CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: - Hội đồng thẩm định sáng kiến trường THPT Ninh Bình - Bạc Liêu.
- Hội đồng thẩm định sáng kiến Sở GD&ĐT Ninh Bình.
Chúng tôi ghi tên dưới đây:
TT Họ và tên Ngày tháng
năm sinh
Nơi công
tác
Chức
vụ
Trình
độ
chuyên
môn
Tỷ lệ (%)
đóng góp
vào việc
tạo ra
sáng kiến
1Lương Thị Hiền 03/02/1981
Trường
THPT
Ninh Bình
- Bạc Liêu
GV Cử
nhân 30%
2Vũ Văn Nam 19/8/1979
Trường
THPT
Ninh Bình
- Bạc Liêu
Hiệu
trưởng Thạc sỹ 30%
3Nguyễn Thị Thủy 22/04/1981
Trường
THPT
Ninh Bình
- Bạc Liêu
GV Cử
nhân 20%
4Chu Thị Ưng 31/01/1980
Trường
THPT
Ninh Bình
- Bạc Liêu
GV Cử
nhân 20%
I. TÊN SÁNG KIẾN, LĨNH VỰC ÁP DỤNG
1. nhóm tác giả đ nghị xét công nhận sáng kiến: Giải pháp nâng cao
năng lực tự học, năng lực hợp tác và hứng thú học tập phần Sinh học tế bào -
Sinh học 10 bằng phương pháp thiết kế trò chơi trong hoạt động khởi động.
2. Lĩnh vực áp dụng: Giảng dạy Sinh học 10, Ban cơ bản
II. NỘI DUNG
1. Giải pháp cũ thường làm
* Giải pháp 1. Sử dụng phương pháp thuyết tnh trong hoạt động khởi động:
- Thông thường, GV bắt đầu bằng việc kiểm tra kiến thức (vấn đáp
hoặc trắc nghiệm) hoặc sử dụng trực tiếp thông tin trong bài, từ kiến thức bài
dẫn dắt qua kiến thức bài mới kênh hình SGK bằng những câu dẫn vào bài mượt
mà, trơn tru với câu từ bay bổng, trau chuốt đầy tính nghệ thuật của GV.
+ Ưu điểm:
1
Để có được lời vào bài đầy tính nghệ thuật như vậy đòi hỏi GV phải có sự
am hiểu sâu sắc nội dung i học cùng những vấn đề liên quan rồi chuyển
hóa thành câu từ kết hợp với giọng đọc hay nói diễn cảm, thuyết phục, không
mất nhiều thời gian để tìm tài liệu, mất ít thời gian khởi động.
- Giúp HS tăng kỹ năng tư duy lôgic.
- HS học tại lớp học, không cần di chuyển vị trí về phòng học bộ môn.
- HS không phải chuẩn bị nhiều kiến thức trước bài học.
+ Hạn chế:
- Tuy nhiên, lời vào bài hay đến đâu cũng chỉ hoạt động khởi động
cho GV chủ yếu. Bởi HS vẫn đóng vai trò thụ động lắng nghe, được “ru vỗ”
bằng những lời cánh. Còn cảm xúc, hứng thú chỉ sự “lây lan” từ GV sang
HS chứ không phải được khơi dậy, hình thành từ sự hoạt động của HS nên
không khí giờ học chưa sôi nổi, chưa thu hút được HS tham gia tích cực thậm
chí nhiều HS không quan tâm đến bài học.
- Dễ tạo ra tâm lý lo lắng cho HS (nếu không học bài cũ), không tạo được
hứng khởi, hạn chế tư duy HS, sẽ tạo tâm thế nhàm chán.
- Thời gian cho hoạt động này quá ít chưa coi đó một hoạt động học
tập, chưa cho các em suy nghĩ, bầy tỏ ý kiến của mình; cố gắng giảng giải, chốt
kiến thức ở ngay hoạt động này...
- Hạn chế trong việc rèn các năng lực cho HS: năng lực tự học, năng lực
hợp tác.
