VĂN MẪU LỚP 11
PHÂN TÍCH TẤN BI KỊCH VŨ NHƯ TÔ TRONG VĨNH BIỆT CỬU
TRÙNG ĐÀI CỦA NGUYỄN HUY ỞNG
BÀI MẪU SỐ 1:
Mở bài:
Trong hội cũ, người bóc lột người, người nghệ thiên tài tưởng cao đẹp
thường lâm vào cảnh ngộ không giải quyết được một cách đúng đắn vấn đề sáng tạo nghệ
thuật cho ai và để làm gì. Đó cũng chính là bi kịch của Vũ Như Tô trong vở kịch cùng tên
của Nguyễn Huy Tưởng.
Thân bài:
I.Giới thiệu vài nét về tác giả,tác phẩm:
1. Tác giả Nguyễn Huy Tưởng (1912 - 1960) xuất thân trong một gia đình nhà nho
của đất Bắc Ninh xưa, nay thuộc huyện Đông Anh, Nội. Từng gắn với phong trào
cách mạng trong các tổ chức văn hoá văn nghệ do Đảng lãnh đạo từ rất sớm. Nguyễn
Huy Tưởng thiên hướng khai thác đề tài lịch để xây dựng c phẩm quy lớn,
dựng lên những bức tranh, những hình tượng hoành tráng vlịch sử bi hùng của dân tộc.
Ông một nhà viết kịch tài ba. Văn phong của ông vừa giản dị, trong sáng, vừa thâm
trầm sâu sắc khi đặt ra những vấn đề có tầm triết lý.
2. “Vũ NTô” vở kịch lịch sử qui hoành tráng xuất sắc của Nguyễn
Huy Tưởng của nền kịch Việt Nam hiện đại.Tác phẩm được sáng tác vào m 1941,
dựa trên một skiện lịch sxảy ra kinh thành Thăng Long vào thời hậu Lê. Tác phẩm
gồm 5 hồi. Đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” hồi 5, hồi cuối của vở kịch. Trong
đoạn trích được học gây ấn tượng sâu sắc nhất là nhân vật Vũ Như Tô.
II.Trình bày cảm nghĩ về bi kịch nhân vật Vũ Như Tô:
1. Định nghĩa bi kịch:
Hiểu theo nghĩa thông thường nỗi đau khổ dai dẳng không cách nào
giải thoát. Nhưng theo từ điển văn học, bi kịch chỉ xảy ra khi mâu thuẫn giữa khát
vọng, hoài bão, tưởng của nhân với thực tại. Thực tại chưa đủ điều kiện cho nhân
thực hiện khát vọng, tưởng của mình nên rơi vào thất bại, thậm chí dẫn đến cái chết
thảm thương.
2.Những nét chính trong bi kịch Vũ Như Tô
a. Hiểu như định nghĩa nói trên, chúng ta thấy bi kịch của Như bi kịch
của người nghệ tài hoài bão lớn, nhưng không giải quyết được mối quan hệ
phức tạp giữa nghệ thuật và đời sống, đặc biệt không giải được một cách đúng đắn vấn
đề sáng tạo nghệ thuật cho ai và để làm gì.
b. Vũ Như Tô là một kiến trúc sư thiên tài, là hiện thân của niềm khao khát say
sáng tạo cái đẹp, “là người ngàn năm dễ một....có thể sai khiến gạch đá như viên tướng
cầm quân, thể xây lâu đài cao cả, nóc vờn mây không hề tính sai một viên gạch
nhỏ”
c. Như một nghệ lớn nhân cách cao đẹp, hoài bão lớn lao,
tưởng, tưởng nghệ thuật cao cả, ông muốn xây dựng một toà lâu đài đại “bền như
trăng sao” để cho dân ta nghìn thu còn hãnh diện” ; muốn xây dựng một công trình kiến
trúc vĩ đại, tuyệt mĩ, điểm cho non sông đất nước. Ông mong muốn cho người đời biết
những khát vọng cao đẹp của ông. Đó ông chỉ một hoài bão muốn điểm cho đất
nước, đem hết tài năng ra xây cho nòi giống một toà lâu đài hoa lệ,thách cả những công
trình trước sau, tranh tinh xảo với hoá công “để ta xây một Cửu Trùng Đài, dựng một
công muôn thuở, vài năm nữa Cửu Trùng Đài hoàn thành,cao cả huy hoàng, giữa cõi trần
lao lực một cảnh Bồng Lai.... Đời ta không quý bằng Cửu Trùng Đài”. Hồn ông để cả
nơi đấy. Nhìn một cách đơn giản thì mục đích nguyện vọng của Như hết sức
cao đẹp. xuất phát từ thiên chức của người nghệ sĩ, từ lòng yêu nước tinh thần dân
tộc. Vũ Như Tô vô cùng say mê với mơ ước của mình.
