
XÃ HỘI Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ● Số 13.2023
398
KINH T
Ế
NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH HỌC CAO HỌC CỦA SINH VIÊN KHỐI NGÀNH KINH TẾ NGHIÊN CỨU TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
RESEARCH OF FACTORS AFFECTING THE INTENTION OF STUDENTS TO GRADUATE GRADUATE OF ECONOMY RESEARCH AT HANOI UNIVERSITY OF INDUSTRY Phạm Thị Thu Hiền1,*, Lý Phương Huyền1, Cao Thị Huyền Trang2 TÓM TẮT Thời gian gần đây tuyển sinh cao học và nghiên cứu sinh của trường Đại họ
c
Công nghiệp Hà Nội có khuynh hướng giảm. Bởi vậy, việc nhận diệ
n nguyên nhân,
tìm cách gia tăng ý định học cao học của sinh viên ngay sau khi tốt nghiệp đại học- nguồn tuyển sinh cao học - quan trọng là một việc làm cần thiết. Trên cơ sở khả
o
sát 332 sinh viên từ khóa 13 đến khóa 17 thuộc khối ngành kinh tế của trường Đạ
i
học Công nghiệp Hà Nội, kết quả xử lý dữ liệu điều tra trên phần mề
m SPSS 20 cho
thấy, thực sự có 4 yếu tố ảnh hưởng đến ý định học cao học của sinh viên kinh tế,đó là: Chuẩn chủ quan, Thái độ đối với học cao học, Danh tiếng của Trường và S
ự
kiểm soát hành vi được cảm nhận. Theo đó, 4 hàm ý quản trị được rút ra từ kết quảnghiên cứu. Những hàm ý này có thể được áp dụng để gia tăng ý định và tiế
p theo
là quyết định học cao học của sinh viên kinh tế sau khi tốt nghiệp đại học tại Trườ
ng
Đại học Công nghiệp Hà Nội Từ khóa: HaUI; Hà Nội; sinh viên kinh tế; Cronbach’Alpha; EFA; hồi quy đa biến.ABSTRACT Recently, the enrollment of
graduate students and graduate students of
Hanoi University of Industry tends to decrease. Therefore, identifying the causes
and finding ways to increase the students' intention to go to graduate school right
after graduating from university - an important source of graduate enrollment -
is
a necessary job. Based on a survey of 332 students from Course 13 to Course 17 in
the economic sector of Hanoi University of Industry, the results of data processing
on the SPSS 20 software show that there are actually 4
factors: influence the
intention to study graduate school of economics students,
are: Subjective Norms,
Attitudes towards Graduate School, School Reputation, and Perceived Behavioral
Control.
Accordingly, four managerial implications are drawn from the research
results. These implications can be applied to increase the intention and
subsequent decision to study a graduate degree of economics students after
graduating from Hanoi University of Industry. Keywords: HaUI; Hanoi; e
conomics students; Cronbach'Alpha; EFA;
multivariate regression. Lớp Kế toán 12 - K15, Khoa Kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nộ
i
2Trung tâm Đào tạo Sau đại học, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội *Email: phamhien.nangthu@gmail.com 1. GIỚI THIỆU Dưới sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu thì việc đào tạo nhân lực có chuyên môn cao là điều không thể thiếu. Trên thực tế nhu cầu học cao học ở các bạn trẻ ngày càng cao và việc họ muốn học lên bậc cao hơn có thể vì nhiều lý do, như: để có thêm kiến thức, để dễ tìm kiếm việc làm, để có bằng cấp cao hơn hay vì yêu cầu của gia đình, giới thiệu của bạn bè... Nhưng một vấn đề lớn đang tồn tại đó là việc chọn lựa nơi học và học cao học như thế nào. Nhu cầu lớn nhưng nhiều sinh viên vẫn còn rất mơ hồ về việc học cao học dẫn tới nhiều tranh cãi về việc có nên học tiếp cao học sau khi học đại học không. Và vẫn còn rất ít những nghiên cứu nói về vấn đề này. Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả sẽ tìm hiểu đến ý định học tiếp cao học của sinh viên trường Đại học Công nghiệp thông qua nội dung những tác động ảnh hưởng đến ý định học cao học của sinh viên để đánh giá sự hiểu biết, nhận thức hay nhu cầu của một bộ phận sinh viên trong một trường đại học từ đó có cơ sở tìm hiểu nhiều hơn trên phạm vi các trường đại học khác. 2. NỘI DUNG NGIÊN CỨU 2.1. Cơ sở lý thuyết Ý định là yếu tố được sử dụng để đánh giá khả năng thực hiện hành vi của cá nhân. Theo Ajzen, ý định hành vi là là một dấu hiệu cho thấy sự sẵn sàng của một cá nhân để thực hiện một hành vi nhất định. Nó được coi là tiền đề của việc thực hiện hành vi. Ý định học cao học là ý muốn và sự sẵn lòng của một cá nhân sẽ vào học bậc cao học nhằm đạt được học vị thạc sĩ. Theo Wikipedia (2022), học vị thạc sĩ trong tiếng Anh được gọi là Master’degree. Đây là một học vị trên bậc cử nhân, dưới bậc tiến sĩ. Lý thuyết hành vi hợp lý (TRA) được xây dựng bởi Ajzen và Fishbein (1975), lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) được phát triển bởi Ajzen (1991), lý thuyết của Taylor và Todd (1995) là lý thuyết nền tảng cho vấn đề nghiên cứu.

ECONOMICS - SOCIETY Số 13.2023 ● Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 399
Theo đó, đã có một số nghiên cứu tiêu biểu về ý định học, ý định chọn trường của các tác giả ngoài nước và trong nước cũng có đề cập đến nhiều khía cạnh, ảnh hưởng trực tiếp đến ý định học cao học của sinh viên như: Nghiên cứu của Chong và cộng sự (2014) đã chỉ ra ba yếu tố là Đặc điểm cá nhân; Cá nhân có ảnh hưởng quan trọng và Hỗ trợ tài chính có ảnh hưởng đến ý định của sinh viên tiếp tục theo học chương trình cao hơn tại Malaysia. Nghiên cứu của Ng S.F và cộng sự (2011) về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định học lên tiến sĩ tại Malaysia. Theo đó, ý định học lên bậc tiến sĩ của sinh viên chịu ảnh hưởng của sáu yếu tố là Cơ hội nghề nghiệp; Đặc điểm cá nhân; Công việc liên quan đến kiến thức; Hỗ trợ tài chính; Chương trình đào tạo và Hỗ trợ xã hội. Koe W và Saring S (2010) cho rằng có sáu yếu tố ảnh hưởng đến ý định theo học tại trường đại học công lập của sinh viên nước ngoài tại Malaysia. Sáu yếu tố đó là Vị trí của trường; Học phí thấp; Danh tiếng; Chương trình đào tạo; Cơ sở vật chất và Hình ảnh đất nước. Nghiên cứu của Jager J.W.D và Soontiens W. (2009) về các yếu tố Hình ảnh và Sự kỳ vọng vào chương trình của các trường đại học ở Nam Phi và Malaysia có hay không có ảnh hưởng đến việc chọn trường đại học tại 02 quốc gia này. Theo đó, có ba yếu tố là Việc quản lý danh tiếng của trường và quảng bá hình ảnh, Hỗ trợ học phí và Chất lượng dịch vụ có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc lựa chọn học lên đại học ở Nam Phi và Malaysia. Nghiên cứu của Haur L (2006) về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định học lên cao hơn của học sinh Malaysia. Kết quả chỉ ra các yếu tố: Học phí; Chương trình đào tạo; Cơ sở vật chất của trường; Chất lượng chương trình học; Thông tin về trường và Ý kiến của những người ảnh hưởng đều có ảnh hưởng đến ý định học lên. Nghiên cứu của Hồ Trúc Vi và Phan Trọng Nhân (2018) về ý định học cao học của sinh viên IUH. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có bốn yếu tố ảnh hưởng đến ý định học cao học là Thái độ dẫn đến hành vi; Chuẩn chủ quan; Nhận thức kiểm soát hành vi và Trung thành thương hiệu. Nghiên cứu của Phan Thị Thanh Thủy và Nguyễn Thị Minh Hòa (2017) về quyết định chọn chương trình theo học có yếu tố nước ngoài ở Đại học Kinh tế, Đại học Huế. Theo đó có bảy yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn chương trình học của sinh viên là Nhóm tham khảo; Nhóm nhân tố phù hợp với sở thích và năng lực cá nhân; Nhóm nhân tố về danh tiếng của chương trình đào tạo; Nhóm nhân tố lợi ích về học tập; Nhóm nhân tố về cơ hội nghề nghiệp; Nhóm nhân tố về chi phí học tập và Nhóm nhân tố về công tác truyền thông. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Chi (2017) về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chọn trường Đại học Kinh tế TP.HCM của học sinh trung học phổ thông. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố: Môi trường của trường đại học Kinh tế TP. HCM; Ảnh hưởng của gia đình; Thông tin; Tự tin vào bản thân; Động cơ cá nhân và Được tôn trọng có ảnh hưởng đến ý định chọn học trường này. Căn cứ vào số lần xuất hiện của từng yếu tố trong các nghiên cứu trên đây kết hợp với kết quả nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng sơ bộ, năm yếu tố sau đây (có chỉnh tên gọi) là: Thái độ đối với học cao học; Chuẩn chủ quan; Sự kiểm soát hành vi được cảm nhận; Danh tiếng của trường và Chương trình đào tạo được cân nhắc để đưa vào mô hình nghiên cứu chính thức. 2.2. Giả thuyết và mô hình nghiên cứu 2.2.1. Giả thuyết nghiên cứu Nhóm tác giả đã tìm hiểu và dựa trên năm giả thuyết dưới đây để làm rõ ý định muốn học tiếp cao học của sinh viên khối ngành kinh tế Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội: + Giả thuyết H1: Thái độ đối với việc học cao học có tác động đồng biến (+) đến ý định học cao học. + Giả thuyết H2: Chuẩn chủ quan có tác động đồng biến (+) đến ý định học cao học. + Giả thuyết H3: Sự kiểm soát hành vi được cảm nhận có tác động đồng biến (+) đến ý định học cao học. + Giả thuyết H4: Danh tiếng trường đại học có tác động đồng biến (+) đến ý định học cao học. + Giả thuyết H5: Chương trình đào tạo có tác động đồng biến (+) đến ý định học cao học. 2.2.2. Mô hình nghiên cứu Mô hình nghiên cứu nhóm tác giả đề xuất như thể hiện trong hình 1. Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất 2.3. Biến quan sát của thang đo Có 35 biến quan sát của 7 thang đo, sau nghiên cứu định tịnh có 4 biến quan sát bị loại. 31 biến còn lại, nguồn trích dẫn và cách mã hóa được thể hiện trong bảng 1. Bảng 1. Mã hóa thang đo và biến quan sát của thang đo I TĐ Thái độ đối với học cao học (Giner-Sorolla, 1999) (Chaniotakis, 2010) (de Matos, 2007) (Limayem, 2000) 01 TĐ1 Tôi đã hướng tới việc học cao học từ trước Ginner và Sorolla (1999), Chaniotakis và cộng sự (2010), de Matos và cộng sự (2007), Limayem và cộng sự (2000) 02 TĐ2 Học cao học là xứng đáng với số tiền mà tôi phải chi trả 03 TĐ3 Học cao học sẽ mang lại nhiều lợi ích cho bản thân 04 TĐ4 Học cao học là một lựa chọn đúng đắn cho bản thân

