiều yêu cầu lớn và gắt gao hơn đối với các ứng viên. Đứng trước vấn đề trên, nhiều câu hỏi đặt ra khiến các bạn sinh viên không hỏi lo lắng và lúng túng khi bước vào môi trường làm việc thực tế, làm thế nào để bắt kịp xu hướng phát triển đó? Năng lực của sinh viên có đáp ứng được những yêu cầu của nhà tuyển dụng hay không? Câu hỏi đặt ra là sự tương quan giữa năng lực của sinh viên Kế toán - Kiểm toán tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội với yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp sinh là gì? Để từ đó nó có thể đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp và làm việc trong môi trường khoa học công nghệ ngày càng phát triển, hiện đại. Nhận thấy kỹ năng nghề nghiệp kế toán - kiểm toán đối với sinh viên khoa Kế toán - Kiểm toán là vấn đề quan trọng cần được nghiên cứu. Nhóm tác giả đã thực hiện nghiên cứu này nhằm mục đích tìm ra sự tương quan giữa năng lực của sinh viên Kế toán - Kiểm toán, trường Đại học Công nghiệp Hà Nội với yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp nhằm hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về năng lực sinh viên đối với yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Từ đó đánh giá thực trạng năng lực của sinh viên Kế toán - Kiểm toán, trường

XÃ HỘI Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ● Số 13.2023
386
KINH T
Ế
Đại học Công nghiệp Hà Nội với yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Từ kết quả thu được sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện, nâng cao năng lực của sinh viên để đáp ứng được nhu cầu của nhà tuyển dụng. 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Năng lực là một đặc tính có thể đo lường được của một người về kiến thức, kỹ năng, thái độ... cũng như các phẩm chất cần thiết để hoàn thành được nhiệm vụ. Năng lực là yếu tố giúp một cá nhân làm việc hiệu quả hơn so với những người khác, cũng là một trong những thước đo để đánh giá các cá nhân với nhau. Năng lực bao gồm: Các hành vi phù hợp với việc làm, động cơ, kiến thức/kỹ năng và được xác định thông qua kết quả về việc làm và vai trò công việc. Năng lực thường bao gồm các yếu tố: Thái độ, kỹ năng, khả năng, kiến thức. Phương pháp nghiên cứu: Dữ liệu nghiên cứu là các mẩu thông tin được thu thập, theo dõi hoặc được tạo để các nhà nghiên cứu xem xét trong quá trình nghiên cứu.Các nguồn dữ liệu nghiên cứu gồm có dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Để thu thập được những dữ liệu thứ cấp cần thiết cho cuộc nghiên cứu ta tiến hành như sau: Thứ nhất, xác định những thông tin cần thiết cho cuộc nghiên cứu. Những thông tin đó bao gồm: các năng lực cần thiết của sinh viên hiện nay và các yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Thứ hai, tìm nguồn dữ liệu. Những thông tin ở trên được thu thập qua báo, tạp chí, mạng Internet… Thứ ba, tiến hành thu thập các thông tin. Thông qua các nguồn dữ liệu, tiến hành sưu tập những thông tin mong muốn. Những thông tin thu thập được đều phải sắp xếp một cách khoa học, có tính hệ thống và ghi rõ nguồn, tên tác giả, ngày đăng tin… điều này là vô cùng quan trọng bởi nó là sự đảm bảo cho khả năng kiểm tra lại thông tin cũng như tính chân thực của thông tin. Cuối cùng, trên cơ sở thông tin tìm kiếm được nhóm tác giả đánh giá và lọc lấy những thông tin tốt để đưa vào bài viết của mình. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Dùng để thu thập các thông tin liên quan đến cơ sở lý thuyết, kết quả nghiên cứu liên quan đã được công bố, chủ trương chính sách liên và các số liệu thống kê. Các bước nghiên cứu tài liệu thường trải qua ba bước: thu thập tài liệu, phân tích tài liệu và trình bày tóm tắt nội dung các nghiên cứu trước đó. