
1
PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lí do chọn đề tài
Chương trình giáo dục phổ thông mới hiện nay không chỉ là tập trung phát triển
trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất và năng lực công dân cho học sinh...mà còn
phải biết giúp học sinh vận dụng các kiến thức, các phương pháp vào thực tiễn, liên
hệ thực tiễn kết hợp lí thuyết với thực hành như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói
“Lí luận mà không liên hệ với thực tiễn là lí luận suông”. Chính vì thế việc lựa chọn
phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục nhằm phát huy tính chủ động, tích cực,
sáng tạo và tiềm năng của mỗi học sinh. Đổi mới PPDH là một giải pháp được xem
là then chốt, có tính đột phá cho việc thực hiện chương trình GDPT mới.
Cùng với sự phát triển vượt bậc của kinh tế - xã hội, sự bùng nổ của khoa học
công nghệ ở thế kỉ XXI, nhân loại nói chung và ở Việt Nam chúng ta nói riêng đang
phải đối mặt với những hiểm họa từ suy thoái môi trường, tình trạng suy giảm tài
nguyên, các hiện tượng thiên tai, biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan diễn ra ngày
càng khốc liệt hơn, với tần suất dày hơn. Ngoài những thiệt hại về vật chất, chúng ta
đau buồn khi thiên tai, bão lũ, các vụ sạt lở đất đã cướp đi sinh mạng của nhiều
người dân vô tội. Vì vậy, bảo vệ môi trường tài nguyên là vấn đề sống còn của chúng
ta. Một trong những nguyên nhân cơ bản nhất gây nên sự suy thoái môi trường tài
nguyên và biến đổi khí hậu là do ý thức, hành động và cách ứng xử của mỗi con
người – nhân vật chủ thể của môi trường sống đối với môi trường.
Bảo vệ môi trường tài nguyên và phòng chống thiên tai hiện nay là mối quan
tâm hàng đầu của các cấp các ngành trong đó có ngành giáo dục. Xác định giáo dục
phổ thông về bảo vệ môi trường tài nguyên và phòng chống thiên tai là trang bị cho
học sinh những phẩm chất, kĩ năng về môi trường và bảo vệ môi trường tài nguyên
bằng nhiều hình thức, nhiều phương pháp và thông qua nhiều họat động khác nhau,
phù hợp với thực tế từng địa phương, từng vùng miền trên cả nước.
Với mục đích tăng tính liên kết giữa lí thuyết với thực tiễn trong giáo dục, nhằm
nâng cao nhận thức và hành động của học sinh về bảo vệ môi trường tài nguyên và
phòng chống thiên tai. Đồng thời hình thành kiến thức, phát triển phẩm chất, năng
lực, rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh bản thân tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Thiết
kế và tổ chức các hoạt động dạy học Chủ đề sử dụng và bảo vệ tự nhiên Địa Lí 12-
CB góp phần giáo dục bảo vệ tài nguyên môi trường và phòng chống thiên tai cho
học sinh miền núi Tây Nghệ An”, nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy học
cũng như giáo dục bảo vệ môi trường tài nguyên và phòng chống thiên tai hiệu quả
cho học sinh thông qua một số bài Địa lí.
2. Đối tượng nghiên cứu
- Lý luận về dạy học định hướng phát triển năng lực.
- Lý luận về dạy học tích hợp.
- Quá trình dạy học Địa lí.

2
3. Nhiệm vụ của sáng kiến kinh nghiệm
- Hệ thống hóa cơ sở lí luận phương pháp dạy học định hướng phát triển năng lực
và dạy học tích hợp.
- Phân tích mục tiêu, nội dung dạy học Chủ sử dụng và bảo vệ tự nhiên Địa lí 12-
CB
- Xây dựng kế hoạch dạy học Chủ Sử dụng và bảo vệ tự nhiên Địa lí 12-CB theo
phương pháp DHDA lồng ghép các trải nghiệm thực tiễn nhằm hình thành kiến thức,
rèn luyện kĩ năng, phát triển các năng lực cần thiết và vận dụng các kiến thức đã học
vào cuộc sống. Hơn hết là giúp các em có những kĩ năng ứng phó trước những tai
biến của thiên nhiên.
4. Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu các tài liệu lí luận
- Nghiên cứu chương trình sách giáo khoa, sách giáo viên, sách bài tập nâng cao có
liên quan đến chủ đề sử dụng và bảo vệ tự nhiên.
* Phương pháp điều tra quan sát.
- Dự giờ, tổng kết rút kinh nghiệm việc dạy học chủ đề sử dụng và bảo vệ tự nhiên.
- Phỏng vấn, điều tra, thu thập ý kiến chuyên gia, giáo viên, học sinh về thực trạng
dạy học chủ đề này ở trường phổ thông, nhận thức về phương pháp dạy học và giải quyết
vấn đề của giáo viên và kĩ năng vận dụng phương pháp này vào dạy học.
- Tổ chức khảo sát: Hứng thú học tập của học sinh đối với hoạt động dạy học có lồng
ghép giáo dục bảo vệ môi trường tài nguyên và phòng chống thiên tai qua môn Địa lí 12
tại trường THPT Anh Sơn 2; trường THPT Anh Sơn 1; THPT Anh Sơn 3; THPT Con
Cuông.
* Tổng kết kinh nghiệm của những nhà nghiên cứu, giáo viên giàu kinh nghiệm dạy
học Địa lí.
* Phương pháp thực nghiệm sư phạm
5. Tính mới của đề tài.
Vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường tài nguyên và phòng chống thiên tai hiện nay
là một vấn đề bức thiết với trong nền giáo dục của Việt Nam và tất cả các quốc gia
trên toàn cầu. Vì thế ngày 17/10/2001, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định 1363/QĐ-
TTg về việc phê duyệt đề án: “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo
dục quốc dân”. Trên định hướng đó đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu về tích hợp giáo
dục môi trường vào nhiều môn học như môn GDCD, môn Công nghệ, môn Sinh học,
môn Hóa học...và bản thân tôi trong quá trình giảng dạy môn Địa lí cũng đã thực hiện
tích hợp giáo giáo dục môi trường vào một số bài dạy trong chương trình Địa lí 10, Địa
lí 11 và cả Địa lí 12. Tuy nhiên, việc tích hợp đó chưa được thực hiện rộng mới chỉ

