Ôn tập 9 câu hỏi luận nhà nước và pháp luật
Câu 1: Shình thành, bản chất, giá trị xã hội, các thuộc tính bản của pháp
luật.
1. Sự hình thành:
- Theo các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác- Lênin, trong hội Cộng sản nguyên
thủy chưa có pháp luật nhưng như mọi xã hội, xã hội cộng sản nguyên thủy cũng cần đến
trật tự, ổn định để tồn tại và phát triển, từ đó xuất hiện những quy tắc xử schung. Đây
chính những quy tắc xã hội bao gồm tập quán các tín điều tôn giáo. Tập quán xuất
hiện một cách tự phát, dần dần được cộng đồng thị tộc, bộ lạc chấp nhận và trở thành quy
tắc xử sự chung mang tính chất đạo đức và xã hội.
Quy phạm xã hội trong xã hội cộng sản nguyên thủy có đặc điểm:
+ Thể hiện ý chí phù hợp với lợi ích của tòan th thị tộc, bộ lạc.
+ Chúng điều chỉnh cách xử sự của những con người liên kết với nhau theo
tinh thần hợp tác, giúp đỡ.
+ Chúng được thực hiện một cách tự nguyện theo thói quen của từng thành
viên thị tộc, bộ lạc.
Tuy nhiên, vẫn sự cưỡng chế trong trường hợp chúng bị vi phạm nhưng sự
cưỡng chế không phải do một bộ máy đặc biệt của xã hội nguyên thủy thực hiện mà do
toàn thtộc tự tổ chức.
- Các quy phạm này phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội nguyên thủy- hi
chưa tư hữu và giai cấp. Khi chế độ tư hữu ra đời, xã hội phân chia giai cấp lợi ích
đối lập nhau. Các tập quán không còn phù hp vì tập quán thể hiện ý chí chung và bo
vệ lợi ích của mọi thành viên trong cng đồng thị tộc, bộ lạc. Tầng lớp có của luôn hướng
hành vi của mọi người phù hp với lợi ích của riêng họ. Lợi dụng địa vị xã hội, họ giữ
các tập quán lợi, vận dụng, biến đổi nội dung các tập quán sao cho phù hợp với ý chí
của giai cấp thống trị nhằm mục đích củng cố và bảo vệ một trật tự xã hội mà hmong
muốn. Bằng sự thừa nhận của nhà nước, các quy tắc tập quán đã bbiến đổi trở thành
những quy tắc xử sự chung. Con đường thứ nhất hình thành pháp luật.
- Mặt khác, những quan hệ xã hội đa dạng và phức tạp mới phát sinh trong quá
trình phát triển của xã hội đặt ra yêu cầu phải những quy tắc mới để điều chỉnh. Tổ
chức quyền lực mới ra đời( nhà nước) đã tiến hành hoạt động xây dựng các quy tắc xử s
mới trong nhiều lĩnh vực. Hoạt động này lúc đầu còn đơn giản, nhiều quyết định của tòa
án quan hành chính được coi là những quy tắc xử sự chung tính chất bắt buộc.
Hệ thống pháp luật được hình thành dần dần cùng với việc thiết lập và hòan thiện bộ máy
nhà nước. Nhà nước ban hành nhiều văn bản nhằm củng cố chế độ tư hữu quy định
đặc quyền của giai cấp thống trị trong xã hội. Con đường thứ 2 hình thành pháp luật.
Xuất phát từ nguồn gốc trên, pháp luật không thể được mọi thành viên trong
hội giai cấp thực hiện một cách tự giác. Vì vậy, nhà nước một bộ máy chuyên
cưỡng chế, đảm bảo cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh.
Quy tắc xử sự mới ra đời- quy tắc pháp luật- quy tắc xử sự chung thể hiện ý chí
của giai cấp thống trị do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và được đảm bảo thực hiện bằng
cưỡng chế nhà nước.
2. Bản chất.
- Bản chất của pháp luật thể hiện trước hết ở tính giai cấp của nó. Biểu hiện:
+ Pháp luật phản ánh ý chí nhà nước của giai cấp thống trị trong xã hội,
nội dung ý chí đó được quy định bởi điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp thống trị.
Do nắm trong tay quyền lực nnước, giai cấp thống trđã thông qua nhà nước để thể
hiện ý chí của giai cấp mình một cách tập trung, thống nhất thành ý chí của nnước. ý
chí của giai cấp thống trị được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền ban hành.
+ Tính giai cấp còn thể hiện mục đích điều chỉnh c quan hệ xã hội.