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Phương pháp điều tra trực tiếp bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp. Thực hiện khảo sát, thu thập số liệu, thông tin từ đối tượng điều tra là các sinh viên khoa Kế toán - Kiểm toán trường Đại học Công nghiệp Hà Nội và các nhà tuyển dụng doanh nghiệp để có được thông tin, bức tranh chung về năng lực sinh viên tự đánh giá và năng lực mà nhà tuyển dụng yêu cầu từ sinh viên. Phần I: Các thông tin chung về người được phỏng vấn. Các câu hỏi gồm: Sinh viên khoá mấy, Giới tính… Phần II: Các thông tin về thực trạng với các câu hỏi: Bạn có nhu cầu tìm việc theo đúng chuyên ngành đang học không? Theo bạn những nhân tố nào ảnh hưởng đến quyết định tuyển dụng của doanh nghiệp? Bạn thấy mình có những kiến thức nào đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng của nhà tuyển dụng? Bạn thấy mình có những ký năng nào đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng? Những thái độ, đức tính nào bạn thấy mình đã đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng? Tại công ty, đã và có nhân viên công tác là cựu sinh viên hoặc sinh viên trường ĐHCNHN không? Là nhà tuyển dụng, những năng lực nào ảnh hưởng đến quyết định tuyển dụng của doanh nghiệp? Anh/ chị vui lòng đánh giá thái độ làm việc của sinh viên trường ĐHCNHN với yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp hiện nay? Ý kiến của anh/ chị về mức độ quan trọng của kiến thức sinh viên cần có nhằm đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng?... Phần III: Các giải pháp mong muốn với các câu hỏi: Theo bạn, nhà trường nên có những biện pháp nào để nâng cao chất lượng đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp? Sinh viên cần làm gì để nâng cao hiểu biết về nhu cầu của nhà tuyển dụng?... Phương pháp quan sát: Quan sát là phương pháp tri giác có mục đích, có kế hoạch một sự kiện, hiện tượng, quá trình (hay hành vi cử chỉ của con người) trong những hoàn cảnh tự nhiên khác nhau nhằm thu thập những số liệu, sự kiện cụ thể đặc trưng cho quá trình diễn biến của sự kiện, hiện tượng đó. Ý nghĩa của phương pháp là: Quan sát là phương thức cơ bản để nhận thức sự vật. Quan sát sử dụng một trong hai trường hợp: phát hiện vấn đề nghiên cứu, đặt giả thuyết kiểm chứng giả thuyết. Quan sát đem lại cho người nghiên cứu những tài liệu cụ thể, cảm tính trực quan, song có ý nghĩa khoa học rất lớn, đem lại cho khoa học những giá trị thực sự. Phương pháp khảo sát trực tuyến: Với sự xuất hiện của Internet, các dữ liệu có thể thu thập được bằng các khảo sát qua thư điện tử hay các website. Ưu điểm của phương pháp này là thu thập dữ liệu rất nhanh với số lượng lớn, tiết kiệm chi phí hơn so với phương pháp thu thập truyền thống. 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Nhóm khảo sát đã phát ra 230 phiếu khảo sát và thu lại được 224 phiếu kết quả hợp lệ, 6 phiếu không hợp lệ. Trong đó thu được 164 phiếu khảo sát đối tượng là sinh viên và 60 phiếu khảo sát đối tượng là nhà tuyển dụng. Với đối tượng là sinh viên, khảo sát được áp dụng cho các sinh viên đại học từ khóa 11 đến khóa 14 chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán của trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, trong đó có 30 phiếu đến từ sinh viên khóa 11 chiếm 18,29%, 48 phiếu là sinh viên khóa 12 chiếm 29,26%, 24 phiếu đến từ sinh viên khoá 13 chiếm 14,63% và 62 phiếu đến từ sinh viên khóa 14 chiếm 37,82%. Với đối tượng là doanh nghiệp, nhóm nghiên cứu đã phát phiếu khảo sát cho 60 doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội thuộc các lĩnh vực kinh doanh khác nhau từ sản xuất (25%), thương mại (35%), dịch vụ (33,3%) và các lĩnh vực khác (6,7%). Kết quả nhận được 100% số doanh nghiệp khảo sát đã và đang có nhân viên công tác là cựu sinh viên hoặc sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội.