- GV chưa phát huy hết việc ứng dụng những phương tiện dạy học
phương pháp dạy học hiện đại.
- Giải pháp 2. Sử dụng phương pháp đặt giải quyết vấn đề trong hoạt
động khởi động.
+ Ưu điểm của giải pháp là:
- Đánh giá được trình độ phát triển tư duy, nhận thức của HS.
- Giúp HS có kỹ năng liên hệ thực tế, tư duy lôgic tốt; phát triển được một
phần năng lực tự học của HS.
+ Hạn chế của giải pháp là:
- Thu hút được ít HS làm việc; kết quả chỉ tập trung vào một số HS lực
học khá giỏi, yêu thích bộ môn, chăm chỉ tìm hiểu kiến thức.
- Ơv phâwn sinh hoxc têy bawo - Sinh học 10, GV gặp khó khăn xây dựng hệ
thống bài tập liên hệ tạo được mâu thuẫn giữa kiến thức cũ và kiến thức mới.
- Tình huống khởi động chưa thực sự xuất phát từ bài học để tạo hứng
thú, tạo ra tình huống vấn đkích thích sự sáng tạo học tập chủ động của
HS. Hoạt động khởi động/dẫn nhập còn mang tính hình thức, chưa tạo được liên
kết thực sự với bài học, chưa xuất phát từ bài học.
+ Những bất cập, hạn chế của 2 giải pháp trên:
- Chưa thực sự tạo được sự hứng thú học tập bộ môn cho HS.
2
- Chưa thực sự giúp HS phát huy được năng lực cho tất cả các em HS
chỉ tập trung ở một số em tích cực.
- Chưa phát huy được tối đa năng lực tự học và năng lực hợp tác cho HS.
2. Giải pháp mới cải tiến:
2.1. Nội dung cơ bản của giải pháp mới
Để khắc phục những nhược điểm của giải pháp trong dạy học thực
hiện đổi mới phương pháp dạy học, tạo hứng thú cho cả người dạy người
học; thu hút sự quan tâm của nhiều HS với nội dung giờ học, môn học; mặt khác
kích thích được hứng thú yêu thích bộ môn; hình thành và phát triển năng lực tự
học, năng lực hợp tác, kỹ năng tự tin nhạy bén trong giải quyết vấn đ cho HS
chúng tôi sử dụng phương pháp thiết kế các trò chơi trong hoạt động khởi động
(phâwn Sinh hoxc têy bawo - Sinh học 10).
Bước 1. Thiết kế các trò chơi trong hoạt động khởi động (phâ.n Sinh
ho/c tê1 ba.o - Sinh học 10).
Khởi động hoạt động đầu tiên, hoạt động này nhằm giúp HS huy động
những kiến thức, năng, kinh nghiệm của bản thân về c vấn đề nội dung
liên quan đến bài học mới. Hoạt động khởi động sẽ kiych thiych tiynh tow mow, sự
hứng thú, tâm thế của HS ngay từ đầu tiết học.
Hoạt động khởi động thường được tổ chức thông qua hoạt động nhân
hoặc hoạt động nhóm s kích thích sự sáng tạo, giúp HS hình thành năng lực
hợp tác, tinh thần học hỏi, giúp đnhau khi thưc hiện nhiệm vụ, hoaxt đôxng nawy
chưa đowi hovi sưxduy cao, không quay coi troxng vêw vâyn đêw kiêyn thưyc maw chuv yêyu
law taxo tâm thêy tôyt nhâyt cho cayc em nhâxp cuôxc, lôi keyo cayc em coy hưyng thuy vơyi cayc
hoaxt đôxng phiya sau đoy.
