
1206
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG SỐ - THỰC TIỄN
TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN
VIỆT NAM
Nguyễn Thị Ngọc Diễm(1)
TÓM TẮT:
Ngân hng s đóng vai trò vô cùng quan trọng trong tin trình chuyn đổi s của quc gia.
Tại Việt Nam, qu trình chuyn đổi s từ lâu đ trở thnh yêu cầu bắt buc m không còn l sự lựa
chọn của ngnh ngân hng. Nhận thấy tầm quan trọng của ngân hng s v hng đn mục tiêu
pht trin ngân hng s vi mt hệ sinh thi đa dạng, mang lại những trải nghiệm mi, tiện ích, dễ
dng, nhanh chóng, chính xc. Vi bi vit ny, tc giả gii thiệu về ngân hng s v cc ứng dụng
công nghệ s. Đồng thời, đnh gi thực trạng hoạt đng dch vụ ngân hng s tại BIDV giai đoạn
2019 - 2023. Qua đó, tc giả đề xuất mt s kin ngh góp phần khắc phục cc hạn ch v pht trin
dch vụ ngân hng s tại Việt Nam.
Từ khoá: Ngân hng s, công nghệ s, BIDV.
ABSTRACT:
Digital banking plays an extremely important role in the country's digital transformation
process. In Vietnam, the digital transformation process has long become a mandatory requirement
and no longer a choice for the banking industry. Realizing the importance of digital banking and
aiming to develop digital banking with a diverse ecosystem, bringing new, convenient, easy, fast and
accurate experiences. With this article, the author introduces digital banking and digital technology
applications. At the same time, evaluate the current status of digital banking services at BIDV in the
period 2019 - 2023. Thereby, the author proposes a number of recommendations to help overcome
limitations and develop digital banking services in Vietnam.
Keywords: Digital banking, digital technology, BIDV.
1. Giới thiệu
Tại Việt Nam, quá trình chuyển đổi số từ lâu đã trở thành yêu cầu bắt buộc mà không còn là sự lựa
chọn của ngành ngân hàng. Đặc biệt, trong thời gian qua, nhu cầu sử dụng ngân hàng số để giao dịch
1. Trường Đại học Sài Gòn. Email: ntndiem@sgu.edu.vn

1207
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
tăng cao đã thúc đẩy quá trình chuyển đổi số của các ngân hàng tại Việt Nam nhanh hơn từ 3 - 5 năm.
Cũng trong giai đoạn này, người dùng cũng dần thay đổi nhận thức và thói quen sử dụng các dịch
vụ ngân hàng số. Điều này không chỉ tạo nên “cơ hội vàng” để phát triển mà còn đặt ra nhiều thách
thức cho các ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số.
Cùng với những bước tiến mạnh mẽ trong hoạt động chuyển đổi số của đất nước cũng như lĩnh
vực tài chính - ngân hàng, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cũng đã tạo
được những dấu ấn nổi bật, khẳng định vị thế tiên phong trong hành trình chuyển đổi số. Hoạt động
chuyển đổi số của ngành ngân hàng đang được triển khai mạnh mẽ và người dân cùng cộng đồng
doanh nghiệp đang được thụ hưởng rất nhiều lợi. Tuy nhiên, do nhu cầu của khách hàng ngày càng
cao nên hệ thống ngân hàng nói chung và BIDV nói riêng cũng đứng trước yêu cầu phải mở rộng hệ
sinh thái, áp lực chuyển đổi, kết nối nhiều hơn...
Chuyển đổi số không còn là sự lựa chọn mà là xu hướng tất yếu để BIDV định hình tương lai
phát triển của ngân hàng. Hành trình chuyển đổi số của BIDV không đơn giản mà ở một quy mô rất
lớn, ảnh hưởng đến hàng triệu khách hàng cá nhân và tổ chức. Tuy nhiên, BIDV luôn quyết tâm cao
và tin tưởng sẽ thành công trong thực hiện chuyển đổi số, qua đó góp phần tích cực để thực hiện mục
tiêu chuyển đổi số ngành ngân hàng và mục tiêu chuyển đổi số quốc gia.
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
2.1. Cơ sở lý thuyết
2.1.1. Ngân hng s
Theo Chris (2014), ngân hàng số (NHS) là mô hình hoạt động của ngân hàng mà trong đó, các
hoạt động chủ yếu dựa vào các nền tảng và dữ liệu điện tử và công nghệ số, là giá trị cốt lõi của hoạt
động ngân hàng.
Theo Sharma (2017), NHS là một hình thức ngân hàng số hoá tất cả những hoạt động và dịch
vụ ngân hàng truyền thông. Chuyển đổi kỹ thuật số phát triển hơn một bước so với số hoá, đối với
các ngân hàng chuyển đổi số không chỉ giới hạn ở số hoá dữ liệu giao dịch mà còn tập trung vào trải
nghiệm của khách hàng.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: “NHS là mô hình ngân hàng hoạt động dựa trên nền tảng quy
trình công nghệ để cung cấp toàn bộ các dịch vụ khách hàng thông qua các thiết bị số kết nối trên
môi trường internet, mạng viễn thông di động hoặc chi nhánh tự phục vụ”.