XÃ HỘI Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ● Số 13.2023
400
KINH T
Ế
II CCQ Chuẩn chủ quan (Ajzen, 1991) (Taylor, 1995) 01 CCQ1 Lựa chọn học cao học sau khi được nhiều người tư vấn, ủng hộ Ajzen (1991), Taylor và Todd (1995) 02 CCQ2 Thấy nhiều người chọn học cao học nên tôi cũng chọn 04 CCQ3 Bạn bè khuyên nên học cao học 05 CCQ4 Thầy, cô khuyến khích học cao học III HV Sự kiểm soát hành vi được cảm nhận (Ajzen, 1991) (Taylor, 1995) 01 HV1 Cảm thấy tự tin vào khả năng khi học cao học Ajzen (1991), Taylor và Todd (1995) 02 HV2 Có nhiều điều kiện thuận lợi khi học cao học 03 HV3 Có đầy đủ thông tin cụ thể và chi tiết về việc học cao học IV DT Danh tiếng của trường (Kitsaward, (2013)) 01 DT1 Trường có danh tiếng tốt về học thuật Kitsaward (2013) 02 DT2 Trường có uy tín tốt về chất lượng đội ngũ giảng viên 03 DT3 Trường có uy tín tốt về chất lượng đội ngũ sinh viên DT5 Trường có môi trường đào tạo quốc tế vì có cả sinh viên và giảng viên người nước ngoài DT6 Trường có môi trường học tập và nghiên cứu tốt DT7 Trường có nhiều chương trình trao đổi sinh viên quốc tế DT8 Trường tư vấn và hỗ trợ nguời học nhiệt tình V YD Ý định học cao học (Ajzen, 1991) (Taylor, 1995) (Limayem, 2000) 01 YD1 Tôi đã có kế hoạch học cao học Ajzen (1991), Taylor và Todd (1995), Limayem và cộng sự (2000) 02 YD2 Học cao học nằm trong ý định của tôi 03 YD3 Tôi sẽ học cao học trong thời gian sớm nhất có thể 04 YD4 Tôi thật sự mong đợi được học cao học (Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả) Tổng số biến quan sát được đưa vào nghiên cứu định lượng chính thức là 19 của bốn thang đo độc lập và bốn biến của một thang đo phụ thuộc 2.4. Kết quả nghiên cứu 2.4.1. Xác định kích thước và cơ cấu mẫu Qua quá trình khảo sát được thực hiện trên Google Form và số mẫu khảo sát thu thập được là 398 phiếu khảo sát. Trong đó, có 66 khảo sát không hợp lệ (đối tương khảo sát không thuộc khối ngành kinh tế và không có ý định học cao học) và 332 phiếu khảo sát hợp lệ. Số khảo sát hợp lệ được phân tích mô tả theo tỷ lệ (đã loại phiếu khảo sát không hợp lệ). Bảng 2. phân tích số lượng đối tượng quan sát Biến Thang đo Số mẫu Tỷ lệ Ngành
Kế toán - Kiểm toán 255 76,8% Phân tích dữ liệu kinh doanh 16 4,8% Tài chính - Ngân hàng 29 8,7% Quản trị kinh doanh 32 9,6% Khóa Khóa 17 52 15,6% Khóa 16 63 18,9% Khóa 15 141 42,4% Khóa 14 48 14,4% Khóa 13 28 8,4% (Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp) Kết quả phân tích thống kê mô tả cho thấy tỷ lệ sinh viên thuộc chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán có tỷ trọng cao nhất, chiếm tỷ trọng 76,8% trên tổng số 332 phiếu khảo sát hợp lệ. Đối tượng sinh viên khóa K15 có tỷ trọng cao nhất (chiếm 42,4%). Điều này thể hiện giới trẻ thuộc khối ngành kinh tế và có ý định học Cao học sau khi tốt nghiệp nhiều nhất. 2.4.2. Kiểm định Cronbach’s Alpha Kiểm định Cronbach’s Alpha với mục đích là loại bỏ các thang đo và biến quan sát không đạt tiêu chuẩn. Cụ thể: (1) Thang đo bị loại khỏi mô hình nghiên cứu khi có hệ số Cronbach’s Alpha < 0,6; và (2) Biến quan sát bị loại khỏi thang đo khi có hệ số tương quan biến tổng < 0,3. Bảng 3. Giá trị Cronbach’s Alpha Item-Total Statistics Cronbach’s Alpha Indicator
