BM01-Bìa SKKN
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI Đơn vị THPT Nguyễn Đình Chiểu -----------------------
Mã số: ........................
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH THPT - LỚP 12.
Người thực hiện: Nguyễn Thị Lê
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục :
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn
- Lĩnh vực khác:
Có đính kèm: Các sản phẩm không thể hiện trong bản in SKKN
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
Năm học: 2014-2015.
BM02-LLKHSKKN
SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Nguyễn Thị Lê
2. Ngày tháng năm sinh: 04/10/1980
3. Nam, nữ: nữ
4. Địa chỉ: Phước Thái- Long Thành- Đồng Nai
5. Điện thoại: 0613551883 ; ĐTDĐ:0962566919
6. E-mail: ngle1712@gmail.com
7. Chức vụ: Tổ trưởng
8. Đơn vị công tác: Trường THPT Nguyễn Đình Chiểu
II. TRÌNH ĐỘ ĐÀO TẠO
- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ : Cử nhân
- Năm nhận bằng: 2003
- Chuyên ngành đào tạo: Ngữ văn
III. KINH NGHIỆM KHOA HỌC
- Lĩnh vực chuyên môn có kinh nghiệm: Ngữ văn
1
- Số năm có kinh nghiệm: 11
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu.
Sáng kiến kinh nghiệm: RÈN LUYỆN KỸ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH THPT- LỚP 12.
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Tác phẩm văn học nghệ thuật là một “chiếc gương soi” của cuộc sống, là một kho kinh nghiệm sống, một kho tư liệu dồi dào về cuộc sống, là ý thức, băn khoăn, rung động của con người trước cuộc sống. Cho nên để hiểu cuộc sống một cách cụ thể, để có thể hình dung một cách cụ thể thời đại đã qua, không gì có thể thay thế bằng tác phẩm văn chương. (Lí luận văn học – Vấn đề và suy nghĩ, NXB GD,1998)
Từ việc tiếp nhận những giá trị tư tưởng, thẩm mĩ qua tác phẩm văn học trong Nhà trường cũng như những tác phẩm ngoài chương trình và những vấn đề trong đời sống, mỗi học sinh tự bày tỏ sự nhận thức, tình cảm, thái độ … của bản thân thông qua bài làm văn. Đó là kết qủa của quá trình lĩnh hội tri thức, là thành quả học tập của các em.
Là một giáo viên dạy Văn, tôi luôn mong muốn học trò của mình làm được những bài văn hay, đạt điểm cao trong các bài kiểm tra, qua các kì thi. Tuy nhiên, đó không phải là một việc đơn giản. Bài văn hay trước hết phải là bài văn viết đúng (đúng theo nghĩa tương đối, nghĩa là trong khuôn khổ nhà trường). Hay và đúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Bài văn hay trước hết phải viết theo đúng yêu cầu của đề bài, đúng những kiến thức cơ bản, hình thức trình bày đúng quy cách …
Xác định đúng yêu cầu của đề bài là rất cần thiết, bước này giúp học sinh thể hiện đúng chủ đề của bài văn, tránh lạc đề hay xa đề. Xác định đúng yêu cầu của đề cũng giúp người viết lập được một dàn ý tốt và do đó cũng tránh được sự dài dòng, lan man “Dây cà ra dây muống”, “Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” tạo được sự thống nhất, hài hoà giữa các phần của bài viết, tránh tình trạng “Đầu voi đuôi chuột”. Mặt khác, việc viết đúng kiến thức cơ bản vô cùng quan trọng, kiến thức cơ bản là “bột”, mà “Có bột mới gột nên hồ”.
2
Hình thức trình bày là sự thể hiện bố cục của bài văn trên trang giấy. Một bài văn đúng quy cách là bài văn mà khi nhìn vào tờ giấy phần bài làm của học sinh chưa cần đọc, chúng ta đã thấy rõ ba phần: Mở bài, thân bài và kết bài. Muốn thế, người viết không chỉ phải chú ý đến nội dung mà hình thức cũng phải rõ ràng.
Trong thực tế dạy – học tôi thấy bài văn của học sinh mình chưa đáp ứng được những yêu cầu của một văn bản trong nhà trường. Bài văn của các em vẫn còn hiện tượng lạc đề, xa đề do không chú ý đến việc tìm hiểu đề; đoạn văn trong bài thường sai quy cách (các em thường viết đoạn không có câu chủ đề hoặc có nhiều câu chủ đề trong một đoạn,…). Bên cạnh đó, sự liên kết giữa các đoạn văn chưa lôg c (triển khai ý nọ sọ ý kia, không nhất quán, trùng lặp,…). Thậm ch , có rất nhiều em đã học đến lớp 12 nhưng hoàn toàn không biết làm một bài văn nghị luận đúng yêu cầu (một số em để giấy trắng, một số khác thì viết linh tinh để đối phó trong bài kiểm tra). Trong khi đó phần Làm văn nghị luận chiếm tỉ lệ 50% đến 70% điểm số bài thi, cho nên tình trạng học sinh điểm dưới trung bình là rất cao. Đó cũng là lý do khiến các em lo sợ, không hào hứng khi học môn Ngữ văn, nhất là phân môn Tập làm văn. Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu.
Từ những lý do đó, tôi đã tiến hành tìm tòi, nghiên cứu và vận dụng vào thực tế giảng dạy “Rèn luyện kỹ năng làm bài văn nghị luận cho học sinh THPT- Lớp 12”. Trong đề tài này, tôi chia sẻ chủ yếu cách làm hai dạng đề thiết thực nhất là: kỹ năng làm bài nghị luận văn học và kỹ năng làm bài nghị luận văn học kết hợp nghị luận xã hội nhằm giúp học sinh đạt điểm cao trong kỳ thi THPT Quốc gia 2015 sắp tới.
II.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cở sở lý luận:
Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo Quyết định số 16/2006/QĐ- BGDĐT ngày 5/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã nêu: “Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học, bồi dưỡng cho HS phương pháp tự học, khả năng hợp tác, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho HS”.
Tổ chức hoạt động dạy học theo hướng tích cực, phát huy năng lực chủ động, sáng tạo ở cả người dạy lẫn người học, chú trọng khái quát nội dung kiến thức tạo thuận lợi để học sinh lĩnh hội và phát triển các thao tác tư duy khoa học. Tăng cường và sử dụng hợp lý các phương tiện trong dạy học,“nâng cao chất lượng thực hành hướng tới đảm bảo sự phát triển năng lực cho mỗi cá nhân”(Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy lớp 9- Vụ giáo dục trung học trang 6,7). Lớp 9 cũng như lớp 12 là những lớp cuối cấp nên có một vị trí hết sức quan trọng: vừa phải tổng kết được những kiến thức, kĩ năng được học tập, rèn luyện trong quá trình học, vừa phải chuẩn bị cho các kỳ thi, tạo tâm thế, tiềm lực cho các em lên bậc Đại học hoặc đi vào cuộc sống thực tế.
Nghị luận nói chung, nghị luận về một tác phẩm Văn học nói riêng có vị trí rất quan trọng trong chương trình Tập làm văn lớp 12. Nghị luận văn học là một dạng nghị luận mà các vấn đề đưa ra bàn luận là các vấn đề văn học: tác phẩm, tác giả, thời đại văn học, trào lưu, các giá trị về nội dung, nghệ thuật, hình tượng,... của một tác phẩm cụ thể. Nghị luận văn học kết hợp với nghị luận xã hội là hình thức tổng hợp hai dạng kiến thức: từ tác phẩm văn học và từ thực tiễn đời sống.
Xuất phát từ đặc trưng của văn học: có t nh hình tượng, hàm súc, đa nghĩa, hệ thống; là nghệ thuật ngôn từ; là phương tiện chuyển tải những tư tưởng, tình cảm của nhà văn để từ đó mang đến nội dung giáo dục sâu sắc về tình cảm, thẩm mĩ cho người đọc. Do vậy, khi làm bài nghị luận văn học, người viết phải phát hiện được các giá trị nội dung tư tưởng và nghệ thuật thẩm mĩ, nền cảm xúc, của tác phẩm, tác giả đồng thời thể hiện được năng lực cảm thụ, thưởng thức văn học của cá nhân. Bài nghị luận văn học kết hợp với nghị luận xã hội đòi hỏi người viết phải đáp ứng các yêu cầu về cảm thụ tác phẩm như đã nêu ở trên đồng thời cần thể hiện những nhận thức, đánh giá, suy nghĩ của bản thân về các vấn đề tư tưởng, đạo đức, lối sống; các hiện tượng... đang diễn ra trong cuộc sống.
Mặt khác, cũng cần hiểu rằng một tác phẩm văn học ra đời là đứa con tinh thần của nhà văn; chịu sự chi phối của tư tưởng, quan niệm và tài năng của tác giả. 3 Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu.
Đồng thời, nó cũng phản ánh một thời đại lịch sử (bối cảnh tác phẩm) trong một hoàn cảnh xã hội nhất định (hoàn cảnh ra đời). Do đó, khi làm bài nghị luận văn học cần huy động tri thức về thời đại của tác giả, về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, về văn học và về tiếng Việt... Khi nghị luận về tác phẩm văn học phải đặt tác phẩm vào thời đại mà tác phẩm phản ánh cũng như hoàn cảnh tác phẩm ra đời để thấy rõ giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm.
Theo cách thức nghị luận và phương pháp lập luận có thể chia thành các kiểu bài nghị luận văn học: phân tích, bình luận, chứng minh. Người ra đề cũng có thể kết hợp nhiều yêu cầu trong một đề văn. Đó là l do học sinh thường gặp kiểu bài hỗn hợp.
Như vậy, để làm tốt bài nghị luận văn học, cần cho học sinh hiểu rõ tính chất tổng hợp của kiểu bài này. Giáo sư Lê Tr Viễn đã có lời nhắn nhủ: “Dạy văn lấy cảm làm đầu”. Người giáo viên dạy học sinh làm bài văn nghị luận văn học, bài nghị luận văn học kết hợp với nghị luận xã hội không thể nghèo nàn cảm xúc, cũng không thể kém hiểu biết thực tế cuộc sống. Cho nên hướng gợi ý học sinh trình bày những cảm nhận, đánh giá tác phẩm, hiện tượng đời sống hay tư tưởng, đạo lí phải xuất phát từ những rung cảm thẩm mĩ chân thật; phải biết kết hợp linh hoạt nhiều thao tác lập luận; phát huy tính tích cực, sáng tạo của cá nhân, không gò ép theo khuôn mẫu.
Năm 2008, Bộ Giáo dục tiếp tục triển khai cho giáo viên trên toàn quốc một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn, trong đó phương pháp giảng dạy phân môn Tập làm văn được chú trọng nhiều nhất cũng đã mở ra nhiều hướng suy nghĩ mới, giúp giáo viên giảng dạy tốt hơn nếu biết tự nghiên cứu và vận dụng sáng tạo hơn.
2. Cơ sở thực tiễn:
Môn Ngữ văn trong nhà trường THPT gồm có ba phân môn: Đọc văn, tiếng Việt và Tập làm văn.Trong thực tế, phân môn Tập làm văn luôn được coi là phân môn khó. Hơn thế, cách ra đề thi tốt nghiệp THPT năm 2014 của Bộ GD& ĐT theo hình thức mới lại càng khó hơn không chỉ đối học sinh mà còn đối với cả giáo viên. Bởi để làm được bài văn hay đòi hỏi tư duy, kỹ năng và một phần năng khiếu của người viết.
Về ph a giáo viên:
4
Trong chương trình nghị luận văn học lớp 12, nghị luận về một tác phẩm, một đoạn tr ch văn xuôi; nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ; nghị luận về một ý kiến bàn về văn học đã được tách ra thành từng phần, từng bài để hướng dẫn cho học sinh nắm được đặc trưng cơ bản của từng dạng bài. Từ đó, giúp học sinh có cách làm từng loại bài văn cụ thể theo yêu cầu của đề bài. Tuy nhiên, do thời gian theo PPCT dành cho tiết học Tập làm văn này t. Hơn nữa, bản thân tôi cũng như một số giáo viên trong tổ khi dạy những tiết Tập làm văn chưa chú trọng, chưa đầu tư nghiên cứu kỹ nội dung, kiểu bài,...để có phương pháp dạy phù hợp. Thông thường đến những tiết Tập làm văn, giáo viên chỉ hướng dẫn học sinh nắm được nội dung của bài làm văn đó. Chẳng hạn, cũng hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề, lập dàn ý chi
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu.
tiết, viết mở bài, thân bài, kết bài cho những đề văn mà sách giáo khoa đưa ra. Nhưng một thực tế, nhiều đề trong số những đề đó nó không hoàn toàn thiết thực với chương trình, mục đ ch mà học sinh lớp 12 đang học. Trong khi đó, một số giáo viên lại không linh động khi soạn giáo án để thay thế đề bài khác phù hợp với chương trình học sinh lớp 12 đang tiếp cận mà vẫn đảm bảo yêu cầu về kiểu bài.
Việc ra đề kiểm tra của giáo viên hiện nay cũng còn nhiều điều cần bàn. Một số giáo viên chưa quen với cách ra đề theo hình thức mới nên ra đề chỉ mang t nh chất đối phó.
Về ph a học sinh: Theo kết quả điều tra của bản thân tôi vào đầu năm học bằng phiếu lấy ý kiến:
Học phân môn Tập làm văn em thích hay không thích?
Thích Không thích
Năng lực học Tập làm văn của em ở mức nào?
Giỏi Khá TB Yếu
Làm bài Tập làm văn khó hay dễ? Khó Dễ
Theo bản thân em, thể loại văn bản nào sau đây đối với em là khó làm bài nhất? Thuyết minh Nghị luận
Làm bài Tập làm văn kết hợp giữa nghị luận văn học và nghị luận xã hội khó hay dễ? Khó Dễ
Kết quả khảo sát cho thấy, trong tổng số 68 phiếu điều tra học sinh khối 12, trong đó có đến hơn 2/3 ý kiến không th ch học phân môn Tập làm văn, các em cho đây là phân môn khó và học rất yếu, đặc biệt là ở thể loại văn nghị luận. Cụ thể:
Chưa coi trong bộ môn so với các môn khoa học tự nhiên nên chưa đầu tư, chưa có thái độ học tập đúng đắn; chưa có thói quen chuẩn bị bài trước khi đến lớp.
Học sinh học Tập làm văn một cách máy móc. Trước một đề bài các em t
nghiên cứu, chỉ đọc loáng thoáng rồi viết theo kiểu đối phó.
Nhiều bài văn chưa đạt yêu cầu do chưa biết cách viện dẫn, dẫn chứng nghèo
nàn, thiếu ch nh xác và không lôg c.
Học văn nghị luận mà chưa biết cách phân biệt thể loại, kiểu bài.
Thiếu năng lực phân t ch cần thiết, chưa thấy được cái hay cái đẹp trong văn
chương.
Nhiều học sinh chỉ làm được phần nghị luận văn học hoặc tách ra thành hai
đoạn riêng biệt.
Nhiều học sinh khi viết bài mắc lỗi về dùng từ, đặt câu, lập luận, viết đoạn,
5
hành văn và nhiều lỗi khác.
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu.
Trước thực trạng trên, bản thân tôi là người phụ trách bộ môn của trường, đồng thời là giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp 12, tôi luôn băn khoăn, trăn trở làm thế nào để giúp học sinh nắm và làm tốt bài Tập làm văn.
Với mục đ ch là rèn luyện cho học sinh lớp 12 thành thạo những kỹ năng cơ bản nhất, thiết thực nhất, thậm ch là cụ thể hóa khi làm bài nghị luận. Và mục tiêu chung là giúp hơn 65% học sinh yếu của trường cũng có thể đậu trong kỳ thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn.
Sáng kiến kinh nghiệm này nhằm đạt được mục đ ch và mục tiêu trên, thực tế những năm qua chúng tôi đã vận dụng trong việc dạy học làm văn nghị luận văn học; dạy nghị luận văn học kết hợp nghị luận xã hội ngay từ kỳ ôn thi tốt nghiệp THPT năm 2013-2014, năm học 2014-2015 ở lớp 12 và đã đạt được những kết quả bước đầu đáng ghi nhận: trên 85% học sinh khối 12 không còn “choáng ngợp” với văn nghị luận, không rơi vào tâm lí sợ làm nghị luận; học sinh chủ động, t ch cực và th ch học và làm nghị luận hơn. Điều đó thể hiện rất rõ qua kết quả các bài kiểm tra, bài thi.Tỉ lệ đậu tốt nghiệp được nâng lên đáng kể qua từng năm.(Năm 2014 tỉ lệ đậu tốt nghiệp môn Văn trường THPT Nguyễn Đình Chiểu là 82%).
Những giải pháp tôi đưa ra đây chắc chắn không hoàn toàn là những giải pháp mới lạ. Nhưng đây là những giải pháp thiết thực, cụ thể hóa để phù hợp với đối tượng học sinh trường THPT Nguyễn Đình Chiểu .
III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP
Để có một bài văn hoàn chỉnh người viết phải trải qua các bước: Tìm hiểu đề, tìm ý; lập dàn ý; viết bài văn; đọc và sửa bài. Tuy nhiên ở phạm vi bài viết này tôi chỉ tập trung một số vấn đề có t nh thiết thực nhất đối với học sinh lớp 12 như sau:
1. Tìm hiểu đ
Để tìm hiểu để tốt, người viết cần đọc kĩ đề, chú ý từ ngữ then chốt để xác
định đúng yêu cầu về nội dung, hình thức và tư liệu sử dụng.
a) Xác định kiểu bài: Đề bài yêu cầu nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ; nghị luận về một đoạn tr ch, một tác phẩm văn xuôi hay nghị luận về một ý kiến bàn về văn học, hay kết hợp nghị luận về một vấn đề văn học với một vấn đề xã hội? Lời yêu cầu về kiểu bài theo lối trực tiếp hay gián tiếp? Thông thường học sinh khi nhận được đề bài thường bỏ qua khâu này, nhưng các em lại không biết rằng đây là việc quan trọng giúp các em nhận thức tốt các khâu còn lại trong bước tìm hiểu đề. Vì vậy, khi dạy tôi luôn yêu cầu học sinh thực hiện khâu này trước tiên mà không bao giờ được bỏ qua.
Chẳng hạn:
Đề 1: Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến qua đoạn thơ sau:
“...Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
6
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu.
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành... ”
( Trích Tây Tiến - Quang Dũng)
Đề 2: Vẻ đẹp của một nhân vật nam trong chương Ngữ văn 12 mà em yêu
thích.
Đề 3: Phân tích bài thơ sau của Hồ Ch Minh:
“Tiếng suối trong như tiếng hát xa,
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.