d. Nhưng Vũ Nhưnào có hiểu được sâu xa, trên thực tế, Cửu Trùng Đài đã xây
dựng bằng mồ hôi xương máu của nhân dân và nếu được hoàn thành thì cũng chỉ
nơi ăn chơi xa xỉ, sa đoạ của vua chúa, giống như công trình kiến trúc Vạn Niên” của
triều đình Nguyễn sau này : “Vạn niên vạn niên nào? Thành xây xương lính, hào đào
máu dân”. Như vậy, Như đã sai lầm khi lợi dụng quyền lực của bạo chúa để thực
hiện khát vọng nghệ thuật của mình.Chỉ đứng trên lập trường nghệ sĩ thuần tuý nên đã
hình chung, trở thành kẻ đối nghịch với nhân dân, gây đau khổ cho nhân dân.
e. Nhân dân căm giận bạo chúa, đồng thời cũng oán trách, nguyền rủa, thậm chí
oán hận kiến trúc đầy tài năng Vũ Như cuối cùng đã giết chết cả tên hôn quan
bạo chúa Tương Dực lẫn Như Tô, đốt cháy cả Cửu Trùng Đài.Như đúng là
một nhân vật bi kịch. Ông không thể nào trả lời câu hỏi “xây dựng Cửu Trùng Đài
đúng hay sai, công hay tội? ”. Là một nghệ đầy tài năng giàu ng tạo,
Như muốn khẳng định tài năng của mình, muốn điểm cho đất nước, muốn m đẹp
cho đời, nhưng khát vọng nghệ thuật đam sáng tạo của ông đã đặt lầm nơi lạc
chốn, lạc điệu với thời thế, xa rời thực tế, nên đã phải trả giá bằng chính sinh mệnh của
bản thân của cả công trình thấm đẫm mồ hôi tâm o của mình.Thật đau đớn thay, bi
kịch thay cho đến khi cuộc nổi loạn nổ ra, Đan Thiềm mặt cắt không còn hột máu, hốt
hoảng đến báo cho Vũ Như Tô, nếu không chạy trốn thì ông sẽ bgiết, nhưng Vũ Như Tô
vẫn không chịu đi vẫn day dứt một câu hỏi: “Tôi tội gì? Tôi làm nên tội? Làm gì
phải trốn?”. vẫn hi vọng thuyết phục được An Hoà Hầu, một kẻ cầm đầu một phe nổi
loạn, song sự thực đã diễn ra một cách phũ phàng tàn nhẫn, không như ảo tưởng của Vũ
Như Tô. Khi tất cả chỉ ảo vọng. Đan Thiền và ông bị bắt, Cửu Trùng Đài bị thiêu huỷ
thì ông mới bừng tỉnh, ngửa mặt lên trời cất lên tiếng than ai n tuỵệt vọng “Đốt
thực rồi! Ôi Đảng ác! Trời ơi! Phú cho ta cái tài để m gì. Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm!
Ôi Cửu Trùng Đài! Thôi thế hết! Dẫn ta đến pháp trường”. Trong tiếng kêu than ấy,
tiếng “Đan Thiềm, mộng lớn Cửu Trùng Đài” dồn dập vang lên hoà nhập vào nhau thành
khúc ca bi tráng, ai oán, đầy tiếc thương. Đó chính âm hưởng chủ đạo của đoạn trích
“Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài”.