Trong xã hội có giai cấp, sự điều chỉnh pháp luật trước hết nhằm mục đích điều chỉnh các
quan hgiai cấp. Pháp luật chính là yếu tố điều chỉnh về mặt giai cấp các quan hệ xã hi
nhằm định hướng cho các quan hệ xã hội phát triển theo một mục tiêu, một trật tự phù
hợp với ý chí của giai cấp thống trị, bảo vệ và củng cố địa vị của giai cấp thống trị. Pháp
luật là công cụ thể hiện sự thống trị giai cấp.
-Bản chất giai cấp của pháp luật luôn là vấn đhàng đầu khi nghiên cứu pháp luật
của một kiểu nhà nước. Sự biểu hiện tính giai cấp trong các kiểu pháp luật khác nhau
không giống nhau.
+ Pháp luật chủ nô là pháp luật của giai cấp chủ nô, do giai cấp này đặt
ra trước hết vì lợi ích của nó. Pháp luật chủ công khai quy định quyền lực vô hạn của
chủ nô và tình trạng vô quyền của giai cấp nô lệ.
+ Tính giai cấp của pháp luật sản thì không d nhận thấy. Trong
pháp luật tư sản nhiều quy định vquyền tự do, dân chủ, làm nhiu người lm tưởng
pháp luật tư sản là phápluật chung của hội, không mang tính giai cấp, do nhân dân xây
dựng và vì li ích của nhân dân. Thực chất, pháp luật tư sản trước hết thể hiện ý chí của
giai cấp tư sản và mục đích trước hết phục vụ lợi ích giai cấp tư sản.
+ Trong những điều kiện lịch sử nhất định, rất thể lợi ích của giai
cấp thống trị phù hợp với lợi ích chung của giai cấp khác, của cả xã hội. dụ: trong các
cuộc kháng chiến chống ngoại m, lợi ích của giai cấp thống trị địa chủ phong kiến và
triều đình pháp lut về bản phù hp với lợi ích của tòan dân tộc. Pháp luật những
thời điểm lịch sử nhất định, người ta thể tìm thấy nhiều quy định phù hợp với lợi ích
chính đáng của mọi tầng lớp trong xã hội.
3. Giá trxã hội của pháp luật.
-Bên cạnh tính giai cấp không thcoi nhẹ giá trị xã hội to lớn của pháp luật.
thnói rằng các quy phạm pháp luật là kết qucủa sự" chọn lọc tự nhiên" trong hội.
Trong cuộc sống hàng ngày, nhân tchức quan hệ với nhau rất đa dạng được
thhiện trong hành vi xsự khác nhau. Xã hội thông qua nhà nước ghi nhận những cách
xsự hợp khách quan, được đa số đông chấp nhận, phù hợp với lợi ích của số đông
trong xã hôi. Cách xsnày được nhà nước thể chế hóa thành những quy phm pháp
luật.
Nói cách khác, những hành vi, cách xử sự phổ biến, trải qua bao biến cố xã hội, bỏ
qua vượt lên những yếu tố ngẫu nhiên, được khái quát hóa thành những quy phạm
pháp luật mang tính ổn định và chun mực. Dưới góc độ này quy phm pháp luật mang
tính quy luật vì phản ánh được chân khách quan, th coi quy phạm pháp luật là
quy luật khách quan của xã hội, là chân khách quan. Khía cạnh này đồng thời thể hiện
tính xã hội của pháp luật.
- Mặt khác, giá trị xã hội của pháp luật còn thhiện chỗ, một quy phạm pháp
luật vừa thước đo của hành vi con người, vừa là công ckiểm nghiệm các quá trình,
các hiện tượng xã hội, là công cụ để nhận thức xã hội và điều chỉnh các quá trình xã hội.
* Ngày nay người ta còn thường nói đến tính dân tộc, tính mở... của pháp luật bên
cạnh tính giai cấp, tính xã hội và giá trxã hội của pháp luật.
+ Pháp lut mỗi nước muốn được người dân chấp nhận là của mình thì
nó phải được xây dựng trên nền tảng dân tộc, thấm nhuần tính dân tộc. Nó phản ánh được
những phong tục, tập quán, đặc điểm lịch sử, điều kiện địa lý, trình độ văn minh văn hóa
của dân tộc.
+ cũng phải là hthống pháp luật mở, sẵn sàng tiếp nhận những
thành tựu của nền văn minh văn hóa pháp lý của nhân loại để làm giàu cho mình.
4. Các thuộc tính cơ bản ca pháp luật.
- Thuộc tính của sự vật, hiện tượng: là những tính chất, dấu hiệu riêng của s
vật, hiện tượng.
