
1
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO AN GIANG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TRƯỜNG THPT CHU VĂN AN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
An Giang, ngày 25 tháng 02 năm 2019
BÁO CÁO
Kết quả thực hiện sáng kiến kinh nghiệm
ĐỀ TÀI: RÈN LUYỆN HỌC SINH LÀM BÀI TẬP LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
1954-1975 TRONG ÔN THI THPT QUỐC GIA.
I-Sơ lược lý lịch tác giả:
-Họ và tên: Trần Thị Kim Thoa Nữ
-Ngày tháng năm sinh: 1982
-Nơi thường trú: Xã Tân Trung, huyện Phú Tân, Tỉnh An Giang
-Chức vụ hiện nay: Tổ trưởng Tổ lịch sử
-Lĩnh vực công tác: Giảng dạy lịch sử
II.Tên sáng kiến: RÈN LUYỆN HỌC SINH LÀM BÀI TẬP LỊCH SỬ VIỆT NAM GIAI
ĐOẠN 1954-1975 TRONG ÔN THI THPT QUỐC GIA.
III. Lĩnh vực: môn lịch sử- khối 12
IV. Mục đích yêu cầu khi áp dụng sáng kiến
1. Thực trạng ban đầu
Lịch sử là một bộ môn khoa học có ưu thế hình thành nhân sinh quan cho học sinh, rèn
tư duy sáng tạo cho các em, đặc biệt giúp cho học sinh từ hiểu biết lịch sử mà rút ra kinh
nghiệm quý giá để xây dựng và bảo vệ tổ quốc Xã hội chủ nghĩa; tự hào về các anh hùng
dân tộc; về quê hương đất nước, con người Việt Nam. Đồng thời hiện nay môn lịch sử trở
thành 1 trong 3 môn thuộc tổ hợp môn Khoa học xã hội( Sử- Địa- Gíao dục công dân) xếp
vào môn thi THPT Quốc gia để xét tốt nghiệp và xét vào các trường Đại học hoặc Cao
đẳng tương ứng với các khối, tổ hợp môn như: khối C00( Văn- sử- địa), A03( Toán-Hóa-
Sử), A07(Toán- Sử-Địa), B01(Toán- Sinh- Sử), C03( Văn- Toán- Sử); C10( Văn- Sinh-
Sử)...với đa dạng ngành nghể: ngành Công an, ngành Báo chí, ngành Xã hội học, ngành
quản trị nhân lực, ngành Đại học Luật, ngành Sư phạm, ngành Tài chính- ngân
hàng....Nhưng đáng buồn là kết quả học tập bộ môn lịch sử còn thấp. Đều này thể hiện rõ
qua kết quả thi THPT Quốc gia trong hai năm gần đây:

2
Môn
Năm học
Tỉ lệ dưới trung bình
Lịch sử
Cả nước
An giang
Năm học 2016-2017
38,10%
54,06%
Năm học 2017-2018
17%
27%
Bảng thống kê tỉ lệ dưới trung bình trong kỳ thi THPT Quốc gia
Vậy nguyên nhân là do đâu?
Về khách quan:
Thứ 1- Nhiều học sinh chọn thi môn lịch sử cho việc xét tốt nghiệp dẫn đến học sinh
có thể không làm các câu khó nên chỉ cần qua điểm liệt ( tức là chỉ trên 1,25 điểm là
được);
Thứ 2- Đối với tổ hợp môn khoa học xã hội không đa dạng ngành nghề để học sinh
lựa chọn như khoa học tự nhiên nên các em không quan tâm nhiều đến môn lịch sử;
Thứ 3- Dù đã thay đổi hình thức thi không sử dụng hình thức thi truyền thống tự
luận mà thay vào đó là thi trắc nghiệm 100% với 4 phương án có sẵn( A, B, C, D) nên học
sinh có tâm lí chỉ cần học qua loa không cần phải học kỷ;
Thứ 4- Hiện nay, tình trạng sinh viên thất nghiệp không có việc làm ngày càng đông
đa số các em khối C hoặc làm không đúng ngành nghề nên rút kinh nghiệm của các đàn
anh chị đi trước mà không sai mê để tìm hiểu nghiên cứu lịch sử;
Thứ 5- Các em chọn lịch sử là chủ yếu do yếu các môn khoa học tự nhiên( Lý- Hóa-
Sinh) và có học lực trung bình,yếu;
Thứ 6- Tuy hiện nay số lượng học sinh đăng ký thi môn Sử rất đông nhưng với khối
lượng kiến thức nhiều dàn trải( bao gồm chương trình khối 10,11 chủ yếu kiến thức 12) sẽ
tạo tâm lí ngán ngẫm, học không nổi chỉ tập trung quan tâm đến các đề thi thử, đề kiểm tra