ECONOMICS - SOCIETY Số 13.2023 ● Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 387
Qua kết quả khảo sát về mức độ tự đánh giá năng lực giữa sinh viên và doanh nghiệp, nhóm nghiên cứu thấy rằng: Về kiến thức: Sinh viên kế toán, kiểm toán tự nhận thấy bản thân tích lũy được kiến thức về chuyên ngành, kỹ năng công nghệ thông tin từ khi học tại trường. Bên cạnh đó, sinh viên cũng tự nhận thấy bản thân còn yếu kém về khả năng sử dụng ngoại ngữ và sự hiểu biết về các phần mềm kế toán còn hạn chế. Doanh nghiệp cho rằng bên cạnh kiến thức chuyên ngành, trình độ tin học thì khả năng ngoại ngữ và hiểu biết về phần mềm kế toán cũng quan trọng khi đi làm. Môi trường làm việc hội nhập đòi hỏi sinh viên cần có khả năng ngoại ngữ để có thể truyền tải thông tin trong quá trình làm việc, sử dụng ngoại ngữ khi giao tiếp bằng lời hoặc bằng email là cực kỳ phổ biến tại các doanh nghiệp hiện nay. Hiểu biết về phần mềm kế toán giúp việc hạch toán và thực hiện các thao tác trên máy vi tính trở lên dễ dàng. Các doanh nghiệp hiện nay phần lớn đều sử dụng các phần mềm kế toán để ghi sổ thay vì ghi sổ theo cách thủ công như trước đây, việc này giúp giảm bớt thời gian ghi sổ cho các kế toán viên đồng thời cũng giúp cho quá trình kiểm tra, rà soát sổ sách dễ dàng, tránh các sai sót. Về kỹ năng: Trong 6 kỹ năng đưa ra, kỹ năng giao tiếp và kỹ năng làm việc nhóm được doanh nghiệp đánh giá là tốt nhất. Sinh viên khoa Kế toán - Kiểm toán cũng tự tin cho rằng bản thân mình đã tích lũy được 2 kỹ năng này. Có thể nói chương trình đào tạo tại trường đã rèn luyện cho sinh viên thông qua các chuẩn đầu ra của học phần. Bên cạnh đó, khả năng xử lý tình huống được cho là kỹ năng yếu nhất chủ yếu là do nguyên nhân sinh viên vừa ra trường chưa có kinh nghiệm đi làm, còn bị thụ động trong công việc. Trong khi đó, doanh nghiệp cho rằng 6 kỹ năng đưa ra đều quan trọng trong quá trình làm việc. Phiếu khảo sát mức độ các kỹ năng của sinh viên các đánh giá từ doanh nghiệp vẫn chưa thực sự cao (chủ yếu là phiếu chọn trung bình). Khi được hỏi về năng lực còn thiếu của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội, số phiếu chọn sinh viên cần nâng cao các kỹ năng chuyên môn và kỹ năng mềm cũng chiếm tỷ lệ cao nhất. Điều này cho thấy được kỹ năng của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội vẫn chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp hiện nay. Về thái độ: Xét trên 7 tiêu chí thái độ nhóm nghiên cứu đưa ra, sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội và nhà tuyển dụng đều cho rằng các kỹ năng mềm là cần thiết và quan trọng khi làm việc tại doanh nghiệp. Hầu hết sinh viên trường Đại học Công mghiệp Hà Nội đều có thái độ tốt khi làm việc như khả năng chịu áp lực công việc, chủ động học hỏi cái mới, tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình, cầu tiến, có định hướng nghề nghiệp, trung thực, siêng năng. Tuy nhiên sinh viên nhận thấy bản thân thiếu sự linh hoạt sáng tạo trong công việc, và phiếu điều tra dành cho doanh nghiệp cũng phản ánh điều này, cho thấy được hầu hết các bạn sinh viên vẫn còn bị thụ động trong quá trình học tập, làm việc, chưa linh hoạt trong quá trình xử lý các tình huống