III . Phát biểu cảm nghĩ :
1. Thương người nghệ sĩ có tài có tâm, đam mê nghệ thuật, khao khát sáng tạo, sẵn
sàng hi sinh tất cả cho cái đẹp nhưng xa rời thực tế, mà phải trả giá đắt bằng cả sinh mệnh
và cả công trình nghệ thuật đầy tâm huyết sáng tạo cuả mình
2. Không có cái đẹp tách rời cái chân cái thiện. Tác phẩm nghệ thuật không thể chỉ
mang cái đẹp thuần tuý, phải mục đích chân chính phục vụ nhân dân, phục vụ
cuộc đời. “Văn chương không chỉ là văn chương mà thực chất cuộc đời, cuộc đời
nơi xuất phát và nơi đi tới của văn chương”. Người nghệ phải hoài bão lớn,
khát vọng sáng tạo những công trình đại cho muôn đời, nhưng cũng biết xđúng
đắn mối quan hệ giữa khát vọng đó với điều kiện thực tế cuộc sống với đòi hỏi của muôn
dân.
3.Xã hội phải biết tạo điều kiện sáng tạo cho các tài năng, vun đắp tài năng, quý
trọng nâng niu những giá trị nghệ thuật đích thực.
Kết Luận :
Qua tấn bi kịch của người nghthiên tài Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng gợi
những suy nghĩ sâu sắc về mối quan hệ giữa người nghệ với hoạt động sáng tạo nghệ
thuật thực tế đời sống nhân dân. vậy vấn đề tác giả đặt ra ngày ấy, giờ đây bước
sang thiên niên kỉ mới, nó vẫn còn nguyên giá trị.
BÀI MẪU SỐ 2:
1. Giới thiệu nhà văn Nguyễn Huy Tưởng và vở kịch Vũ Như Tô
2. Phân tích số phận bi kịch của nhân vật NTô qua đoạn trích nh
biệt Cửu Trùng Đài
a. Lí luận về bi kịch
- Bi kịch ngoài nghĩa là một thể loại kịch, nghĩa thông thường của từ này chỉ “tình
cảnh éo le, mâu thuẫn đến đau thương”. Khi nói số phận bi kịch tức muốn chỉ một con
người mắc vào những mâu thuẫn, nghịch cảnh oan trái, éo le dẫn tới những kết cục bi đát,
đau thương.
- Nhân vật của bi kịch bao giờ cũng được đặt trong một tình trạng mâu thuẫn
xung đột không thể điều hòa, thường giữa cái thiện cái ác, cái cao cả cái thấp
hèn… Mâu thuẫn xung đột trong bi kịch diễn ra rất căng thẳng quyết liệt đến mức
“nhân vật thường chỉ thoát ra khỏi bằng cái chết bi thảm gây nên những suy tư xúc
động mạnh mẽ đối với công chúng”.
b. Nhân vật Vũ Như Tô là một nhân vật bi kịch.
Mâu thuẫn giữa cái tài, ước vọng cao cả, niềm khát khao đam sáng tạo cái
đẹp của Vũ Như Tô với thực tế đầy phũ phàng, ngang trái của xã hội dẫn đến sự vỡ mộng
thê thảm: Cửu Trùng Đài bị đốt, cả Như Tô và Đan Thiềm đều bị đưa ra pháp trường
chịu chết…
- Các mâu thuẫn cơ bản của vợ kịch gắn với số phận bi kịch của Vũ Như Tô.
