TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN SỐ 10 (2) 2025
89
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận sử dng dịch vụ
thẩm mỹ của nữ giới tại thành phố Hồ Chí Minh
Phạm Thị Diễm, Trần Thị Hòa, Hồ Nhật Tiến
Trường Đại học Văn Hiến
Email: diempt@vhu.edu.vn
Ngày nhận bài:18/03/2024; Ngày sửa bài:11/05/2024; Ngày duyệt đăng: 22/05/2024
Tóm tắt
Làm đẹp bằng thẩm mỹ ngày càng được quan tâm rộng rãi đang trở thành xu hướng
trong xã hội hiện nay. Nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến ý
định chấp nhận sử dụng dịch vụ thẩm mỹ của nữ giới tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên
cứu sử dụng phương pháp định nh phỏng vấn chuyên gia định ợng như phân tích
nhân tố khám phá (EFA); hồi quy tuyến tính để xác định các nhân tố ảnh ởng đến ý định
chấp nhận sử dng dịch vụ thẩm mỹ. Dữ liệu được thu thập trực tiếp và gián tiếp từ 247
phụ nữ ở nhiều độ tuổi khác nhau trên địa bàn nghiên cứu bằng phương phương pháp lấy
mẫu thuận tiện. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 6 nhân tảnh hưởng đến Ý định, bao gồm:
Thái độ đối với thẩm mỹ; Không hài lòng về thể; Lo sợ bị đánh giá tiêu cực về ngoại
hình; So sánh ngoại hình với người khác; Ảnh ng từ truyền thông mạng xã hội;
Phí dịch vụ. Trong đó, yếu tố Ảnh ởng từ truyền thông và mạng xã hội có tác động mạnh
nhất đến Ý định chp nhận sử dụng dịch vụ thẩm mvới β= 0,296. Ngoài ra, khác với các
nghiên cứu trước đây về thẩm mỹ, nghiên cứu y đã cho thấy yếu tPhí dịch vụ ảnh
hưởng khá mạnh đến ý định chấp nhận thẩm m. Kết quả nghiên cứu đã cung cấp thông tin
hữu ích cho các nhà quản trtrong ngành thẩm mỹ hiu hơn vý định chấp nhận sử dụng
dịch vụ thẩm mỹ của phụ nữ.
Từ khóa: chấp nhận dịch vụ thẩm mỹ, phí dch vụ thẩm mỹ, dịch vthẩm mỹ, truyền
thông
Factors that Affect to the Females’ Intention of Accepting Aesthetic Service
in Ho Chi Minh City
Pham Thi Diem, Tran Thi Hoa, Ho Nhat Tien
Van Hien University
Correspondence: diempt@vhu.edu.vn
Received: 18/03/2024; Revised:11/05/2024; Accepted: 22/05/2024
Abstract
Beautification through aesthetics is a widespread interest and is becoming a trend in
modern society. This study aims to explore the factors that affect to the intention of Ho Chi
Minh City women in accepting the cosmetic services. Based on survey data collected
directly or indirectly from 247 women with various ages by convenicent sampling method,
Qualitative research, Quantitative research, Exploratory factor analysis (EFA) and
Regression were utilized to explore the influential factors. The findings reveal six factors,
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN SỐ 10 (2) 2025
90
namely attitude toward cosmetic surgery, body dissatisfaction, social appearance anxiety,
social comparison of appearance, influence of social media, and service fees. In which,
social media has the strongest impact on the intention to accept cosmetic services with β =
0.296. In addition, unlike the previous aesthetics studies, this study has shown that service-
fee is strongly influential to the intention to accept aesthetic services. The results have
provided the useful information for managers in the beauty industry who want to understand
better the factors that affect to the females’ intention of accepting aesthetic services.
Keywords: aesthetic service, acceptance of aesthetic services, aesthetic service fees,
social media
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh hội hiện nay, việc
một cá nhân thực hiện thẩm mỹ không còn
quá xa lạ. Làm đẹp bằng thẩm m ngày
càng được quan tâm rộng rãi và đang tr
thành xu hướng. Theo ISAPS (2022), trong
m 2022, toàn cầu n 33.700.000 ca
thẩm mỹ, trong đó hơn 14.900.000 ca phẫu
thuật thẩm m18.800.000 thẩm mnội
khoa, tăng 11,2% so với năm 2021. Cùng
với xu hướng chung của thế giới, phụ nữ
Việt Nam ngày càng quan tâm hơn tới nét
đẹp hình thể, cth các dịch vụ thm mỹ.