phát sinh bất ngờ. Sinh viên trường cần phải trau dồi thói quen, đức tính, kỹ năng sống tốt nhằm đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Tiêu chí về cầu tiến, có định hướng nghề nghiệp dù sinh viên tự đánh giá cũng chưa được cao song doanh nghiệp lại cho rằng sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội được đánh giá có chí cầu tiến và định hướng nghề nghiệp tương đối ổn. Mặc dù vậy các đánh giá từ doanh nghiệp vẫn chưa thực sự cao (chủ yếu là phiếu chọn trung bình) cho thấy được thái độ của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Hà Nội vẫn chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp hiện nay. Theo các nhà tuyển dụng, những khó khăn chung khi tuyển dụng nhân sự ngành kế toán, kiểm toán là chất lượng nhân sự không đáp ứng được nhu cầu công việc, đặc biệt là nguồn nhân sự mới tốt nghiệp ra trường. Với những đối tượng này, họ thiếu kỹ năng cần thiết cho công việc, chưa có cái nhìn chính xác về nội dung công việc mà họ sẽ làm, chưa nắm chắc được kiến thức cơ bản… Khi tuyển dụng đối tượng này nhà tuyển dụng chấp nhận đào tạo lại để phù hợp với tình hình công việc thực tế tại doanh nghiệp. Nhận thấy được thực trạng sinh viên chưa đáp ứng được nhu cầu công việc thực tế, các trường đã có những hành động cụ thể và thiết thực để thay đổi như đổi mới phương pháp đào tạo; mời giảng viên thỉnh giảng là những người có thâm niên làm công tác kế toán thực tế tại các doanh nghiệp; trang bị mô hình phòng kế toán mô phỏng theo đúng thực tế; bổ sung những môn học cần thiết như phần mềm kế toán, thuế, kế toán excel…; tích cực mời các doanh nghiệp ngành kế toán, kiểm toán tổ chức hội thảo chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm bổ trợ cho công việc thực tế; tổ chức các câu lạc bộ kế toán, tổ chức thực tập cuối khóa cho sinh viên…. Bên cạnh những nỗ lực và hành động thiết thực trên, công tác đào tạo tại trường vì những lý do chủ quan lẫn khách quan cũng còn nhiều bất cập. Ngoài ra thái độ học tập của chính bản thân sinh viên cũng là nguyên nhân dẫn đến hiện trạng này. 4. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Từ kết quả khảo sát và phân tích nghiên cứu tương quan giữa năng lực của sinh viên Kế toán - Kiểm toán, trường Đại học Công nghiệp Hà Nội với yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp, nhóm nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp hằm nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu nhà tuyển dụng của sinh viên: Thứ nhất, đối với sinh viên ngành Kế toán - Kiểm toán, trong bối cảnh thị trường lao động trong ngành cạnh tranh cao, cùng với những cơ hội và thách thức khi Việt Nam mở cửa hội nhập, việc định hướng và lập kế hoạch cho bản thân là rất quan trọng. Cần xác định mục tiêu nghề nghiệp cho bản thân. Tự đánh giá khả năng của bản thân, từ đó xác định mục tiêu ngắn hạn và dài hạn trong công việc mà sinh viên mong muốn, phù hợp với sở thích, niềm đam mê và năng lực cá nhân. Tìm hiểu rõ ngành nghề kế toán, cụ thể, sinh viên có thể tìm kiếm sự hướng dẫn từ những người có kinh

XÃ HỘI Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ● Số 13.2023
388
KINH T
Ế