Nói chung các khái niệm về ngân hàng số này đều hướng đến mục tiêu chung của ngân hàng
là số hoá mọi hoạt động, dịch vụ có thể thực hiện tại quầy theo cách truyền thống tại các chi nhánh
ngân hàng sẽ được tích hợp vào ứng dụng của NHS. Người dùng chỉ cần một chiếc điện thoại thông
minh và kết nối internet vẫn có thể thực hiện các giao dịch tài chính ở bất kỳ nơi đâu, bất kỳ lúc nào
mà không cần di chuyển đi lại hay phải xếp hàng chờ đợi tại các chi nhánh của ngân hàng. Không chỉ
hoạt động của người dùng mà mọi hoạt động như quản lý rủi ro, nguồn vốn, phát triển sản phẩm,…
cũng được số hoá dưới hình thức ngân hàng số.

1208
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
2.1.2. Xu hng trong chuyn đổi s hoạt đng ngân hng
Một số xu hướng ảnh hưởng đến việc đầu tư và quá trình chuyển đổi số trong ngân hàng:
Một là, thay đổi trong hành vi và nhu cầu của khách hàng. Khi nhu cầu sử dụng mạng internet,
thiết bị điện thoại thông minh và các dịch vụ đa dạng có sẵn trên thiết bị điện thoại ngày càng tăng
đã thay đổi cách muốn sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng. Đồng thời, khách hàng cũng đòi
hỏi những trải nghiệm vượt trội khi sử dụng kênh số thông qua đáp ứng nhu cầu ngay lập tức, nhất
quán và đồng nhất kênh.
Hai là, sự hợp tác giữa ngân hàng và fintech sẽ ngày càng tăng trong lên để đa dạng sản phẩm,
nâng cao dịch vụ, chuyển đổi trải nghiệm để thu hút khách hàng mới, tối ưu nguồn lực và chi phí
vận hành.
Ba là, sử dụng công nghệ mới để tăng cường an ninh, giảm gian lận, và còn sử dụng công nghệ
mới để nâng cao phân tích, cải thiện độ chính xác và hiệu quả hoạt động.
Bốn là, sự xuất hiện các mô hình kinh doanh mới. Nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng dẫn đến
xuất hiện các mô hình kinh doanh mới, cả ngân hàng truyền thống và ngân hàng mới đều đang thực
hiện hành trình chuyển đổi để cung cấp trải nghiệm số hoá toàn diện.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nhằm phân tích thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng số tại BIDV và đề xuất một số kiến nghị
nhằm phát triển dịch vụ ngân hàng số trong thời gian tới, bài viết sử dụng một số phương pháp sau:
Phương pháp thu thập dữ liệu, tác giả sử dụng dữ liệu thu thập được từ các báo cáo số liệu ngân
hàng số của BIDV giai đoạn 2019 - 2023, các nghiên cứu chọn lọc từ internet, các bài báo, giáo trình
trong lĩnh vực phát triển dịch vụ NHS. Thu thập và hệ thống số liệu, tình hình phát triển của dịch vụ
ngân hàng số tại BIDV.
Phương pháp phân tích: Đánh giá tình hình phát triển dịch vụ ngân hàng số tại BIDV từ các báo
cáo số liệu thu thập được qua các năm; so sánh hiệu quả sử dụng dịch vụ ngân hàng số qua các năm
với việc trực tiếp đến quầy giao dịch.
3. Kết quả và đánh giá
3.1. Kết quả
3.1.1. Dch vụ ngân hng s tại Việt Nam
Hiện nay, Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi số, không chỉ diễn ra trong ngành ngân
hàng mà còn diễn ra một cách toàn diện trong toàn bộ các lĩnh vực ngành nghề của nền kinh tế, các
ngân hàng thương mại cổ phần đều có chiến lược số hoá và định hướng phát triển NHS, coi chuyển
đổi số là một trong những chiến lược quan trọng trong sự phát triển của ngân hàng. Cụ thể, theo
thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có trên 79 ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán qua
Internet, 45 ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán qua điện thoại di động, khoảng 20 ngân hàng
thương mại triển khai dịch vụ QR Code, 20.000 ATM trên toàn quốc, 280.000 thiết bị đầu cuối của
điểm bán hàng.

1209
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
Theo vụ thanh toán Ngân hàng Nhà nước, tính đến cuối năm 2023 số lượng tài khoản của cá
nhân là 182.883 nghìn tài khoản, tăng 21,8% so với cùng kỳ năm 2022, số dư tại thời điểm cuối
năm 2023 đạt 1.092.721 tỷ đồng tăng 26,85% so với cuối năm 2022. Số lượng tài khoản của cá nhân
năm 2022 là 150.243 nghìn tài khoản tăng 30,43% so với quý IV năm 2021, mặc dù số lượng tài
khoản tăng tuy nhiên do bị ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 nên số dư tại thời điểm năm 2022 đạt
861.406 giảm (8,09%) so với năm 2021.
Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng thấy được tầm quan trọng của phát triển NHS.