3
trong phạm vi và đối tượng là học sinh trường THPT Anh Sơn 2.
Đối với Sáng kiến kinh nghiệm này của tôi nghiên cứu phạm vi và đối tượng rộng
hơn phù hợp với Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành trung ương (Khoá XI)
về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo tập trung đổi mới phương pháp dạy
học, chú trọng vào giáo dục kĩ năng sống giúp học sinh phát triển toàn diện về thể
chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức, phù hợp với các văn bản chỉ đạo hiện nay đồng thời
rèn luyện kĩ năng sống, vận dụng kiến thức vào đời sống thực tiễn và phát triển năng
lực. Dạy học phù hợp với từng đối tượng học sinh gắn liền với vùng miền và chưa có
đề tài nào nghiên cứu về dạy học Chủ đề sử dụng và bảo vệ tự nhiên Địa Lí 12-CB
góp phần giáo dục bảo vệ tài nguyên môi trường và phòng chống thiên tai cho học
sinh miền núi Tây Nghệ An.

4
PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận
1.1. Một khái niệm liên quan.
1.1.1. Dạy học định hướng phát triển năng lực.
* Khái niệm năng lực: là thuộc tính cá nhân cho phép thực hiện thành công hoạt
động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.
* Mô hình thành phần năng lực giáo dục theo UNESCO:
Các thành phần năng lực
Các trụ cột giáo dục của UNESO
Năng lực chuyên môn
Học để biết
Năng lực phương pháp
Học để làm
Năng lực xã hội
Học để cùng chung sống
Năng lực cá thể
Học để tự khẳng định
* Những loại năng lực cần chú trọng rèn luyện cho HS trong quá trình dạy học.
+ Nhóm năng lực chung, gồm:
Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi làm nền tảng
cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp.
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực nhằm bồi dưỡng và phát huy cho
học sinh các năng lực chung như:
- Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân.
- Nhóm năng lực quan hệ xã hội.
- Nhóm năng lực sử dụng công cụ hiệu quả.
+ Nhóm năng lực, kĩ năng chuyên biệt trong môn Địa lí.
Năng lực chuyên biệt là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở
các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt
động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động
chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động như Toán học, Âm
nhạc, Mĩ thuật, Thể thao, Địa lí.

5
Năng lực chuyên biệt trong môn Địa lí bao gồm:
- Năng lực tư duy tổng hợp lãn thổ (đặc trưng nhất ở môn Địa lí).
- Năng lự học tập ngoài thực địa.
- Năng lực sử dụng bảng số liệu thống kê.
- Năng lực sử dụng ảnh, video, mô hình...
1.1.2. Dạy học tích hợp.
* Dạy học tích hợp là gì?
Dạy học tích hợp là phương pháp dạy học trong đó giáo viên tổ chức hướng
dẫn để học sinh biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác
nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, thông qua đó hình thành những kiến
thức, kĩ năng mới, phát triển được những năng lực cần thiết nhất là năng lực giải
quyết vấn đề.
* Vì sao phải dạy học tích hợp?
- Do sự thay đổi về mục tiêu giáo dục.
Mục tiêu giáo dục phổ thông nhằm tạo ra những con người được phát triển hài
hòa về thể chất và tinh thần, con người cá nhân và con người xã hội. Đó là con người
có những phẩm chất cao đẹp như yêu gia đình, quê hương, đất nước; nhân ái khoan
dung; trung thực, tự trọng; tự lập và tự tin, tự chủ và có tinh thần vượt khó; có trách
nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước; có học vấn phổ thông; có các năng lực
chung như năng lực làm chủ và phát triển bản thân, năng lực về quan hệ xã hội, năng
lực công cụ.
- Do sự thay đổi chương trình giáo dục.
- Do sự thay đổi hình thức tổ chức và phương pháp dạy học.
- Khuyến khích GV sáng tạo, thực hiện dạy học theo chủ đề, chủ điểm có nội
dung liên quan đến nhiều môn học và gắn liền với thực tiễn, tạo cơ hội giao lưu, trao
đổi kinh nghiệm, chuyên môn giữa các giáo viên khác môn.
* Cơ sở của dạy học tích hợp.
- Cơ sở lý luận
“Các sự vật, hiện tượng tạo thành thế giới… không thể tồn tại biệt lập, tách rời nhau,
mà tồn tại trong sự tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau theo những quan hệ xác
định. Chính trên cơ sở đó, triết học duy vật biện chứng khẳng định rằng, liên hệ là
phạm trù triết học dùng để chỉ sự quy định, sự tác động qua lại, sự chuyển hóa lẫn
nhau giữa các sự vật, hiện tượng hay giữa các mặt của một sự vật, của một hiện
tượng trong thế giới ”.
- Về mặt thực tiễn