nghiệm trong nghề và trao đổi với họ về lựa chọn nghề nghiệp của mình. Điều này giúp sinh viên tự tin hơn trong định hướng nghề nghiệp của mình. Tham gia các buổi hội thảo về nghề nghiệp kế toán, làm các công việc bán thời gian hay thực tập trong lĩnh vực kế toán cũng là một cách thức tốt để sinh viên nâng cao kiến thức, tích lũy kinh nghiệm cũng như khẳng định xem mình có phù hợp với định hướng nghề nghiệp hay không. Chuẩn bị hành trang và theo đuổi mục tiêu. Sinh viên không ngừng trau dồi kiến thức, kỹ năng đáp ứng yêu cầu ngành nghề. Chủ động tìm hiểu và tiếp cận các cơ hội nghề nghiệp, nghiêm túc và nỗ lực thực hiện đúng những gì đã đặt ra, hướng tới mục tiêu và thành công trong tương lai. Phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên. Nâng cao trình độ ngoại ngữ và tin học. Lập kế hoạch nghề nghiệp: Lập kế hoạch nghề nghiệp chính là phương thức tốt cho phép mỗi sinh viên nhận ra con đường tối ưu nhất để đạt được mục tiêu nghề nghiệp. Đối với sinh viên ngành kế toán, trong bối cảnh thị trường lao động trong ngành cạnh tranh cao, cùng với những cơ hội và thách thức khi Việt Nam mở cửa hội nhập, việc định hướng và lập kế hoạch cho bản thân là rất quan trọng. Thứ hai, nhóm giải pháp đối với Nhà trường, đó là chương trình đào tạo cần có tính phù hợp, các môn học phải phù hợp với ngành nghề đào tạo và cung cấp các kiến thức về nghiệp vụ mà doanh nghiệp cần. Cần thường xuyên nghiên cứu, cập nhật nhu cầu và yêu cầu này để điều chỉnh chương trình đào tạo: thời lượng, cấu trúc, khối lượng khối kiến thức. Bên cạnh đó, Nhà trường cần có các giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo, đổi mới các hình thức đào tạo, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho từng cá nhân học tập theo kế hoạch riêng, đẩy mạnh việc đi tham quan thực tế và thực hành nghiệp vụ chuyên môn tại doanh nghiệp, tăng cường thời gian thực tập tại doanh nghiệp, có thể bố trí một số môn học chuyên ngành yêu cầu sinh viên thực tập tại doanh nghiệp trong thời gian một tháng để viết báo cáo so sánh giữa lý thuyết và thực tế tại doanh nghiệp. Song song đó, Nhà trường cần tăng cường sự kết nối giữa nhà trường với doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng chuẩn đầu ra, tạo điều kiện cho sinh viên có nhiều cơ hội để giao lưu, làm việc với các doanh nghiệp để họ có dịp tiếp xúc với các nhà tuyển dụng học hỏi kinh nghiệm, kiến thức nghề nghiệp, xác định mục tiêu phấn đấu rõ ràng hơn. Nhà trường cũng cần thường xuyên tổ chức câu lạc bộ tuổi trẻ sáng tạo, chú trọng giáo dục cho sinh viên những kỹ năng mềm về giao tiếp, xử lý tình huống, ngoại ngữ, tin học, khuyến khích sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học…, tổ chức các buổi hướng nghiệp cho sinh viên khoa Kế toán - Kiểm toán, tạo cơ hội cho sinh viên tiếp cận với thực tế, cho các sinh viên thực hành áp dụng những kiến thức đã học vào trong thực tế, nâng cao kĩ năng, kinh nghiệm, kiến thức. Nhà trường cần thúc đẩy các nhóm nghiên cứu khoa học về những lĩnh vực kế toán, kiểm toán nêu trên, các sản phẩm cần được phát hành và phổ biến để làm nền tảng cho những nghiên cứu tiếp theo. Chương trình đào tạo của nhà trường về lĩnh vực kế toán cần được đổi mới theo hướng trang bị những kiến thức