Cảnh khuya như vẽ, Ngườii chưa ngủ,
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”.
Đề 4: Phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu.
Đề 5: Phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong đoạn trích Vợ
chồng Aphủ của nhà văn Tô Hoài.
Đề 6 : Nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai cho rằng: “Nhìn chung văn học Việt Nam phong phú, đa dạng; nhưng nếu cần xác định một chủ lưu, một dòng chính, quán thông kim cổ, thì đó là văn học yêu nước”. Hãy trình bày suy nghĩ của anh (chị) đối với ý kiến trên.
Đề 7: Phân tích hình tượng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi. Từ nhân vật Việt anh/chị hãy bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ trong thời hiện đại.
Đề 8: Cảm nhân của anh/chị về nhân vật Tràng trong tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân.Từ đó làm sáng rõ tình yêu thương con người trong xã hội hiện nay (đúng với tinh thần “Lá rách ít đùm lá rách nhiều” mà ông cha ta đã dạy).
Với các đề bài trên, giáo viên hướng dẫn học sinh làm thế nào để xác định đúng nhất, nhanh nhất các dạng đề. Muốn vậy, giáo viên phải hướng học sinh dựa vào từ ngữ có t nh chất định hướng, gợi yêu cầu của đề. Đồng thời, phải giúp học sinh thấy được sự khác nhau của các từ ngữ trong đề nổi để từ đó có cơ sở xác định đúng các thao tác trọng tâm.
Những đề bài cho ở trên, lưu ý những từ, cụm từ in nghiêng, gạch chân giúp
học sinh nhận diện yêu cầu của đề bài. Căn cứ vào đó ta nhận diện được:
Đề 1 là nghị luận về một đoạn thơ; đề 1 lời yêu cầu về kiểu bài trực tiếp- đề
đóng (đề nổi), đề 2 lời yêu cầu về kiểu bài gián tiếp- đề mở .
Đề 3 nghị luận về một bài thơ (đề đóng),
7
Đề 4 nghị luận về một tác phẩm văn xuôi (đề đóng),
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu.
Đề 5 nghị luận về một đoạn tr ch văn xuôi (đề đóng),
Đề 6 nghị luận về một ý kiến bàn về văn học- đề mở ( đề chìm),
Đề 7,8 nghị luận văn học kết hợp nghị luận xã hội,
Đề 1, 3, 4, 5 thao tác nghị luận ch nh là phân t ch; đề 2 và đề 7 thao tác chính
là bình luận, phân t ch; đề 6 thao tác ch nh là chứng minh, phân t ch.
Đề 1,2,3,4,5,6 là dạng đề nghị luận văn học; đề 7,8 là đề kết hợp giữa nghị
luận văn học và nghị luận xã hội.
b) Xác định nội dung trọng tâm yêu cầu của đề:
Có thể căn cứ vào đề bài để xác định nội dung trọng tâm. Có bài viết chỉ cần dựa vào đề bài là có thể nhận thấy nội dung trọng tâm. Nhưng phần lớn các bài viết đều đòi hỏi người viết phải suy luận thêm: qua nội dung trước mắt (được thể hiện rất rõ ở đề bài) đề bài yêu cầu người viết phải nhận thức thêm về vấn để gì ? Đó là những vấn đề tư tưởng chủ đề sâu sắc của tác phẩm mà mọi chi tiết, hình ảnh, câu chữ,... của tác phẩm đều hướng đến thể hiện.
Chẳng hạn với đề bài Theo anh (chị), t nh dân tộc trong bài thơ “Việt Bắc” được hiểu hiện cụ thể ở những phương diện nào? Trình bày vắn tắt và nêu dẫn chứng minh hoạ.
Nội dung trọng tâm của bài viết là: Phân t ch t nh dân tộc trong bài thơ “Việt Bắc”của Tố Hữu. (Tr 5-Rèn luyện kỹ năng làm bài thi tốt nghiệp và đại học môn Văn-NXB ĐHQG Hà Nội)
Kỹ năng tìm hiểu đề là kỹ năng định hướng cho toàn bộ quá trình thực hiện một bài Tập làm văn. Tuy vậy, đa số học sinh thường không chú ý đến bước này. Vì vậy, trong quá trình làm bài các em thường lạc đề hoặc xa đề nên bài văn thường không có điểm cao. Cũng ch nh vì lẽ đó hướng dẫn các em làm tốt bước này sẽ giúp học sinh tránh được việc lạc đề, xa đề. Từ đó bài văn sẽ tốt hơn.
Nắm được hạn chế đó của học sinh nên tôi luôn hướng dẫn học sinh thực hiện thao tác này và nó được lặp đi lặp lại ở mỗi bài viết cũng như trước các đề trong bài học. Trên cơ sở đó các em sẽ biến nó thành một kỹ năng cần thiết trước khi viết bài.
Để học sinh xem tìm hiểu đề là một bước không thể thiếu khi làm bài thì giáo viên phải giúp các em thành thạo bước này trong quá trình dạy học. Người giáo viên nên tận dụng thời gian để cho các em luyện tập. Chẳng hạn, ra đề và yêu cầu HS về nhà thực hiện, trước các bài viết số 1, số 2, số 3, dựa trên nội dung ôn tập đã thống nhất.
Để giúp học sinh tìm hiểu đề, trước một đề bài tôi thường yêu cầu học sinh đọc nhiều lần (thậm ch yêu cầu học sinh đọc thuộc đề); lấy bút chì gạch chân những từ cần chú ý, chép lại đề với những ý có gạch đầu dòng để làm cho nổi bật các yêu cầu của đề; xác định ba yêu cầu của đề. V dụ: Phân t ch hình tượng người lính Tây Tiến trong đoạn thơ sau:
8
...Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu.
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành...
( Trích Tây Tiến - Quang Dũng)
C) Xác định các thao tác lập luận
Có nhiều thao tác lập luận: giải th ch, chứng minh, phân t ch, so sánh, bác bỏ, bình luận (trong đó, thao tác giải th ch và chứng minh tạm được coi là những thao tác bộ phận của thao tác phân t ch). Mỗi thao tác lại có những ưu thế riêng, trong bài văn nghị luận nên vận dụng tổng hợp các thao tác lập luận một cách phù họp để bài viết đạt hiệu quả cao nhất. Muốn vậy, đòi hỏi người viết phải nắm chắc được đặc điểm chung của một số thao tác lập luận cơ bản. Trên thực tế, những thao tác này học đã được học từ các lớp dưới, tuy nhiên không phải học sinh nào cũng nhớ và thành thạo khi làm bài. Vì vậy, ngay từ bài hướng dẫn học sinh làm bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ (lớp 12), tôi yêu cầu các em phải ôn lại những thao tác lập luận đã học và bắt buộc các phải em ghi nhớ. Cứ thế, trong suốt quá trình luyện tập- trái buổi ở những đề cụ thể của bất kì kiểu bài nào.
Dưới đây là đặc điểm chung của một số thao tác lập luận cơ bản.
Phân tích: chia tách sự vật, hiện tượng thành nhiều yếu tố nhỏ để đi sâu vào xem xét một cách kĩ lưỡng nội dung và mối quan hệ bên trong của hiện tượng và sự vật đó. Khi phân t ch cần chú ý gắn cái riêng với cái chung, không nên tách rời sự vật đối tượng khỏi cái chung khiến chúng trở nên lẻ tẻ, vụn vặt. V dụ:
Con sông Đà“tuôn dài, tuôn dài như áng tóc trữ tình...” câu văn dài chất chứa niềm yêu say mê của Nguyễn Tuân với sông Đà. Biện pháp so sánh không chỉ gợi chiều dài của dòng sông mà còn cảm nhận về dáng hình, dòng chảy của nó. Sông Đà trong một sự vận động, chảy trôi miên man, vô tận. Sông Đà hung dữ đã thay bằng hình ảnh một con sông mềm mại, uốn lượn, được hình dung như mái tóc của người thiếu nữ. Hình ảnh gợi cảm, duyên dáng, tình tứ, có khá năng tạo ra những trường liên tưởng rộng lớn qua trí tưởng tượng sinh động của nhà văn. (Đề bài : Phân t ch hình ảnh thơ mộng, trữ tình của những dòng sông Việt Nam qua hai bài tuỳ bút Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân) và Ai đã đặt tên cho dòng sông ? (Hoàng Phủ Ngọc Tường).
9
Trong đoạn văn trên, người viết đã phân t ch câu văn (Con sông Đà) “tuôn dài, tuôn dài như áng tóc trữ tình...” trên cả hai phương diện: nội dung (chiều dài cùa dòng sông; dáng hình, dòng chảy của nó; hình ảnh một con sông mềm mại, uốn lượn,...) và nghệ thuật (Biện pháp so sánh; Hình ảnh gợi cảm; trường liên tưởng rộng lớn,..) để làm rõ ý văn của tác giả.
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu.
So sánh: đối chiếu hai hay nhiều sự vật, hoặc là các mặt trong cùng một sự vật nhằm chỉ ra những nét tương đồng hay khác biệt, từ đó thấy rõ đặc điểm và giá trị cùa từng sự vật. Khi so sánh cần chú ý lựa chọn và duy trì một tiêu ch , một bình diện so sánh nhất định. Chẳng hạn:
Nguyễn Văn Siêu đã rất đúng đắn khi đặt ra một yêu cầu cho văn chương chân chính, đó phải là tiếng nói, hơi thở của cuộc sống đời thường, đưa ra nhiệm vụ phản ánh hiện thực cho văn chương. Yêu cầu này đòi hỏi ở nhà văn một sự tinh tế, nhạy cảm, thức nhọn các giác quan rất cao để có thế giới quan cuộc sống, nhập thân vào cuộc sống để khám phá, tìm tòi. Một tác phẩm ưu tú "không đem đến một cách cho người đọc sự thoát ly hay sự quên:, nó đem đến cho người đọc hơi thỏ, nhịp đập của chính cuộc đời cho người đọc những “bài học trông nhìn và thưởng thức" (Theo dòng)-Thạch Lam. “Tác phẩm văn nghệ phải thể hiện sự sống thật hơn là sự sống bình thường, cô đọng hơn, khái quát hơn, cao hơn cuộc sống mà văn là cuộc sống” (Trường Chinh). Người nghệ sĩ phải nhận thức, phản ánh cuộc sống có lí tưởng, chứ không phải mình họa li tưởng cuộc sống. Lí tưởng nằm ngay trong cuộc sống chứ không tách ra khỏi cuộc sống, không khiến người ta thoát ly hay quên lãng ... (Bài viết: Trong một bức thư luận bàn về văn chương, Nguyễn Văn Siêu có viết: “Văn chương [...] có loại đáng thờ. Có loại không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người”. Hãy phát biểu ý kiến về quan niệm trên).
Đoạn văn trên có sự so sánh trong quan niệm về văn chương của các tác giả: Nguyễn Văn Siêu, Thạch Lam, Trường Chinh. Từ đó, người đọc thấy được sự tương đồng trong quan niệm của các tác giả về vấn đề này. Bác bỏ: dùng lập luận đầy đủ để chứng minh một ý kiến nào đó là sai. Muốn bác bỏ một ý kiến nào đó, cần tr ch ý kiến đó rồi trả lời bằng những lập luận: ý kiến đó sai ở chỗ nào và vì sao như thế là sai. V dụ:
Nguyễn Văn Siêu đã rất đúng đắn khi đặt ra một yêu cầu cho văn chương chân chính, đó phải là tiếng nói, hơi thở của cuộc sống đời thường, đưa ra nhiệm vụ phản ánh hiện thực cho văn chương... […]
Tuy nhiên, cũng cần quan tâm đến hình thức nghệ thuật. Hình thức và nội dung cần có sự tương xứng. Nghệ thuật giúp nội dung trở nên đặc sắc hơn. Một tác phẩm hay phải là một chỉnh thể thẩm mĩ, là sự gắn bó, quyện hòa giữa hai mặt hình thức và nội dung. Văn học “như người con gái đẹp” (Chế Lan Viên) khônq chỉ lôi cuốn người ta bằng y phục, dáng hình mà còn làm mê đắm lòng người bằng vẻ đẹp nhân phẩm bên trong. Một tác phẩm văn học chỉ hay khi kết tinh cao độ sự độc đáo, mới lự của hình thức và sự sâu kín của nội dung, là một chỉnh thề thống nhất, hài hòa. Tính nhạc dặt dìu được rạo nên từ thể thơ năm chữ như ru, như hát, như thủ thỉ tâm tình của một bài thơ đẹp như “Thơ tình cuối mùa thu” đã dần người đọc dạo bước mùa thu, dạo bước tình yêu. Hình ảnh thơ trong sáng, giản dị, nghệ thuật ngắt dòng, lặp từ rất khéo léo, thành công khiến bài thơ như một điệp khúc tình yêu ngân vang, tha thiết....[…]
Như vậy, ý kiến, quan niệm của Nguyễn Văn Siêu [...] thiếu cái nhìn toàn diện, chưa nhận thức đầy đủ về giá trị, vai trò của rác yếu tố hình thức, nghệ thuật
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 10
trong văn chương.(Bài viết: "Trong một bức thư luận bàn vể văn chương, Nguyễn Văn Siêu có viết: “Văn chương [...] có loại đáng thờ. Có loại không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người”. Hãy phát biểu ý kiến về quan niệm trên").
Trong phần văn bản trên, người viết đã sử dụng thao tác bác bỏ để bác đi ý kiến của Nguyễn Văn Siêu khi ông phủ nhận hoàn toàn vai trò của hình thức nghệ thuật trong sáng tác văn học. Bằng việc đưa ra những vấn đề l luận và phân t ch một Ví dụ cụ thể (bài thơ “Thơ tình cuối mùa thu” của Xuân Quỳnh), người viết đã khẳng định vai trò không thể thiếu của nghệ thuật đối với một tác phẩm văn học có giá trị. Từ đó, chỉ ra thiếu sót trong quan niệm của Nguyễn Văn Siêu: thiếu cái nhìn toàn diện, chưa nhận thức đầy đủ về giá trị, vai trò của các yếu tố hình thức, nghệ thuật trong văn chương.
Bình luận: bàn bạc và đánh giá vể sự đúng sai, thật giả, lợi hại của các tác phẩm, các vấn đề văn học, các ý kiến bàn về văn học,... Muốn bình luận một vấn đề cần lưu ý xác định đối tượng bình luận, giới thiệu đối tượng đó và đề xuất ý kiến bình luận (phân t ch đối tượng một cách cụ thể và nhìn đối tượng từ nhiều mối quan hệ). Chẳng hạn:
Hình ảnh người l nh Tây Tiến là một bức tượng đài đẹp đẽ với tư thế hiên ngang, với kh phách anh hùng và có cả những say mê, ước vọng lãng mạn, đẹp đẽ. Nhưn thơ Quang Dũng còn tả rất thực về những mất mát, hy sinh của đoàn binh Tây Tiến. Không thi vị hóa hiện thực, ngòi bút thơ Quang Dũng dám nhìn nhận vào nhữnq tổn thất tất yếu của con người trong chiến tranh tàn khốc (Bài viết “Vẻ đẹp bi tráng của người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng”).
Trong đoạn văn trên, người viết đã sử dụng thao tác bình luận để đánh giá về thơ Quang Dũng mà cụ thể là bài thơ “Tây Tiến” và hình ảnh người l nh trong bài thơ. Hình ảnh người l nh Tây Tiến “là một bức tượng đài đẹp đẽ”. Thơ Quang Dũng “tả rất thực về những mất mát, hy sinh của đoàn binh Tây Tiến. Không thi vị hóa hiện thực [...] dám nhìn nhận vào những tổn thất tất yếu của con người trong chiến tranh tàn khốc” (Tr 5,6,7-Rèn luyện kỹ năng làm bài thi tốt nghiệp và đại học môn Văn-NXB ĐHQG Hà Nội)
Ngoài những thao tác trên, trong bài viết cần vận kết hợp nhiều thao tác khác để bài viết được sáng tỏ, có sức thuyết phục. Tuy nhiên, điều quan trong ở khâu này là học sinh phải xác định được trong một đề bài cụ thể thao tác nào là trọng tâm, là ch nh, cần sử dụng nhiều; thao tác nào là phụ? Muốn vậy, giáo viên hướng dẫn học sinh chú ý ở những từ ngữ nêu rõ thao tác lập luận biểu hiệu ở đề bài, để xác định cho đúng.
V dụ: Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu. Ở đề bài này học sinh cần xác định phải kết nhiều thao tác: phân t ch, chứng minh, giải th ch, bác bỏ, bình luận,… Trong đó, thao tác phân t ch và bình luận là ch nh.
d) Xác định phạm vi tư liệu
- Đối với những để bài thuộc kiểu bài nghị luận về một ý kiến bàn về văn học,
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 11
phạm vi tư liệu là bản thân ý kiến đó và những tác phẩm văn học tiêu biểu.
Chẳng hạn với đề bài: Anh (chị) hãy hày tỏ quan điểm cửa mình về ý kiến của nhà văn Pháp La Bơ-ruy-e:“Khi một tác phẩm nâng cao tinh thần ta lên và gợi cho ta những tình cảm cao quý và can đảm, không cần tìm một nguyên tắc nào để đánh giá nó nữa: đó là một cuốn sách hay và do một nghệ sĩ viết ra”.
Phạm vi tư liệu là: Ý kiến của La Bơ-ruy-e; những tác phẩm văn học tiêu biểu.
- Đối với những đề bài thuộc kiểu bài nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ; một tác phẩm, một đoạn tr ch văn xuôi, phạm vi tư liệu nằm trong ch nh những tác phẩm văn học là đối tượng của bài viết. V dụ:
Đề bài “Phân tích hình ảnh thơ mộng, trữ tình của những dòng sông Việt Nam qua hai bài tuỳ hút “Người lái đò sông Đà” (Nguyễn Tuân) và "Ai đã đặt tên cho dòng sông?” (Hoàng Phủ Ngọc Tường).
Phạm vi tư liệu: Tác phẩm Người lái đồ sông Đà (Nguyễn Tuân) và Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường); dẫn chứng từ thực tế/trong văn học về những dòng sông Việt Nam.
- Đối với những đề bài thuộc kiểu bài nghị luận về một vấn đề văn học kết hợp vấn đề thuộc tư tưởng, đạo l hay hiện tượng đời sống thì phạm vi tư liệu nằm trong ch nh những tác phẩm văn học và vấn đề đời sống, tư tưởng, đạo l được nêu lên là đối tượng của bài viết. V dụ:
Đề bài: Phân tích hình tượng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi. Từ nhân vật Việt anh/chị hãy bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ trong thời hiện đại.
