
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NINH BÌNH
TRƯỜNG THPT NGÔ THÌ NHẬM
=====================
BÁO CÁO KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến: Phát triển năng lực tư duy cho học sinh thông qua dạy học
Bài tập hóa học chương Ancol- Phenol lớp 11 trung học phổ thông.
Tên tác giả: 1/ Phạm Thị Thanh Tuyền
2/ Phạm Thị Nhài
3/ Nguyễn Quốc Việt
Trường : THPT Ngô Thì Nhậm.
Ninh Bình- Năm 2022
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
HS Học sinh
GV Giáo viên
BTHH Bài tập hóa học
DHHH Dạy học hóa học
ĐC Đối chứng
ĐHSP Đại học sư phạm
NXB Nhà xuất bản
SGK Sách giáo khoa
KTTTĐ Kiểm tra trước tác động
KTSTĐ Kiểm tra sau tác động
NL Năng lực
PPDH Phương pháp dạy học
PTTQ Phương tiện trực quan
QĐDH Quan điểm dạy học

TNSP Thực nghiệm sư phạm
TDST Tư duy sáng tạo
THPT Trung học phổ thông
TN Thực nghiệm

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi : Hội đồng sáng kiến cấp Sở
Chúng tôi ghi tên dưới đây:
TT Họ và tên Năm
sinh Nơi công tác Chức vụ
Trình độ
chuyên
môn
Tỷ lệ (%) đóng
góp vào việc tạo
ra sáng kiến
1 Phạm Thị Thanh Tuyền 1986
THPT Ngô Thì
Nhậm
TT
chuyên
môn
Cử nhân
30
2 Phạm Thị Nhài 1983 Giáo viên Cử nhân 40
3 Nguyễn Quốc Việt 1979 Giáo viên Cử nhân 30
I. Tên sáng kiến, lĩnh vực áp dụng
Là nhóm tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến:
‘‘Phát triển năng lực tư duy cho học sinh thông qua dạy học bài tập hóa học chương Ancol-Phenol
lớp 11 trung học phổ thông’’
Lĩnh vực áp dụng: Phương pháp giảng dạy môn Hoá Học.
II. Nội dung sáng kiến
1. Giải pháp cũ thường làm:
- Chi tiết giải pháp cũ: Trong nội dung chương VI – Ancol- phenol Hoá Học lớp 11
, học sinh được học về tính chất của các hợp chất có nhóm chức đầu tiên về đồng đẳng ,đồng phân và cấu
tạo… Những nội dung này đều rất gần gũi, thực tế nhưng đi vào nghiên cứu nó thì có quá nhiều vấn đề
phức tạp, trừu tượng đôji vơji hokc sinh giữa lý thuyết và thực tế.
Bài tập hoá học với tư cách là một phương pháp dạy học, nó có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc thực
hiện nhiệm vụ dạy học hoá học ở nhà trường phổ thông. Thông qua việc giải tốt các bài tập hoá học các
học sinh sẽ có được những những kỹ năng so sánh, phân tích, tổng hợp … do đó sẽ góp phần to lớn trong
việc phát triển tư duy của học sinh. Đặc biệt bài tập hoá học giúp học sinh cũng cố kiến thúc có hệ thống
cũng như vận dụng những kiến thức đã học vào việc giải quyết những tình huống cụ thể, làm cho bộ môn
trở nên lôi cuốn, hấp dẫn các em hơn.
- Nhược điểm và những tồn tại cần khắc phục:
Các dạng bài chương VI – Ancol- phenol Hoá Học lớp 11 là phần kiến thức tổng hợp và phong phú về
các dạng bài tập. Việc phân loại basi tâkp vas nắm được hết các dạng bài tập cơ bản và nâng cao theo yêu
cầu của chương trình là một việc không phải học sinh nào cũng thực hiện được. Để giải quyết được vấn
đề đó hokc sinh phải biết tổng hợp kiến thức giữa các phần với nhau và phải biết mối quan hệ lôgic giữa
các đơn vị kiến thức với nhau, ngoasi ra cosn phati coj môkt kiêjn thưjc toajn hokc nhâjt điknh.
Tuy nhiên, nhiều năm gần đây, do cấu trúc bài thi tốt nghiệp THPT Quốc gia và các bài thi học sinh giỏi
cấp Tỉnh chỉ chủ yếu tập trung vào phần kiến thức lớp 12 nên giáo viên và học sinh thường ít chú trọng
rèn luyện các bài tập lớp 10 và 11. Việc làm bài tập của học sinh chủ yếu là các bài tập trong sách giáo
khoa và sách bài tập, nên chưa có tính hệ thống và phân dạng đầy đủ.