Trò chơi học tập là những trò chơi có tác dụng cải thiện năng lực và phẩm
chất người tham gia chơi thông qua đó giúp người chơi thể hiện năng lực của
mình trước tập thể hay những người cùng chơi. Trong dạy học, trò chơi không
chỉ là nguồn cung cấp thông tin mà còn là con đường, là cách thức để HS chiếm
lĩnh thông tin, giúp cho HS hình thành tri thức mới hay củng cố, hoàn thiện tri
thức, kỹ năng học tập môxt caych tưx nhiên, nhex nhawng. Trong chừng mực nhất
định, trò chơi còn được sử dụng nhưphương pháp tổ chức HS trong quá trình
lĩnh hội tri thức. Điều này ý nghĩa quan trọng góp phần thực hiện đổi mới
phương pháp dạy học, tăng cường tính tích cực học tập, tạo niềm tin, hứng thú
trong học tập khả năng vận dụng kiến thức trong thực tiễn sản xuất đời
sống cho HS. Hoăxc coy như{ng trow chơi giuyp cayc em vâxn đôxng tay chân khiêyn cho
cơ thêv tivnh tayo, giavm bơyt như{ng ayp lưxc tâm lyy do tiêyt hoxc trươyc gây ra.
Thiết kế các trò chơi trong hoạt động khởi động (phâwn Sinh hoxc têy bawo -
Sinh học 10). (Bảng mô tả chi tiết xem PHỤ LỤC I)
Bước 2. Đánh giá kết quả đạt được so với mục tiêu xác định
- HS tự đánh giá kết quđạt được sau khi thực hin nhim v ca trò chơi.
3
- Các HS trong nhóm đánh giá chéo quá trình thc hin nhim vca các thành
viên trong nhóm.
- Đại diện nhóm đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của nhóm bạn.
- GV hướng dẫn đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của các nhóm.
- GV nghe báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của HS.
(Bảng mô chi tiết xem PHỤ LỤC II)
Bước 3. Thực nghiệm phạm để kiểm tra tính đúng đắn nh khả thi
của giải pháp. (Bảng mô chi tiết xem PHỤ LỤC III).
Hình ảnh các hoat động của học sinh (xem PHỤ LỤC IV).
thể nói đây một phương pháp dạy học tích cực, khắc phục được
nhiều hạn chế và tồn tại của phương pháp dạy học cũ. Các em được chủ động tự
đánh giá bản thân mình, được trao đổi thảo luận đưa ra những quan điểm ý
tưởng riêng. Viw thêy ngươwi hoxc se{ không cown cavm giayc mêxt movi, nhawm chayn, năxng
nêw, lo lăyng như khi giayo viên kiêvm tra bawi cu{. Cayc em se{ đươxc thoavi mayi tham gia
vawo hoaxt đôxng hoxc tâxp một cách tự nhiên maw không hêw hay biêyt. Giơw hoxc cu{ng
bơyt sưx căng thăvng khô khan. Tạo không khí học mà chơi, chơi mà học.
2.2. Tính mới, tính sáng tạo:
a) Tính mới:
- Thông qua tham gia trò chơi khởi động giúp HS tự tin thể hiện bản thân,
chủ động vận dụng kiến thức đã học kết hợp liên hệ kiến thức thực tiễn, cùng
hợp tác trong nhóm đội giải quyết các dạng bài tập, vấn đề mà trò chơi yêu cầu.
- Tạo được hứng thú học tập vào mỗi tiết học, tăng sự yêu thích bộ môn.
- HS được vận động, thay đổi vị trí học tập, cùng nhau thiết kế cách thực
hiện để giành chiến thắng trong trò chơi, giúp HS có tố chất thủ lĩnh, năng động,
hòa đồng trong công việc nghề nghiệp sau này.
- Phát triển năng lực thu thập thông tin, xử thông tin, kỹ năng nhanh
nhạy trong giải quyết vấn đề.
- HS được chủ động tự do tìm đội chơi phù hợp với sở thích, năng lực của
mình, tạo được kết nối hợp tác tối đa và sẽ giải quyết được nhiệm vụ học tập tốt
nhất.
b) Tính sáng tạo:
- Khi sử dụng phương pháp trò chơi giúp HS được khám phá các ý tưởng
theo sở thích khả năng, phát triển duy sáng tạoniềm đam trong học
tập và trong nghiên cứu.