+ Mâu thuẫn thứ nhất: mâu thuẫn giữa đời sống xa hoa trụy lạc của bọn tham
quan bạo chúa với đời sống cực, thống khổ của nhân dân lao động (nói gọn lại mâu
thuẫn giữa lợi ích bao chúa với quyền sống của thường dân, tất yêu sẽ dẫn đến việc dân
chúng nổi dậy diệt trừ tên bạo chúa và tất cả những kẻ bị xem là cùng phe cánh của hắn
hồi cuối vở kịch). Mâu thuẫn này chủ yếu thể hiện những hồi trước của vở kịch, đã
thành cao trào trong hồi cuối này. Bạo chúa Lê Tương Dực chết trong tay những nời
nổi dậy do Trịnh Duy Sản cầm đầu. Đại thần của y (gian thần Nguyễn Vũ) chết trong một
trò hề nhạt nhẽo. Hoàng hậu đám cung nữ hết thời của y bị kẻ nỗi loạn nhục mã, bắt
bớ. Dân chúng reo hò, đốt phá, nhiếc móc… được một phen hả lòng hả dạ. Uy quyền của
bạo chúa tiêu tan theo Cửu Trùng Đài. Đây đúng là lúc “dân nổi can qua”, vua quan “thất
thế”. Tiếc rằng cuộc nổi dậy ấy không thmang lại điều gì tốt đẹp hơn cho dân chúng bởi
giang sơn sẽ vào tay những kcầm đầu cuộc phản loạn (tức phe cánh của Trịnh Duy
Sản).
- Mâu thuẫn thứ hai: mâu thuẫn giữa niềm khao khát hiến dâng tất cả cho nghệ
thuật của người nghệ đắm chìm trong mộng với lợi ích trực tiếp và thiết thực của
đời sống nhân dân.
+ Mâu thuẫn này xuất phát từ nguyên nhân sâu xa của bi kịch: người nghệ sĩ thiên
tài không có điều kiện sáng tạo, không thể thi thố tài năng. Nhưng trên thực tế anh ta lại
vẫn chỉ một thợ thủ công vô danh tiểu tốt! thế, khi biết rằng thể mượn tay bạo
chúa Lê Tương Dực mà thực hiện được hoài bão của mình thì anh ta sẵn sàng bất chấp tất
cả, kể cả khi phải trả bằng công sức, tiền bạc của nhân dân, bằng mồ hôi, xương máu của
những người thợ.
+ Chính niềm khao khát của người nghệ đắm chìm trong mơ mộng đã đẩy
Như đến vị thế đối nghịch với lợi ích trực tiếp và thiết thực của đời sống nhân dân.
(Đài càng y cao thì càng tốn kém nhiều tiền, tổn thất lớn, lại thêm các đại nạn, đại
dịch… thế là dù muốn dù không, Vũ Như Tô đã bất đắc dĩ thành kẻ thù của nhân dân).
+ Cuối vở kịch, người ta không chỉ nguyền rủa tác giả Cửu Trùng Đài như nhiều
người đã oán trách, nguyền rùa còn theo lời những kẻ cầm đầu cuộc nổi loạn đốt phá
tan tành Cửu Trùng Đài, bắt bớ và trừng phạt tác giả của nó. Đây lúc mâu thuẫn, xung
đột kịch đã được lên đến đỉnh điểm. nếu như trong những hồi đầu, chỉ mâu
thuẫn tiềm ẩn, vẻ mnhạt, thấp thoáng đằng sau mâu thuẫn thứ nhất, thì giờ đây,
hầu như đã nhập hòa làm một với mâu thuẫn thứ nhất. Thậm chí người dân hầu như
không mấy quan m đến việc trả thù bạo chúa Tương Dực việc này đã phe cách
Trịnh Duy Sản đảm nhiệm chỉ chăm chăm truy diệt (“phanh thây”) Như
người cung nữ “đông bệnh” với ông là Đan Thiềm
3. Kết luận Bi kịch Như Tô bi kịch của người nghệ không giải quyết
đúng mối quan hệ giữa tưởng, khát vọng nghệ thuật và hiện thực hội, giữa
người nghệ sĩ người công dân.
Qua đó, khẳng định rằng nghệ thuật chân chính,giá trị lâu dài phải xuất phát t
nguyện vọng chính đáng của nhân dân và lợi ích của dân tộc. Việc khai thác và phát triển
hai mâu thuẫn chính lồng vào nhau (mâu thuẫn giữa quần chúng nhân dân tập đoàn
thống trị, mâu thuẫn giữa khát vọng nghệ thuật thực tế hội), qua ngôn ngữ và nh
động nhân vật, đã làm nên kịch tính và sức hấp dẫn của tác phẩm.