2. Giải pháp mới cải tiến:

- Mô tả bản chất của giải pháp mới:
Với yêu cầu hokc sinh phải nhớ được lý thuyết và không những phải hiểu sâu về kiến thức mà còn phải
phân biệt các dakng basi tâkp, các công thức, các phương trình cơ bản và có kỹ năng toán học chính xác,
nhanh gọn. Với kinh nghiệm giảng dạy của bản thân, chúng tôi thấy cần phải giúp các em có một kyz năng
phân biệt hiện tượng, định dạng bài tập để áp dụng đúng công thức, đồng thời giải quyết bài toán cho hiệu
quả. Chúng tôi đã tiến hành:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài về các vấn đề: Năng lực, tư duy, các mức độ tư duy, năng lực tư duy,
bài tập hóa học và phát triển năng lực tư duy thông qua bài tập hóa học..
- Điều tra, đánh giá được thực trạng sử dụng BTHH và phát triển năng lực tư duy cho HS thông qua
BTHH ở một số trường THPT của thành phố.
- Tôi đã lựa chọn, đề xuất được 72 BTHH gồm 45 bài tập định tính và 27 bài tập định lượng.
Trong đó tất cả mỗi bài đều có hướng dẫn chi tiết cách giải ngắn gọn, bản chất và kèm các chú ý theo
định hướng PTNL tư duy cho HS.
- Tôi đã xây dựng được 02 giáo án minh họa cho đề xuất.
- Tôi đã tiến hành điều tra ý kiến của HS và tham khảo ý kiến của GV về việc phát triển năng lực
GQVĐ. Tiến hành TNSP tại 2 trường trên địa bàn thành phố. Kết quả TNSP đã bước đầu khẳng định tính
phù hợp, tính hiệu quả và tính khả thi của hệ thống BTHH và những biện pháp đề xuất.
- Bước đầu nghiên cứu cách sử dụng BTHH chương Ancol-Phenol trong quá trình dạy học để phát
huy tính tích cực, thúc đẩy hoạt động tìm tòi, sáng tạo và nâng cao nhận thức và tư duy cho HS.
- Tính mới, tính sáng tạo của giải pháp:
. Thông qua sáng kiến kinh nghiệm
“Phát triển năng lực tư duy cho học sinh thông qua dạy học bài tập hóa học chương Ancol-Phenol
lớp 11 trung học phổ thông”,
chúng tôi đã xây dựng được:
+ Hệ thống kiến thức trọng tâm cần nhớ và gợi ý phương pháp giải bài tập.
+ Phân loại các dạng bài tập trắc nghiệm theo loại bài tập định tính, bài tập định lượng
+ Các dạng bài tập được phân chia theo logic, được lựa chọn đảm bảo thời lượng trên lớp, có đáp
án ở mỗi bài.
Với những kết quả bước đầu thu được có thể chứng tỏ: Việc xây dựng được Hệ thống bài tập ancol –
hoá học 11 gồm nhiều dạng bài, tổng hợp nhiều mảng kiến thức, kết hợp với việc hướng dẫn hoạt động
giải bài tập theo các phương pháp có sự định hướng tư duy cho học sinh sẽ giúp các em nắm được các
dạng bài tập của chương VI một cách hệ thống hơn, giải các bài tập nhanh hơn và đặc biệt học sinh có
được nền tảng kiến thức để tiếp cận phần Este trong chương trình hoá học 12 được dễ dàng hơn.
III. Hiệu quả kinh tế và xã hội dự kiến đạt được
Qua một số năm áp dụng sáng kiến này nhóm Hoá học trường THPT Ngô Thì Nhậm đã đạt được các kết
quả sau:
1. Hiệu quả kinh tế:
+ Tài liệu chúng tôi tổng hợp, biên soạn có tính logic, hệ thống, phù hợp thời lượng kiến thức và đã được
kiểm chứng qua các hoạt động giảng dạy ở các lớp ôn thi THPT Quốc Gia, bồi dưỡng HSG trong nhiều
năm và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.
+ Giúp thời gian ôn luyện phát huy hiệu quả tốt hơn.
2. Hiệu quả xã hội:
Sau khi tổ chức dạy thực nghiệm ở các lớp 11 và tiến hành phân tích đánh giá định tính các giờ học và
phân tích bài kiểm tra, cơ bản chúng tôi đã thu được những kết luận sau.