Kết quả của bước tìm hiểu đề giúp học sinh xác định được tất cả các yêu cầu của đề bài: về kiểu bài, về nội dung trọng tâm của đề, thao tác lập luận, phạm vi dẫn chứng.
V dụ: Phân tích nhân vật Mị trong đoạn trích “Vợ chồng A Phủ” của Tô
Hoài (Đối với dạng đề nghị luận văn học)
Học sinh cần xác định được:
+Kiểu bài: nghị luận về một đoạn tr ch văn xuôi- phân t ch nhân vật trong
đoạn tr ch.
+Nội dung trọng tâm: phân t ch nhân vật Mị-> tư tưởng, tình cảm của nhà văn
qua đoạn tr ch.
+Thao tác lập luận: phân t ch, giải th ch, chứng minh, bình luận,...Trong đó
phân t ch và bình luận là hai thao tác chính.
+Phạm vi tư liệu: đoạn tr ch “Vợ chồng A Phủ”, mở rộng cả tác phẩm.
V dụ: Phân tích hình tượng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi. Từ nhân vật Việt anh/chị hãy bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ trong thời hiện đại. (Đối với dạng đề nghị luận văn học kết hợp nghị xã hội)
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 12
Học sinh cần xác định được:
+Kiểu bài: nghị luận về một tác phẩm văn xuôi- phân t ch nhân vật trong đoạn
tr ch và nghị luận về một tư tưởng, đạo l .
+Nội dung trọng tâm: phân tích nhân vật Việt-> tư tưởng, tình cảm của nhà
văn qua đoạn tr ch; bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ.
+Thao tác lập luận: phân t ch, giải th ch, chứng minh, bình luận,...Trong đó
phân t ch và bình luận là hai thao tác ch nh.
+Phạm vi tư liệu: tác phẩm “Những đứa con trong gia đình”, một số tác phẩm
khác cùng đề tài; trong đời sống.
Trong quá trình dạy – học (nhất là ở tiết trả bài) tôi đã cho học sinh thấy một cách nghiêm túc rằng lạc đề là lỗi nặng nhất, nghiêm trọng nhất của một bài Tập làm văn. Một bài văn lạc đề dù có những đoạn văn hay đến đâu cũng không thể đạt được điểm cao. Đối với giáo viên, trước một đề Tập làm văn việc tìm hiểu đề là đơn giản nhưng với học sinh khâu này rất quan trọng. Vì vậy, trước bất cứ một đề văn nào giáo viên luôn yêu cầu học sinh thực hiện tốt khâu này.
Có thể nói rằng đây là một bước mất t thời gian của tiết học nhưng nó mang lại hiểu quả rất tốt cho học sinh. Thực tế, nhiều năm dạy lớp 12, đặc biệt ở tiết luyện tập trái buổi tôi đã áp dụng giải pháp này và từng bước đạt được kết quả đáng kể. Chỉ qua một, hai tiết hướng dẫn tìm hiểu đề, dù là những học sinh kém về môn Văn nhưng t nhiều các em vẫn nhận thức được đúng yêu cầu của đề bài. Trong những lớp tôi phụ trách, trường hợp học sinh hiểu sai đề chỉ là 1 hoặc 2 em ở bài viết số 1 và kết quả được nâng ở những bài viết tiếp theo.
2. Lập dàn ý
Đối tượng của bài nghị luận văn học là đa dạng, tuy nhiên xuất phát từ nhu cầu thiết thực, phù hợp đối tượng học sinh. Nên ở giải pháp này tôi chỉ giới hạn dạng đề nghị luận về một đoạn thơ, một tác phẩm, đoạn tr ch văn xuôi; nghị luận về một vấn đề văn học kết hợp tư tưỏng, đạo l hoặc hiện tượng đời sống.
Việc lập dàn ý giúp người viết bao quát được vấn đề, đảm bảo được t nh hệ thống của lập luận, t nh cân đối của bài viết, xác định được mức độ trình bày mỗi ý, từ đó phân bố thời gian hợp l . Có hướng dẫn học sinh sắp xếp các ý theo trình tự nội dung, nghệ thuật, rồi đến nhận xét, đánh giá, suy nghĩ của bản thân (thường là phân t ch các tác phẩm văn xuôi). Có thể sắp xếp đan xen giữa nội dung, nghệ thuật và nhận xét đánh giá, suy nghĩ của thân (phổ biến trong phân t ch thơ). Lập dàn ý tốt, viết sẽ dễ dàng hơn, nhanh hơn, hay hơn nhờ biết lựa chọn đúng cách diễn đạt, cách trình bày bài viết. Dàn ý của bài văn nghị luận có cấu trúc ba phần. Mỗi phần có nhiệm vụ riêng:
a ) Mở bài
Người ta thường nói: Văn hay chưa hẳn là dài- Mới đọc mở bài đã biết văn hay. Mở bài có vai trò quan trọng đối với một bài văn. Mở bài đúng và hay sẽ khai thông được mạch văn. Ở phần mở bài, người viết cần giới thiệu khái quát vấn đề sẽ nghị luận, sẽ làm sáng tỏ trong bài viết. Để có được đoạn mở bài hay, cần nêu
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 13
trọng tâm và phạm vi vấn đề sẽ bàn bạc một cách ngắn gọn, viết tự nhiên, khúc chiết và mới mẻ.
Nhìn chung có hai cách chính: mở bài trực liếp và mở bài gián tiếp.
V dụ 1: Đề bài- Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến qua đoạn thơ:
...Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành...
( Trích Tây Tiến - Quang Dũng)-Đây là dạng đề nghị luận văn học.
- Mở bài trực tiếp, người viết nêu ngay vấn đề trọng tâm. Chẳng hạn:
Tây Tiến là bài thơ đặc sắc của Quang Dũng viết về đề tài người lính trong kháng chiến chống Pháp nói riêng và thơ ca Việt Nam nói chung . Bài thơ đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến: anh hùng, lãng mạn, hi sinh anh dũng vì quê hương đất nước. Hình tượng người lính hiện lên rõ nét nhất qua đoạn thơ sau:
“...Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành... ”
Trong mở bài trên, người viết trực tiếp giới thiệu bài thơ của Quang Dũng và vị tr , vai trò của tác phẩm đối với tác giả và nền văn học Việt Nam (l do để người viết “yêu th ch” tác phẩm- tình cảm, ấn tượng khái quát của người viết).
Ví dụ 2: Phân tích hình tượng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi. Từ nhân vật Việt anh/chị hãy bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ trong thời hiện đại.(Đây là dạng đề kết hợp giữa nghị luận văn học và nghị luận xã hội).
Ở dạng đề này chúng ta nên hướng dẫn học sinh mở bài trực tiếp: giới thiệu về tác giả dẫn vào tác phẩm rồi giới thiệu vấn đề nghị luân.
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 14
-Mở bài gián tiếp, người viết xuất phát từ một vấn đề khái quát hơn, một ý kiến, một câu chuyện, một câu thơ, đoạn văn, một phát ngôn của nhân vật nổi tiếng nào đó,... dẫn dắt người đọc đến vấn đề sẽ bàn luận trong bài viết. Cũng đề bài ở v dụ 1, ta có thể mở gián tiếp như sau:
Văn học Việt Nam giai đoạn 1945-1975 viết về đề tài người lính đã để lại nhiều bài thơ hay. Nếu như Đồng chí của Chính Hữu, Nhớ của Hồng Nguyên là những tiếng thơ về người lính xuất thân từ “nước mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá” thì Tây Tiến lại viết từ cảm hứng thẩm mĩ của một lớp chiến sĩ hoàn toàn khác. Bài thơ hiện lên bức chân dung, vẻ đẹp tâm hồn của người lính- những chàng trai thành thị trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Tiêu biểu nhất qua đoạn thơ sau:
“...Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành... ”
Mở bài trên đi từ vấn đề khái quát của đối tượng ch nh trong đề bài, lập luận
theo lối so sánh, dẫn dắt vào vấn đề.
Tóm lại, khi mở bài người viết cần chủ động viết thật sáng tạo để chẳng những khơi gợi hứng thú theo dõi văn phong mà còn gây được sự chú ý của người đọc về vấn đề sẽ viết.
Trên đây là những vấn đề về mặt lý thuyết. Thực tế, đối tượng học sinh tôi dạy đến 90% là yếu-kém ở khâu viết mở bài, đa số các em không có khả năng tư duy, suy luận, cảm thụ. Ở tiết luyện tập đầu tiên khi yêu cầu các em viết mở bài có nhiều em hoàn toàn không biết viết như thế nào? Vận dụng kiến thức ở phần nào trong bài Đọc văn để viết ?... Vì vậy, khi dạy học sinh viết mở bài, giáo viên đã cụ thể hóa về cách viết- chọn cách trực tiếp, các nội dung kiến thức để viết mở bài, cách dẫn vào vấn đề cần bàn luận. Có nghĩa là hướng các em tìm hiểu, ghi nhớ theo khả năng bản thân những kiến thức cần thiết để viết mở bài (Chẳng hạn: cần nắm được tác giả, nhận định về tác giả, tác phẩm, các hình tượng ... dạng đề v dụ 1; cần nắm được tác giả, nhận định về tác giả, tác phẩm, các hình tượng, các vấn đề thuộc về tư tưởng, đạo l ; các hiện tượng đời sống ...dạng đề v dụ 2). Bởi vì, học sinh của chúng tôi tuy khả năng sáng tạo, suy luận kém nhưng các em vẫn có thể ghi nhớ, thậm ch là bắt chước.
Cũng đề bài v dụ 1 và v dụ 2, tôi hướng dẫn các em viết mở bài như sau:
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 15
Ví dụ 1: Quang Dũng là nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp, một nghệ sĩ đa tài -viết văn, làm thơ, vẽ tranh, soạn nhạc. Nhưng Quang Dũng trước hết là một nhà thơ mang hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn và tài hoa. Ông có rất nhiều bài thơ hay viết về người lính trong đó có bài"Tây Tiến". Bài thơ đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến: anh hùng, lãng mạn, hi sinh anh dũng vì quê hương đất nước. Tiêu biểu nhất qua đoạn thơ sau:
“...Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành... ”
(Mở bài trên giới thiệu khái quát về tác giả, dẫn vào bài thơ rồi dẫn vào hình tượng người l nh).
Ví dụ 2: Nguyễn Thi là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóng Miền Nam thời kì chống Mĩ. Ông gắn bó sâu sắc với nhân dân Nam Bộ và thực sự trở thành nhà văn của người nông dân Nam Bộ. Sáng tác của Nguyễn Thi vừa giàu chất hiện thực, vừa đằm thắm chất trữ tình. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Thi là truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình”. Truyện xây dựng thành công nhân vật Việt với những nét t nh cách độc đáo đã tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm. Qua nhân vật Việt chúng ta có những nhận thức mới về tình yêu nước của thế hệ trẻ thời hiện đại.
(Mở bài trên giới thiệu khái quát về tác giả, dẫn vào bài thơ rồi dẫn vào hình tượng nhân vật Việt, nêu được vấn đề tình yêu nước của thế hệ trẻ).
Yêu cầu của tôi là các em vận dụng cách mở bài này cho tất cả các đề cùng dạng, chỉ có khác ở nội dung, tư liệu. Ưu điểm của cách mở bài này là học sinh không lan man, không viết dài dòng, không dẫn dắt lủng củng, thiếu ý hoặc thừa ý. Hạn chế là chưa phát huy hết được khả năng sáng tạo của tất cả học sinh. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm dạy ôn thi tốt nghiệp THPT, để có kết quả như mong muốn chúng ta cần có giải pháp cụ thể như vậy.
Đối chiếu với những năm học trước, năm học này tôi áp dụng ngay từ bài hướng dẫn bài viết số 1, kết quả cho thấy, rõ ràng trên 95% học sinh lớp 12ª5, 80 % học sinh lớp 12ª4 đã biết viết mở bài đúng yêu cầu đề bài; số còn lại cũng đạt được khoảng 60% đến 80% yêu cầu viết mở bài, không có trường hợp để giấy trắng.
b) Thân bài
Trong một bài văn nghị luận, phần thân bài có nhiệm vụ làm sáng tỏ vấn đề Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 16
mà mở bài đã nêu. Nếu xem phần mở bài chỉ có nhiệm vụ đặt vấn đề thì phần thân bài ứng với thao tác giải quyết vấn đề đó. Ở phần thân bài, người viết cụ thể hoá vấn đề cần nghị luận - được gọi là luận đề bằng một hệ thống luận điểm. Mỗi luận đề được phát triển bằng nhiều luận cứ.
Thân bài gồm nhiều đoạn văn. Giữa các đoạn có câu văn hoặc từ chuyển tiếp nối kết các luận điểm với nhau làm cho bài văn liền mạch. Về l thuyết, mỗi đoạn thân bài tập trung làm nổi bật một luận điểm. Luận điểm đó thường được thể hiện bằng một câu chốt. Vị tr của câu chốt: đứng đầu hoặc đứng cuối đoạn văn. Nhưng trên thực tế, luận điểm thường có nhiều nội dung nên luận điểm ấy cần chia ra thành nhiều đoạn. Trường hợp này, giữa các đoạn văn bộ phận của luận điểm vẫn phải có sự chuyển tiếp và mỗi đoạn văn cũng có một câu chốt nêu lên chủ đề của đoạn.
Chẳng hạn, với đề bài “Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng thiên nhiên và con người Việt Bắc trong đoạn thơ sau: Ta về, mình có nhớ ta ... Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”, bài viết sẽ có hai luận điểm trung tâm là hình tượng thiên nhiên và con người Việt Bắc. Luận điểm hình tượng thiên nhiên Việt Bắc lại có một số nội dung bộ phận như: cảnh mùa đông Việt Bắc, cảnh mùa xuân Việt Bắc, cảnh mùa hạ Việt Bắc,... Khi đó, luận điểm này sẽ được triển khai như sau:
Cảnh vật Việt Bắc được khắc họa rất điển hình. Tố Hữu đã mượn hình ảnh của hoa chuối đỏ tươi để gợi dậy một nét đặc trưng của mùa đông Việt Bắc. Có người cho rằng hình ảnh hoa chuối lần đầu tiên đi vào thơ Tố Hữu nhưng đã tạo được ấn tượng đặc biệt với người đọc. Cảnh mùa đông có nét ấm áp, rực rỡ, tươi tắn, chứ không phải là sự lạnh lẽo, hắt hiu. Bức tranh đan dệt bởi nhiều màu sắc: xanh, đỏ tươi, vàng [...].
Nếu mùa đông Việt Bắc sống dậy từ sắc đỏ của hoa chuối thì mùa xuân Việt Bắc được gợi ra từ sắc trắng của hoa mơ, sắc xanh của rừng, tạo nên nét đẹp tinh khôi, thơ mộng của cảnh. Màu trắng của hoa có khả năng bao chiếm không gian, nhấn mạnh sự thanh khiết của cảnh vật [...]
Nếu câu thơ mùa xuân bừng sáng sắc trắng của hoa mơ thì câu thơ mùa hạ lại ngân lên tiếng ve quen thuộc của núi rừng Việt Bắc. Tiếng ve dệt thành bản đồng ca mùa hạ rộn ràng, tươi vui [...]
Không rực rỡ, tươi tắn dưới ánh sáng mặt trời, hình ảnh vầng trăng mùa thu hòa bình mát rượi và tiếng hát ân tình vang ngân của con người đã làm sáng lên bức tranh mùa thu. Bức tranh ấy lắng lại trong nét đẹp quyến rũ, gợi cảm [...]
Những đoạn văn trên đều là những bộ phận của luận điểm thiên thiên Việt Bắc. Câu văn Cảnh vật Việt Bắc được khắc họa rất điển hình nêu lên luận điểm cho cả bốn đoạn văn. Những câu được in nghiêng đậm vừa mang vai trò là câu chuyển tiếp vừa mang vai trò là câu chốt cho từng đoạn văn. Mặt khác, giữa các đoạn văn có sự liên kết còn được thể hiện ở việc khung cảnh thiên nhiên các mùa được trình bày theo thứ tự thời gian: đông, xuân, hạ, thu.
Mô hình chung của phẩn thân bài trong bài văn nghị luận là:
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 17
- Luận điểm 1:...
+ Luận cứ 1:...
+ Luận cứ 2:...
- Luận điểm 2:...
+ Luận cứ;...
Phần thân bài là phần giải quyết vấn đề, nên khi lập dàn ý đến khâu này đòi hỏi học sinh phải xác định được cụ thể các luận điểm, luận cứ, dẫn chứng. Đồng thời, phải biết sắp xếp các luận điểm, luận cứ theo trình tự lôg c. Nên đánh số thứ tự cho từng luận điểm, luận cứ (Tr8,10-Rèn luyện kỹ năng làm bài thi tốt nghiệp và đại học môn Văn-NXB ĐHQG Hà Nội).Chẳng hạn, đề: Phân tích hình tượng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi. Từ nhân vật Việt anh/chị hãy bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ trong thời hiện đại học sinh cần xác lập luận điểm, luận cứ như sau:
- Luận điểm 1: Là một chàng trai mới lớn; t nh tình cón trẻ con, hồn nhiên, vô tư.
+Luận cứ 1: Hay tranh giành với chị
+Luận cứ 2: Đi đánh giặc vẫn mang theo cái ná thun; sợ ma...
-Luận điểm 2: Giàu tình yêu thương, yêu nước căm thù giặc sục sôi.
+Luận cứ 1: Thương má, chị chị gái...
+Luận cứ 2: Quyết tâm đi bộ đội để tiêu diệt kẻ thù.
-Luận điểm 3: Là một chiến sĩ dũng cảm, kiên cường.
+Luận cứ 1: Khi xông trận chiến đấu dũng cảm, Việt đã dùng thủ pháo tiêu diệt được một xe bọc thép của giặc,
+Luận cứ 2: Dù bị trọng thương nhưng lúc nào cũng trong tư thế sẵn sàng chiến đấu,...
- Nghệ thuật:
+ Nhiều chi tiết được chọn lọc vừa cụ thể vừa giàu ý nghĩa, gây ấn tượng mạnh.
+ Giọng văn chân thật, tự nhiên, nhiều đoạn gây xúc động mạnh.
+ Ngôn ngữ bình dị, phong phú, giàu giá trị tạo hình, khắc họa t nh cách nhân vật đậm chất Nam bộ.
- Luận điểm 4: Bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ trong thời đại mới:
+ Luận cứ 1: Tiếp nối truyền thống tốt đẹp của thế hệ cha anh: luôn gắn bó sâu nặng với quê hương, đất nước; tự hào, tự tôn dân dân tộc; quyết tâm giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.