Scale Mean if Item Deleted
Scale Variance if Item Deleted Corrected Item-Total Correlation
Cronbach’s Alpha if Item Deleted Thái độ đối với học cao học 0,795 TD1 11,24 2,922 0,597 0,748 TD2 11,09 2,925 0,692 0,705 TD3 10,86 2,796 0,560 0,774 TD4 11,00 3,115 0,594 0,751 Chuẩn chủ quan 0,801 CCQ1 10,82 3,915 0,512 0,797 CCQ2 11,04 2,917 0,699 0,708 CCQ3 10,97 3,174 0,717 0,698 CCQ4 10,82 3,768 0,547 0,782 S
ự kiểm
soát hành vi được cảm nhận 0,818 HV1 7,73 2,232 0,548 0,864 HV2 7,45 1,577 0,739 0,679 HV3 7,52 1,586 0,754 0,661

ECONOMICS - SOCIETY Số 13.2023 ● Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 401
Danh tiếng của trường 0,799 DT1 26,28 9,985 0,436 0,792 DT2 26,13 9,336 0,622 0,757 DT3 25,85 9,838 0,618 0,759 DT4 26,07 10,071 0,556 0,769 DT5 25,86 10,043 0,663 0,755 DT6 25,61 11,254 0,299 0,806 DT7 25,79 10,964 0,446 0,786 DT8 25,82 10,735 0,476 0,781 (Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp) Cronbach’s Alpha của các thang đo đều lớn hơn 0,7, các hệ số tương quan biến tổng của các biến quan sát trong thang đo đều lớn hơn 0,3. Vì vậy, tất cả các biến quan sát đều được chấp nhận và sẽ được sử dụng trong phân tích nhân tố tiếp theo. 2.4.3. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) Mục đích của phân tích này là nhằm loại những biến quan sát có hệ số tải nhân tố (factor loading) nhỏ hơn 0,5 và kiểm tra độ lớn của phương sai trích. Bảng 4. KMO and Bartlett's Test KMO and Bartlett's Test Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy. 0,833 Bartlett's Test of Sphericity Approx. Chi-Square 3128,051 df 171 Sig. 0,000 (Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả) + Hệ số KMO bằng 0,833 > 0,5 nên phân tích nhân tố là phù hợp với dữ liệu thực tế. + Kiểm định Bartlett có giá trị sig = 0,000 < 0,05 chứng tỏ các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể. Bảng 5. Ma trận xoay các nhân tố Rotated Component Matrixa Component 1 2 3 4 HV3 0,832 TĐ3 0,805 HV2 0,786 CCQ2 0,796 CCQ3 0,768 CCQ1 0,606 DT2 0,814 DT4 0,803 DT7 0,685 DT8 0,620 Extraction Method: Principal Component Analysis. Rotation Method: Varimax with Kaiser Normalization. a. Rotation converged in 11 iterations. (Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả ) Qua kết quả phân tích nhân tố khám phá của nghiên cứu cho thấy: Hệ số KMO = 0,833, Kiểm định Bartlett có gia trị sig < 0,05, như vậy phân tích nhân tố là thích hợp và các biến có mối tương quan với nhau trong tổng thể.Với cỡ mẫu là 332, để đảm bảo mức ý nghĩa thiết thực, hệ số tải nhân tố được chọn là 0,5. Như vậy sau khi thực hiện phân tích nhân tố khám phá, nghiên cứu có được mô hình nghiên cứu mới với 1 biến phụ thuộc và 4 biến độc lập. Trong đó, có 8 biến xấu TD4, CCQ4, TĐ1, TĐ2, DT1, DT3, DT5, DT6 cần xem xét loại bỏ do tải lên nhiều nhân tố. Mô hình hiệu chỉnh sau phân tich EFA như hình 2. Hình 2. Mô hình nghiên cứu sau khi phân tích EFA (Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp) 2.4.4. Phân tích tương quan Bảng 6. Bảng giá trị Correlations kiểm định hệ số tương quan Pearson Correlations YD CCQ HV TD DT YD Pearson Correlation 1 0,624**