- Nội dung trò chơi sự kết hợp kiến thức môn học với các vấn đề thực
tế nhằm giải quyết các vấn đề phức tạp và giúp HS rèn luyện năng lực giải quyết
các vấn đề phức hợp.
- Phát triển khả năng sáng tạo của HS: trong trình bày đáp án, thể hiện
khả năng hùng biện giải thích vấn đề cho các bạn hiểu.
- Vận dụng tối đa các kỹ thuật dạy học tích cực như: kỹ thuật công não,
kỹ thuật khăn trải bàn, kỹ thuật mảnh ghép trong thiết kế các trò chơi để nâng
4
cao hiệu quả phát triểnng lực cho HS; đa dạng trong việc thiết kế trò chơi để
tạo sự mới mẻ, thích thú cho HS.
3. Hiệu quả kinh tế, xã hội dự kiến đạt được
3.1. Hiệu quả kinh tế
- Sáng kiến này có giá trị lớn trong chủ trương đổi mới đồng bộ mục tiêu,
phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, đánh giá chất lượng giáo dục, gắn liền
giáo dục trong nhà trường với thực tiễn cuộc sống.
- Sáng kiến tương đương với một cuốn sách tham khảo. Giá tính bình
quân mỗi cuốn sách tham khảo trên thị trường TP Ninh Bình 25.000 VNĐ.
Như vậy với số lượng HS khối 10 của một trường khoảng 280 HS sẽ tiết kiệm
được: 280 x 25.000 = 7.000.000 VNĐ.
- Nếu áp dụng trong toàn tỉnh Ninh Bình với số HS khoảng 8000 em, thì
số tiền làm lợi là: 8000 x 25.000 = 200.000.000 VNĐ (Hai trăm triệu đồng) .
3.2. Hiệu quả xã hội
- Giải pháp góp phần đổi mới phương pháp dạy học, tạo nên không khí
học tập hăng say, hứng thú hiệu quả, HS thấy được kiến thức thiết thực với
cuộc sống.
- Giải pháp đã tạo hiệu ứng tốt cho việc dạy của GV việc học của HS.
Đã tạo hứng thú, kích thích tinh thần tìm tòi, học hỏi, sáng tạo trong dạy, học,
đồng thời tạo điều kiện cho HS vận dụng kiến thức, nâng cao năng lực nhận
thức và năng lực hành động, hình thành phẩm chất, phát huy tính chủ động, sáng
tạo, định hướng nghề nghiệp trong tương lai tiến đến phân luồng HS sau
THPT.
- Mặt khác, sử dụng các trò chơi trong hoạt động khởi động giúp HS hình
thành năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, kỹ năng nhanh nhạy trong giải quyết
vấn đề; tăng sự tự tin khi thể hiện năng lực bản thân cho HS.
4. Điều kiện và khả năng áp dụng
4.1. Điều kiện áp dụng
Sáng kiến nguồn liệu hữu ích, dễ dàng sử dụng; không đòi hỏi yêu
cầu thuật hỗ trợ (máy chiếu, tranh ảnh, video clip,…) góp phần thiết thực đổi
mới dạy học, kiểm tra, đánh giá, nâng cao chất lượng giáo dục.
Tuy vậy, trách nhiệm của GV xây dựng hướng dẫn HS thực hiện
nhiệm vụ. Việc xác định các kiến thức, hình thức tổ chức trò chơi, luật chơi, đòi
hỏi GV phải dựa vào các cơ sở, điều kiện như:
- Mục tiêu giáo dục phổ thông, mục tiêu giáo dục của bài học, môn học.
- Mối liên quan giữa kiến thức đã biết và kiến thức chưa biết.
- Năng lực, sở thích, tâm sinh lý của HS từng lớp, từng vùng miền.
4.2. Khả năng áp dụng
Thiết kế trò chơi trong hoạt động khởi động để nâng cao năng lực
hứng thú học tập bộ môn (môn Sinh học khối 10) tại trường THPT Ninh Bình -
5