+ Luận cứ 2: Ý thức sâu sắc về vài trò của bản thân đối sự nghiệp canh tân đất nước: không ngừng trau dồi học tập, rèn luyện; lao động hăng say; có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa; đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác...
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 18
+ Luận cứ 3: Phê phán bộ thanh niên có nhận thức lệch lạc: chạy theo lối sống thực dụng; sống thiếu trách nhiệm với đất nước; làm những việc trái pháp luật, trái với thuần phong mỹ tục; sống thiếu l tưởng,...
Đây là phần chiếm nhiều thời gian, ghi điểm nhiều nhất và cũng là phần t ch hợp nhiều nhất kiến thức của ba phân môn. Vì vậy, khi hướng dẫn học sinh thực hiện phần này bao giờ tôi cũng yêu cầu các em phải nắm được nội dung của những bài Đọc văn cụ thể, tránh tình trạng khi lập dàn ý mà lại không nắm được kiến thức bài học, điều này dễ dẫn đến tâm l ngại ngùng, chán nản, hoang mang trong các em. Thường thì, tôi cho đề các em tham khảo, luyện tập trước ở nhà. Đến tiết luyện tập trái buổi, trước hết yêu cầu một đến hai học sinh trình bày phần bài chuẩn bị ở nhà lên bảng, cả lớp nhận xét, chỉnh sửa, bổ sung hoàn thiện; hoặc có đề do không có thời gian trên lớp thì tôi thu về nhà chấm- trả sau. Cứ thế, quy trình này đã trở nên quen thuộc đối với các em, cho nên có những tiết học Đọc văn đã hết bài mà tôi chưa cho đề tham khảo là học sinh hỏi ngay “ Không có đề ôn tập à cô?”. Làm được như vậy nên dù đây là phần khó và dài, nhưng đa số học sinh đã đạt được yêu cầu.
c) Kết bài
Kết bài là phần kết thúc bài viết. Vì vậy nó tổng kết, thâu tóm lại vấn đề đã đặt ra ở mở bài và phát triển ở thân bài. Một kết bài hay không chỉ làm nhiệm vụ "gói lại" mà còn phải "mở ra" - đó là khơi gợi suy nghĩ, tình cảm của người đọc. Thâu tóm lại nội dung bài viết không có nghĩa là lặp lại mà phải dùng một hình thức khác để khái quát ngắn gọn. Khơi gợi suy nghĩ hay tạo dư ba trong lòng người đọc là câu văn khi đã khép lại vẫn khiến cho người đọc day dứt, trăn trở hướng về nó.
Trong thực tế, việc viết văn nghị luận chúng ta thường gặp một số kiểu kết bài
như sau:
Kết bài tóm tắt và nhận xét khái quát về nội dung, tư tưởng của người viết đã trình bày trước đó. Đây là cách thông thường và cũng là yêu cầu cơ bản nhất của kết bài, nhưng không đáp ứng tốt yêu cầu gợi dư ba cho bài viết. V dụ:
Nói tóm lại, tính dân tộc trong bài thơ "Việt Bắc" của Tố Hữu được thể hiện ở nhiều phương diện khác nhau: đề tài, thể thơ, cách xưng hô “mình” - “ta”, những hình ảnh thơ,... Và những phương diện biểu hiện tính dân tộc ấy đã được minh chứng bằng những câu thơ đầy thuyết phục. (Đề bài: Theo anh (chị), t nh dân tộc trong bài thơ “Việt Bắc” được biểu hiện cụ thể ở những phương diện nào? Trình bày vắn tắt và nêu dẫn chứng minh hoạ).
Kết bài khái quát nội dung và đạt ra câu hỏi nhằm khơi gợi suy nghĩ và tình
cảm ở người đọc. Chẳng hạn:
Chỉ một tình huống mà thấu tỏ bao triết nhân sinh chỉ một câu chuyện nhặt vợ mà Kim Lán đã đưa tới cho bạn đọc những hài học về số phận von người, tình yêu thươnq, niềm hy vọng, học cách "nghĩ đến cái sống trong khi người ta chỉ nghĩ đế cái chết”. Cách xây dựng tình huống độc dáo, giọng văn tỉnh táo, khách quan đã giúp Kim Lân tái hiện chân thực hiện thực cuội sống và chở đi những chiều sâu tư tưởng khôn cùng. Chỉ khi thấm rỏ, quyện hòa máu tim của người nghệ sĩ, tình
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 19
huống truyện mới đạt được đỉnh cao của nghệ thuật, tìm kiếm được những giá trị nhân sinh. “Nghệ thuật là những câu trả lời đầy thẩm mĩ cho con người”. Những câu trả lời ấy ta đã tìm ở một tình huống hay chăng?. (Đề bài:: "Phân t ch giá trị nghệ thuật của việc xây dựng tình huống truyện trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân").
Kết bài khái quát nội dung và mở rộng, nâng cao vấn đề đã được bàn bạc
trong phần thân bài
Như vậy, ý kiến, quan niệm của Nguyễn Văn Siêu đã nhìn nhận được những chức nâng cao quý, đặc trưng thẩm mĩ quan trọng của văn chương chân ch nh, song lại thiếu cái nhìn toàn diện, chưa nhận thức đầy đủ về giá trị, vai trò của các yếu tố hình thức, nghệ thuật trong văn chương. Từ đây, ta hiểu rằng, một tác phẩm hay phải là một chỉnh thể thẩm mĩ, là sự gắn bó, quyện hòa giữa hai mặt hình thức và nội dung.
Điều đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc sáng tác văn học của các nhà văn và việc tiếp nhận văn học của độc giả. (Bài viết: Trong một bức thư luận bàn về văn chương, Nguyễn Văn Siêu có viết: “Văn chương [...] có loại đáng thờ. Có loại không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người”. Hãy phát biểu ý kiến về quan niệm trên). (Rèn luyện kỹ năng làm bài thi tốt nghiệp và đại học môn Văn-NXB ĐHQG Hà Nội)
Như vậy, có rất nhiều cách để mở bài và kết bài. Dựa theo khả năng và hướng triển khai bài viết mà mỗi bài viết lại có một mở bài và kết bài tương ứng, phù hợp.
Tuy nhiên, với đối tượng học sinh của tôi, để các em tự sáng tạo ra một kết bài thì thường là các em chỉ tóm tắt lại nội dung của phần thân bài. Cho nên ở phần này, bản thân giáo viên cũng cần định hướng cụ thể. Tôi yêu cầu, thâu tóm nội dung trọng tâm và cảm nhận của bản thân về vấn đề nghị luận trên. V dụ viết kết bài cho đề Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của NMC như sau:
“Qua những nét khắc hoạ ấn tượng, người đàn bà hàng chài đã trở thành một biểu tượng đầy ám ảnh, giúp nhà văn NMC thể hiện những tư tưởng đạo l sâu sắc cho truyện ngắn. Đó là niềm cảm thương và nỗi lo âu cho số phận những con người bất hạnh, khốn khổ, bị cầm tù giữa đói nghèo tăm tối và bạo lực; đó còn là niềm tin yêu trước những phẩm chất tôt đẹp trong tâm hồn, t nh cách những con người luôn sống với lòng nhân hậu vị tha và dũng cảm. Tác phẩm cũng rung lên hồi chuông báo động về tình trạng bạo lực gia đình và hậu quả khôn lường của nó”.
Hay viết kết bài cho đề bài Phân tích hình tượng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi. Từ nhân vật Việt anh/chị hãy bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ trong thời hiện đại như sau: “Truyện đã khắc họa thành công hình tượng nhân vật Việt xuất thân trong một gia đình có truyền thống CM, chịu nhiều mất mát đau thương; có lòng căm thù
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 20
giặc sâu sắc, quyết tâm đi bộ đội, chiến đấu dũng cảm; giàu tình thương với những người thân trong gia đình, đồng đội nhưng cũng rất hồn nhiên, ngây thơ. Việt ch nh là người anh hùng- đại biểu cho thế hệ thanh niên miền Nam anh hùng trong thời kì kháng chiến chống Mĩ nói riêng và thanh niên Việt Nam trong thời kỳ hội nhập nói chung”.
3. Trình bày dẫn chứng
Có nhiều cách trình bày dẫn chứng:
Cách 1: Đưa dẫn chứng thành câu văn riêng biệt và tr ch xuống dòng, thường được dùng cho những câu thơ, câu văn hay.
Chẳng hạn, trong những v dụ sau, phần tr ch dẫn được đưa vào ngoặc kép
Nhờ tiếp thu được t nh hiện đại của thơ tượng trưng Pháp thế kỷ XIX, Xuân Diệu góp phần làm phát triển nghệ thuật thơ ca, nhạc điệu câu thơ trở nên phong phú hơn, khả năng chiếm lĩnh và diễn đạt thế giới khách quan và nội tâm tinh vi, màu nhiệm hơn, đặc biệt là quan hệ tương giao giữa các giác quan:
“Này lắng nghe em khúc nhạc hồng
Này lắng nghe em khúc nhạc thơm”
Hay:
“Chiều mộng hào thơ trên nhánh duyên,
Cây me ríu rít cặp chim chuyền”
Tràng có một ngoại hình rất dễ gây ấn tượng cho người đọc: “Hắn bước ngật ngưỡng trên con đường khẳng khiu. Hắn vừa đi, vừa tủm tỉm cười, hai con mắt nhỏ t , quai hàm bạnh ra, rung rung làm cho cái mặt thô kệch của hắn lúc nào cũng nhấp nhính những ý nghĩ vừa lý thú, vừa dữ tợn... Trẻ con trêu đùa, Tràng ngửa mặt lên cười hềnh hệch, cái áo nâu Tràng vắt sang một bên cánh tay, cái đầu trọc nhẵn chúi về ph a trước”.
Cách 2: Dùng một số chữ đặt ẩn trong câu văn.
V dụ: Lối v von trong “Tương tư” cũng rất gần với dân gian. Nói về tình yêu, dân gian vô cùng tinh tế “nói xa” rồi mới “nói gần”, không bao giờ “nói thẳng như ruột ngựa”. Bày tỏ niềm tiếc nuối vì người thương đã lấy chồng, chàng trai phải đưa đẩy, xa xôi rồi mới bày tỏ nỗi niềm.
Tác giả cho A Phủ xuất hiện khá đột ngột trong một hoàn cảnh đánh nhau với A Sử, bị bát, bị đánh độp tàn nhẫn ở nhà thống l Pá Tra, rồi mới kể về lai lịch của nhân vật. Đó là một người nghèo khổ đã mất hết cả mẹ cha và anh em trong một trận đậu mùa khủng khiếp đã phải sống kiếp bơ vơ khi còn rất nhỏ và “người làng đói bụng đã bắt A Phủ đưa xuống bán đổi lấy thóc của người Thái ở dưới cánh đồng”. Không cam chịu cuộc sống khốn khổ, mới 10 tuổi đầu A Phủ đã tự khẳng định t nh cách gan góc: một mình kiếm sống, học hỏi đủ thứ nghề “biết đúc lưỡi cày lại cày giỏi và đi săn bò tót rất bạo”.
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 21
Cách 3: Tóm tắt ý dẫn chứng thành lời văn của mình, thường dùng cho văn
xuôi và văn tự sự.
Chẳng hạn, trong v dụ dưới đây, diễn biến của truyện đã được tóm tắt ngắn
gọn trở thành lời văn của người viết:
Tràng dẫn người đàn bà lạ về làm vợ, để xây dựng gia đình, tiếp nối sự sống. Trên bờ vực thẳm của cái chết, họ tìm đến sự sống. Tràng vui sướng vì sự kiện to lớn, bất ngờ của đời anh: Anh đã có vợ, anh đang dẫn vợ về nhà. Đói, chết tràn lan, mình cũng đói, mẹ già cũng đói. Thế mà lại lấy vợ vào lúc này! Thật lạ lùng và thú vị. Có lúc anh cảm thấy ngượng ngùng, lúng túng. (Tr 11,12-Rèn luyện kỹ năng làm bài thi tốt nghiệp và đại học môn Văn-NXB ĐHQG Hà Nội)
Trong một bài làm văn, nên dùng đồng thời ba cách, không nên thiên quá về một cách nào.(với những học sinh khá). Đối với học sinh trường tôi, thường khi nghị luận về tác phẩm thơ, tôi hướng dẫn học sinh theo cách 1, tác phẩm văn xuôi theo cách 2. (Bởi các em rất yếu trong cách trình bày, mà yêu cầu kết hợp nhiều cách trong một bài viết dễ dẫn đến tình trạng lẫn lộn, lủng củng). Định hướng cụ thể, rõ ràng cho các em trình bày dẫn chứng như vậy nên về hình thức bài viết của các em rõ ràng hơn, nội dung sinh động hơn, trách được nhiều lỗi hơn.
4.Cách chuyển ý
Chuyển ý có nhiệm không kém phần quan trọng trong một bài làm văn: đảm bảo bài văn có sự liên tục, uyển chuyển, phát triển tự nhiên; xác định mối quan hệ chặt chẽ giữa các ý tạo nên bài văn. Có nhiều cách chuyển ý:
Cách 1: Chuyển ý bằng cách dùng các kết từ: trước tiên, trước hết, tiếp
theo,...Chẳng hạn:
“Tiếp theo “Việt Bắc” là “Gió lộng” (1955 - 1961) - tập thơ ra đời trong giai đoạn Cách mạng mới. “Gió lộng” dạt dào bao nguồn cảm hứng lớn lao. Nhà thơ hướng về quá khứ để thấm th a những nỗi đau khổ của cha ông, công lao của những thế hệ đi trước mở đường, từ đó ghi sâu ân tình của cách mạng,..”.
Cách 2: Chuyển ý bằng câu.
Dùng câu có cấu trúc “Nếu... thì...” để tóm tắt ý trên và mở ra ý mới. V dụ:
“Nếu như “Việt Bắc” là tiếng ca hùng tráng, thiết tha về cuộc kháng chiến chống Pháp và những con người kháng chiến thì “Gió lộng” hướng về quá khứ để thấm th a những nỗi đau khổ của cha ông, công lao của những thế hệ đi trước mở đường, từ đó ghi sâu ân tình của cách mạng,...”.
Dùng cấu trúc câu “Bên cạnh A còn có B” để chuyển ý khi giữa ý trên và ý
dưới có quan hệ ngang hàng. V dụ:
“Bên cạnh viên quản ngục còn có viên thơ lại cũng là một người làm nhầm nghề, sống nhẩm nơi. Ông hẳn cũng là người có tấm lòng “biệt nhỡn liên tài” như chủ nên đã để ý đến cái tài của Huấn Cao, nhất nhất làm theo những phép đối xử đặc biệt mà viên quản ngục dành cho người tử tù nổi tiếng,...”.
Dùng câu có cấu trúc “Do A nên dẫn đến B”, “Sở dĩ A là vì có B” nếu ý trước
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 22
và ý sau có quan hệ nhân – qủa. V dụ:
“Bởi có tấm lòng “Biệt nhỡn liên tài” như vây nên viên quản ngục đã không nề hà nguy hiểm, phá bỏ những phép tắc thông thường trong nhà ngục để biệt đãi Huấn Cao. Ngày ngày, ngoài những thức ăn thường Huấn Cao còn được thêm phần rượu thịt,...”.
- Dùng câu có cấu trúc “Hơn cả A là B”, “Không chỉ A mà còn B” nếu ý sau ở mức độ cao hơn ý trước.
“Không chỉ có kh phách hiên ngang, kiên cường và sự tài hoa phóng khoáng, mà nhân vật Huấn Cao còn có cái tâm trong sáng, cao thượng. Điều đó được thể hiện ở nhiều chi tiết,...”.
- Dùng một câu triết l hoặc câu thơ, câu văn, ý kiến nhận định để thay lời chuyển ý. V dụ:
“Mỗi tác phẩm là một phát minh về hình thức và một khám phá về nội dung” (Lê- ô-nít Lê-ô-nốp). “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu không chỉ là sự khám phá, sáng tạo so với các nhà văn khác mà còn là sự sáng tạo trong ch nh sáng tác của nhà văn. Tác phẩm cho thấy một hướng quan niệm mới, tiến bộ hơn trong hành trình đi tìm cái đẹp ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn mỗi con người của ông, cái đẹp không mang màu sắc lãng mạn nữa mà gắn với hiện thực trần trụi”.
Trong một bài văn, nên đồng thời kết hợp nhiều cách chuyển ý linh hoạt để tạo nên sự hấp dẫn cho bài viết. (Tr 17-Rèn luyện kỹ năng làm bài thi tốt nghiệp và đại học môn Văn-NXB ĐHQG Hà Nội)
Lưu ý đối với dạng đề nghị luận văn học kết hợp nghị luận xã hội, khi chuyển ý giáo viên nên hướng dẫn học sinh bám sát vào yều cầu của đề bài để nêu ý chuyển đúng trọng tâm và đáp ứng được cầu của đề (Ví dụ minh họa cụ thể trình bày trong giáo án- xem Tr 48). 5. Hành văn trong văn nghị luận a) Khái niệm: Hành văn là cách diễn đạt ý (ý lớn, ý nhỏ), những cảm xúc, suy nghĩ thành lời văn của người viết. b) Cách hành văn * Đảm bảo t nh chuẩn xác:
Yêu cầu này được hiểu là phản ánh đúng t nh chất, ý nghĩa của đối tượng nghị luận. Không nói quá nhưng cũng không nói giảm. Chẳng hạn, với "Truyện Kiều" của Nguyễn Du hay “Ch Phèo” của Nam Cao, có thể dùng từ “kiệt tác” khi đánh giá về giá trị tác phẩm cũng như vị tr của chúng trong nền văn học dân tộc. Nhưng từ “kiệt tác” lại không thể được dùng cho nhiều tác phẩm khác: “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành, “Vợ nhặt” của Kim Lân,... * Đảm bảo t nh truyền cảm:
- Câu văn có t nh triết l tạo nên t nh suy ngẫm và t nh tư tưởng sâu sắc trong bài Muốn lí lẽ sàu sắc phải biết viết những câu văn triết l . Đó là những câu văn thể hiện quan niệm chung của con người về các vấn đề nhân sinh và xã hội. Lí lẽ Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 23
muốn sâu sắc còn phải biết biện luận; biện luận là đưa ra l lẽ ý kiến khác để tranh luận phải trái, khẳng định ý kiến mà mình cho là đúng.