- Học sinh tích cực tham gia các hoạt động dạy học, hào hứng trả lời câu hỏi của giáo viên, yêu thích hơn
với môn hoá học.

- Sử dụng hệ thống bài tập và hướng dẫn giải đã giúp khả năng làm các bài tập khó cả định tính lẫn định
lượng của học sinh tăng một cách đáng kể. Điều đó khẳng định việc xây dựng
Phát triển năng lực tư duy cho học sinh thông qua dạy học bài tập hóa học chương Ancol-Phenol
lớp 11 trung học phổ thông
ở đây đă có hiệu quả cao trong việc phát triển tư duy, rèn luyện được kỹ năng giải bài tập, kích thích
được lòng say mê Hoá học và chinh phục những bài tập khó của học sinh giỏi.
- Nhìn chung Hệ thống bài tập ancol – hoá học 11 đã xây dựng là khả thi, đã nâng cao hiệu quả của
công tác giảng dạy và bồi dưỡng HSG môn hoá học.
VI. Điều kiện và khả năng áp dụng
1. Điều kiện áp dụng
Áp dụng được với tất cả giáo viên dạy khối 11 và HS khối 11 THPT trên toàn quốc.
Việc luyện tập các dạng đề bài tập có tính chất hệ thống, đầy đủ như được nêu trong sáng kiến đã mang
đến hiệu quả khi ôn tập cho học sinh đồng thời giúp học sinh nhận diện, phân biệt được các dạng đề, biết
cách làm bài phù hợp, vừa nắm vững kiến thức cơ bản vừa có nền tảng vững chắc để tiếp cận kiến thức
este lớp12. Điều này hết sức quan trọng, giúp học sinh đạt được kết quả tốt trong các kỳ thi, đặc biệt là kỳ
thi cuối cấp THPT.
2. Khả năng áp dụng
- Khả năng áp dụng: Sáng kiến này có thể sử dụng làm tư liệu cho tất cả các giáo viên giảng dạy ở các
trường phổ thông. Là tài liệu tham khảo hữu ích cho cơ sở giáo dục khác để cùng phát huy tích cực chủ
động cho học sinh trong việc lĩnh hội kiến thức.
Chắc chắn nội dung sáng kiến không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định. Rất mong nhận được sự
góp ý, phê bình của các thầy, cô và bạn bè đồng nghiệp.
A. 2.1. Đánh giá về thành công khi áp dụng SK.
B. 2.1.1. Đối với học sinh :
+Có 61,03 % HS nhận thấy khó khăn lớn nhất là không có nhiều thời gian làm
bài tập và có 52,01 % HS không hệ thống được kiến thức của chương vì nội dung quá nhiều. Ngoài ra,
còn có những khó khăn khác: mất kiến thức căn bản từ lớp dưới, chưa quen giải nhanh bài tập trắc
nghiệm, không biết cách giải bài tập, nhiều bài tập khó, không vừa sức…
+Đa số HS gặp khó khăn nhất khi học về những nội dung như danh pháp của
Ancol, Phenol (39,94 %) và tính chất hóa học (51,04%) với các lí do: nhiều tên gọi không theo quy tắc
nên khó nhớ, nhiều phản ứng phức tạp, không hiểu kĩ nên không nhớ và vận dụng được…
-Phần lớn HS cho biết GV thường cho các em làm bài tập về tính toán (94,04 %) và chuỗi biến
hóa và điều chế các chất (62,97 %). Nhưng lại có rất ít các dạng bài tập về giải thích, so sánh (20,94 %)
và chứng minh (8,04 %).
-Về cách giải pháp:
+Đa số HS đều nhận thấy để học tốt chương này thì cần phải nắm vững kiến thức
cơ bản về hóa hữu cơ (81%) và tự học bằng cách làm thêm nhiều bài tập từ dễ đến khó (70,04 %).
+ Đồng thời, có 75,03 % HS mong muốn GV thường xuyên củng cố và hệ thống những kiến thức
trọng tâm trong chương để giúp các em học tốt. Đặc biệt, có 67,96 % HS mong muốn GV xây dựng hệ
thống bài tập từ dễ đến khó cho HS tự học.
+1,25 % HS có ý kiến khác như: GV giải bài tập mẫu cho HS, quan tâm kèm HS
yếu, hệ thống lại một số kiến thức trọng tâm…