Thực tế cho thấy, hiện nay Việt Nam có hơn
20 bệnh viện 320 phòng khám phẫu thuật
thẩm mbên cạnh hàng ngàn schăm
sóc sắc đẹp. Thành phố Hồ Chí Minh hơn
250.000 người thẩm mmi năm khoảng
100.000 người chọn phẫu thuật thm mỹ để
cải thiện vẻ ngoài (Trần Đăng Khoa và cộng
sự, 2023), được xem trung tâm thẩm
mỹ lớn và sôi động cả nước, đồng thời tính
cạnh tranh của thị trường dịch vụ thẩm mỹ
cũng tăng cao đòi hỏi c doanh nghiệp
trong lĩnh vực này cần nắm bắt các nhân tố
thúc đy hành vi của khác hàng để pt triển
các chiến lược kinh doanh hiệu quả.
Nhiều công bố khoa học trước đây đã
chứng minh có rất nhiều yếu tchủ quan và
khách quan đóng vai trò quan trọng ảnh
hưởng đến ý định chấp nhận dịch v thẩm
mỹ. Những nhân thu nhập, đtuổi,
giáo dục tình trạng hôn nhân khác nhau
sẽ có thái đ, quan điểm cũng như góc nhìn
tích cực hoặc tiêu cực về thẩm m(Nguyen
cộng sự, 2020). Nguyen cộng sự
(2020) đã chra 3 yếu tthúc đẩy ý định
phẫu thuật thẩm mỹ của giới trẻ Việt Nam,
đó tiêu chuẩn nhân, thái độ đối với
phẫu thuật thẩm m nhận thức kiểm soát
nh vi. Trong đó, tiêu chuẩn cá nn yếu
tố nh ng nhiều nhất đến ý định sử dụng
dịch vụ thẩm mỹ của giới trẻ. Trong khi đó,
Kim (2022) đã thực hiện khảo sát 651 ph
nữ Hàn Quốc trong độ tuổi từ 20 - 40 tuổi
đã từng phẫu thuật thẩm mchỉ ra 05 yếu
tố ảnh hưởng đến quyết định đồng ý phẫu
thuật thẩm mỹ của một cá nhân. Các yếu tố
y bao gồm: nhận thức về tầm quan trọng
của ởng cái đẹp; hiện thực hóa tưởng
m đẹp; kiểm soát thể; kinh nghiệm
phẫu thuật thẩm mỹ; và so sánh ngoại hình
ngoài hội. Nghiên cứu cũng cho thy
việc một cá nhân từng phẫu thuật thẩm mỹ
sẽ xu hướng tiếp tục phẫu thuật thẩm mỹ,
thsửa một b phận khác hoặc sa nhiều
lần một bộ phận.
n cạnh những yếu t chủ quan, ý
định chấp nhận dịch vụ thẩm mca nữ giới
còn bị ảnh ởng đáng kể bởi những yếu tố
khách quan của môi trưng xung quanh. Họ
chấp nhận dịch vụ thẩm m bởi họ
thường xuyên so sánh ngoại hình bản thân
với những người xung quanh (Kim, 2022)
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN SỐ 10 (2) 2025
91
lo sợ khi nghĩ rằng người khác đang bàn
n vngoại hình của mình (Magee, 2010).
Magee (2010) cho rằng những người phnữ
càng nhận ra tầm quan trọng giữa ngoại
hình địa vị của bản thân; lòng ttrọng
càng lớn thì họ càng sợ bị nhận xét tiêu cực
về ngoại nh. Những người tự đánh giá
hoặc bị đánh giá ngoại hình không ưa nhìn
thì sxu hướng phẫu thut thẩm mỹ cao
hơn. Ngoài ra, Arab cộng s(2019) chỉ
ra ý định chấp nhận dịch vụ thm m của n
giới còn b c động bởi các phương tiện
truyền thông khi hphải tiếp nhận liên tục
một thông tin lặp đi lặp lại có liên quan đến
thẩm mỹ. Kết quả y dựa trên dữ liệu khảo
t 375 người quốc tịch không
quốc tịch Ả Rập Saudi. Qua đó, nghiên cứu
cho rằng nhng người thường xuyên xem
các thông tin liên quan đến phẫu thuật thẩm
mỹ trên các nền tảng mạng hội, đồng thời
nh nhiu thời gian đ lướt web xu
hướng gia tăng ý định phẫu thuật thm m.