Chẳng hạn, trong bài viết về truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyên
Minh Châu, có thể có những câu văn triết l như sau, chú ý câu văn in nghiêng:
Để có được cái đẹp đ ch thực, nghệ thuật lại phải một lần nữa hành trình để kiếm tìm và cuộc hành trình này tất nhiên cũng không hề dễ dàng. Nếu không có một tâm hồn lớn, một sự đồng cảm sâu sắc nhà văn sẽ không tìm thấy viên ngọc ẩn giấu sau lớp vỏ hiện thực trần trụi kia. Điều đó cũng giống như việc người nghệ sĩ trong tác phẩm, sau sự ngộ nhận đầu tiên nếu như không khám phá ra vẻ đẹp tiềm ẩn trong người đàn bà làm nghề chài lưới kia có lẽ sẽ vĩnh viễn mất đi niềm tin vào sự tồn tại của cái đẹp trong cuộc sống”. - Câu văn giàu hình ảnh:
+ Muốn viết câu văn giàu hình ảnh phải tưởng tượng phong phú, phải biết diễn
đạt sự tưởng tượng ấy bằng các phép so sánh.
+ Tưởng tượng tái tạo là tưởng tượng ra thế giới hình tượng của câu thơ, câu văn rồi tái hiện nó như một bức tranh có đường nét, màu sắc, âm thanh bằng ngôn ngữ của riêng mình.
+ Tưởng tượng sáng tạo là dùng phép liên tưởng để làm sự vật trước mắt phải hiện ra, phải cho người ta cái kính viễn vọng để nhìn xa hơn, nhìn vào cả lương lai, phải tượng ra cái phẩn ở ngoài của câu chữ nhưng phù hợp với quy luật của đời sống.
Có thể tham khảo ví dụ dưới đây, chú ý những từ ngữ được in nghiêng: “Trên hành trình đến chân trời tương lai của sự nghiệp, một ngày kia Hộ gặp Từ, một cô gái dịu dàng đoan trang thuỳ mị, thuỷ chung, xinh đẹp, chịu thương, chịu khó đang rơi vào cảnh khốn cùng. Là con người giàu lòng nhân hậu, Hộ đã sẵn sàng chìa bàn tay niềm mại của mình ra cứu vớt, dìu dắt cuộc dời Từ ra khỏi chốn bơ vơ. Từ khi Hộ ghép cuộc đời Từ vào cuộc đời hắn, hắn có cả một gánh nặng vật chất gia đinh phải chăm lo.”
- Câu văn giàu cảm xúc: + Viết văn là viết ra những điều mình hằng quan tâm, suy nghĩ và cảm xúc về cuộc đời. Chỉ có hiểu và đồng cảm với tác giả, với nhân vật thì mới viết được những câu văn có cảm xúc; người viết phải biết khóc, biết cười với tác phẩm, phải có niềm tin vào vấn đề mình đang nghị luận. Khi nhiệt tình ca ngợi hay bênh vực một vấn đề nào đó thì câu văn sẽ là lời tâm huyết tự đáy lòng và khi ấy mới có cảm xúc thật sự và chân thành.
+ Cảm xúc bộc lộ trực tiếp thể hiện qua những câu, những từ cảm thán để bày
tỏ cảm xúc của mình.
+ Cảm xúc bộc lộ gián tiếp được thể hiện qua những câu văn tỏ ra đồng cảm
với nhân vật, với những gì nhà văn trăn trở.
Vídụ: “Tây Bắc hiện lên trong câu thơ Chế Lan Viên thật đẹp, một vẻ đẹp huyền ảo, có cái gì đó heo hút mà văn kỳ vĩ rất tiêu biểu cho vẻ đẹp núi rừng miền Tây. Phải Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 24
quen thuộc và gắn bó nhiều với Tây Bắc mới tạo ra được một hình ảnh thơ đơn sơ mà gợi cảm và đúng đến thế!
- Câu văn có giọng điệu, nhịp điệu:
+ Viết câu văn khi dài, khi ngắn; khi thiết tha, sôi nổi khi trầm lắng, suy tư;
+ Thay đổi giọng điệu linh hoạt bằng cách dùng những từ độc đáo, biết phối
hợp âm thanh từ ngữ, điệp từ, đảo từ để câu văn có ấn tượng;
+ Sử dụng nhiều loại dấu câu khi viết văn để tạo nên sự sống động về kiểu
câu, tâm trạng người viết và hình thức bài văn.
Chẳng hạn:
“Trước hết, về với nhân dân là về với những gì thân quen nhất của lòng mình, về với môi trường quen thuộc, làm nảy sinh sự sống. Đó cũng là ngọn nguồn sáng tạo thơ ca. "Nai về suối cũ". Sao lại là "nai" mà không phải là con vật nào khác trong rừng sâu? Con nai là một con vật rất hiền dịu, xinh đẹp, hồn nhiên, ngây thơ, đáng yêu. Đó cũng là con vật khá quen thuộc trong thơ ca”.
Trong ví dụ trên, người viết đã biết sử dụng những câu dài ngắn khác nhau; các kiểu câu trần thuật, nghi vấn,... để tạo nên giọng điệu cho câu văn. (Tr19-Rèn luyện kỹ năng làm bài thi tốt nghiệp và đại học môn Văn-NXB ĐHQG Hà Nội)
Giải pháp 4 và giải pháp 5, đòi hỏi học sinh khi viết bài phải t ch hợp phân môn tiếng Việt với tần số cao, đó ch nh là cách dùng từ đặt câu trong bài văn nghị luận. Bài văn nghị luận sẽ khô khan, đơn điệu nếu người viết không biết kết hợp nhiều kiểu câu, dùng từ ngữ không linh hoạt. Đây là hai khâu tưởng như đơn giản, nhiều khi giáo viên không quan tâm. Nhưng thực tế để bài viết của học sinh đạt điểm cao hay không, phần quyết định là ở hai khâu này. Trong quá trình dạy- học, đặc biệt là khi chấm- trả bài tôi rất chú trọng, cần chỉ ra những sai sót trong bài làm của các em: lỗi dùng từ, đặt câu, cách chuyển đoạn, chuyển ý. Thực tế có em không biết cách liên kết câu, đoạn, không tự mình nghĩ ra những từ ngữ để chuyển ý (Nghĩa là em đó không biết cách diễn đạt ý thành một đoạn văn, bài văn mà trong bài làm của những em đó thể hiện giống như một dàn ý chi tiết.Vậy nên, những trường hợp này tôi yêu cầu phải ghi nhớ từ ngữ, câu văn để dùng khi diễn đạt. Ở hai khâu này giáo viên vừa cho học luyện tập ở trên lớp vừa giao bài tập về nhà, giáo viên thu chấm-sửa.
GIÁO ÁN MINH HỌA MỘT DẠNG BÀI CỤ THỂ
* Giáo án chưa áp dụng các giải pháp của đ tài:
NGHỊ LUẬN VỀ MỘT BÀI THƠ, ĐOẠN THƠ
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 25
A. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT
-Nắm được cách viết bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.
B. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG
1. Kiến thức:
-Yêu của bài văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ
- cách thức triển khai bài nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.
2. Kĩ năng:
- Tìm hiểu đề, lập dàn ý cho bài văn nghị luận về một bài thơ, đoạn
-Huy động kiến thức những cảm xúc, trải nghiệm của bản thân để viết bài văn nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ.
C. NỘI DUNG LÊN LỚP
1. Ổn định lớp và kiểm tra bài cũ:
2. Tiến trình tổ chức bài dạy
II.. HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNNGG CCỦỦAA GGVV VVÀÀ HHSS IIII.. NNỘỘII DDUUNNGG CCẦẦNN ĐĐẠẠTT
* Hoạt động 1: Tạo tâm thế. I. Tìm hiểu đ và lập dàn ý:
1. Đề bài : Phân t ch bài thơ “Cảnh khuya” của Hồ Ch Minh. * Hoạt động 2: Hướng dẫn HS tìm hiểu đ và lập dàn ý.
“Tiếng suối trong như tiếng hát xa, I. Tìm hiểu đ và lập dàn ý:
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa.
1/ Đ 1: Phân t ch bài thơ “Cảnh khuya” của Hồ Ch Minh. Cảnh khuya như vẽ, Người chưa ngủ,
a. Tìm hiểu đ : Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”.
a. Tìm hiểu đ :
- GV: Khi tìm hiểu đề, ta cần xác định những vấn đề gì? Hãy xác định vấn đề trong đề bài 1 SGK ? - Bài yêu cầu phân t ch những giá trị về tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ.
- Lưu ý hoàn cảnh ra đời của bài thơ. + Phân t ch nội dung và nghệ thuật bài“ Cảnh khuya”?
b. Lập dàn ý:
+ Phần mở bài của đề bài phân t ch một bài thơ cần đảm bảo những yêu cầu gì? b. Lập dàn ý:
* Mở bài:
Giới thiệu khái quát hoàn cảnh ra đời của bài thơ.
- Hoàn cảnh ra đời: những năm đầu của k/c chống TDP ở chiến khu VB. Lúc này HCM đangtrực tiếp lãnh đạo cuộc k/c chống P đầy gian khổ nhưng vô cùng oanh liệt của nhân dân ta.
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 26
II.. HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNNGG CCỦỦAA GGVV VVÀÀ HHSS IIII.. NNỘỘII DDUUNNGG CCẦẦNN ĐĐẠẠTT
Lưu ý: Phần thân bài có thể trình bày các luận điểm theo nhiều cách: * Thân bài: Phân tích ND tư tưởng và nghệ thuật.
+ Cách 1: Theo trình tự các câu thơ,đoạn thơ trong bài.
- Vẻ đẹp của đêm trăng khuya nơi núi rừng Việt Bắc được miêu tả hết sức thơ mộng.
+ Cách 2: Theo trình tự ND,NT->đánh giá chung về bài thơ.
+ Sử dụng thủ pháp so sánh: tiếng suối/ tiếng hát -> mới mẻ, gần gũi, đầy sức sống.
+ Cách 3: Nêu nét đặc sắc nổi bật của bài thơ, p/t cái hay vẻ đẹp->đánh giá chung về bài thơ.
+ Điệp từ " lồng": tạo lên một hình ảnh vừa lung linh vừa huyền ảo -GV: Nêu nhận định chung về bài thơ?
-GV: Khẳng định lại những giá trị bài thơ?
- Tâm trạng của nhân vật trữ tình: hoà tâm hồn mình với thiên nhiên; một lòng thao thức, không ngủ vì lo cho vận mệnh của dân tộc.
=> HS suy nghĩ trả lời, GV nhận xét, chốt lại vấn đề - Bài thơ vừa có t nh chất cổ điển vừa hiện đại.
+ Cổ điển: thể thơ, hình ảnh thiên nhiên, bút pháp miêu tả thiên nhiên...
+ Hiện đại: hình tượng nhân vật trữ tình: thi sĩ - chiến sĩ.
- Nhận định chung: Bài thơ là một bức tranh thiên nhiên thật đẹp song đẹp hơn cả ch nh là chân dung của Bác, vị lãnh tụ vô vàn k nh yêu của chúng ta.
* Kết luận:
Sự hài hoà giữa tâm hồn nghệ sĩ và ý ch chiến sĩ trong bài thơ.
2/ Đ 2: Phân t ch đoạn thơ sau trong bài "Việt Bắc" của Tố Hữu:
"Những đường Việt Bắc của ta 2. Đ 2: ............................................... a. Tìm hiểu đ : Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng".
a. Tìm hiểu đ :
- Nội dung: Đoạn thơ miêu tả kh thế ra trận của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
-GV gợi mở vấn đề: Khi tìm hiểu đề trong đề bài này, ta cần xác định những - Nghệ thuật: Đây là một đoạn thơ
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 27
II.. HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNNGG CCỦỦAA GGVV VVÀÀ HHSS vấn đề gì?
IIII.. NNỘỘII DDUUNNGG CCẦẦNN ĐĐẠẠTT hay, đạt được những giá trị nghệ thuật đặc sắc về cách sử dụng ngôn ngữ. b. Lập dàn ý:
b. Lập dàn ý:
* Mở bài:
+ Mở bài, ta cần giới thiệu điều gì? Có gì khác với cách giới thiệu về một bài thơ?
Giới thiệu đoạn thơ, vị tr , dẫn nguyên văn đoạn thơ.
+ Đoạn thơ có thể chia làm mấy phần? * Thân bài:
- Kh thế của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở VB:
+ Kh thế của cuộc kháng chiến chống pháp được miêu tả như thế nà
+ Hình ảnh các con đường VB, nổi bật là sức mạnh và niềm lạc quan của những lực lượng kháng chiến.
+ Đoạn thơ sử dụng những nghệ thuật nào?
+ Nhớ về những niềm vui chiến thắng trên khắp mọi miền của đất nước (4 dòng cuối).
- Về nghệ thuật: + Cảm hứng chung của đoạn thơ là gì?
+ Sử dụng nhuần nhuyễn thể thơ lục bát; => HS suy nghĩ trả lời, GV nhận xét , bổ sung kiến thức
+ Sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ.
+ Giọng thơ sôi nổi, hào hùng; hình ảnh, từ ngữ giàu sức gợi cảm.
- Kết luận:
Đoạn thơ thể hiện cảm hứng ngợi ca Việt Bắc, ngợi ca cuộc kháng chiến chống Pháp oanh liệt của nhân dân ta.
* Hoạt động 3: Xác định đối tượng và nội dung bài nghị luận II. Đối tượng và nội dung của bài nghị luận v một bài thơ, đoạn thơ:
Ghi nhớ (SGK) - GV hướng HS ghi nhận kiến thức qua SGK
- Điểm tương đồng và khác biệt của kiểu bài này so với nghị luận về một vấn đề XH là gì?
* Hoạt động 4: Luyện tập III. LUYỆN TẬP:
Đ bài:
- GV hướng dẫn HS làm phần luyện tập theo câu hỏi gợi mở: Hãy phân t ch đoạn thơ sau trong bài
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 28
II.. HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNNGG CCỦỦAA GGVV VVÀÀ HHSS IIII.. NNỘỘII DDUUNNGG CCẦẦNN ĐĐẠẠTT
Tràng giang của Huy Cận:
“Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa
Lòng quê dợn dợn vời con nước
+Nội dung đoạn thơ trên gợi đến cảnh chiều trên sông và tâm trạng nhà thơ như thế nào? Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”
Đáp án:
- Nội dung:
+Cảnh chiều: đẹp nhưng buồn. + Phân t ch giá trị nghệ thuật đoạn thơ?
+ Tâm trạng: nhớ nhà, nhớ quê hư- ơng.
- Nghệ thuật:
=> HS suy nghĩ trả lời, GV nhận xét , chốt lại + Hình ảnh đối lập, gợi cảm: núi mây hùng vĩ cánh chim bé nhỏ.
+ Âm điệu phù hợp: dập dềnh, mênh mang.
+ Tứ thơ mới mẻ có sự kết hợp giữa bút pháp cổ điển của thơ Đường với bút pháp lãng mạn của thơ mới.
D HƯỚNG DẪN HỌC BÀI
1. Củng cố và hoàn thiện kiến thức về tác phẩm (hoặc đoạn tr ch) thơ được học trong chương trình.
2. Chuẩn bị bài mới: Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS,01-12- 2003.
* Giáo án đã áp dụng các giải pháp của đ tài (Thực hiện vào giờ học trái buổi):
NGHỊ LUẬN VỀ MỘT ĐOẠN THƠ (Nghị luận văn học).
A. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT
-Nắm được cách viết bài nghị luận về một đoạn thơ.
B. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG
1. Kiến thức:
- Yêu của bài văn nghị luận về một bài đoạn thơ
- Cách thức triển khai bài nghị luận về một đoạn thơ.
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 29
2. Kĩ năng:
- Tìm hiểu đề, lập dàn ý cho bài văn nghị luận về một đoạn thơ.
- Huy động kiến thức những cảm xúc, trải nghiệm của bản thân để viết bài văn nghị luận về một đoạn thơ.
C. NỘI DUNG LÊN LỚP
1. Ổn định lớp và kiểm tra bài cũ:
2. Tiến trình tổ chức bài dạy
IIIIII.. HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNNGG CCỦỦAA GGVV VVÀÀ HHSS IIVV.. NNỘỘII DDUUNNGG CCẦẦNN ĐĐẠẠTT
* Hoạt động 1: Tạo tâm thế.
* Hoạt động 2: Hướng dẫn HS tìm hiểu đ và lập dàn ý.
I. Tìm hiểu đ và lập dàn ý: I. Tìm hiểu đ và lập dàn ý:
Đề bài : Phân tích đoạn thơ sau trong bài "Việt Bắc" của Tố Hữu: Đề bài: Phân t ch đoạn thơ sau trong bài "Việt Bắc" của Tố Hữu:
"Những đường Việt Bắc của ta
...............................................
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng".
1. Tìm hiểu đ : 1. Tìm hiểu đ :
a) Xác định kiểu bài nghị luận: a) Xác định kiểu bài nghị luận:
GV gợi mở vấn đề :
- Hãy gạch dưới những từ ngữ mà em cho là trọng tâm của đề bài trên? - Phân tích đoạn thơ sau trong bài "Việt Bắc" của Tố Hữu:
- Em hãy xác định kiểu bài nghị luận của đề trên ? - Kiểu bài: nghị luận về một đoạn thơ
- Dựa vào yếu tố nào để em xác định đúng yêu cầu của đề? - Dạng đề đóng (nổi)- yêu cầu trực tiếp.
- Đây là dạng mở (chìm) hay đóng (nổi)?- >GV giải th ch thêm .
HS trả lời.
GV chốt-HS ghi nhớ
b) Xác định nội dung trọng tâm yêu cầu của đ : b) Xác định nội dung trọng tâm yêu cầu của đ : Phân tích đoạn thơ: - Trọng tâm yêu cầu của đề bài trên là gì ? Những đường Việt Bắc của ta HS trả lời. ...............................................
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 30
IIIIII.. HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNNGG CCỦỦAA GGVV VVÀÀ HHSS IIVV.. NNỘỘII DDUUNNGG CCẦẦNN ĐĐẠẠTT
GV chốt-HS ghi nhớ Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.
c) Xác định các thao tác nghị luận:
c) Xác định các thao tác nghị luận: - Gv cầu hs nhắc lại một số thao tác nghị luận đã học.
- TTNL: phân t ch kết hợp chứng minh, bình luận.
- Đối với đề bài trên thao tác nghị luận nào là chính, nêu thêm một số thao tác khác cần kết hợp?-> HS trả lời.
GV chốt : Đối với những đề đóng như trên các em lưu ý chỉ cần dựa vào những từ ngữ nêu lên thao tác nghị luận ở đề bài, đó chính là thao tác chính.
Để phần phân tích được rõ ràng, sáng tỏ, có sức thuyết phục cần kết hợp thao tác chứng minh, bình luận.