0,404**
0,246**
-0,115* Sig.(2-tailed) 0,000 0,000 0,000 0,037 N 332 332 332 332 332 CCQ Pearson Correlation 0,624** 1 0,374**
0,299**
-0,043 Sig. (2-tailed) 0,000 0,000 0,000 0,431 N 332 332 332 332 332 HV Pearson Correlation 0,404** 0,374**
1 0,638**
0,106 Sig. (2-tailed) 0,000 0,000 0,000 0,053 N 332 332 332 332 332 TD Pearson Correlation 0,246** 0,299**
0,638**
1 0,019 Sig.(2-tailed) 0,000 0,000 0,000 0,732 N 332 332 332 332 332 DT Pearson Correlation -0,115* -0,043 0,106 0,019 1 Sig. (2-tailed) 0,037 0,431 0,053 0,732 N 332 332 332 332 332 **. Correlation is significant at the 0,01 level (2-tailed). *. Correlation is significant at the 0,05 level (2-tailed). (Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp) Kiểm định hệ số tương quan Pearson dùng để kiểm tra mối liên hệ tuyến tính giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc. Hệ số significant của kiểm định Pearson. Giả thuyết H0: hệ số tương quan bằng 0. Do đó nếu Sig. này bé hơn 5% ta

XÃ HỘI Tập san SINH VIÊN NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ● Số 13.2023
402
KINH T
Ế
có thể kết luận được là hai biến có tương quan với nhau. Hệ số tương quan càng lớn tương quan càng chặt. nếu Sig. này lớn hơn 5% thì hai biến không có tương quan với nhau. Vì một trong những điều kiện cần để phân tích hồi quy là biến độc lập phải có tương quan với biến phụ thuộc, nên nếu ở bước phân tích tương quan này biến độc lập không có tương quan với biến phụ thuộc thì ta loại biến độc lập này ra khỏi phân tích hồi quy. Bảng 6 cho kết quả hệ số tương quan giữa các biến, kết quả cho thấy biến các biến độc lập DT, CCQ, HV, TD đều có tương quan với biến phụ thuộc là YD. Kiểm tra mối tương quan chặt chẽ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc để loại bớt các nhân tố có thể dẫn đến hiện tượng đa cộng tuyến trước khi chạy mô hình hồi quy, thông qua kết quả phân tích tương quan Pearson cho thấy một số biến độc lập có sự tương quan với nhau. 2.4.5. Phân tích hồi quy đa biến Bảng 7. Bảng giá trị Model Summaryb Model Summaryb Model R R Square Adjusted R Square Std. Error of the Estimate Durbin-Watson 1 0,663a 0,440 0,433 0,53721 1,929 a. Predictors: (Constant), CCQ, DT, TD, HV b. Dependent Variable: YD (Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp) Bảng 8. Bảng giá trị ANOVAa ANOVAa Model Sum of Squares df Mean Square F Sig. 1 Regression 74,205 4 18,551 64,283 0,000b Residual 94,369 327 0,289 Total 168,574 331 a. Dependent Variable: YD b. Predictors: (Constant), CCQ, DT, TD, HV (Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp) Bảng 9. Bảng giá trị Coefficientsa Coefficientsa Model Unstandardized Coefficients
Standardized
Coefficients
t Sig. Collinearity Statistics B Std. Error Beta Tolerance
VIF 1 (Constant)