Tương tự, Minh Tho (2022) cũng chỉ ra
các phương tiện truyền thông có ảnh hưởng
trực tiếp gián tiếp đến thái đtích cực
đối với phẫu thuật thẩm mỹ, dựa trên dữ liệu
khảo sát 222 phụ nữ sống tại thành phố Hồ
Chí Minh.
Mặc dù, một số nghiên cứu tại Việt
Nam như Nguyen cộng sự (2020)
Minh và Tho (2022) đã đưa ra một syếu
tố ảnh hưởng đến ý định chấp nhận dịch v
thẩm m của giới trẻ tại Việt Nam;
chứng minh truyền thông mạng hội
ảnh hưởng đến thái đtích cực đối vi phẫu
thuật thẩm mỹ của ngiới tại Thành phố Hồ
Chí Minh; tuy nhiên, còn nhiều yếu tố quan
trọng khác như lo sợ bđánh giá tiêu cực về
ngoại hình, ảnh hưởng của c phương tiện
truyền thông thái đ tích cực đối với
phẫu thuật thẩm mtừ truyền thông mạng
hội sẽ ảnh hưởng thế o đến ý định sử
dụng dịch vthẩm mchưa được đề cập
trong nghiên cu này. Quan trọng hơn là cả
hai nghiên cứu này đều chưa đề cập đến yếu
tố chi phí dịch vụ có ảnh hưởng đến ý định
chấp nhận sdụng dịch v thẩm mhay
không? Trong nh Marketing 7P của
McCarthy (1960), giá cả là yếu tống đầu
được người tiêu dùng rất quan tâm sau chất
lượng. Vì vậy, để có thể tạo ra nhu cu cho
khách hàng, ng như thu hút khách hàng
thì giá c yếu tố không thbỏ qua. Xuất
phát tnhu cầu tìm hiểu nhng vấn đ
y, bài nghiên cứu được thực hiện nhằm
c định các yếu tố ảnh hưởng đánh giá
mức độ tác động của các yếu ty đến việc
chấp nhận dịch v thẩm mỹ của ph nữ
Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó, cung cấp
thông tin giúp các doanh nghiệp thẩm m
ngày càng nâng cao chất ợng dịch v
thẩm mđể khách hàng hài lòng với kết quả
thẩm mỹ áp dụng các chương trình tiếp
thị phù hợp nhằm thu hút khách hàng.
2. Cơ sở lý luận
2.1. Khái niệm và lý thuyết nghiên cứu
Dịch vụ thẩm mỹ những dịch vụ thực
hiện các hoạt động xăm, phun, thêu trên da,
không sdụng thuốc y tê dng tiêm (Điều
37 Nghị định 109/2016/NĐ-CP) (Chính
phủ, 2016). Như vy, có thể hiểu kinh
doanh dịch vụ thẩm m kinh doanh
chuyên về c hoạt động chăm sóc, trang
điểm sắc đẹp ngoại hình, không s dụng
thuốc tê dạng tiêm để phục vụ cho nam giới
nữ giới; ngoài ra dịch v thm mcòn có
chức năng vấn các vn đliên quan đến
chăm sóc sắc đẹp.
Thuyết hành động hợp lý (Theory of
Reasoned Action) (Ajzen, 1991) cho rằng
nh động của con người phthuộc vào ý
định và thái độ của họ về nhng ý kiến của
hội xung quanh. Ý định là động lực cũng
như kế hoạch ca họ để thực hiện một hành
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN SỐ 10 (2) 2025
92
động c th, trong khi thái đcảm nhận
của họ về hành động đó. Ngoài ra, thuyết
y cũng đề cập đến vai trò quan trọng của
các yếu thội trong việc hình thành ý
định thái đca con người như chuyên
gia, bạn gia đình. Qua đó, chúng ta
hiểu được khi một nhân đưa ra ý định
chấp nhận dịch vụ thẩm mỹ, thì ý định chấp
nhận này phụ thuộc vào ý định thái đ
của họ. Trong đó, ý định động lực để họ
lựa chọn thẩm mthái đcảm nhận
của họ về thẩm mỹ. Vì vậy, khi cảm nhận
của một người đối với thẩm mỹ ch cực
thì hsẽ động lực đthm mỹ, cuối
cùng là có thể đưa ra ý định chấp nhận dịch
vụ thẩm mỹ.