- HS ghi nhớ
d) Xác định phạm vi tư liệu. d) Xác định phạm vi tư liệu:
- Hãy xác định phạm vi dẫn chứng của đề bài ? - Đoạn thơ trên, bài thơ Việt Bắc, một số bài thơ khác cùng đề tài. HS trả lời.
GV chốt: Để xác định đúng phạm vi dẫn chứng các em cũng cần bám sát vào từ ngữ trên đề bài và phải dựa vào những hiểu biết chung về đoạn thơ để mở rộng thêm phạm vi tư liệu phù hợp.
2. Lập dàn ý: 2. Lập dàn ý: GV hướng dẫn HS lập dàn ý theo bố cục ba phần :
a) Mở bài:
- Thông thường có cách mở bài? a) Mở bài:
- Dựa vào những kiến thức nào để em viết mở bài?
- Cách vận dụng và mức độ vận dụng những kiến thức đó như thế nào?
HS thảo luận (5 phút)->trình bày.Hs có thể đưa ra nhiều cách khác nhau.
- Mở bài trực tiếp: -> GV chốt: Đối với các em chúng ta nên chọn cách mở bài trực tiếp và nên ghi nhớ (thuộc) kiến thức khái quát về tác giả, bài Giới thiệu tác giả, bài thơ, vị tr
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 31
IIVV.. NNỘỘII DDUUNNGG CCẦẦNN ĐĐẠẠTT đoạn thơ, dẫn nguyên văn đoạn thơ.
IIIIII.. HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNNGG CCỦỦAA GGVV VVÀÀ HHSS thơ, đoạn thơ để viết mở bài cho đề này.(Kiến thức này các em đã tìm hiểu ở phần tác giả, tác phẩm trong phần Đọc – hiểu bài Việt Bắc)
-> GV cho HS luyện viết (5 phút)->1đến 5em đọc hoặc ghi trên bảng phụ ->lớp và GV sửa, bổ sung.
GV đọc cho HS tham khảo một mở bài:
Tố Hữu là một trong những lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại. Các chặng đường thơ của Tố Hữu gắn bó và phản ánh chân thật những chặng đường CM đầy gian khổ hi sinh nhưng cũng nhiều thắng lợi vinh quang của dân tộc. Thơ Tố Hữu thể hiện lẽ sống, l tưởng, tình cảm cách mạng của con người Việt Nam hiện đại nhưng mang đậm chất dân tộc truyền thống. Tiêu biểu là bài thơ Việt Bắc. Bài thơ có giá trị sâu sắc về nội đung và nghệ thuật mà nổi bật là đoạn thơ:
“Những đường Việt Bắc của ta
...............................................
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”.
b) Thân bài:
- Xác định luận điểm?Luận cứ ? b) Thân bài:
* Nội dung:
- Luận điểm 1: Gv gợi ý cho Hs dựa vào phần nội dung của đoạn trích đã được tìm hiểu ở bài Đọc văn –Việt Bắc để tìm luận điểm, luận cứ.
+ Luận cứ 1:
Hs thảo luận (5 phút ) ->trình bày ->gv nhận xét chốt: + Luận cứ 2:
- Luận điểm 2: - Luận điểm 1: Kh thế của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở VB: * Về nghệ thuật: + Luận cứ 1: Hình ảnh các con đường VB,
+ Luận cứ 2: Sức mạnh và niềm lạc quan của những lực lượng kháng chiến.
- Luận điểm 2: Niềm vui chiến thắng trên khắp mọi miền của đất nước (4 dòng cuối).
- Nghệ thuật được sử dụng trong đoạn thơ?
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 32
IIIIII.. HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNNGG CCỦỦAA GGVV VVÀÀ HHSS IIVV.. NNỘỘII DDUUNNGG CCẦẦNN ĐĐẠẠTT
Dựa vào nghệ thuật của đoạn thơ ở bài Đọc văn để chỉ ra những nét độc đáo về nghệ thuật của đoạn. Đây là ý cuối cùng ở phần thân bài. Các em cần ghi rõ từ nghệ thuật.
- Nghệ thuật:
+ Sử dụng nhuần nhuyễn thể thơ lục bát;
+ Sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ. + Giọng thơ sôi nổi, hào hùng; hình ảnh, từ ngữ giàu sức gợi cảm. c) Kết bài:
c) Kết bài:
- Cần phần biệt rõ kết bài của đoạn thơ khác kết bài của bài thơ( nếu đề hỏi đoạn thì các em ghi rõ từ đoạn thơ nếu đề hỏi cả bài thì ghi là bài thơ) - Các em cần thâu tóm nội dung trọng tâm và cảm nhận của bản thân về đoạn thơ trên một đến ba câu ngắn gọn. - Gv cho Hs luyện viết bài (5 phút)-> gọi hai Hs đọc trước lớp-> sửa chữa, bổ sung. - Gv dọc cho Hs tham khảo một kết bài mẫu: Đoạn thơ mang âm hưởng sử thi, miêu tả kh thế chiến đấu và chiến thắng của dân tộc ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp.Qua đó nhà thơ TH khắc họa sâu sắc hình ảnh dân tộc VN anh hùng trong cuộc kháng chiến toàn dân,toàn diện,trường kỳ đầy gian khổ hi sinh nhưng nhất định thắng lợi và đã thắng lợi.VB là khúc hùng ca và cũng là khúc tình ca về CM, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến.
* Cách trình bày dẫn chứng, cách chuyển ý và hành văn. 3. Trình bày dẫn chứng:
4. Cách chuyển ý:
5. Hành văn :
-> Trên cơ sở những hiểu biết cơ bản của HS về diễn đạt Gv hướng dẫn học sinh cụ thể bằng cách cho Hs tìm hiểu qua một bài văn mẫu về đề bài trên (chú ý những từ và cụm từ được gạch chân thể hiện rõ cách
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 33
IIVV.. NNỘỘII DDUUNNGG CCẦẦNN ĐĐẠẠTT
IIIIII.. HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNNGG CCỦỦAA GGVV VVÀÀ HHSS hành văn, chuyển ý, chuyển đoạn. Các em cần nắm vững các từ ngữ, cụm từ là quan hệ từ để vận dụng vào diễn đạt ). Khâu này sẽ tiếp tục thực hiện trong suốt quá trình dạy ôn Tập làm văn.
Đ : Phân tích đoạn thơ sau trong bài “Việt Bắc” của Tố Hữu:
“ Những đườngVỉệt Bắc của ta …
Vui lên Việt Bắc đèo De, núi Hồng”.
Mở bài: : Tố Hữu là một trong những lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam hiện đại. Các chặng đường thơ của Tố Hữu gắn bó và phản ánh chân thật những chặng đường CM đầy gian khổ hi sinh nhưng cũng nhiều thắng lợi vinh quang của dân tộc. Thơ Tố Hữu thể hiện lẽ sống, l tưởng, tình cảm cách mạng của con người Việt Nam hiện đại nhưng mang đậm chất dân tộc truyền thống. Tiêu biểu là bài thơ Việt Bắc. Bài thơ có giá trị sâu sắc về nội đung và nghệ thuật mà nỗi bật là đoạn thơ: (Ghi nguyên văn đoạn thơ)
Thân bài: Việt Bắc được sáng tác vào tháng 10- 1954, ngay sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp vừa kết thúc thắng lợi, những người kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về miền xuôi, Trung ương Đảng và Ch nh phủ rời chiến khu Việt Bắc về Thủ đô. Nhân sự kiện thời sự có t nh lịch sử ấy Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc.
Bài thơ có hai phần lớn: phần đầu tái hiện những kỷ niệm CM và kháng chiến, phần sau gợi viễn cảnh tươi sáng của đất nước và ngợi ca công ơn của Đảng, Bác Hồ với dân tộc. Bài thơ có kết câu đối đáp, hai nhân vật trữ tình “mình- ta”; kẻ ở, người đi bộc lộ tâm trạng trong buổi chia tay đầy lưu luyến, xúc động. Chuyện ân tình cách mạng được Tố Hữu thể hiện khéo léo như tâm trạng của tình yêu đôi lứa. Nhà thơ hóa thân vào hai nhân vật trữ tình để bộc lộ tâm tư, tình cảm của mình, cũng là của những người
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 34
IIVV.. NNỘỘII DDUUNNGG CCẦẦNN ĐĐẠẠTT
IIIIII.. HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNNGG CCỦỦAA GGVV VVÀÀ HHSS tham gia kháng chiến. Đoạn thơ trên nằm trong phần đầu của bài thơ thể hiện tình cảm bâng khuâng, bịn rịn, lưu luyến của người ở và người đi, người VB và người cán bộ CM về xuôi.
Trước đoạn này là đoạn miêu tả thiên nhiên cùng con người sát cách đánh giặc, tạo thành sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân:
“Nhớ khi giặc đến giặc lùng
…………
Đất trời ta cả chiến khu một lòng”
Nghệ thuật nhân hoá, lối nói cường điệu thiên nhiên Việt Bắc đều tham gia vào cuộc kháng chiến.Việt Bắc phát huy hết khả năng của mình, kh thế chiến đấu hào hùng. Đây là cuộc chiến đấu toàn dân, toàn diện trường kì thắng lợi. Toàn dân đánh giặc ngay tại chỗ "Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây”, dựa vào rừng núi để đánh giặc "Núi giăng thành lũy sắt dày – Rừng che bộ đội rừng vây quân thù”, quân dân đoàn kết “Đất trời ta cả chiến khu một lòng’’, tất cả tạo thành hình ảnh đất mước đứng lên.
Hai câu đầu diễn tả khái quát không kh ra trận: “Những đường Việt Bắc của ta
Đêm đêm rầm rập như là đất rung"
Kh thế xung trận được cảm nhận bằng âm thanh “rầm rập”, từ láy tượng thanh cùng với cách so sánh “như là đất rung”, không chỉ diễn tả được tiếng động mạnh của bước chân mà còn giúp người đọc hình dung được nhịp độ khẩn trương gấp gáp của một lượng người đông đảo đang cùng hành quân về một hướng, tưởng như mặt đất cũng đang chuyển động dưới bàn chân của những người chiến sĩ trong một cuộc ra quân vĩ đại từ khắp ngả đường của căn cứ địa CM.
Hai câu tiếp miêu tả cụ thể hình ảnh bộ đội ta hành quân ra trận:
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 35
IIIIII.. HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNNGG CCỦỦAA GGVV VVÀÀ HHSS IIVV.. NNỘỘII DDUUNNGG CCẦẦNN ĐĐẠẠTT
“Quân đi điệp điệp trùng trùng
Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”
Hình ảnh thơ vừa hào hùng, vừa lãng mạn, điệp từ “điệp điệp, trùng trùng” khắc họa đoàn quân đông đảo, bước đi mạnh mẽ như những đợt sóng dâng trào, đợt này nối tiểp đợt khác, tưởng như kéo dài đến vô tận. Đây là sức mạnh của cuộc kháng chiến đồng thời thấy được tinh thần đoàn kết, ý ch ngoan cường, bất khuất của những người kháng chiến của thời đại CM. Quyết tâm chiến đấu bảo vệ độc lập tự do cho tổ quốc, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Hình ảnh “mũ nan”gợi ra sự đơn sơ trong trang bị của người l nh, những đoàn quân “điệp điệp, trùng trùng” ch nh là hình ảnh tượng trưng cho sự trưởng thành vượt bậc của quân đội ta, của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến hành quân trong một đêm đầy sao, ở đầu súng của người l nh ngời sáng “ánh sao”là sự liên tưởng tinh tế. Đó là ánh sao hiện thực trong đêm tối, đó cũng là hình ảnh ẩn dụ: “ánh sao”của l tưởng chỉ đường dẫn lối cho người chiến sĩ đánh đuổi kẻ thù bảo vệ đất nước. Đó là niềm lạc quan chiến thắng trong tâm hồn người l nh ra trận.
Trên đường ra trận còn có những đoàn dân công phục vụ chiến dịch:
“ Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay”.
Hai câu thơ diễn tả hình ảnh từng đoàn dân công với những bó đuốc đỏ rực soi đường, họ đang làm nhiệm vụ tiếp lương, tải đạn ra chiến trường. Họ quyết tâm, kiên cường vượt núi cao, đảm bảo sức mạnh vật chất cho bộ đội chiến đấu. “Bước chân nát đá” là bước chân của những con người đạp bằng mọi chông gai để đi tới. Đó là sự ngợi ca sức mạnh của những con người chiến thắng. Hình ảnh này ta cũng bắt gặp trong bài thơ “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” của TH:
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 36
IIVV.. NNỘỘII DDUUNNGG CCẦẦNN ĐĐẠẠTT
IIIIII.. HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNNGG CCỦỦAA GGVV VVÀÀ HHSS “Dốc Pha Đin chị gánh, anh thồ - Đèo Lũng lô, anh hò chị hát - Dù bom đạn, xương tan thịt nát - Không sờn lòng không tiếc tuổi xanh”.
Ra trận không chỉ có bộ đội, dân công mà còn có cả đoàn xe vận tải:
“ Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”
Hình ảnh những đoàn xe ra trận mà đèn pha bật sáng quét sạch màn sương đêm dày thăm thẳm của núi rừng VB. Hai câu thơ có sự tương phản giữa bóng tối và ánh sáng còn gợi ra một ý nghĩa khác, ý nghĩa ẩn dụ. Câu thơ trên với hình ảnh bóng đêm đen tối “thăm thẳm” gợi ra kiếp sống nô lệ của dân tộc dưới ách đô hộ của kẻ thù. Câu thơ dưới, với hình ảnh “đèn pha bật sáng” được so sánh “như ngày mai lên” gợi ra một ánh sáng khác: ánh sáng của niền tin vào ngày mai chiến thắng huy hoàng, tương lai tươi đẹp. Con đường VB, con đường ra trận đầy máu lửa và chiến công cũng là con đường đi tới ngày mai huy hoàng tráng lệ của đất nước, của dân tộc.
Bốn câu thơ còn lại diễn tả tin vui chiến thắng:
“ Tin vui chiến thắng trăm miền
……….
Vui lên Việt Bắc đèo De, núi Hồng”
Bằng nghệ thuật điệp từ, liệt kê diễn tả chiến thắng dồn dập liên tiếp vọng về VB. Những chiến thắng lớn của dân tộc lại gắn liền với mỗi địa danh càng tăng thêm t nh sử thi của VB.
Kết bài:
Đoạn thơ mang âm hưởng sử thi, miêu tả kh thế chiến đấu và chiến thắng của dân tộc ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp. Qua đó nhà thơ TH khắc họa sâu sắc hình ảnh dân tộc VN anh hùng trong cuộc
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 37
IIVV.. NNỘỘII DDUUNNGG CCẦẦNN ĐĐẠẠTT
IIIIII.. HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNNGG CCỦỦAA GGVV VVÀÀ HHSS kháng chiến toàn dân toàn diện trường kỳ đầy gian khổ hi sinh nhưng nhất định thắng lợi và đã thắng lợi. VB là khúc hùng ca và cũng là khúc tình ca về CM, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Thể lục bát, ngôn ngữ đậm sắc thái dân gian…tất cả đã góp phần khắc sâu lời nhắn nhủ của TH: Hãy nhớ mãi và phát huy truyền thống quý báu anh hùng bất khuất, ân nghĩa thuỷ chung với CM, của con người Việt Nam.
II.Luyện tập:
II.Luyện tập:
Đ bài: Anh /chị hãy phân t ch đoạn 3 bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.
Đ bài: Anh /chị hãy phân t ch đoạn 3 bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng.
Gv yêu cầu Hs tự soạn đề -> GV thu bài và sửa ở tiết tiếp theo.
D HƯỚNG DẪN HỌC BÀI
Củng cố và hoàn thiện kiến thức về tác phẩm (hoặc đoạn tr ch) thơ được học trong chương trình.
Nắm vững cách làm bài nghị luận về một đoạn thơ.
* Giáo án đã áp dụng các giải pháp của đ tài (thực hiện vào giờ học trái buổi):
NGHỊ LUẬN VỀ MỘT TÁC PHẨM, ĐOẠN TRÍCH VĂN XUÔI
(Nghị luận văn học kết hợp nghị luận xã hội).
A. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT
- Nắm được cách viết bài nghị luận về một tác phẩm, một đoạn tr ch văn xuôi.
B. TRỌNG TÂM KIẾN THỨC, KĨ NĂNG
1. Kiến thức:
- Yêu của bài văn nghị luận về một tác phẩm, một đoạn tr ch văn xuôi.
- Cách thức triển khai bài nghị luận về một một tác phẩm, một đoạn tr ch văn xuôi.
2. Kĩ năng:
- Tìm hiểu đề, lập dàn ý cho bài văn nghị luận về một một tác phẩm, một đoạn tr ch văn xuôi.
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 38
- Huy động kiến thức những cảm xúc, trải nghiệm của bản thân để viết bài văn nghị luận về một tác phẩm, một đoạn tr ch văn xuôi.
- Biết cách kết hợp các thao tác làm bài văn kết hợp giữa nghị luận văn học với nghị luận xã hội.
C. NỘI DUNG LÊN LỚP
1. Ổn định lớp và kiểm tra bài cũ:
2. Tiến trình tổ chức bài dạy
VVII.. NNỘỘII DDUUNNGG CCẦẦNN VV.. HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNNGG CCỦỦAA GGVV VVÀÀ HHSS ĐĐẠẠTT
* Hoạt động 1: Tạo tâm thế.
* Hoạt động 2: Hướng dẫn HS tìm hiểu đ và lập dàn ý.
I. Tìm hiểu đ và lập dàn ý: I. Tìm hiểu đ và lập dàn ý:
Đ bài: Phân t ch hình tượng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi. Từ nhân vật Việt anh/chị hãy bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ trong thời hiện đại
1. Tìm hiểu đ :
a) Xác định kiểu bài nghị luận:
Đ bài: Phân tích hình tượng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi. Từ nhân vật Việt anh/chị hãy bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ trong thời hiện đại. GV gợi mở vấn đề :
1. Tìm hiểu đ :
- Hãy gạch dưới những từ ngữ mà em cho là trọng tâm của đề bài trên?
a) Xác định kiểu bài nghị luận: - Em hãy xác định kiểu bài nghị luận của đề trên ?
- Dựa vào yếu tố nào để em xác định đúng yêu cầu của đề?
- Đây là dạng mở (chìm) hay đóng (nổi)?->GV giải th ch thêm .
HS trả lời.