- Thuộc tính của pháp luật: là những tính chất, dấu hiệu riêng biệt, đặc trưng của
pháp luật.
- Pháp luật có 3 thuộc tính:
a) Tính quy phạm phổ biến: Quy phạm là tế bào của pháp luật.
- Cũng như các quy phạm pháp luật, các quy phạm đạo đức, tập quán, tín điều tôn
giáo, các quy định tính điều lệ đều chứa những quy tắc xử sự chung. Nhưng khác
với quy phạm trên, quy phạm pháp luật tính quy phạm phổ biến. Tính quy phạm phổ
biến chính cái để phân biệt pháp luật với các quy phạm xã hội khác. So với các quy
phạm xã hội khác, pháp luật tính bao quát hơn, rộng khắp hơn. Xét vmặt nguyên tắc,
pháp luật thể điều chỉnh một phạm vi quan hệ xã hội bất kỳ nào đó. Đây chính ưu
thế của pháp luật so với các vi phạm xã hội khác.
- Các quy phạm pháp luật được áp dụng nhiều lần trong không gian và thời gian.
Việc áp dụng những quy phạm này ch bị đình chkhi quan nhà nước thẩm quyền
hủy bỏ, sửa đổi, bổ sung hoặc thời hạn đã hết.
- Tính phổ biến của pháp luật dựa trên ý chí của nhà nước"được đề lên thành luật".
Pháp luật làm cho ý chí này tính chất chủ quyền duy nhất trong một quốc gia. Chính
quyền lực chính trđem lại cho pháp luật tính quy phạm phổ đặc biệt- tính quy phm phổ
biến.
b) Tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức.
- Tính xác định về mặt hình thức thể hiện nội dung pháp luật trong những hệ thống
nhất định. Điểm rõ nét nhất của pháp luật là ở chỗ nội dung của nó được xác định rõ ràng,
chặt chẽ. Tính xác định rõ ràng, chặt chẽ, nhằm đảm bảo nguyên tắc"bất cứ ai được đặt
vào những điều kiện ấy cũng không thể m khác được".
- Nội dung của pháp luật phải được quy định rõ ràng, sáng sủa, chặt chẽ, khái qt
trong các khoản của mọi điều luật, trong các điều luật, trong một văn bản pháp luật và
toàn bhệ thống pháp luật nói chung. Nếu c quy phạm pháp luật quy định không đủ,
không rõ, không chính xác stạo ra những kẽ hở cho sự chuyên quyn, lạm dụng, những
hành vi vi phạm pháp luật như tham ô, lãng phí, tham nhũng, phá hoại, vi phạm nghiêm
trọng pháp chế. Nội dung của pháp luật phải được biểu hiện bằng ngôn ngữ pháp luật rõ
ràng, chính xác dưới hình thức nhất định của pháp luật.
- 1 quy phm pháp luật, 1 văn bản pháp luật thể hiểu theo nghĩa này, cũng
thhiểu theo nghĩa khác, trong cách viết sdụng những từ "vân vân" và c dấu (...)
không thgọi là 1 quy phạm, 1 văn bản có tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức.
c) Tính được đảm bảo bằng nhà nước.
- Pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, nhà nước đảm bảo thực hiện,
điều đó có nghĩa là nhà nước đã trao cho các quy phm pháp luật tính quyền lực bắt buộc
đối với mọi cơ quan, tổ chức và công dân, tức là pháp luật mới trở thành quy tắc xsự có
tính chất bắt buộc chung.
- Tùy theo mức độ khác nhau nhà nước áp dụng các biện pháp về tư tưởng, tổ
chức, khuyến khích, kích thích... kể cả biện pháp cưỡng chế cần thiết để đảm bảo cho
pháp luật được thực hiện đúng. Khi pháp luật thể hiện đầy đủ nguyện vọng, ý chí, lợi ích
của đông đảo nhân dân trong xã hội thì nó cũng được mọi người trong xã hội tôn trọng và
tự giác thực hiện, khi đó không phải dùng biện pháp cưỡng chế của nhà nước.
- Tính đảm bảo bằng nhà nước có thể được hiểu dưới 2 khía cạnh.
+ Khnăng tổ chức thực hiện của nhà nước bằng cả phương pháp thuyết
phục và cưỡng chế.
+ Chính nhà nước đảm bảo cho tính hợp lý, uy tín của nội dung quy
phạm pháp luật, nhờ đó có khả năng được thực hiện trong cuộc sống một cách thuận
lợi.