Ngoài ra, Thuyết so sánh hội (Social
Comparison Theory) (Festinger, 1954) cho
rằng con người sẽ tự đánh giá, so sánh kh
ng, ý kiến, giá trị, thái độ, địa vị, tài sản,
ngoại hình, của bản thân với một người
hoặc một nhóm người khác. Có hai trường
hợp so sánh hội chính so sánh khách
quan so sánh chquan. So sánh khách
quan nghĩa con người so sánh bn thân
với một tiêu chuẩn chung của hội hoặc
tiêu chuẩn phổ biến, trong khi đó so sánh
chủ quan con người thường so sánh bản
thân với một người nào đó dựa trên những
đặc điểm tương đồng. Thường hai
khuynh hướng so sánh là so nh trên và so
nh dưới. So sánh trên nghĩa là một người
tự so sánh bản thân với một người khác mà
họ cho người đó hơn họ về một khía cạnh
hoặc nhiều khía cạnh o đó. Ngược lại,
so nh dưới việc một người tso sánh
bản thân với một người kháchtự cho
rằng người đó m hơn họ. Cũng chính
điều này, phụ nữ gần như luôn cảm thấy bản
thân không thể đạt được vẻ đẹp tiêu chuẩn
chung của xã hội, kết quả họ không hài
lòng v ngoại hình (Strahan cộng sự,
2006). Dittmar Howard (2004) cũng đã
chứng minh được việc so nh xã hội tác
dụng dự báo rất chính xác đến sự không hài
lòng vthể. thế, thhiểu bắt nguồn
từ sự so sánh bản thân với những người
ngoài xã hội làm cho ph nữ cảm thấy tiêu
cực vngoại hình của bản thân bắt đầu
có ý định thẩm mỹ để hoàn thiện hơn. Điển
hình là phụ nữ so sánh bản thân với bạn bè,
người thân, đồng nghiệp thậm chí so
nh với một người qua đường xa lạ.
2.2. Giả thuyết nghiên cứu
Thái độ đối với thẩm mỹ
Thái đ sđánh giá ch cực hay tiêu
cực đối với một đối ợng, con người hay
một tình huống cụ th (Ajzen Fishbein,
1980). Nguyen cộng s (2020) chỉ ra
rằng thái độ đối với phu thuật thẩm m
ảnh hưởng đến quyết định phu thuật thẩm
mỹ của một người. Thái đtích cực của một
người đối với thẩm mđóng vai trò yếu
tố thúc đẩy hlựa chọn một phương pháp
thẩm mtrong tương lai (Sarwer cộng
sự, 2005). Ngược lại, đi với những người
thái độ tiêu cực hay thù địch vi thẩm mỹ
thì skhông thẩm mỹ, hslên án những
người thẩm mỹ cho rằng thực hiện thẩm
mỹ vi phạm về mặt đo đức, ởng và
không công bằng với những người không
thẩm mỹ (Dittmar và Howard, 2004).
Giả thuyết H1: Thái đ đối với thẩm
mỹ tác động đến Ý định chấp nhận sử
dụng dịch vụ thẩm mỹ.
Không hài lòng về cơ thể của bản thân
Việc không hài lòng v thể được
xem động lực sống để nhiều người thay
đổi bản thân từ việc giảm cân và rèn luyện
thân thể, vậy, một cuộc phẫu thuật thẩm
mỹ có thể mang lại sự i tạo cơ thể n h
mong muốn (Sarwer cộng sự, 2005).