- Phân tích hình tượng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi. Từ nhân vật Việt anh/chị hãy bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ trong thời hiện đại. GV chốt-HS ghi nhớ
b) Xác định nội dung trọng tâm yêu cầu của đ : - Kiểu bài: nghị luận về một nhân vật-tác phẩm văn xuôi. - Trọng tâm yêu cầu của đề bài trên là gì ?
HS trả lời. - Dạng đề đóng (nổi)- yêu cầu trực tiếp.
GV chốt-HS ghi nhớ
c) Xác định các thao tác nghị luận:
- Gv cầu hs nhắc lại một số thao tác nghị luận đã Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 39
VVII.. NNỘỘII DDUUNNGG CCẦẦNN VV.. HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNNGG CCỦỦAA GGVV VVÀÀ HHSS ĐĐẠẠTT
học.
b) Xác định nội dung trọng tâm yêu cầu của đ : -Đối với đề bài trên thao tác nghị luận nào là ch nh, nêu thêm một số thao tác khác cần kết hợp?-> HS trả lời.
- Phân t ch hình tượng nhân vật Việt
GV chốt : Đối với những đề đóng như trên các em lưu ý chỉ cần dựa vào những từ ngữ nêu lên thao tác nghị luận ở đề bài, đó chính là thao tác chính. - Bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ trong thời hiện đại.
Để phần phân t ch được rõ ràng, sáng tỏ, có sức thuyết phục cần kết hợp thao tác chứng minh, bình luận.
c) Xác định các thao tác nghị luận: - HS ghi nhớ
d) Xác định phạm vi tư liệu. - TTNL: phân t ch kết hợp chứng minh, bình luận. - Em hãy xác định phạm vi dẫn chứng của đề bài ?
HS trả lời.
GV chốt: Để xác định đúng phạm vi dẫn chứng các em cũng cần bám sát vào từ ngữ trên đề bài và phải dựa vào những hiểu biết chung về tác phẩm, nhân vật để mở rộng thêm phạm vi tư liệu phù hợp.
2. Lập dàn ý: GV hướng dẫn HS lập dàn ý theo bố cục ba phần :
a) Mở bài:
- Thông thường có mấy cách mở bài? d) Xác định phạm vi tư liệu: - Dựa vào những kiến thức nào để em viết mở bài?
- Cách vận dụng và mức độ vận dụng những kiến thức đó như thế nào?
- Tác phẩm “Những đứa con trong gia đình”, một số tác phẩm khác cùng đề tài, vấn đề tình yêu nước. HS thảo luận(5 phút)->trình bày.Hs có thể đưa ra nhiều cách khác nhau.
2. Lập dàn ý:
-> GV chốt: Đối với các em, chúng ta nên chọn cách mở bài trực tiếp và nên ghi nhớ (thuộc) kiến thức khái quát về tác giả,tác phẩm để viết mở bài cho đề này.(Kiến thức này các em đã tìm hiểu ở phần tác giả, tác phẩm trong phần Đọc – hiểu tác phẩm Những đứa con trong gia đình và sự hiểu biết về tình yêu nước nói chung).
a) Mở bài:
- Lưu ý GV gợi dẫn giúp học sinh biết cách viết Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 40
VVII.. NNỘỘII DDUUNNGG CCẦẦNN VV.. HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNNGG CCỦỦAA GGVV VVÀÀ HHSS ĐĐẠẠTT
mở bài đảm bảo yêu cầu đề bài. Muốn vậy, phải hướng HS đọc kỹ những từ ngữ gợi yều cầu ở đề bài –vế 2
-> GV cho HS luyện viết (5 phút)->1đến 5em đọc hoặc ghi trên bảng phụ ->lớp và GV sửa, bổ sung.
GV đọc cho HS tham khảo mở bài mẫu:
- Mở bài trực tiếp:
Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhân vật, vấn đề nghị luận.
Nguyễn Thi là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóng Miền Nam thời kì chống Mĩ. Ông gắn bó sâu sắc với nhân dân Nam Bộ và thực sự trở thành nhà văn của người nông dân Nam Bộ. Sáng tác của Nguyễn Thi vừa giàu chất hiện thực, vừa đằm thắm chất trữ tình. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Thi là truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình”. Truyện xây dựng thành công nhân vật Việt với những nét t nh cách độc đáo đã tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm. Qua nhân vật Việt chúng ta có những nhận thức mới về tình yêu nước của thế hệ trẻ thời hiện đại.
b) Thân bài:
- Xác định luận điểm? Luận cứ ? b) Thân bài:
Gv gợi ý cho Hs dựa vào phần nội dung của bài học “Những đứa con trong gia đình”-nhân vật Việt, những hiểu biết của HS về tình yêu nước của thế hệ trẻ hiện nay để tìm luận điểm, luận cứ.
Hs thảo luận (5 phút ) ->trình bày ->gv nhận xét chốt:
* Nội dung: - Luận điểm1: Là một chàng trai mới lớn; t nh tình cón trẻ con, hồn nhiên, vô tư.
- Luận điểm1: + Luận cứ 1: Hay tranh giành với chị
+ Luận cứ 1:
+ Luận cứ 2: + Luận cứ 2: Đi đánh giặc vẫn mang theo cái ná thun; sợ ma...
- Luận điểm 2:
- Luận điểm 2: Giàu tình yêu thương, yêu nước căm thù giặc sục sôi. .........................
+ Luận cứ 1: Thương má, chị chị gái... * Về nghệ thuật:
+ Luận cứ 2: Quyết tâm đi bộ đội để tiêu diệt kẻ Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 41
VVII.. NNỘỘII DDUUNNGG CCẦẦNN VV.. HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNNGG CCỦỦAA GGVV VVÀÀ HHSS ĐĐẠẠTT
thù.
*Bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ hiện nay.
- Luận điểm 3: Là một chiến sĩ dũng cảm, kiên cường.
+ Luận cứ 1: khi xông trận chiến đấu dũng cảm, Việt đã dùng thủ pháo tiêu diệt được một xe bọc thép của giặc,
+ Luận cứ 2: Dù bị trọng thương nhưng lúc nào cũng trong tư thế săn sàng chiến đấu,...
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật?
Dựa vào nghệ thuật của tác phẩm để chỉ ra những nét độc đáo về nghệ thuật xây dựng nhân vật. Các em cần ghi rõ từ nghệ thuật.
- Nghệ thuật:
+ Nhiều chi tiết được chọn lọc vừa cụ thể vừa giàu ý nghĩa, gây ấn tượng mạnh.
+ Giọng văn chân thật, tự nhiên, nhiều đoạn gây xúc động mạnh.
+Ngôn ngữ bình dị, phong phú, giàu giá trị tạo hình, khắc họa t nh cách nhân vật đậm chất Nam bộ.
- Luận điểm 4: Bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ trong thời đại mới:
+Luận cứ 1: Tiếp nối truyền thống tốt đẹp của thế hệ cha anh: luôn gắn bó sâu nặng với quê hương, đất nước; tự hào, tự tôn dân dân tộc; quyết tâm giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.
+ Luận cứ 2: Ý thức sâu sắc về vài trò của bản thân đối sự nghiệp canh tân đất nước: không ngừng trau dồi học tập, rèn luyện; lao động hăng say; có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa; đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác...
+ Luận cứ 3: Phê phán bộ thanh niên có nhận thức lệch lạc: chạy theo lối sống thực dụng; sống thiếu trách nhiệm với đất nước; làm những việc trái pháp luật, trái với thuần phong mỹ tục; sống thiếu l tưởng,...
+ Luận cứ 4: Vai trò của lòng yêu nước của thế hệ Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 42
VVII.. NNỘỘII DDUUNNGG CCẦẦNN VV.. HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNNGG CCỦỦAA GGVV VVÀÀ HHSS ĐĐẠẠTT
trẻ trong thời đại ngày nay.
* Thực chất phần nêu luận điểm 4 chính là một bài văn nghị luận xã hội bàn về tình yêu nước. Để hướng dẫn HS viết tốt phần này trước hết GV nên yêu cầu HS nắm chắc kỹ năng làm bài văn nghị luận xã hội.(Đã dạy ở những tiết riêng biệt). Có thế khi hướng dẫn HS làm dạng đề như trên sẽ giúp HS dễ dàng và nhanh chóng nắm bắt hơn.
c) Kết bài: c) Kết bài:
- Đánh giá chung về nhân vật Việt; bài học nhận thức cho bản thân.
- Gv cho Hs luyện viết bài (5 phút)-> gọi hai Hs đọc trước lớp-> sửa chữa, bổ sung. - Gv dọc cho Hs tham khảo một kết bài mẫu: Truyện đã khắc họa thành công hình tượng nhân vật Việt xuất thân trong một gia đình có truyền thống CM, chịu nhiều mất mát đau thương; có lòng căm thù giặc sâu sắc, quyết tâm đi bộ đội, chiến đấu dũng cảm; giàu tình thương với những người thân trong gia đình, đồng đội nhưng cũng rất hồn nhiên, ngây thơ. Việt ch nh là người anh hùng- đại biểu cho thế hệ thanh niên miền Nam anh hùng trong thời kì kháng chiến chống Mĩ nói riêng và của thế hệ trẻ Việt Nam ở mọi thời đại nói chung. Là một học sinh, bản thân em không ngừng phấn đấu học tập, rèn luyện để nâng cao tr tuệ, bồi dưỡng tâm hồn trong sạch để tiếp bước cha anh hoàn thành nhiệm vụ đối với đất nước Việt Nam thân thương trong thời kì hội nhập.
* Cách trình bày dẫn chứng, cách chuyển ý và hành văn.
3. Trình bày dẫn chứng:
4. Cách chuyển ý:
5. Hành văn :
-> Trên cơ sở những hiểu biết cơ bản của HS về diễn đạt Gv hướng dẫn học sinh cụ thể bằng cách cho Hs tìm hiểu qua một bài văn mẫu về đề bài trên (chú ý những từ và cụm từ được gạch chân thể hiện rõ cách hành văn, chuyển ý, chuyển đoạn. Các em cần nắm vững các từ ngữ, cụm từ là quan Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 43
VVII.. NNỘỘII DDUUNNGG CCẦẦNN VV.. HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNNGG CCỦỦAA GGVV VVÀÀ HHSS ĐĐẠẠTT
hệ từ để vận dụng vào diễn đạt ). Khâu này sẽ tiếp tục thực hiện trong suốt quá trình dạy ôn Tập làm văn.
Đề: Phân tích hình tượng nhân vật Việt trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi. Từ nhân vật Việt anh/chị hãy bàn về tình yêu nước của thế hệ trẻ trong thời hiện đại.
Bài làm:
Mở bài: Nguyễn Thi là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóng Miền Nam thời kì chống Mĩ. Ông gắn bó sâu sắc với nhân dân Nam Bộ và thực sự trở thành nhà văn của người nông dân Nam Bộ. Sáng tác của Nguyễn Thi vừa giàu chất hiện thực, vừa đằm thắm chất trữ tình. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Thi là truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình”. Truyện xây dựng thành công nhân vật Việt với những nét t nh cách độc đáo đã tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm. Qua nhân vật Việt chúng ta có những nhận thức mới về tình yêu nước của thế hệ trẻ thời hiện đại.
Thân bài: Tác phẩm được viết ngay trong những ngày chiến đấu ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, khi ông cộng tác với tư cách là một nhà văn - chiến sĩ ở Tạp ch Văn nghệ Quân giải phóng (tháng 2 năm 1966). Sau được in trong Truyện và kí, NXB Văn học Giải phóng, 1978.
Truyện được trần thuật chủ yếu qua dòng hồi tưởng miên man đứt nối khi Việt bị trọng thương nằm ở lại chiến trường. Dòng hồi ức của Việt đứt nối sau những lần ngất đi tỉnh lại. Mỗi lần liên tưởng, một số sự kiện chắp nối và hình ảnh các thành viên khác trong gia đình lần lượt hiện ra, được tô đậm dần dần; đồng thời bản thân người hồi tưởng cũng dần dần thể hiện bản lĩnh và tính cách của mình, đặc biệt trong mối quan hệ với các thành viên trong gia đình.
Là một chiến sỹ trẻ, Việt vẫn giữ t nh hồn nhiên của một chàng trai mới lớn. Việt luôn giữ trong
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 44
VVII.. NNỘỘII DDUUNNGG CCẦẦNN VV.. HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNNGG CCỦỦAA GGVV VVÀÀ HHSS ĐĐẠẠTT
mình cái ná thun mà hồi nhỏ Việt đã từng bắn chim. Còn hiện tại, Việt “cầm súng tự động, bá súng còn thơm gỗ, đánh Mỹ bằng lê, cái ná thun vẫn còn nằm gọn trong túi áo”. Bị thương nặng đến đêm thứ hai, “trong bóng đêm vắng lặng và lạnh lẽo”, Việt không sợ chết mà lại sợ bóng đêm và sợ ma. Việt rất yêu thương chị Chiến nhưng hay tranh giành với chị, từ những đêm soi ếch ngoài ruộng đến việc lập chiến công. Soi ếch thì chú Năm phải đứng ra phân xử vì chị Chiến và Việt ai cũng giành phần nhiều là của mình, và chị Chiến bao giờ cũng phải nhường Việt. Sau này lớn lên, vết đạn bắn thằng Mỹ trên sông Định Thủy, chị cũng nhường…Rồi đến đêm mít tinh ghi tên tòng quân, hai chị em tranh giành nhau đi bộ đội, thật cảm động. Ở đơn vị, Việt rất yêu qu đồng đội nhưng không nói thật là mình có chị. Việt giấu chị như giấu của riêng vậy. Cậu sợ mất chị mà! Vốn mồ côi, chị Hai ở xa, đứa em út còn nhỏ, tình cảm yêu thương của Việt đối với chị Chiến thật sâu đậm. Sau khi cùng ghi tên vào bộ đội, sắp xếp việc nhà xong, Việt và Chiến cùng khiêng bàn thờ mẹ gởi bên nhà chú Năm.“Việt khiêng trước. Chị Chiến khiêng bịch bịch phía sau. Nghe tiếng chân chị, Việt thấy thương chị lạ. Lần đầu tiên Việt mới thấy lòng mình rõ như thế. Còn mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thấy được, vì nó đang đè nặng ở trên vai”.
Ngoài tình thương chị, Việt còn rất thương mến chú Năm. Tình cảm đó hình thành từ những ngày Việt còn nhỏ. Việt thương chú Năm vì hồi đó chú hay bênh Việt, khen Việt là “Thằng nhỏ gan”. Mỗi khi cất giọng hò, chú làm như Việt ch nh là nơi cụ thể để chú gởi gắm những câu hò đó, hoặc ch nh Việt là những câu hò đó. Theo từng hình ảnh liên
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 45
VVII.. NNỘỘII DDUUNNGG CCẦẦNN VV.. HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNNGG CCỦỦAA GGVV VVÀÀ HHSS ĐĐẠẠTT
tưởng của chú Năm, có khi Việt biến thành tấm áo vá quàng hoặc con sông cá lội …, khi thì Việt biến thành người nghĩa quân Trương Định, ngọn đèn Biển Gò Công hoặc ngôi sao sáng ở Tháp Mười. Chú còn kể cho Việt nghe chuyện con sông nào ở nước ta cũng đẹp… lòng tốt của con người cũng sinh ra từ đó.
Trong lúc Việt bị thương, hình ảnh của cha
mẹ thân yêu luôn chập chờn ẩn hiện trong hồi ức của Việt với bao kỉ niệm chua xót lẫn ngọt ngào. Dường như cả cuộc đời vất vả của má, mọi ý nghĩ lặng lẽ trong đêm của má, cả những nguy hiểm gian lao mà má đã trải qua một cách không hề sợ hãi, tất cả đều được gom lại và dồn vào trong ý nghĩ cuối cùng này: “Để má ráng nuôi bây khôn lớn coi bây có làm được gì cho ma mày vui không?”
Việt không sợ chết, chỉ sợ không được ở chung với anh Tánh và không được đi bộ đội nữa.
Bị thương nặng, ngất đi, tỉnh lại sau nhiều lần,Việt vẫn nhớ rõ từng đồng đội với từng đặc điểm: “Cái cằm nhọn hoắt ra của anh Tánh, nụ cười và cái nheo mắt của anh Công mỗi lần động viên Việt tiến lên…”. Phải sống, chiến đấu như thế nào, trả thù nhà, đền nợ nước ra sao cho xứng đáng là những đứa con trong một gia đình có truyền thống yêu nước, gắn bó với cách mạng từ thời chống Pháp đến thời chống Mĩ? … Việt đã chiến đấu bằng tất cả sức mạnh thể chất lẫn tinh thần, bằng ý ch bất khuất thừa hưởng từ một gia đình cách mạng. Ông nội của Việt, chú Năm, ba Việt đều tham gia kháng chiến chống Pháp. Cha bị Tây chặt đầu, mẹ bị trúng pháo của giặc, những hình ảnh thê thảm đó mãi in sâu trong tâm tr Việt. Chính mối thù nhà là động lực tinh thần và tình cảm thúc đẩy chị em
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 46
VVII.. NNỘỘII DDUUNNGG CCẦẦNN VV.. HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNNGG CCỦỦAA GGVV VVÀÀ HHSS ĐĐẠẠTT
Việt anh dũng chiến đấu. Giữa trận đánh, Việt bị thương nặng. Mất liên lạc với đồng đội, trơ trọi một thân, chịu đói chịu khát, mình đầy thương t ch, Việt vẫn can đảm chịu đựng. Sao không bị ở chân mà lại ở mắt? Nhưng ở chân cũng vậy, nó cũng đau điếng và rỏ máu. Hai tay, vai , đầu cũng vậy, Các ngón tay đều tê nhức, không sao mở được. Đói, nghe giặc đến gần sao bụng nó bắt đói kì lạ… Dù lúc tỉnh hay lúc mê, Việt vẫn ở tư thế sẵn sàng chiến đấu mỗi khi choàng dậy. Việt quay họng súng về hướng đó. “Nếu mày đổ quân thì súng tao còn đạn!”, Việt ngầm bảo bọn địch khi nghe tiếng xe bọc thép của chúng chạy mỗi lúc một gần. Tỉnh dậy lần thứ tư giữa đêm sâu thẳm, nghe tiếng súng đồng đội từ nơi xa, Việt vẫn có bò về hướng đó. Việt đã cố gắng bò đi được một đoạn, cây súng đẩy đi trước, hai cùi tay lôi người theo. Việt cũng không ý thức rằng mình đang bò đi, mà ch nh trận đánh đang gọi Việt đến. Cuối cùng, đồng đội tìm được Việt. Dù kiệt sức, Việt vẫn giữ tư thế sẵn sàng chiến đấu sinh tử với kẻ thù: một ngón tay của cậu vẫn còn nhúc nh ch, môt viên đạn đã lên nòng và chúng quanh cậu, dấu xe bọc thép còn hằn ngang dọc. Hình ảnh người l nh bị thương vẫn giữ tư thế sẵn sàng chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để thệ hiện được t nh cách anh hùng của nhân vật.