Vì vậy, Thủ tướng Chính phủ luôn xác định và kỳ vọng ngành Ngân hàng sẽ là ngành đi đầu, tiên
phong trong thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số, công dân số,... nên
đã ban hành nhiều quyết định, đề án để giúp đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số tại ngân hàng, như:
Nghị định số 101/2012/NĐ-CP về thanh toán không dùng tiền mặt (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị
định số 80/2019/NĐ-CP); Thông tư số 16/2020/TT-NHNN cho phép mở tài khoản thanh toán cá
nhân bằng phương thức điện tử (eKYC); Nghị định số 35/2007/NĐ-CP về giao dịch điện tử trong
hoạt động ngân hàng; Quyết định số 35/2007/QĐ-NHNN về các nguyên tắc quản lý rủi ro trong
hoạt động ngân hàng điện tử; Thông tư số 09/2020/TT-NHNN quy định về an toàn hệ thống thông
tin trong hoạt động ngân hàng nhằm cập nhật các quy định mới của Luật An toàn thông tin mạng…
Quyết định số 1813/QĐ-TTg, ngày 28/10/2021 về việc phê duyệt Đề án phát triển thanh toán không
dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025; Chỉ thị số 02/CT-NHNN về việc đẩy mạnh
chuyển đổi số và bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trong hoạt động ngân hàng; Quyết định số 810/
QĐ-NHNN ban hành ngày 11/5/2021 phê duyệt Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm
2025, định hướng đến năm 2030 với quan điểm lấy người dân làm trung tâm và tiện ích, thuận tiện
cho người sử dụng dịch vụ là thước đo hiệu quả chuyển đổi số; với việc hành lang pháp lý được sửa
đổi, hoàn thiện sẽ tạo điều kiện thúc đẩy các ngân hàng chuyển đổi số thuận lợi.
3.1.2. Thực trạng dch vụ ngân hng s tại BIDV
a. Số lượng người dùng Smartbanking
Biểu đồ 1. S lng ngời dùng Smartbanking
(Nguồn: Bo co thờng niên BIDV giai đoạn 2019 - 2023)

1210
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA: NGUỒN LỰC TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
Số lượng người dùng Smartbanking (SMB) tại BIDV tăng đều rõ ràng qua các năm. Năm 2019,
tỷ lệ người dùng SMB tăng 75,94% so với năm 2018 đạt 2,8 triệu người, năm 2020 tỷ lệ người dùng
SMB tăng 37,48% so với năm 2019 đạt hơn 3,8 triệu người, năm 2021 mặc dù bị ảnh hưởng bởi đại
dịch COVID-19 nhưng số lượng khách hàng sử dụng SMB tăng gấp đối so với năm 2020 là 72,87%
đạt 6,7 triệu người, và năm 2022 số lượng người dùng SMB đạt 8,6 triệu người tăng 27,78% so với
năm 2021. Năm 2023, số lượng người dùng SMB đạt 11,3 triệu người tăng 30,87% so với năm 2022.
BIDV SmartBanking đang vận hành theo hướng trở thành hệ sinh thái tài chính số đáp ứng toàn diện
nhu cầu của khách hàng, không chỉ cung cấp các dịch vụ thiết yếu mà còn giải quyết các nhu cầu tài
chính nâng cao.
b. Số lượng người dùng iBank
Năm 2019 số lượng người dùng iBank đạt 30,996 nghìn người tăng 128,89% so với năm 2018,
năm 2020 tỷ lệ người dùng iBank tăng 50,65% so với năm 2019 đạt 46,695 nghìn người. Năm 2022,
số lượng người dùng đạt 81,123 nghìn người tăng gần gấp đôi so với năm 2021 tỷ lệ tăng 73,73%
so với năm 2021. Năm 2022 số lượng người dùng iBank đạt 108,825 nghìn người tăng 34,15 % so
với năm 2021. Năm 2023 số lượng người dung iBank đạt 130,458 nghìn người tăng 19,88% so với
năm 2022.
Biểu đồ 2. S lng ngời dùng iBank giai đoạn 2019 - 2023
(Nguồn: Bo co thờng niên BIDV giai đoạn 2019 – 2023)
Mặc dù cũng trong giai đoạn bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 nhưng số lượng người dùng
iBank vẫn tăng đều qua các năm. Tuy nhiên, do quy trình đăng ký sử dụng dịch vụ iBank dành cho
khách hàng doanh nghiệp còn tốn nhiều thời gian, nhiều cam kết và ràng buộc khi sử dụng, độ nhận
thức và tác nghiệp của nhân viên về sản phẩm còn chưa cao tạo tâm lý e ngại khi đăng ký dịch vụ.
Tốc độ tăng trưởng về số lượng khách hàng vẫn còn khá khiêm tốn so với nền khách hàng tại BIDV,
vì vậy để tăng quy mô dịch vụ iBank thì BIDV cần phải nâng cao chất lượng dịch vụ cung ứng để
thỏa mãn tối đa nhu cầu của khách hàng cũng như đẩy mạnh đầu tư công nghệ mới, nâng cao trình
độ của cán bộ nhân viên để có thể tiếp thị cũng như phục vụ khách hàng một cách tốt nhất.