Magee (2010) chra rằng Khi một người
không hài lòng về thể, họ sẽ sinh ra nỗi
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN HIẾN SỐ 10 (2) 2025
93
sợ bị đánh gtu cực về ngoại hình; từ đó
nâng cao Ý định chấp nhận phẫu thuật thẩm
mỹ”. Tuy nhiên, việc chấp nhận phẫu thuật
thẩm mcủa phnữ xuất phát tnguyên
nhân không hài lòng vngoại hình không
mạnh mbằng đến từ nguyên nhân muốn
đầu cho ngoại nh. Ngoài ra, Markey và
Markey (2009) cho rằng yếu tkhông hài
lòng về thể một yếu tố trung gian, bị
c động bởi các yếu tnhư thtrạng, thông
điệp từ truyền thông chịu sự trêu chọc,
cũng làm cho phụ nữ có mong mun và tìm
đến các phương pháp thẩm mỹ. Kết qu
nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nhng phnữ
không hài lòng với thể sẽ quan tâm đến
thẩm mnhiều hơn so với những phụ nữ hài
lòng với cơ thể họ sẵn có.
Giả thuyết H2: Không hài lòng v
thể của bản thân c động đến Ý định
chấp nhận sử dụng dịch vụ thm mỹ.
Lo sợ bị đánh giá tiêu cực về ngoại hình
Những nhân mắc chứng lo sợ bị
đánh giá tiêu cực về ngoại hình sẽ có nỗi sợ
rằng bản thân hsẽ bị đánh giá tiêu cực
ngoại hình (Hart cộng sự, 2008). Lo sợ
bị đánh giá tu cực về ngoại hình vai trò
như một yếu tdự đoán kh ng chấp nhận
phẫu thuật thẩm mliên quan trực tiếp
đến sự không hài lòng về thể (Magee,
2010). Magee cho thấy những người
mức độ hài lòng vbản thân càng thấp thì
nỗi sợ bị đánh giá tiêu cực sẽ càng cao.
Minh Tho (2022) khẳng định lo sợ b
đánh giá tiêu cực về ngoại hình ảnh
hưởng trực tiếp đến ý định chp nhận sử
dụng dịch vthẩm mỹ của phụ nữ; cụ thể
những phụ n nhận được những nhận xét
tiêu cực về ngoại hình stỷ lệ người
ý định chấp nhận phẫu thuật thẩm mcao
hơn.
Giả thuyết H3: Lo sbị đánh giá tiêu
cực về ngoại hình tác động đến Ý định
chấp nhận sử dụng dịch vụ thm mỹ.
So sánh ngoi hình của bản thân với
người khác
Phn thường có khuynh hướng so
sánh bn thân vi nhng người có vngoài
phù hp vi tiêu chun sắc đẹp của n hóa
ca quc gia hsinh sng. PhnHàn
Quc Trung Quốc xu hưng so sánh
ngoi hình ca bn thân vi những người có
ngoại hình ưa nhìn (Kim Lee, 2018).
Ngưc li, phnNht Bn so nh bng
cách xem bản thânđim tham chiếu. Nhìn
chung, cba nền văn a Hàn Quc -
Trung Quc - Nht Bn vn luôn tn ti các
suy nghĩ tự so nh ngoi hình bn thân vi
ngưi khác. Cth, phn có xu hướng so
sánh bn thân vi những người ni tiếng
ngưi mẫu, các tiêu chí đưa ra đ so sánh
như cân nặng, chiu cao, tl cơ thể (Strahan
cng s, 2006). Nguyen (2020) khi
nghiên cu đối ng gii trVit Nam
cũng có sự giải thích tương đồng vvic so
sánh ngoại hình, khi con ngưi xem bn thân
như mt chth, hsch động so nh bn
thân vi nh mẫu tưởng ca họ. Qua đó,
nghiên cu cho thy tiêu chun nhân
yếu t ảnh hưởng nhiu nht đến ý định s
dng dch vthm mca khách ng.
Giả thuyết H4: So sánh ngoại hình của
bản thân với người khác ảnh hưởng đến
Ý định chấp nhn sử dụng dịch vthm mỹ.
nh hưởng ttruyn thông và mng
hi
Truyền thông hội hiện đại một
trong những phương tiện làm nổi bật lên
m cũng như sthích của nhiều người,
được cho là có ảnh hưởng đến ý định s
dụng sản phẩm/ dịch vụ của khách hàng,
trong đó dịch vthẩm mỹ. Tại Việt Nam,
khoảng 126 triệu người dùng ba mạng
hội: Facebook, Tiktok Instagram (Kemp,
2023). thế, không khó đnhận ra rằng