- Tính quyền lực nhà nước chính là yếu tố không thể thiếu bảo đảm cho pháp luật
được tôn trọng và thực hiện. Đây cũng điều khác nhau căn bản giữa pháp luật với các
quy phạm xã hội khác.
Câu 2: Hình thức, chức năng, các mối liên hệ, nguồn của pháp luật.
I. Hình thức của pháp luật.
1. Khái niệm hình thức của pháp luật.
- Hình thức của pháp luật là khái nim dùng đchỉ ranh giới tồn tại của pháp luật
trong h thống các quy phạm xã hội, là các hình thức biểu hiện ra bên ngoài của pháp
luật, đồng thời đó cũng là phương thức tồn tai, dạng tồn tại thực tế của pháp luật.
- Hình thức của pháp luật chỉ gtrị khi khả năng phản ánh nội dung và
các dấu hiệu thuộc về bản chất của pháp luật, tức phản ánh được tính giai cấp, tính quy
phạm phổ biến, tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức, tính được đảm bảo bằng nhà
nước.
- Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể, đặc điểm cụ thể của từng xã hội, của mỗi nước
nhà nước chấp nhận và thừa nhận hình thức pháp luật này hay hình thức pháp luật
khác.
- Hình thức pháp luật có 2 dạng: hình thức bên trong và hình thức bên ngoài.
2. Hình thức bên trong.
Bao gồm: các nguyên tắc chung của pháp luật, hệ thống pháp luật, ngành luật, chế
định pháp luật và quy phạm pháp luật.
- Các nguyên tắc chung phổ biên của pháp luật là những sở xuất phát điểm cho
phép mỗi công dân, cũng như quan y dựng và áp dụng pháp luật txử sự trong
trường hợp cần 1 hành vi pháp tương ứng với hoàn cảnh (Ví dụ: để làm luật, để áp
dụng pháp luật, để thực hiện các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân).
- Các nguyên tắc pháp luật thể được quy định trong pháp luật,nhưng cũng
thkhông được quy định trực tiếp trong pháp luật mà tồn tại trong học thuyết pháp lý,
trong thực tế đời sống chung của mọi người, được vận dụng như những phương châm ch
đạo chung trong quá trình áp dụng pháp luật. Những nguyên tắc nổi tiếng như: được làm
tất cả những gì pháp luật không cấm, chỉ được làm những gì pháp luật cho phép, dân chủ,
công bằng, bác ái...
- Trong phm vi 1 quốc gia 1 hệ thống pháp luật. Trong hệ thống pháp luật y
các ngành luật, trong các ngành luật các chế định pháp luật, trong các chế định
pháp luật có các quy phạm pháp luật.
- Ngành luật là 1 hthống các quy phạm pháp luật điều chỉnh 1 lĩnh vực quan hệ
xã hội nhất định với những phương pháp điều chỉnh nhất định. 2 yếu tố quan hệ xã hội và
phương pháp điều chỉnh là 2 yếu tố để phân biệt ngành luật này với ngành lut khác,
trong đó yếu tố lĩnh vực quan hệ xã hội tức đối tượng điều chỉnh giư vai trò chđạo.
dụ: ngành luật dân sự, ngành luật hình sự...
- Chế định pháp luật là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã
hội cùng loại trong cùng 1 ngành luật. dụ: Luật dân sự các chế định: quyền sở hữu,
quyền thừa kế....
- Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự mang tính chất bắt buộc chung do nhà nước
đặt ra hoặc thừa nhận. Quy tắc xử sự chung ở đây có nghĩa là quy tắc xử sự cho tất cả các
chthể pháp luật: các công dân, cơ quan, tổ chức. Quy phạm pháp luật gồm: giả định,
quy định và chế tài.
3. Hình thức bên ngoài của pháp luật (nguồn của pháp luật).
- Khi nói đến hình thức bên ngoài của pháp luật nói đến sự biểu hiện ra bên
ngoài của nó.
- Nguồn pháp luật bao gồm: tập quán pháp, tiền lệ pháp, Văn bản pháp luật, những
quy định của luật tôn giáo (ví dụ: luật hồi giáo). 1 số nước người ta còn coi học thuyết
khoa học pháp lý cùng là nguồn pháp luật.
+ Tập quán pháp là những tập quán lưu truyền trong xã hội, phù hp với
lợi ích của giai cấp thống trị đã được nhà nước thừa nhận, làm cho chúng trthành những
quy tắc xử sự chung được nhà nước đảm bảo thực hiện. Đây là hình thức pháp luật