nên cuối cùng chỉ nắm được những tri thức tản mạn rời rạc, thiếu hệ thống mà không nắm
được tiến trình thời gian sự kiện, không nắm được sự biến động của tình hình thế giới sẽ
tác động đến Việt Nam;
Thứ 7- Với hình thức thi trắc nghiệm nên bất kì nội dung nào trong sách giáo khoa
cũng là câu hỏi. Đều đó đòi hỏi người dạy không bỏ hay lướt qua bất kỳ nội dung kiến
thức nào không nằm trong giới hạn giảm tải của phân phối chương trình trong khi thời
lượng không thay đổi. Vì thế để kịp chương trình, thời lượng, nội dung kiến thức, người
dạy phải sử dụng phương pháp truyền thống là truyền thụ kiến thức một chiều, thầy giảng
trò nghe thầy đọc trò chép để đảm bảo đầy đủ kiến thức. Chính vì thời lượng không cho
phép nên các em không có dịp để tranh luận, để bài tỏ nhận xét của mình về vấn đề hoặc
sự kiện đó nên không phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh khi học lịch
sử, không tạo đam mê với môn học này để rồi lượng kiến thức cũ ngày càng mai mọt hoặc
nhầm lẫn các sự kiện với nhau nên kết quả thi lại không cao. Trong khi môn lịch sử là một
môn học đặc thù với những chuổi sự kiện, diễn biến đã diễn ra trong quá khứ đòi hỏi
người dạy muốn khôi phục lại bức tranh quá khứ phải linh hoạt các phương pháp trong

3
giảng dạy, thu hút sự chú ý tìm tòi sáng tạo của học sinh ngay khi truyền thụ kiến thức mới
cũng như trong ôn thi THPT Quốc gia.
Về chủ quan:
- Phương pháp giảng dạy còn cứng nhất, mang tính rập khuôn chưa thực sự thu hút
học sinh. Đồng thời, việc truyền tải một lượng kiến thức lớn tương đối phức tạp như môn
Lịch sử, nhưng chưa có phương pháp phù hợp giúp học sinh hệ thống kiến thức là một vấn
đề còn bỏ ngõ.
Thấy được 2 nguyên nhân khách quan và chủ quan như trên, tôi nhận định rằng: Với
vai trò là giáo viên môn Lịch sử, trước hết tôi phải có trách nhiệm giải quyết vấn đề chủ
quan trước. Vì thế, tôi luôn tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu các giải pháp giúp học sinh hệ
thống kiến thức lĩnh hội được một cách có tổ chức, và ứng dung thành công trong kỳ thi
THPT Quốc Gia. Và rồi, “Rèn luyện học sinh làm bài tập” là phương pháp tôi đã xây
dựng để khắc phục vấn đề này.
Trong quá trình dạy ôn thi THPT Quốc gia tại trường THPT Chu Văn An, tôi thường
sử sụng phương pháp “Rèn luyện học sinh làm bài tập”. Phương pháp này nhằm phát huy
tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh giúp học sinh nắm chắc các sự kiện một cách
toàn diện và thấu hiểu được bản chất của vấn đề; đối chiếu các sự kiện trong cùng một thời
điểm, tìm ra mối liên hệ giữa các sự kiện với nhau. Từ đó học sinh sẽ hiểu bài và nhớ lâu
hơn, sẽ giải được các dạng bài tập trắc nghiệm ở các mức độ khác nhau mà không cần phải
học thuộc lòng kiến thức. Có như vậy mới đạt hiệu quả cao trong các kì thi , đặc biệt là kì
thi THPT Quốc gia. Đồng thời các em thấy được niềm tự hào về quê hương đất nước, về
các anh hùng dân tộc, về nguồn gốc lịch sử nước nhà, tránh những luận điệu xuyên tạc của
kẻ thù; về sự biến đổi của tình hình thế giới tác động đến đất nước ta trong quá khứ cũng
như trong hiện nay. Với ưu điểm của phương pháp này, tôi quyết định chọn đề tài “ Rèn
luyện học sinh làm bài tập lịch sử Việt Nam giai đoạn 1954-1975 trong ôn thi THPT Quốc
gia”.
2. Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến
Năm học 2016-2017 được sự phân công của Ban Gíam Hiệu trường THPT Chu Văn An
về dạy ôn thi THPT Quốc gia, tôi dạy 1 lớp KHXH( Xã hội 1) với số lượng 43 học sinh(
ghép từ 4 lớp đại trà 12c1+ 12c2 + 12c3 + 12c4). Đến năm học 2017-2018, ngay từ đầu
nhà trường đã phân loại học sinh theo tổ hợp môn( trong đó KHXH gồm 4 lớp, tôi được
phân công dạy 2 lớp( 12c8- chủ yếu khối D; 12c10 chủ yếu khối C). Năm học 2018-2019,
dạy 1 lớp xã hội( 12c10)
KHTN
(Lý- Hóa- Sinh)
KHXH
( Sử- Địa- GDCD)
GV:Trần Thị Kim Thoa
dạy các lớp:
Năm học 2016-2017
7 lớp
4 lớp
1 lớp ( xã hội 1)
Năm học 2017-2018
7 lớp
4 lớp
2 lớp ( 12c8+12c10)
Năm học 2018-2019
7 lớp
4 lớp
1 lớp ( 12c10)

4
Một trong những nguyên nhân làm cho học sinh chọn tổ hợp môn KHXH ít hơn
KHTN là do: kiến thức cần phải học nhiều quá,lại khô khan. Riêng đối với bài học lịch sử
thường rất dài, học sinh khó nhớ, phân phối tiết chương trình lại ít, học sinh đa phần có
học lực trung bình yếu nên việc nắm được kiến thức một cách hệ thống, khoa học là đều
rất khó đối với học sinh. Vì vậy người thầy phải sử dụng đa dạng phương pháp trong đó
trọng tâm là rèn luyện học sinh làm bài tập thường xuyên, nhuần nhuyễn. Rèn luyện học
sinh làm bài tập lịch sử giúp học sinh có suy nghỉ độc lập, nhận thức, rèn luyện kỹ năng
thực hành, hiểu sâu nhớ lâu sự kiện lịch sử, hiểu được vấn đề lịch sử, khắc phục tình trạng
học thuộc lòng, xâu chuổi được các sự kiện lại với nhau không còn lúng túng khi xác định
và trả lời các phương án nhiễu. Biến lịch sử trở thành môn học yêu thích, môn thế mạnh
không còn khô khan và ngán ngẫm như đã nhận định trước đây.
Vậy thế nào là bài tập lịch sử? Bài tập lịch sử là một hệ thống thông tin xác định về tổ
chức quá trình dạy học ở trường phổ thông khi triển khai, đánh giá kết quả học tập lịch sử
của học sinh trên các khía cạnh: nhận thức, tình cảm, kỹ năng, kỹ xảo. Bài tập lịch sử gồm
các đặc điểm sau:
- Bài tập lịch sử được xem là 1 hệ thống thông tin qui định nhiệm vụ học sinh phải
thực hiện hay mục đích mà học sinh và giáo viên cần hoàn thành trong quá trình dạy học
lịch sử.
- Bài tập lịch sử được tiến hành ở tất cả các khâu trong quá trình dạy học: nghiên cứu
tài liệu mới, ôn tập, củng cố, hệ thống hoá kiến thức, vận dụng kiểm tra đánh giá kiến
thức, cảm xúc, kỹ năng, kỹ xảo.
- Bài tập lịch sử là phương tiện thúc đẩy nổ lực tự học của học sinh, giúp các em dần
dần tiếp cận với phương pháp tư học, tự nghiên cứu.
Như vậy bài tập lịch sử là 1 khâu quan trọng của bài học và chương trình sách giáo
khoa, góp phần từng bước hoàn thành mục tiêu môn học. Làm bài tập lịch sử là điều tất
yếu và bắt buộc trong quá trình học lịch sử. Là 1 trong những biện pháp để nâng cao tính
tích cực học tập của học sinh. Thế là trong quá trình ôn thi THPT, tôi đã sử dụng phương
pháp rèn luyên học sinh làm bài tập, đặc biệt bài tập lịch sử việt nam giai đoạn 1954-1975.
Đây là thời kì dân tộc Việt Nam kháng chiến chống Mĩ cứu nước gần 21 năm, là
cuộc chiến tranh cứu nước dài ngày nhất, ác liệt và phức tạp nhất trong lịch sử chống
ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Trong cuộc chiến lâu dài ấy, đế quốc Mĩ đã tiến hành 4
chiến lược chiến tranh ở miền Nam, tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc 2 lần và nhân
dân ta đã trải qua năm giai đoạn, mỗi giai đoạn có chủ trương ,khẩu hiệu khác nhau, phản
ánh từng bước phát triển, bước chuyển biến về chất của cuộc kháng chiến, cuối cùng thực
hiện bước nhảy vọt lớn nhất giành thắng lợi hoàn toàn , kết thúc oanh liệt cuộc kháng
chiến.