Nét đặc sắc nghệ thuật của truyện là nhiều chi tiết được chọn lọc vừa cụ thể vừa giàu ý nghĩa, gây ấn tượng mạnh. Ngôn ngữ bình dị, phong phú, giàu giá trị tạo hình , khắc họa t nh cách nhân vật đậm chất Nam bộ: thẳng thắn, bộc trực, lạc quan; thủy chung đến cùng, căm thù ngùn ngụt...Giọng văn chân thật, tự nhiên, nhiều đoạn gây xúc động mạnh.
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 47
VVII.. NNỘỘII DDUUNNGG CCẦẦNN VV.. HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNNGG CCỦỦAA GGVV VVÀÀ HHSS ĐĐẠẠTT
Qua nhân vật Việt trong tác phẩm “Những đứa con trong gia đình”của Nguyễn Thi- một cậu bé hồn nhiên, ngây thơ nhưng lại là người giàu tình thương yêu gia đình, quê hương, đất nước, khi đi đánh giặc chiến đấu kiên cường, dũng cảm. Anh chính là mẫu người l tưởng về tình yêu nước cho thế hệ thanh niên Việt Nam đời đời noi theo.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Ch Minh k nh yêu của chúng ta đã khẳng định: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi. Nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”. Lòng yêu nước ch nh là sợi chỉ đỏ xuyên suốt mấy ngàn năm lịch sử, kết nối 54 dân tộc Việt Nam, vốn dựa trên một nền và xoay quanh một trục, tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam, trường tồn và phát triển mãi mãi đến muôn đời sau. Bác cũng đã dạy, tương lai của đất nước, của dân tộc nằm ngay trong tay các thế hệ thanh niên. Người khẳng định, thanh niên là lực lượng cách mạng hùng hậu, bộ phận quan trọng của dân tộc, là lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng cha anh. thanh niên” ngày Trong “Thư gửi các bạn 12/8/1947, Bác đã viết: “Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên. Thanh niên muốn làm chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó”. Ngày nay thanh niên vẫn là lực lượng đông đảo, là lớp trẻ ham hiểu biết cái mới, giàu sức sáng tạo, hăng hái, có chí tiến thủ, xung kích, sáng tạo trong việc quán triệt và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, là nguồn nhân lực chủ yếu tạo nên sức mạnh to lớn trong sự nghiệp cách mạng dân tộc.
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 48
VVII.. NNỘỘII DDUUNNGG CCẦẦNN VV.. HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNNGG CCỦỦAA GGVV VVÀÀ HHSS ĐĐẠẠTT
Tiếp nối truyền thống tốt đẹp của thế hệ cha anh thế hệ trẻ ngày nay luôn gắn bó sâu nặng với quê hương, đất nước. Nó không chỉ là sự kết nối giữa con người với nơi “chôn nhau cắt rốn” mà còn là sự kết nối giữa tâm hồn mỗi người với linh hồn dân tộc. Càng yêu mến càng tự hào, người dân Việt Nam càng căm thù bè lũ cướp nước, bán nước. “Đất nước bốn nghì năm – Vất vả và gian lao”(Thanh Hải), bốn nghìn năm đó biết bao người đã ngã xuống để “Đất Nước này là Đất Nước của nhân dân”(Nguyễn Khoa Điềm). Niềm tự hào, tự tôn dân dân tộc; quyết tâm giữ vững độc lập, chủ quyền biển- đảo và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước là nhiệm vụ trọng yếu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Trong đó thanh niên là lực lượng xung kích, tiên phong. Cố gắng học tập tốt, rèn luyện tốt, hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình hay tham gia nghiên cứu khoa học, đó là yêu nước; tự giác thực hiện ch nh sách, pháp luật, tôn trọng kỷ cương, đó cũng là yêu nước. Lựa chọn được một nghề nghiệp phù hợp với bản thân mình, gắn bó và cống hiến hết mình vì công việc, đó là yêu nước. Lao động t ch cực, hăng hái, làm giàu ch nh đáng, đó là yêu nước. Có khi lại là những việc như không vứt rác bừa bãi, không tàn phá môi trường, không hủy diệt muông thú. Và thậm ch , nói một câu tiếng Việt đúng ngữ pháp, phù hợp với văn cảnh, thể hiện sự tự tôn với ngôn ngữ, văn hóa của dân tộc mình, cũng là biểu hiện của lòng yêu nước. Những việc làm không chỉ thể hiện ý thức công dân của mỗi người, mà còn là trách nhiệm xã hội, và thông qua đó, thế hệ trẻ chúng ta thể hiện lòng yêu quê hương, xứ sở của mình một cách sinh động nhất, hiệu quả nhất. Ngày nay, lòng yêu nước đã có thêm những nội dung phong phú hơn khi đất nước đang hội nhập toàn diện với thế giới. Trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì tiến công vào mặt trận kinh tế, làm giàu cho đất nước được xem như nhiệm vụ then chốt của thanh niên. Chúng ta đã biết, trên khắp mọi miền Tổ Quốc đã và đang xuất hiện hàng loạt gương thanh niên vượt khó Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 49
VVII.. NNỘỘII DDUUNNGG CCẦẦNN VV.. HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNNGG CCỦỦAA GGVV VVÀÀ HHSS ĐĐẠẠTT
vươn lên, góp phần làm cho “nước mạnh”. Những con người như Nguyễn Chiến Sang - anh thanh niên nhặt ve chai trở thành triệu phú, hay Nguyễn Văn Sỹ - làm giàu cho quê mình nhờ chiếc máy phát điện tự chế... đang là những hình ảnh lý tưởng cho thanh niên học tập và noi theo. Chúng ta thực sự yêu nước khi tâm lý “chuộng hàng ngoại xa xỉ” bị xóa bỏ và tâm lý “ Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt” được đặt lên hàng đầu, phấn đấu cho hàng Việt Nam mang t nh cạnh tranh cao góp phần giúp sản xuất trong nước ngày càng phát triển. Chúng ta yêu nước khi học sinh thuộc sử Việt Nam: “ Dân ta phải biết sử ta- Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. Chúng ta tiếp thu văn minh hiện đại của nước bạn trên thế giới trên phương trâm “Hòa nhập chứ không hòa tan”. Trên thực tế, đã có không t thanh niên nghĩ rằng phải làm một việc gì thật “to lớn” cho Tổ quốc mới là yêu nước. Lòng yêu nước không nhất thiết phải biểu hiện ra trong từng lời nói, câu chuyện hàng ngày mà có khi nó lắng đọng trong những việc làm lặng lẽ, âm thầm. Có những người tình nguyện đến công tác ở những miền rừng núi xa xôi nhất khi vừa mới tốt nghiệp ra trường. Có những thanh niên miệt mài bên chiếu chèo truyền thống trong khi nhiều bạn khác cùng trang lứa đang ồn ào với nhạc “Pop”, “Rock”. Có những thanh niên ngày ngày dầm mưa dãi nắng, không quản ngại để dọn sạch phố phường... ở họ đều toát lên một tinh thần rất Việt Nam - cống hiến, hy sinh mà không cần ai ca ngợi, không đòi hỏi phải được đền đáp, ghi danh. Vào ngày lễ Quốc khánh hay ngày sinh Chủ tịch Hồ Ch Minh, người người nhà nhà treo cờ kết hoa. Còn trên các mạng xã hội, giới trẻ thể hiện lòng yêu nước bằng cách đổi hình đại diện thành hình cờ Tổ quốc, ảnh Bác hoặc đăng những dòng chữ thể hiện tình cảm của mình chúc mừng ngày lễ lớn của đất nước,... Bên cạnh đó có những thanh niên nhận thức hết sức lệch lạc. Họ cũng biết hỏi rằng tại sao nước ta lại nghèo, lại thua kém nhiều quốc gia trên thế giới? Nhưng bản thân họ lại không biết phải làm gì và không làm gì để “cải thiện tình hình”. Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 50
VVII.. NNỘỘII DDUUNNGG CCẦẦNN VV.. HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNNGG CCỦỦAA GGVV VVÀÀ HHSS ĐĐẠẠTT
Một số thanh niên đang chạy theo lối sống thực dụng, ăn chơi sa đọa, lãng ph , sống tự do, cá nhân, vô tổ chức, vô cảm, sống thiếu l tưởng... Tình yêu quê hương, đất nước luôn hiện hữu trong mỗi trái tim mỗi con người Việt Nam. Tuổi trẻ với hoài bão và khát vọng cùng trí tuệ và sức sáng tạo luôn khao khát vươn tới những tầm cao mới của thời đại, sẵn sàng hành động vì đất nước. Với hành trang là lòng yêu nước, tuổi trẻ hôm nay sẽ vững vàng chân bước đi theo con đường mà các thế hệ cha ông đã xây dựng và gìn giữ, đi theo con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, cùng toàn dân tộc mưu trí, sáng tạo đấu tranh bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam. Để thực hiện được hoài bão, khát vọng đó, bản thân em nói riêng, tuổi trẻ Việt Nam trên khắp mọi miền Đất nước nói chung cần ra sức học tập, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống đúng với lời nhắn nhủ thiêng liêng của Bác:“Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không đó là nhờ vào công học tập của các em” (Trích thư gửi học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam).
Truyện Những đứa con trong gia đình đã khắc họa thành công hình tượng nhân vật Việt xuất thân trong một gia đình có truyền thống CM, chịu nhiều mất mát đau thương; có lòng căm thù giặc sâu sắc, quyết tâm đi bộ đội, chiến đấu dũng cảm; giàu tình thương với những người thân trong gia đình, đồng đội nhưng cũng rất hồn nhiên, ngây thơ. Việt ch nh là người anh hùng - đại biểu cho thế hệ thanh niên miền Nam anh hùng trong thời kì kháng chiến chống Mĩ nói riêng và thanh niên Việt Nam trong thời kỳ hội nhập nói chung.
II.Luyện tập: Đ bài: Cảm nhân của anh/chị về nhân vật Tràng
II.Luyện tập: Đ bài: Cảm nhân của anh/chị về nhân vật Tràng trong tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân.Từ đó làm sáng rõ tình yêu thương con người trong xã hội Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 51
VVII.. NNỘỘII DDUUNNGG CCẦẦNN VV.. HHOOẠẠTT ĐĐỘỘNNGG CCỦỦAA GGVV VVÀÀ HHSS ĐĐẠẠTT
hiện nay (đúng với tinh thần “Lá rách ít đùm lá rách nhiều” mà ông cha ta đã dạy). Gv yêu cầu Hs tự soạn đề -> GV thu bài và sửa ở tiết tiếp theo.
trong tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân.Từ đó làm sáng rõ tình yêu thương con người trong xã hội hiện nay (đúng với tinh thần “Lá rách ít đùm lá rách nhiều” mà ông cha ta đã dạy).
D HƯỚNG DẪN HỌC BÀI
- Củng cố và hoàn thiện kiến thức về tác phẩm (hoặc đoạn tr ch) văn xuôi được học trong chương trình.
- Nắm vững cách làm bài nghị luận về một tác phẩm, một đoạn tr ch văn xuôi kết hợp nghị luận về vấn đề tư tưởng, đạo l hoặc hiện tượng đời sống.
IV. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Để đánh giá kết quả đã đạt được, giáo viên dựa vào bài kiểm tra chất lượng học kì II (2014-2015).
Kết quả khi chưa áp dụng:
Giỏi Khá Trung bình Yếu-kém
Tổng số SL % SL % SL % SL %
8 11.7 37 54.4 23 33.8 0 0 68
Kết quả khi áp dụng:
Giỏi Khá Trung bình Yếu
Tổng số SL % SL % SL % SL %
68 0 0 18 26.4 47 69.1 3 4.4
Sau một thời gian tìm hiểu thực trạng làm văn nghị luận của học sinh lớp 12 trường THPT Nguyễn Đình Chiểu, tôi đã tìm ra nguyên nhân vì sao bài làm văn của các em đạt kết quả chưa cao. Vì vậy, đã áp dụng những giải pháp của đề tài vào quá trình dạy - học từ những năm học trước - dạng đề v dụ 1 (ở dạng đề ví dụ 2 như đã trình bày ở phần viết mở bài tôi đã áp dụng cho năm học 2014-2015), cho thấy chất lượng bài làm của các em từng bước nâng cao dần lên. So với chất lượng những năm trước thì chất lượng năm học gần đây (2013-2014) đã có bước chuyển biến đáng kể cụ thể giảm tối đa học sinh yếu kém.
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 52
Tuy kết quả bài làm đạt điểm khá chưa cao nhưng đó cũng là một sự thay đổi chất lượng bài làm của các em (HS trường THPT Nguyễn Đình Chiểu). Đặc biệt, một điều đáng mừng là các em không còn tâm l lo sợ quá hoặc chán nản, trơ lì khi đến tiết làm bài kiểm tra Văn nữa.
V. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
- Đề tài là một kinh nghiệm nhỏ của bản thân trong quá trình dạy môn Văn trong nhà trường, bản thân cũng đã thu nhận được hiệu quả khi việc áp dụng đề tài, nên tôi mạnh dạn đưa ra đây với mong muốn: Tùy vào đối tượng học sinh, tùy theo các giáo viên, chúng ta có thể áp dụng đề tài để giúp HS học môn Văn tốt hơn. Mặt khác thiết thực hơn đó là cho dù đề thi Quốc gia có thay đổi hình thức ra đề: tách nghị luận văn học, nghị luận xã hội riêng hay gộp chung nghị luận văn học và nghị luận xã hội trong một bài làm văn, hoặc ra đề mở như thế nào, thì một khi giáo viên đã rèn luyện cho học sinh thành thục kỹ năng làm bài ở hai dạng đề như đã trình bày ở trên, chắc chắn các em sẽ không còn bỡ ngỡ trước đề thi và chắc chắn các em sẽ đạt điểm cao trong kì thi sắp tới.
- Bản thân tôi thấy có hiệu quả đối với việc dạy phân môn Tập làm văn, trong năm học tới, tôi sẽ mạnh dạn áp dụng đề tài này ở những khối - lớp mà tôi được phụ trách.
- Trên đây là kinh nghiệm mà bản thân tôi đã rút ra được trong quá trình giảng dạy, thấy đạt được một số kết quả nhất định và có thể áp dụng rộng trong trường cũng như ngành.
VI. KẾT LUẬN
Để trở thành người thợ giỏi, ở bất cứ một ngành nghề nào người thợ cũng phải trải qua quá trình học tập và rèn luyện lâu dài. Để viết tốt một bài văn cũng vậy, học sinh phải trải qua quá trình rèn luyện nghiêm túc có sự hướng dẫn của giáo viên.
Để áp dụng có hiệu quả những giải pháp này, người giáo viên thực sự tâm huyết, có tinh thần trách nhiệm, dành nhiều thời gian. Giáo viên thường xuyên hướng dẫn, kiểm tra, theo dõi quá trình học sinh làm bài. Điều quan trọng là giáo viên biết động viên, khuyến kh ch, tuyên dương học sinh đúng lúc, kịp thời. Bên cạnh đó, với học sinh điểm số rất quan trọng nên khi chấm bài tập hoặc khi các em trình bày thì giáo viên nên cho học sinh điểm số và có điểm cho tinh thần tự giác.
Bên cạnh việc động viên, khuyến kh ch, giáo viên cũng cần có biện pháp đối với những học sinh còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại như yêu cầu các em ở lại sau buổi học để làm bài tập, mượn bài của bạn chép lại nhiều lần …
Trong dạy học nói chung và dạy học môn Ngữ văn nói riêng, người giáo viên phải luôn không ngừng tìm tòi học hỏi để nâng cao trình độ nhận thức và trình độ chuyên môn. Sự sáng tạo là yêu cầu cần phải có của người giáo viên khi làm công tác dạy học. Trên cơ sở đó giúp học sinh của mình tiếp thu bài, hình thành kĩ năng, kĩ xảo tốt hơn.
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 53
Tuy nhiên khi áp dụng những giải pháp nào đó thì giáo viên phải tìm hiểu kĩ những hạn chế của học sinh mình. Nếu thành công sẽ là động lực rất lớn làm cho người giáo viên tự tin hơn, mạnh dạn hơn trong việc sáng tạo.
Người giáo viên cần ý thức được vai trò của mình. Khi lên lớp giáo viên phải có tinh thần trách nhiệm cao. Như vậy mới có thể tận tâm, mới vui buồn khi học sinh làm bài tốt hay không tốt. Đó là động lực giúp giáo viên tìm tòi, sáng tạo trong công tác của mình. Đó ch nh là trách nhiệm của người giáo viên dạy Văn nhằm giữ và nêu cao đặc trưng của môn Văn trong nhà trường cũng như ngoài đời sống. Nói như M.Gorki: “Văn học là nhân học”. Đó cũng phù hợp với tinh thần chung là giáo dục kỹ năng sống cho học sinh qua môn học.
Có thể khẳng định rằng, trong nhà trường không có môn khoa học nào có thể thay thế được môn Văn. Vì đó là môn học vừa giáo dục hình thành nhân cách vừa vun đắp tâm hồn cho học sinh. Trong thời đại hiện nay, khoa học kĩ thuật phát triển nhanh chóng, môn Văn sẽ giữ lại tâm hồn con người, giữ lại những cảm giác nhân văn để con người tìm đến với con người, trái tim hòa cùng nhịp đập trái tim. Môn Văn giúp hình thành và nuôi dưỡng tâm hồn của bao thế hệ con người Việt Nam thân thương!
VII. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Ngữ văn 12 tập1, 2 – Nhà xuất bản giáo dục.
2. Rèn luyện kỹ năng làm bài thi tốt nghiệp THPTvà đại học môn Văn-NXB ĐHQG Hà Nội.
3. Sách chuẩn kiến thức- kĩ năng NXB Giáo dục và đào tạo.
4. Lí luận Văn học vấn đề và suy ngẫm- NXBGD 1998.
5. 199 bài văn nghị luận xã hội ngắn-NXB ĐHQG Hà Nội, 2011.
VIII. PHỤ LỤC
Đ nh kèm phiếu khảo sát học sinh lớp 12.
Long Thành, ngày 10 tháng 05 năm 2015
Người viết
Nguyễn Thị Lê.
Giáo viên Nguyễn Thị Lê THPT Nguyễn Đình Chiểu. 54
SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI Đơn vị: TRƯỜNG THPT NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Long Thành, ngày 18 tháng 05 năm 2015