1,378 0,255 5,397 0,000 TD -0,077 0,049 -0,085 -1,572 0,117 0,587 1,705 DT -0,128 0,046 -0,118 -2,820 0,005 0,977 1,023 HV 0,256 0,054 0,267 4,771 0,000 0,545 1,835 CCQ 0,600 0,050 0,544 12,107 0,000 0,848 1,180 a. Dependent Variable: YD (Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp) Theo bảng 7,8 ta thấy cả ba biến TD, DT, HV, CCQ có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 10%. Ngoài ra, hệ số VIF của tất cả các biến đều nhỏ hơn 10 chứng tỏ mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến. Đồng thời giá trị thống kê d (DurbinWatson) bằng 1,929 (d > du = 1,841), kết luận không có tự tương quan bậc 1. Như vậy kết quả cho thấy TS, DT, HV. CCQ thỏa mãn tất cả các giả định của mô hình hồi quy, do đó có thể giải thích sự ảnh hưởng của các nhân tố này đến ý định áp dụng kế toán trách nhiệm của doanh nghiệp. Chỉ số R2 hiệu chỉnh bằng 0,433 chỉ ra rằng các nhân tố TD, DT, HV, CCQ ảnh hưởng và giải thích được 43,3% ý định học cao học của sinh viên khối ngành kinh tế tại trường Đại học Công nghiệp Hà Nội Mô hình hồi quy phù hợp với mức ý nghĩa 11,7% có dạng như sau: YDHCH = 1,378 - 0,77 TD - 0,128 DT + 0,256 HV + 0,600 CCQ 3. THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ ĐỀ XUẤT NÂNG CAO Ý ĐỊNH HỌC TIẾP CAO HỌC CỦA SINH VIÊN KHỐI NGÀNH KINH TẾ - NGHIÊN CỨU TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI 3.1. Thảo luận chung về kết quả nghiên cứu Từ mô hình đề xuất 5 giả thuyết nghiên cứu của tác giả dựa trên các lý thuyết, các mô hình nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước (Ajzen, 1991; Ajzen và Fishbein, 1975). Kết hợp hai phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính, tác giả xây dựng bảng thang đo 5 nhân tố tác động đến ý định học Cao học của sinh viên khối ngành kinh tế Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội. Sau quá trình đi từ thiết kế bảng câu hỏi, tiến hành khảo sát chính thức 398 khảo sát và lọc những mẫu không hợp lệ còn lại 332 khảo sát, sử dụng dữ liệu khảo sát thu về được để phân tích. Kết quả được đánh giá thông qua phân tích độ tin cậy Cronbach’ Alpha, nhân tố khám phá EFA và hồi quy tuyến tính được xử lý trên phần mềm SPSS 20. Qua quá trình nghiên cứu từng giai đoạn, tác giả đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định học Cao học của sinh viên khối ngành kinh tế Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội với 4 nhân tố: (1) Thái độ đối với học Cao học; (2) Chuẩn chủ quan; (3) Nhận thức kiểm soát hành vi; (4) Danh tiếng của trường. Kết quả có 2 nhân tố ảnh hưởng thuận chiều là “Chuẩn chủ quan” và “Nhận thức kiểm soát hành vi” và 2 nhân tố ảnh hưởng ngược chiều là “Thái độ đối với học cao học” và “Danh tiếng trường”. Sự ảnh hưởng của 2 nhân tố thuận chiều này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Hồ Trúc Vi và Phan Trọng Nhân (2018), Nguyễn Thị Kim Chi (2017), Phạm Xuân Giang và Nguyễn Thị Phương Thảo (2019) Chong và cộng sự (2014), Koe W & Saring S (2010) và Haur L (2006). Tuy nhiên, do thời gian và địa điểm nghiên cứu, số biến trong mô hình nghiên cứu, kích thước mẫu khác nhau nên mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố giữa các nghiên cứu là không thể giống nhau.