+ Giai đoạn 1( 1954-1960): đế quốc Mĩ thực hiện chính sách thực dân kiểu mới ở miền
Nam thông qua chế độ độc tài Ngô Đình Diệm. Ta ra sức ổn định củng cố miền Bắc, xây
dựng miền Bắc theo hướng XHCN, làm căn cứ địa vững chắc cho cách mạng cả nước;
nhân dân miền Nam tiến hành đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ. Đồng

5
thời ra sức tìm phương pháp đấu tranh thích hợp để vừa đẩy mạnh cách mạng miền Nam
vừa bảo vệ được miền Bắc, bảo vệ hệ thống XHCN, bảo vệ hòa bình thế giới.
+ Giai đoạn 2( 1961-1965): Đế quốc Mĩ tiến hành chiến lược “Chiến tranh Đặc biệt”-
cuộc chiên tranh bằng quân đội Sài gòn là chủ yếu dưới sự chỉ huy cố vấn Mĩ cùng với
phương tiện chiến tranh hiện đại bởi những cuộc hành quân càn quyét, bình định miền
Nam. Cách mạng miền Nam từ khởi nghĩa từng phần phát triển lên chiến tranh cách mạng,
kết hợp đấu tranh quân sự và chính trị, đánh địch bằng 3 mũi giáo công trên cả 3 vùng
chiến lược, phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân ở miền Nam để đánh bại chiến lược “
Chiến tranh Đặc biệt” của đế quốc Mĩ và tay sai.
+ Giai đoạn 3( 1965-1968): Đế quốc Mĩ tiến hành chiến lược “ Chiến tranh Cục bộ” đưa
quân viễn chinh Mĩ vào miền Nam , đẩy mạnh chiến tranh phá loại bằng không quân và
hải quân đối với miền Bắc. Cả nước ta trực tiếp đánh Mĩ, đẩy mạnh chiến tranh nhân dân
phát triển đến trình độ cao trên cả 2 miền đánh thắng “ Chiến tranh Cục bộ” tạo bước
ngoặt quyết định trong cuộc kháng chiến chống Mĩ.
+ Giai đoạn 4( 1969-1973): Đế quốc Mĩ tiến hành chiến lược “ Việt nam hóa chiến
tranh”, xuống thang chiến tranh, rút dần quân viễn chinh Mĩ về nước nhưng kéo dài cuộc
chiến tranh và mở rộng chiến tranh sang Đông Dương. Quân và dân ta phối hợp với quân
và dân Lào, Campuchia đánh bại một bước quan trọng trong chiến lược Việt nam hóa
chiến tranh và học thuyết Nichxơn ở Đông Dương; miền Bắc đánh bại lần thứ 2 cuộc
chiến tranh phá hoại miền Bắc mà định cao là cuộc tập kích đường không chiến lược, bởi
trận Điện Biên Phủ trên không buộc Mĩ phải kí Hiệp định Pari, rút hết quân Mĩ và quân
các nước đồng minh ra khỏi miền Nam Việt nam.
+ Giai đoạn 5( 1973-1975): Sau Hiệp định Pari, Mĩ tiếp tục chiến lược Việt Nam hóa
chiến tranh, chỉ huy ngụy quân, ngụy quyền tiến hành cuộc chiến tranh lấn chiếm và bình
định. Ta tạo lực, tạo thế , tạo thời cơ, kiên quyết tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
Xuân 1975 kết thúc thắng lợi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
Qua khái quát 5 giai đoạn, chúng ta thấy dân tộc Việt Nam trải qua 21 năm kháng chiến
chống Mĩ với rất nhiều sự kiện, hiện tượng lịch sử. Vậy làm sao để học sinh nhớ mà không
phải nhầm lẫn các sự kiện với nhau, làm sao để so sánh các sự kiện, nhận dạng từ khóa của
sự kiện, hiện tượng, làm sao để khắc sâu kiến thức cho học sinh, làm sao để kết quả thi
THPT Quốc gia đạt kết quả cao. Thế là tôi tiến hành rèn luyện cho học sinh làm bài tập
bằng nhiều cách: bài tập tạo biểu tượng lịch sử ; bài tập trả lời ngắn; bài tập so sánh và
cuối cùng là bài tập trắc nghiệm khách quan với 4 phương án. Bốn phương pháp này nhằm
giúp học sinh nắm chắc sự kiện, nhớ lâu kiến thức, hiểu được vấn đề lịch sử, khắc phục
tình trạng học thuộc lòng, nâng cao chất lượng học tập của học sinh, sẽ đạt hiệu quả cao
trong thi cử.
3. Nội dung sáng kiến
a. Tiến trình và thời gian thực hiện