và kỹ năng cho học viên vừa phù hợp với thực trạng Việt Nam và chuẩn bị cho những bước tiền đề hội nhập với kế toán quốc tế. Thứ ba, nhóm giải pháp đối với Nhà tuyển dụng, cần thường xuyên tham vấn, kết nối với Nhà trường trong khâu tuyển dụng và đào tạo, phối hợp với Nhà trường xây dựng các chương trình đào tạo đảm bảo vừa phù hợp với thực tiễn nhu cầu việc làm vừa phù hợp với các qui định và chương trình khung của các bộ ngành quản lý công tác giáo dục và đào tạo như: Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Nhà tuyển dụng, các doanh nghiệp cũng cần tích cực hỗ trợ cho học sinh, sinh viên tiếp cận được với người thật, công việc thật tại đơn vị. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]. Dunbar Kirsty, Gregory Laing, Monte Wynder, 2016. A Content Analysis of Accounting Job Advertisements: Skill Requirements for Graduates. Journal of Business Education & Scholarship of Teaching, 10, 1, 58-72. [2]. Marie H. Kavanagh, Lyndal Dreman, 2007. What skills and attributes does an accounting graduate need? Evidence from student perceptions and employer expectations. [3]. Alex Radermacher, Gursimran Walia, Dean Knudson, 2014. Investigating the skill gap between accounting graduates and industry expectations. [4]. Nguyen Huu Duc, Nguyen Huu Thanh Trung, Nghiem Xuan Huy, Mai Thi Quynh Lan, Tran Thi Bich Lieu, Ha Quang Thuy, Nguyen Loc, 2018. Towards the Higher Education 4.0 - Characteristics and Criteria. VNU Journal of Science: Policy and Management Studies 34(4). [5]. Mai Thị Quỳnh Lan, 2018. Skill Gap from Employers, Evaluation: The Case of Graduates from Vietnam National University. VNU Journal of Science: Education Research, 34, 2. [6]. Lại Thị Thu Thủy, Hoàng Thị Bích Ngọc, Nguyễn Thị Hồng Lam, Phạm Đức Hiếu, 2016. Về Công nghiệp 4.0: Khảo sát của chuyên gia và hàm ý cho đào tạo chuyên ngành kế toán kiểm toán. [7]. Ngô Thị Thanh Thủy, Nguyễn Thị Thúy, Trần Thị Vân Anh, Hoàng Minh Tâm, Nguyễn Thị Thanh Loan, 2020. Nghiên cứu những kỹ năng cần thiết cho sinh viên Kế toán- Kiểm toán khi ra trường. Tập san Sinh viên nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. [8]. Lê Phương Lan, Chu Thị Mai Phương, Nguyễn Thị Khánh Trinh, 2016. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng có việc làm của sinh viên Đại học Ngoại thương sau khi tốt nghiệp. Tạp chí Kinh tế đối ngoại, 84. [9]. Phan Thị Ngọc Khuyên và Nguyễn Huy Hoàng, 2016. Hiện trạng việc làm và các nhân tố kỹ năng cần thiết cho việc làm sau tốt nghiệp của sinh viên ngành Kinh doanh quốc tế Trường Đại học Cần Thơ. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 43c: 109-119. [10]. Nguyễn Thị Thúy Hằng, Phạm Trọng Quân, Nguyễn Lê Nguyệt Minh, Phan Cẩm Vân, 2021. Nghiên cứu khả năng đáp ứng yêu cầu nhà tuyển dụng của sinh viên trường Đại học Giao thông vận tải. Đề tài Sinh viên nghiên cứu khoa học, Trường Đại học Giao thông vận tải. [11]. Mai Thị Quỳnh Lan, Nghiêm Xuân Huy, Nguyễn Thái Bá, Vũ Hải Phương, 2020. Các năng lực quan trọng và thiết yếu nhất đối với sinh viên tốt nghiệp Đại học Quốc gia Hà Nội từ góc nhìn của nhà tuyển dụng. Tạp chí nghiên cứu giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội, 01, 24-38.

